Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

ĐI TÌM LẠI LỊCH SỬ BỨC ẢNH TRUYỀN THỐNG BÁC HỒ CẦM ỐNG NÓI

 

Bức ảnh "Bác Hồ cầm ống nói" từ lâu đã trở thành tài sản tinh thần vô giá của Bộ đội Thông tin liên lạc.

Tôi biết tác phẩm đặc biệt này do nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định chụp, nhưng sự ra đời của tác phẩm ấy ra sao thì chưa biết. Cho đến một hôm, trong một cuộc thi ảnh nghệ thuật tại Nha Trang, tôi được gặp và tranh thủ hỏi anh về tác phẩm này. Anh Định vui vẻ nhận lời, nhưng hiện anh đang rất bận công việc trong Ban Giám khảo và hẹn sẽ trao đổi với tôi vào một dịp khác.


         Sau khi cuộc thi ảnh nghệ thuật kết thúc, anh Định về Hà Nội ngay, tôi không kịp gặp lại và cứ nghĩ mình đã bỏ lỡ mất cơ hội để nói chuyện với anh về bức ảnh. May thay, chỉ sau ít ngày anh Định đã gửi vào Nha Trang cho tôi một bức thư kèm theo hai bức ảnh quý về Bác Hồ, trong đó có bức ảnh "Bác Hồ cầm ống nói" với những lời giải thích rất đầy đủ, rõ ràng. Thật mừng hết chỗ nói! Tôi vô cùng cảm ơn anh.

 Trong thư, anh Định đã cho tôi biết xuất xứ của bức ảnh. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ sơ tán khỏi Thủ đô, lần lượt qua nhiều nơi, rồi cuối cùng về căn cứ địa Việt Bắc. Nơi ở và làm việc thường được bố trí kín đáo trong rừng sâu, núi hiểm. Vật liệu xây dựng chủ yếu bằng tranh, tre, nứa, lá rất đơn sơ giản dị. Nơi Bác ở và làm việc cũng vậy; đó là một ngôi nhà sàn rộng chừng 6m2, tầng 2 là nơi Bác nghỉ, tầng trệt là nơi Bác làm việc. Nói cho đúng, đây là một cái lán nhỏ dựa vào vách núi, dưới tán rừng rậm rạp. Mặt trước lán nhìn ra cánh đồng rất thoáng đãng. Xa xa là Đình Hồng Thái và cây đa Tân Trào lịch sử. Mùa lúa chín, hương lúa từ cánh đồng bay vào thơm ngào ngạt và dịu mát. Bàn làm việc của Bác cũng được ghép bằng tre. Trên bàn, ngoài một ít sổ sách, hộp đựng công văn, giấy tờ, bút mực..., trang bị đáng giá nhất là chiếc máy điện thoại để bàn. Chiếc máy cũ kỹ ta thu được của Pháp từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại đồn Tam Đảo. Nó đã theo Bác về Thủ đô sau ngày ta giành được chính quyền và lúc này lại có mặt tại đây để phục vụ Bác làm việc và quan hệ với một số nơi thật cần thiết thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng. Khi ấy, trang thiết bị thông tin liên lạc của ta còn đang rất khan hiếm.

Anh Định đã kể: Tôi còn nhớ, khi anh em Thông tin đến kéo dây và đặt máy điện thoại cho Bác, Bác đã ân cần nhắc: "Không được để lộ đường dây vào nhà. Công việc dù nhỏ hay lớn, giữ được bí mật là đã thắng lợi được một nửa!". Công việc xong xuôi, Bác mời anh em vào nhà uống nước, tặng cho mỗi người một điếu thuốc lá thơm. Nghe tín hiệu các nơi gọi về rõ ràng, trong trẻo, Bác khen anh em làm tốt, gửi lời thăm và cảm ơn đơn vị. Anh Định còn cho biết, chiếc máy điện thoại này đã phục vụ rất tốt cho Bác suốt cuộc kháng chiến chống Pháp và mãi sau này khi Bác trở về Hà Nội. Bức ảnh "Bác Hồ cầm ống nói" là do anh đã chụp vào tháng 10 năm 1949 tại chính nơi làm việc của Bác, giữa lúc quân và dân ta đang ráo riết chuẩn bị bước vào giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giai đoạn phản công giành lại thế chủ động trên chiến trường mà mở đầu là chiến dịch Biên Giới lịch sử. Anh Định nói: Hôm ấy, tôi nhận được lệnh vào Phủ Chủ tịch để chụp ảnh cho Bác. Thấy tôi, Bác mỉm cười trìu mến. Bác ngồi ung dung bên bàn làm việc, từ trang phục đến mọi thứ trên bàn không khác gì mọi ngày. Trước mặt tôi, vị lãnh tụ kính yêu, vị Cha già dân tộc thật vô cùng giản dị và gần gũi. Là một nghệ sĩ nhiếp ảnh, phục vụ trong Phủ Chủ tịch, đã nhiều lần được chụp ảnh Bác, tôi luôn nhận thức được tầm quan trọng của từng bức ảnh và bao giờ cũng làm với một tinh thần trách nhiệm rất cao. Vậy mà lần này, tôi thấy có một cảm giác rất lạ, rất khó tả. Tôi vừa mở máy vừa suy nghĩ là sẽ phải chụp Bác ở một góc độ và một tư thế như thế nào đây; thời cơ nào sẽ là thích hợp nhất. Ống kính của tôi luôn hướng vào Bác và chờ đợi. Bỗng Bác quay máy điện thoại, nhấc ống nói và làm việc với đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng để trao đổi công việc, Bác hỏi rất kỹ về tình hình chiến sự, tình hình bộ đội ngoài mặt trận. Tôi vô cùng phấn khởi, tai nghe lời Bác nói còn tay thì bấm máy lúc nào không biết và cũng không biết rằng mình đã bấm máy mấy lần. Xong công việc, tôi xin phép Bác ra về. Tôi đã tráng phim và rửa ảnh ngay. Ngày hôm sau tôi mang ảnh vào báo cáo Bác. Xem ảnh xong, Bác gật đầu khen ảnh đẹp.

Bức ảnh này đã được công bố lần đầu tiên vào năm 1953 trên báo Nhân Dân. Ảnh đã được nhiều người khen là có góc chụp đẹp, hình ảnh rất trung thực, phản ánh đúng vẻ mặt của một vị lãnh tụ rất giản dị, tự tin, bình thản khi trao đổi công việc qua máy điện thoại. Đặc biệt là anh em Bộ đội Thông tin và Bưu điện, coi bức ảnh như một báu vật, coi đây là một hình ảnh đặc biệt phản ánh rõ bản chất phục vụ của thông tin liên lạc trong công cuộc cách mạng của dân tộc. Anh Định còn cho biết: Được tin anh chị em ngành thông tin dân sự cũng như quân sự đánh giá rất cao và coi bức ảnh là một hình ảnh truyền thống của mình, anh vô cùng cảm động và phấn khởi.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam được ký kết, hòa bình được lập lại ở miền Bắc nước ta, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng và Chính phủ về lại Thủ đô Hà Nội làm việc. Thời gian này, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, ngành thông tin đã có thêm nhiều loại máy hiện đại, nhưng trên bàn làm việc Bác vẫn luôn giữ chiếc máy điện thoại đã từng gắn bó với Người trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ ở Chiến khu Việt Bắc. Chiếc máy đã như một người bạn thân thiết và tận tụy phục vụ Bác trong hai cuộc kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ và nó đã ở bên cạnh Bác cho đến khi Người về với các bậc tiền bối ở cõi vĩnh hằng.

Ngày nay, bức ảnh "Bác Hồ cầm ống nói" được coi là bức ảnh truyền thống của Bộ đội Thông tin liên lạc. Bức ảnh luôn là một hình ảnh quý giá nhất và được đặt ở những nơi trang trọng nhất của các cơ quan, đơn vị Bộ đội Thông tin liên lạc. Mỗi khi nhìn vào bức ảnh, mỗi cán bộ và chiến sĩ Bộ đội Thông tin liên lạc lại tự hào về truyền thống vẻ vang của mình đã đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc. Và, cũng mỗi khi nhìn vào bức ảnh chúng ta lại nhớ tới lời dạy của Người: "Việc liên lạc là việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó  bảo đảm thắng lợi".

Cuối bài viết này, tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định đã cho tôi và các đồng đội của tôi trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Thông tin liên lạc hiểu rõ được nguồn gốc ra đời của bức ảnh mà lâu nay chúng tôi đã coi là báu vật của ngành mình.

            VTT (St của tác giả: NGUYỄN ĐÔNG Nguyên cán bộ Trường Sĩ quan Thông tin)

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

         Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, các cơ quan, đơn vị cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

     Một là, thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với tiếp tục triển khai, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Hai là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá cách mạng Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của các biện pháp, công tác nghiệp vụ đã và đang được triển khai...

Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị, các lực lượng bao gồm: Ban Chỉ đạo 35, lực lượng 47, công tác viên lực lượng 47 của cơ quan, đơn vị cần sử dụng tổng hợp các phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này (có thể là tên thật hoặc nickname, bút danh); khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý.

Ba là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng, phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị.

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, các tổ chức đảng, MTTQ Việt Nam huyện, các đoàn thể chính trị - xã hội huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện cần triển khai, thực hiện nghiêm túc, đồng bộ một số vấn đề sau:

Thứ nhất, xem Internet, mạng xã hội vừa là công cụ, phương tiện quan trọng để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; vừa là một kênh thông tin để nắm bắt kịp thời về tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tình hình mới. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nâng cao nhận thức, trách nhiệm, sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội; khắc phục sự thờ ơ, đứng ngoài cuộc, cho đây là nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn.

Thứ ba, thực hiện có hiệu quả phương châm “nhân cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, chú trọng tuyên truyền và khuyến khích chia sẻ, bình luận gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm định hướng dư luận và cổ vũ, động viên mọi người tham gia, tạo hiệu ứng lan tỏa trong xã hội.

Thứ tư, có trách nhiệm kiên quyết phê phán, bác bỏ và kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật nội bộ và đưa thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội.

Thứ năm, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội huyện xây dựng các kênh mạng xã hội để kết nối và phối hợp hoạt động. Tập hợp, định hướng các tổ chức thành viên hình thành lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng trong hệ thống.

Thứ sáu, Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị: Chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước và của cơ quan, đơn vị mình công tác. Khi tham gia mạng xã hội phải đề cao ý thức, trách nhiệm, thiết thực, lành mạnh; bình tĩnh chọn lọc và kiểm chứng thông tin trước khi bình luận, tán đồng, chia sẻ. Không lưu trữ, cung cấp, đăng tải, tán đồng, chia sẻ, phát tán những thông tin xấu, độc, giả mạo, xuyên tạc, vu khống,… trên không gian mạng. Khi phát hiện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm, phải báo cáo với cơ quan chức năng biết để kịp thời ngăn chặn và xử lý theo quy định./.

Nhận thức và trách nhiệm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay

             Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngày 22-10-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Nghị quyết nêu 07 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, những năm qua, các cấp uỷ, tổ chức đảng luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân luôn kiên định nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…”, “…không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”.

Nhận diện âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên không gian mạng

Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra rất nhanh chóng, với sự phát triển siêu tốc của Internet, mạng xã hội,... tạo nên “thể giới phẳng”, những thông tin không được kiểm soát, gây nhiều khó khăn cho việc tiếp nhận, phân tích, luận giải để hiểu thấu đáo nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó là sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản và những khó khăn, thách thức cùng sự kéo dài của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường trên nhiều phương diện; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nạn tham nhũng, "lợi ích nhóm",... diễn ra còn nhiều, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Lợi dụng bối cảnh đó, những năm qua và nhất là trong thời gian Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử đối lập, bất mãn chính trị,... ở trong và ngoài nước, ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của Nhân dân ta, nhất là thông qua Internet, mạng xã hội đăng những tin, bài xấu, độc, xuyên tạc, phản bác, phủ nhận nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn chúng tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt, …

Trong đó, họ đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các Đài phát thanh - truyền hình có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta. Qua đó, chúng phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc đấu tranh cách mạng đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong các vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Một trong những phương thức mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền, chống phá có hiệu quả nhất hiện nay, đó là mạng xã hội

Mạng xã hội (MXH) là hệ thống của những mối quan hệ giữa con người trên nền tảng Internet; Việt Nam là nước có số người dùng Internet và MXH thuộc tốp đầu trên thế giới, với hơn 64 triệu người dùng Internet (chiếm 67% dân số); hơn 55 triệu người dùng MXH (chiếm 57% dân số) và 436 MXH đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng MXH nhiều nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực, MXH cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước, MXH “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích. Thực tế, bên cạnh các thông tin bổ ích, có giá trị đối với xã hội thì còn vô số thông tin, hình ảnh có nội dung xấu, độc có thông tin sai trái như: xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, bịa đặt, vu cáo, nói xấu các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta trên mọi lĩnh vực. Tác hại của những thông tin xấu độc trên MXH do các thế lực “mạng đen” tung ra có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Những nội dung cơ bản nền tảng tư tưởng của Đảng

Tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là nội dung trọng tâm, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nền tảng tư tưởng của Đảng để cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, chủ nghĩa Mác-Lênin là những học thuyết sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực, mà cơ bản, trọng yếu, cốt lõi, nhất là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, là chủ nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác - Ph.Ăngghen xây dựng trong suốt gần 60 năm, từ những năm 40 cho đến cuối thập niên 90 thế kỷ XIX và V.Lênin bổ sung, phát triển trong cả thập niên cuối của thế kỷ XIX và hơn hai thập niên đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở thực tiễn chủ nghĩa tư bản đã và chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc; phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên toàn thế giới đang phát triển mạnh mẽ và giành được những thắng lợi mang tính bước ngoặc như: Công xã Paris và nhất là cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đưa tới sự ra đời Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết (gọi tắt là Liên Xô), giải phóng hàng trăm triệu nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư bản.

Còn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi.

Nói khái quát, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại, liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử thế giới, cùng những dự báo về tương lai.

Hệ thống tri thức này là những kiến thức khoa học có tác dụng trực tiếp nâng cao trình độ nhận thức, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và nhân cách của mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Nếu mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân đều được học tập và chịu khó học tập không ngừng để quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những kiến thức này trong hoạt động thực tiễn sẽ luôn đứng vững trên lập trường của người cộng sản, không bị hoang mang, dao động trước những nội dung tuyên truyền xấu độc, xuyên tạc của các thế lực thù địch, vững tin trong mọi hoạt động vì lợi ích chính đáng của Nhân dân, bằng những giải pháp có hiệu quả và gặt hái được nhiều thành công, đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững./. 

BỘ ĐỘI GIỜ CÓ SƯỚNG KHÔNG?

         Chồng tôi là bộ đội, anh ấy là cán bộ đại đội, đơn vị cách nơi chúng tôi ở chỉ khoảng 35 km. Chúng tôi cưới nhau rồi ra ở riêng (bố mẹ anh ở với anh trai), cũng chỉ cách nhà bố mẹ chồng có mấy trăm mét, còn bố mẹ đẻ tôi cũng chỉ cách 2 km.
Đơn vị anh là đơn vị sẵn sàng chiến đấu, thuộc sư đoàn chủ lực đủ quân, cứ gần một tháng anh lại về nhà một lần gọi là tranh thủ cuối tuần, có lúc thì hai tháng mới về. Mỗi lần về hai vợ chồng thường làm những công việc chung, như đi thăm người thân, đi chợ, mua sắm... Làng xóm nói: "Bộ đội bây giờ sướng thế, bộ đội gì mà thấy về suốt thế, trước các bác đi 3 năm chưa được về, bộ đội như thế thì ai chả thích đi..." rồi thì: "Xưa tao đi bộ đội khổ lắm, cơm thì không đủ no, chúng mày giờ sướng thế"... Tôi nói thật, yêu anh vì tình cảm, anh theo nghề bộ đội cũng là cái nghiệp. Chứ bộ đội bây giờ như anh cũng vất vả lắm có ai thấu cho, nhiều người cứ nghĩ bộ đội giờ không chiến tranh thì làm gì, tôi xin giải bày để mọi người cùng biết.
- Nếu cứ một tháng thấy anh ấy về một lần mà người ta bảo là "về suốt" thì hỏi coi bao nhiêu người làm công việc bình thường ngày nào chả được cùng ăn cơm với vợ, cùng chăm sóc con cái. Vợ bộ đội khi con ốm, con đau cũng chỉ biết một mình. Khi mình ốm cũng chỉ biết cắn răng chịu đựng, tự đi mua thuốc chứ có ai chăm.
- Có người nói bộ đội giờ không chiến tranh thì làm gì? Thưa các bạn, tôi vợ bộ đội, ngày nào cũng nói chuyện điện thoại với chồng, tôi biết: tuy thời bình, nhưng ngày ngày anh ấy phải dậy từ 5 giờ sáng, đôn đốc lính tập tành, chăm lo cho lính miếng ăn, giấc ngủ, tối rồi anh ấy mới có thời gian viết giáo án, có hôm 1 giờ sáng mới dám đi ngủ. Nhiều hôm không có thời gian nhắn một tin nhắn cho vợ.
- Đã bao giờ các bạn ngủ ngoài trời mưa chưa? Năm nay là 7 năm quen chồng tôi, năm nào tôi cũng thấy anh đi diễn tập cả, và những ngày diễn tập năm nào hầu như cũng có mưa. Khi chúng ta có mái nhà che thân, thì anh đang trong cơn mưa gió giữa rừng, khi mọi người trong chăn ấm, anh đang co ro trên chiếc võng lạnh giá, điện thoại không còn pin để nhắn một lời hỏi thăm vợ.
- Cũng một cái lạ mà chắc nghe người ta sẽ ngạc nhiên, đó là chồng tôi không được đi xe máy. Cái này khi mới quen tôi cũng ngỡ ngàng, tôi lên đơn vị chơi, mà anh cũng không dám chở xe tôi, vì đi qua Trung đoàn. Sau anh giải thích cho tôi, vậy là cứ lên đơn vị là tôi lại đèo anh, đôi khi thấy hơi nực cười. Khi tôi có bầu được 5 tháng, lên đơn vị anh, vậy mà anh bắt tôi đèo. Tôi bực mình nói "kỷ luật thì kỷ luật, anh cứ lên đèo vợ đi coi nào" anh cũng miễn cưỡng lên đèo tôi, nhưng sau đó hình như anh bị nhắc nhở, sau này tôi cũng không bắt anh đèo nữa.
- Rồi những lần có đoàn kiểm tra, tôi thấy anh nói áp lực, mệt mỏi lắm.
     Bộ đội thời bình cũng không hẳn sướng đâu mọi người ạ. Lương anh cũng chẳng được cao, mà lại chẳng giúp gì được nhiều cho vợ. Vì vậy, đừng ai nói "lính thời bình có việc gì đâu mà!
Yêu nước ST.

BÁC HỒ ĐÃ "CÂN BẰNG HOÀN HẢO" MỐI QUAN HỆ GIỮA LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC NHƯ THẾ NÀO?

 Năm 1961, đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc do Nguyên soái Diệp Kiếm Anh dẫn đầu sang thăm hữu nghị nước ta nhằm bàn về vấn đề hỗ trợ Việt Nam kháng chiến và “thăm dò” về vấn đề Liên Xô. Lúc ấy, phía Trung Quốc mang theo một người phiên dịch nói tiếng phổ thông để dịch lại lời nói của Diệp Kiếm Anh vốn là người Quảng Đông. Nhưng, Bác Hồ nhanh chóng cất lời bằng tiếng Quảng Đông: “Ai da, chúng ta là người nhà quê với nhau” bằng tiếng Quảng Đông và khiến người phiên dịch của phía Trung Quốc ngỡ ngàng. Diệp Kiếm Anh ra hiệu cho phiên dịch lui về phía sau và đáp lại bằng tiếng Quảng Đông với một tâm thế rất hào hứng.

Câu nói “chúng ta là người nhà quê với nhau” được Diệp Kiếm Anh đánh giá rất cao vì nó mang nhiều hàm nghĩa đặc biệt. Đầu tiên, đó là việc nhắc rằng “những người cộng sản là anh em”, xuất thân đơn giản ở tầng lớp công - nông và luôn hỗ trợ cho sự nghiệp của nhau. Thứ hai, câu này mang hàm nghĩa nhắc lại việc Đảng Cộng sản Việt Nam được cấu thành ban đầu ở những địa điểm thuộc tỉnh Quảng Đông và như là một sự gợi nhớ tri ân không quên những ngày đầu. Thứ ba, đó là việc Bác có thời gian hoạt động ở Quảng Đông và Bác coi Quảng Đông như là một nơi quê quán giống như Diệp Kiếm Anh.
Một câu chuyện khác, hồi năm 1956, Bác tiếp Thủ tướng Chu Ân Lai và chủ động nhận Chu Ân Lai là người anh trai, đáp lại, Chu Ân Lai nhận Bác là “người anh cả chỉ đường dẫn lối”. Rõ ràng, “anh trai” chưa chắc đã là “anh cả”, “anh cả” ở một vị thế cao hơn. Chính việc chủ động nhún nhường của Bác trong khi Bác nhiều tuổi hơn khiến cho Thủ tướng Chu Ân Lai cảm giác rất thịnh tình.
Chính Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh là hai trong số những lãnh đạo Trung Quốc rất thiện cảm với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đóng góp rất lớn vào việc Trung Quốc cung cấp viện trợ, hỗ trợ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.
Những năm 1940 - 1950, Việt Nam là một nước bé, không có tiếng tăm trên thế giới, Bác Hồ gửi thư cho Stalin nhiều lần nhưng không được hồi đáp. Tháng 01/1950, Bác dựa vào quan hệ với Mao Trạch Đông đánh tiếng đến Stalin về việc sẽ cùng với Mao Trạch Đông đến Liên Xô để thông báo về cách mạng Việt Nam. Sau đó, Bác khéo léo ngoại giao đề nghị Liên Xô hỗ trợ cách mạng Việt Nam như hỗ trợ cách mạng Trung Quốc và thiết lập quan hệ ngoại giao… Một nước Việt Nam nhỏ bé đã được cả hai quốc gia cùng giúp đỡ là như thế.
Những năm 1950 - 1960, Bác Hồ đã thi hành chính sách ngoại giao cân bằng. Phái đoàn Việt Nam đi thăm Trung Quốc thì đồng thời báo cho phía Liên Xô và ngược lại. Bác luôn tránh việc đưa ra quan điểm về các vấn đề nội bộ của Trung Quốc và Liên Xô. Bên cạnh đó còn ngăn được tư tưởng xét lại như Liên Xô hay việc đấu đá quyền lực như tại Trung Quốc. Năm 1959, tại Bắc Kinh, Bác còn làm phiên dịch viên cho Mao Trạch Đông và Nikita Khrushchev, đó là một cuộc phiên dịch căng thẳng vì vào thời điểm đó hai quốc gia có những rạn nứt nhất định. Đứng ở giữa, Bác phải điều dẫn và phiên dịch sao cho khéo léo, tránh leo thang căng thẳng và cũng giữ được sự cân bằng. Dĩ nhiên là Bác đã làm hoàn hảo.
Năm 1960, hội nghị các Đảng Cộng sản diễn ra đúng lúc Liên Xô và Trung Quốc mâu thuẫn. Sợ rằng việc này sẽ khiến cho “buổi bình minh” của cuộc kháng chiến của Việt Nam bị ảnh hưởng, Bác có bài phát biểu tôn vinh cả 2 Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc đều “có tầm quan trọng đặc biệt” với cách mạng thế giới. Đặc biệt, trong hội nghị ấy không có một chính đảng nào dám đưa cả hai đảng trên vào chung. Bài phát biểu ấy khiến cả 2 đảng cùng đưa ra tuyên bố chung và giữ quan hệ tốt hơn với phía Việt Nam.
Năm 1963, Trung Quốc coi Liên Xô là “nơi xuất phát của chủ nghĩa xét lại” và gửi thư cho phía Việt Nam đề nghị không gửi thư chúc mừng sinh nhật Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev. Nghe theo Trung Quốc thì sẽ mất lòng Liên Xô, không làm theo thì mất lòng Trung Quốc, nhưng Bác Hồ đã nghĩ ra một cách. Bác tổ chức buổi tiệc ăn cơm ở Phủ Chủ tịch mừng dịp Tết Hàn Thực sớm và trong ly rượu đầu tiên, Bác Hồ nâng ly chúc mừng sinh nhật đồng chí Nikita Khrushchev tròn 70 tuổi. Tình cờ thay, sinh nhật Nikita Khrushchev (15/04/1894) chỉ diễn ra trước Tết Hàn Thực đúng 1 ngày.
Sự việc này khiến đại sứ Sherbakov bất ngờ và rất vui vì Việt Nam “không chọn phe Trung Quốc”, còn phía Trung Quốc “mừng như mở cờ” vì Việt Nam đã làm theo đề nghị từ trước đó là không gửi thư chúc mừng.
Năm 1965, Liên Xô muốn lập cầu hàng không viện trợ đến Việt Nam, Trung Quốc không đồng ý nhưng cũng không tiết lộ rõ nguyên nhân. Nhằm xoa dịu hai cái đầu nóng, Bác Hồ khéo léo nói phía Trung Quốc sẽ hỗ trợ vận chuyển an toàn hàng hóa, đi bằng đường bộ sẽ vận chuyển được nhiều hơn. Vừa đề cao vai trò Trung Quốc, vừa cải chính thông tin Trung Quốc không cản trở hàng hóa viện trợ, vừa nhắc khéo Trung Quốc không nên can thiệp vào hàng hóa viện trợ thông qua vài chữ “vận chuyển được nhiều hơn”.
Từ năm 1966, ở Trung Quốc diễn ra Cách mạng văn hóa, Liên Xô thăm dò ý kiến Việt Nam nhưng Bác Hồ cho rằng đây là thời gian cuộc kháng chiến tại Việt Nam diễn ra quyết liệt và Bác phải dành nhiều thời gian hơn. Bác cũng cho biết “Cách mạng văn hóa là vấn đề nội bộ của Trung Quốc” và không tham gia phê phán, đả kích. Khi Mao Trạch Đông đề nghị tiến hành cách mạng văn hóa ở Việt Nam, Bác từ chối và cho biết Việt Nam chưa làm cách mạng văn hóa được vì còn đang bận giải phóng đất nước. Mao Trạch Đông gật gù đồng ý.
Năm 1969, Liên Xô tổ chức Hôi nghị 75 Đảng Cộng sản nhằm mục đích khai trừ Đảng Cộng sản Trung Quốc và gửi lời mời Việt Nam. Việt Nam từ chối tham gia với lý do cách mạng Việt Nam đang quyết liệt và sức khỏe của Bác không tốt. Cùng với lý do tương tự, Việt Nam từ chối tham gia các thảo luận lên án Liên Xô với phía Trung Quốc. Hai quốc gia trên rất nể Bác nên lúc Bác sức khỏe yếu, họ đều ân cần và không nói đến vấn đề về đối phương.
Trong suốt những năm tháng chiến tranh, không đề cao bên nào hơn bên nào, Bác Hồ nhất quán với chủ trương không sử dụng binh lính Liên Xô - Trung Quốc trực tiếp tham gia chiến trường miền Nam Việt Nam. Cách mạng Việt Nam và vấn đề thống nhất phải do người Việt Nam trực tiếp thực hiện, nợ ân tình vật chất thì có thể trả, nhưng nợ máu thì không bao giờ.
Liên Xô và Trung Quốc là hai quốc gia quan trọng nhất với Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến từ năm 1954 - 1975. Hai quốc gia có những mâu thuẫn gay gắt với nhau và Việt Nam phải “đu dây” trong một thời kỳ đầy biến động: vừa chiến tranh lạnh, vừa mâu thuẫn Trung Xô và vừa phải làm nhiệm vụ thống nhất đất nước.
Nhưng với những gì mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm, Việt Nam đã tạo ra một thế trận ngoại giao cân bằng hoàn hảo giữa hai cường quốc của thế giới và chính những tư tưởng của Bác đã đặt nền móng cho ngành ngoại giao "cây tre" của Việt Nam hiện tại.

HÌNH ẢNH ẤP CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN TRANH CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM

 Ấp Chiến lược là một "quốc sách" do chính phủ Mỹ và ngụy quyền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam sử dụng trong Chiến tranh tại Việt Nam từ năm đầu năm 1963 (thời kỳ Ngô Đình Diệm làm tổng thống) để đối phó với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.


Mục đích của Ấp chiến lược là để tách rời quân du kích của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra khỏi nhân dân ở nông thôn hòng hạn chế quân Giải phóng xây dựng cơ sở hoạt động, ngăn chặn người dân tiếp tế cho du kích.

Giáo sư Sử học Randy Roberts nhận xét:

“Cái gọi là Chương trình Ấp Chiến lược thực chất là lùa nông dân Việt Nam ra khỏi làng quê tổ tiên của họ và nhốt họ trong những khu đất rào quanh chắc chắn giống như một nhà tù hơn là các cộng đồng thật sự".

Trong cuốn Vietnam: a History (1983), nhà sử học Stanley Karnow mô tả về tình hình các ấp chiến lược ở Long An:

“Ở đó tôi thấy chương trình ấp chiến lược bắt đầu trong thời kỳ Diệm đang trong cơn hỗn loạn. Tại một địa điểm gọi là Hòa Phú, một ấp chiến lược được xây dựng trong mùa hè năm ngoái nay trông giống như bị trúng bão. Hàng rào kẽm gai bao xung quanh đã bị phá vỡ, tháp canh bị phá hủy và chỉ một vài người dân còn ở lại...

Một lính gác địa phương giải thích với tôi rằng một số du kích Việt Cộng đã tới trong một đêm, họ vận động các nông dân hợp sức phá bỏ nó và trở về làng quê của họ. Nông dân đã ủng hộ họ...

Ngay từ đầu, ở Hòa Phú và các nơi khác, nông dân căm ghét các ấp chiến lược, nhiều người bị buộc phải dọn tới đó bởi các quan chức tham nhũng, những người đã bỏ túi phần lớn số tiền được phân bổ cho các dự án.

Nếu chiến tranh là một trận chiến để giành được sự ủng hộ của trái tim và trí óc người dân, thì Hoa Kỳ và các đối tác ở miền Nam Việt Nam chắc chắn đã đánh mất Long An.

"Cảm giác lướt qua của tôi, sau đó đã được xác nhận trong một cuộc khảo sát rộng rãi hơn được thực hiện bởi Earl Young, đại diện cấp cao của Mỹ trong tỉnh. Ông đã báo cáo vào đầu tháng 12 rằng đã có 200 ấp chiến lược ở Long An đã bị phá hủy kể từ mùa hè, bởi Việt Cộng hoặc bởi những người dân địa phương, hoặc bởi sự kết hợp của cả hai."


59 NĂM NGÀY GIA TỘC NGÔ ĐÌNH DIỆM BỊ MỸ BẬT ĐÈN XANH ĐỂ ĐÀN EM TIÊU DIỆT!(02/11/1963 - 02/11/2022)!!

         Cuộc đảo chính năm 1963 đã đưa anh em Ngô Đình Diệm xuống địa ngục của trần gian, đền tội trước nhân dân Việt Nam; tuy nhiên, những kẻ giết hắn và cả gia tộc nhà Diệm lại là những kẻ đã dựng hắn lên và tôn thờ hắn một thời. Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm là kết cục bi đát nhất cho kẻ can tâm làm tay sai cho giặc để phản bội tổ quốc, tàn hạn nhân dân. Với việc giết Diệm thì bản chất của Đế quốc Mỹ cũng lộ rõ; đúng như lời Tổng thống (Pakistan), Ayub Khan, đã nói với Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon: “Cuộc thảm sát gia đình Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Làm đồng minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa là nên làm kẻ thù của Hoa Kỳ”. Có nghĩa là người Mỹ chỉ vì lợi ích quốc gia của họ mà thôi, đối với kẻ làm tay sai thì họ dựng lên được thì cũng có thể hạ xuống như cái cách mà người ta lật bàn tay mà thôi!
     Và bây giờ sau hơn 47 năm, những kẻ chống Cộng lưu vong ở hải ngoại và một số thành phần phản quốc ở trong nước lại cả ngợi và “tưởng niệm” Ngô Đình Diệm. Chúng hối tiếc vì đã sai lầm khi giết Diệm và cho rằng chính vì sai lầm này mà ngụy Sài Gòn sụp đổ .Đúng là trò hề của lịch sử của một đám vong quốc nô! Dù cho cả một trăm, một ngàn Ngô Đình Diệm thì mãi mãi phi nghĩa sẽ không bao giờ thắng được chính nghĩa, bất Nhân không thắng được đại Nhân và bất Nghĩa chẳng bao giờ thắng Đại Nghĩa! Nhân dân Việt Nam sẽ đánh bại bất cứ kẻ thù nào dù chúng hùng mạnh và hung hãn đến đâu! Lịch sử dân tộc đã chứng minh điều đó!
     Mỹ xâm lược Việt Nam và dựng lên đám tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn để phục vụ cho mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Ngô Đình Diệm được dựng lên để phục vụ ý đồ đánh lừa dư luận quốc tế về cái gọi là "giúp Việt Nam có độc lập, dân chủ, tự do". Họ rêu rao là miền Nam Việt Nam đã có chế độ "dân chủ, tự do" dưới tên gọi mỹ miều là "nền đệ nhất cộng hòa". Thực chất là phục vụ mưu đồ xâm lược, chia cắt đất nước và "ngăn chặn phong trào cộng sản lan sang Đông Nam Á". Mỹ mất hơn 1000 tỷ USD (thời giá 2010), bị khai tử hơn 58.000 tên, 305.000 trở thành phế nhân, quân chư như Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan, Úc, New Zealand...khoảng 40.000 mạng và trở thành phế nhân khoảng 50.000 tên. Chính ngụy quân bị Quân đội nhân dân Việt Nam khai tử hơn 1 triệu lính. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, rút quân vì họ hiểu rằng, dù có bán hết cả Hoa Kỳ cũng chẳng đủ để chiến thắng đất nước Việt Nam anh hùng và bất khuất.
     Chiến tranh kết thúc hơn 47 năm, vết thương dần liền sẹo nhưng tội ác của giặc Mỹ và chư hầu, tay sai, bán nước Ngô Đình Diệm, ngụy Sài Gòn thì người Việt Nam không bao giờ có thể quên. Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, hòa hợp dân tộc vì hoà bình và phát triển. Tuy nhiên, cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Ngô Đình Diệm là tội đồ dân tộc, tội nhân thiên cổ. Bài học cho những kẻ bán nước, theo ngoại bang và khi hết giá trị lợi dụng thì chính người Mỹ đã bật đèn xanh cho cấp dưới của Ngô Đình Diệm là Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu...tận diệt. Và bây giờ đám tàn dư lại tưởng niệm Ngô Đình Diệm. Đúng là trò hề của lịch sử./.
Yêu nước ST.

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2022

Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định kinh tế biển như là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để đưa Việt Nam đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao

Là quốc gia ven biển với đường bờ biển dài trên 3.260 km, nước ta có 28/63 tỉnh, thành phố có biển và khoảng một nửa dân số sống ở các tỉnh, thành phố ven biển. Vì thế, biển Đông đã trở thành nhân tố trọng yếu đối với phát triển kinh tế biển nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung.

Xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết tiếp tục khẳng định: "Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ". Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định kinh tế biển như là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để đưa Việt Nam đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta là phát triển kinh tế biển phải bảo đảm tính bền vững, đồng thời gắn liền với giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mà trước hết là chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc? Để thực hiện "mục tiêu kép" đó, cần phải tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, tăng cường khả năng bám biển của ngư dân gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

Những năm qua, nhà nước đã ban hành một số chính sách "đặc thù" nhằm thu hút và khuyến khích người dân ra đảo lập nghiệp, vừa phát triển kinh tế vừa góp phần bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. Đồng thời, không ngừng động viên ngư dân bám biển ở những ngư trường truyền thống như vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa, vì sự hiện diện của họ chính là những "cột mốc sống", khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển.

Cùng với khuyến khích, động viên ngư dân thì việc đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá, cung cấp các điều kiện thiết yếu để duy trì khả năng bám biển cho ngư dân cũng là yêu cầu quan trọng. Trong đó, việc thực hiện phủ sóng mạng thông tin di động mặt đất, mạng thông tin vệ tinh và đài phát thanh cho các vùng biển và các đảo trọng yếu là nội dung không thể thiếu, góp phần tạo tâm lý yên tâm, vững vàng công tác, vững vàng bám biển cho các lực lượng sản xuất trên biển.

Bên cạnh đó, cần thường xuyên đưa công tác huy động nhân lực tàu thuyền dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, biển đảo vào các nội dung diễn tập của cơ quan, đơn vị; qua đó giúp ngư dân đối phó có hiệu quả với các tình huống va chạm trên biển, nhận thức sâu sắc trách nhiệm trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thứ hai, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động tuyên truyền kiến thức về chủ quyền biển, đảo cho ngư dân - chủ thể gắn liền với sự phát triển kinh tế biển

Nhận thức của ngư dân về chủ quyền biển, đảo đóng vai trò quan trọng, then chốt, là yếu tố quyết định sự thành công trong thực hiện mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Chính vì vậy, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của ngư dân về các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo; phổ biến, quán triệt Luật Biển Việt Nam; đẩy mạnh tuyên truyền cho ngư dân về Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), các công ước quốc tế liên quan đến biển, đảo mà Việt Nam là thành viên và pháp luật về biển của các nước trong khu vực thông qua các chương trình thiết thực được tổ chức trên toàn quốc, như chương trình "Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân" do Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển triển khai, chương trình "Một triệu lá cờ Tổ quốc cùng ngư dân bám biển" do Báo Người Lao Động phát động.

Thứ ba, xây dựng Cảnh sát biển - lực lượng thực thi pháp luật trên biển - ngày càng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại

Thực thi pháp luật trên biển có ý nghĩa rất quan trọng, trực tiếp góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền an ninh biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Do vậy, để bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế trên các vùng biển của Việt Nam, việc xây dựng lực lượng Cảnh sát biển ngày càng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là yêu cầu tất yếu khách quan và cần tập trung vào các nội dung sau: Nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển; đầu tư vũ khí, trang thiết bị hiện đại cho lực lượng Cảnh sát biển; tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chức năng, trách nhiệm, quyền hạn của Cảnh sát biển.

Thêm vào đó, cần tăng cường năng lực, phẩm chất, bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ tham gia thực hiện nhiệm vụ trên biển. Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; luôn đề cao lòng yêu nước, khôn khéo, linh hoạt trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; vững vàng, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời giữ vững quan hệ hòa bình, hữu nghị với các nước./. 

 

Những "cột mốc sống" nơi biên giới

Sau gần một năm triển khai, Ðề án xây dựng "Ðiểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới trên địa bàn quân khu giai đoạn 2019-2025" (Ðề án 811), đến nay toàn tuyến biên giới khu vực Quân khu 7 quản lý đã xây dựng được 10 điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới. Riêng Bình Phước xây dựng được bốn điểm dân cư liền kề, hỗ trợ chỗ ở cho 20 hộ dân có hoàn cảnh khó khăn, chưa có nhà ở, tình nguyện lên sinh sống trên điểm dân cư biên giới.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Huỳnh Anh Minh cho biết: Hiện nay trên tuyến biên giới Bình Phước đã xây dựng 11 chốt dân quân bố trí xen kẽ giữa các đồn biên phòng để phối hợp tuần tra bảo vệ an ninh biên giới. Chủ trương xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới là việc làm rất có ý nghĩa nhằm tạo thế liên hoàn, tăng cường lực lượng, nâng cao sức mạnh bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia; góp phần đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo khu vực vùng biên; thu hút dân cư lên sinh sống và từng bước hình thành các khu dân cư trên tuyến biên giới; phát huy vai trò mỗi người dân là cột mốc sống giữ biên cương. Ngoài ra, để giúp các hộ dân từng bước ổn định cuộc sống trên vùng đất mới, tỉnh còn vận động tổ chức, cá nhân hỗ trợ các hộ vật dụng cần thiết trong nhà như: ti-vi, quạt, nồi cơm điện, tủ... Vận động Ủy ban MTTQ tỉnh hỗ trợ mỗi gia đình một cặp dê giống trị giá sáu triệu đồng, góp phần giúp các hộ dân vươn lên phát triển kinh tế.

Ðể thực hiện thành công Ðề án 811, Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch "Xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2019-2025". Sau khi có kế hoạch, Bộ CHQS tỉnh phối hợp huyện Lộc Ninh, Bù Ðốp và Bù Gia Mập thành lập đoàn khảo sát năm vị trí xây dựng điểm dân cư biên giới tại các xã: Lộc Hòa, Lộc An, Lộc Thiện (huyện Lộc Ninh); Ðắk Ơ (huyện Bù Gia Mập) và Thanh Hòa (huyện Bù Ðốp). Căn cứ tình hình thực tế của đơn vị, Bộ CHQS tỉnh đã triển khai lực lượng xây dựng theo hình thức cuốn chiếu và đến nay đã hoàn thành cơ bản. Những hộ dân đến sinh sống trên vùng đất mới đã trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn trái, từng bước phủ xanh đất trống.

Ðại tá Nguyễn Thanh Bình, Phó Chính ủy Bộ CHQS tỉnh cho biết: Việc xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân là một chủ trương lớn của Quân khu 7 và của tỉnh nhằm tăng dày các khu dân cư trên tuyến biên giới, thúc đẩy sự phát triển khu dân cư, đánh thức tiềm năng kinh tế vùng biên, tạo thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc và là chỗ dựa cho bộ đội biên phòng, dân quân thường trực và các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới.

 

Chính sách “An dân giữ đất biên cương”


Đề án xây dựng các điểm dân cư liền kề chốt Dân quân biên giới; điểm Dân cư liền kề đồn, trạm biên phòng thực hiện ở Bình Phước đã đạt được những kết quả tích cực, từng bước hình thành lực lượng tại chỗ, chỗ dựa vững chắc hỗ trợ các lực lượng làm nhiệm vụ trên tuyến biên giới, đồng thời thực hiện chính sách “An dân giữ đất biên cương”. Đề án góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. “Tôi là công dân sống trong điểm dân cư biên giới. Gia đình tôi rất phấn khởi vì cuộc sống ổn định và cũng rất tự hào khi cùng chung sức, chung lòng với các lực lượng vũ trang bảo vệ tuyến biên giới” - anh Nguyễn Ngọc Hải, Điểm dân cư Thanh Hòa, huyện Bù Đốp bày tỏ.

Giai đoạn 2019-2022, Bình Phước đã xây dựng 150 căn nhà tại 11 điểm dân cư biên giới với tổng kinh phí hơn 54 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách tỉnh hơn 34 tỷ đồng, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 hỗ trợ hơn 9 tỷ đồng, Bộ CHQS tỉnh đảm bảo kinh phí đối ứng hơn 3,5 tỷ đồng, huyện Lộc Ninh hơn 4,1 tỷ đồng, huyện Bù Đốp hơn 1 tỷ đồng… Đã có 493 người đến sinh sống tại các điểm dân cư biên giới, các hộ đều có đơn tình nguyện lên sinh sống tại đây, gồm: các gia đình là bộ đội, công an viên, cán bộ ban CHQS xã, giáo viên, công nhân… Hiện nay, các hộ dân sinh sống ổn định.

Khi đến điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới sinh sống, các hộ dân không chỉ phát triển kinh tế mà còn cùng với lực lượng địa phương tham gia tuần tra, giữ gìn an ninh trật tự trên tuyến biên giới, giữ vững vành đai, chủ quyền biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Trong chuyến thăm tỉnh Bình Phước vào đầu tháng 4-2022, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đánh giá cao việc thực hiện các điểm dân cư biên giới của tỉnh Bình Phước. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh nhấn mạnh: Xây dựng cư dân ra biên giới là việc thực hiện chính sách vừa phát triển kinh tế - xã hội vừa đảm bảo đời sống của nhân dân, đồng thời phục vụ cho mục tiêu bảo vệ vững chắc biên giới lãnh thổ Tổ quốc. Việc triển khai trong 4 năm qua của tỉnh Bình Phước trong xây dựng các cụm dân cư ở sát biên giới là rất thiết thực, hiệu quả. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi hoan nghênh và biểu dương sự phấn đấu nỗ lực của tỉnh Bình Phước cũng như Bộ Quốc phòng, Quân khu 7 trong việc triển khai dự án điểm này. 

Với những kết quả đạt được, thời gian tới, Bình Phước tiếp tục phối hợp với Quân khu 7 xây dựng các điểm dân cư biên giới trên địa bàn tỉnh góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới. Để rồi ở đó, mỗi bức tường, viên gạch đều mang đậm dấu ấn mối đoàn kết, gắn bó của nghĩa Đảng, tình dân; để rồi sự bình yên và cuộc sống ổn định luôn hiện diện trong mỗi lời nói tiếng cười của người dân, để biên giới trở nên rất gần và tình quân dân luôn ấm áp./.

  

HÀNG LOẠT QUAN CHỨC HẦU TÒA: LỖI CƠ CHẾ HAY PHẨM CHẤT

KHI QUYỀN LỰC
CHƯA BỊ NHỐT TRONG "LỒNG CƠ CHẾ"!
     Dù khẳng định việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống là nhân tố quyết định để cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) không tham nhũng, tiêu cực (TN, TC) nhưng thực tế cho thấy, TN, TC-biểu hiện rõ nhất của sự tha hóa quyền lực cũng là yếu tố khách quan ở bất kỳ chế độ xã hội và thời đại nào.
Bởi tạo hóa sinh ra con người vốn có lòng tham và những ham muốn mang tính bản năng. Chính vì vậy, muốn ngăn chặn TN, TC thì phải có giải pháp kiểm soát quyền lực hiệu quả, nói như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là phải “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”. Thế nhưng, dù Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định để kiểm soát quyền lực song “lồng cơ chế” vẫn còn những “lỗ hổng”...

Nguy hiểm từ
quyền lực “ngầm”
Tìm hiểu những vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ có chức quyền trong những năm qua, nhất là những vụ án cán bộ cấp cao vi phạm pháp luật, chúng tôi nhận thấy hầu hết khi đương chức, những cán bộ này như là “vua con”. Dù họ có nhiều việc làm sai trái nhưng cấp dưới không dám ngăn cản, thậm chí buộc phải làm theo. Chẳng hạn, ông Vũ Huy Hoàng có nhiều sai phạm trong việc bổ nhiệm cán bộ khiến dư luận rất bất bình. Rồi các ông: Nguyễn Bắc Son khi làm Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Tất Thành Cang khi làm Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Đức Chung khi làm Chủ tịch UBND TP Hà Nội... cùng nhiều cán bộ cấp bộ, cấp tỉnh, cấp huyện đã ngang nhiên lạm dụng quyền lực, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ để tham nhũng, trục lợi.

Vì sao Đảng ta đã có quy định về những điều đảng viên không được làm, đã ban hành các quy chế, quy định yêu cầu các cấp ủy và CB, ĐV, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu tổ chức đảng phải gương mẫu thực hiện để chống lạm dụng quyền lực; pháp luật cũng có những quy định khá chặt chẽ để phòng, chống lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ, chống TN, TC, nhưng vẫn có nhiều CB, ĐV, công chức, nhất là cán bộ cấp cao vi phạm như vậy?

Thẳng thắn nhìn nhận chúng ta sẽ thấy, “lỗ hổng” ở đây chính là sự lạm quyền của một số cán bộ cấp cao, của người đứng đầu. Lạm quyền dẫn đến siêu quyền lực, siêu mánh lới, siêu mưu kế đen tối ở một số cán bộ, một số người đứng đầu. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến “lỗ hổng” kiểm soát quyền lực này chính là vai trò của người cầm cân nảy mực. Việc phát huy trách nhiệm, quyền hạn người đứng đầu là phù hợp với thực tế phát triển, nhưng nhiều người đứng đầu không chuẩn mực về đạo đức, tư cách, nhiều trường hợp tham lam vô độ, nịnh trên nạt dưới, tạo bè cánh bao bọc cho mình. Với cơ chế chủ yếu vẫn là xin-cho, người đứng đầu có quyền phân bổ kinh phí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, phân công các công việc gắn liền với lợi ích cá nhân; người đứng đầu phẩm chất kém khi đã thích ai, có cảm tình với ai thì người đó được hưởng lợi (và ngược lại) thì khó ai dám trái ý "sếp" mà chủ yếu là lờ đi hoặc đồng lõa với những sai phạm của “sếp” để được lòng (đồng nghĩa với được hưởng lợi).

Thực tế cho thấy, hầu hết những sai phạm của cán bộ lãnh đạo trong những năm qua đều có sự độc đoán, chuyên quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản... và cái đích cuối cùng là tham nhũng, trục lợi... Những vi phạm này, không thể nói là tất cả các thành viên cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác với những cán bộ đó đều “không biết”, mà nhiều người biết rõ nhưng không có ý kiến phản biện. Nhiều trường hợp tập thể phải biểu quyết theo quy định cũng chỉ là để “hợp lý hóa ý muốn của thủ trưởng”! Việc kiểm soát quyền lực thực sự rất khó ở chỗ này và vì thế, nhiều cán bộ cấp cao, người đứng đầu đã lạm quyền, bị quyền lực làm cho tha hóa, dẫn đến vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Kiểm tra... không ra vi phạm
Như đã phân tích ở trên, tha hóa quyền lực là một thực tế khách quan, việc cán bộ tha hóa, biến chất cũng không thể tuyệt đối tránh dù ở chế độ xã hội nào. Chính vì thế, cần phải có cơ chế chặt chẽ để kiểm soát quyền lực, phòng, chống cán bộ vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Làm cho đội ngũ cán bộ, công chức “không thể, không dám, không cần, không muốn tham nhũng” là mong muốn chung của nhân loại cũng như mọi nhà nước. Nhưng để thực hiện được “không cần, không muốn tham nhũng” là vô cùng khó. Do đó, các quốc gia đều chú trọng những giải pháp kiểm soát quyền lực để quan chức “không thể, không dám tham nhũng” và Việt Nam cũng như vậy. Cùng với những quy định chặt chẽ, chế tài xử lý nghiêm khắc của pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Đảng, chúng ta có hệ thống các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án để bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm túc và hiệu quả.

Nhưng những năm qua, công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng và thanh tra, kiểm tra của chính quyền dưới cấp Trung ương hầu như chỉ phát hiện được sai phạm của cán bộ cấp dưới, rất hiếm khi phát hiện ra sai phạm trong cấp ủy, chính quyền cùng cấp, nhất là sai phạm của người đứng đầu. Bên cạnh đó, khá nhiều tổ chức, cá nhân có vi phạm kéo dài nhưng qua nhiều lần kiểm tra, thanh tra vẫn không phát hiện ra vi phạm. Thời gian qua, có những người đứng đầu (thậm chí cả ban lãnh đạo) không chỉ vi phạm mà còn ngang nhiên can thiệp, chỉ đạo sai trái hoạt động thanh tra, kiểm tra, khiến cơ quan kiểm tra, thanh tra ở cùng cấp bị vô hiệu hóa. Đây là thực trạng rất đáng báo động. “Lỗ hổng” này đặt ra thách thức lớn trong việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống TN, TC.

Chúng ta không khỏi giật mình khi ông Nguyễn Đức Chung lúc là Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã chỉ đạo Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội mua chế phẩm Redoxy-3C thông qua Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Arktic (là công ty gia đình của ông Chung) với giá cao hơn mua trực tiếp từ công ty của Đức, gây thiệt hại cho Nhà nước 36 tỷ đồng. Trước những ý kiến của dư luận, UBND TP Hà Nội ban hành quyết định thanh tra việc mua sắm, quản lý và sử dụng chế phẩm Redoxy-3C để xử lý ô nhiễm các hồ ở Hà Nội. Thực hiện quyết định này, Thanh tra TP Hà Nội đã tiến hành thanh tra và chỉ ra nhiều sai phạm. Nhưng ông Nguyễn Đức Chung lợi dụng chức vụ, nhiều lần tổ chức họp, chỉ đạo, định hướng, ép buộc Thanh tra thành phố phải kết luận là không có sai phạm, dẫn tới Chánh thanh tra TP Hà Nội phải ký quyết định thay đổi kết luận thanh tra. Sau này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và cơ quan cảnh sát điều tra đã làm rõ sự việc.

Nguyên nhân nào khiến cơ quan hoặc cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra bị người đứng đầu hoặc ban lãnh đạo tổ chức đảng, chính quyền vô hiệu hóa, can thiệp, ép buộc phải kết luận sự việc không đúng với bản chất? Câu trả lời vẫn là do chịu chi phối về nhiều mặt, phụ thuộc vào lợi ích, tạo thành một vòng khép kín mang lại lợi ích cho nhau. Thật vô cùng khó để cơ quan, cán bộ cấp dưới dám chỉ ra vi phạm của cán bộ, cơ quan cấp trên có “quyền sinh quyền sát” hoặc có thể gây khó dễ đối với bản thân mình. Đây chính là bất cập lớn cần phải sớm tháo gỡ.

Bên cạnh đó, việc chúng ta gần như “bỏ ngỏ” trách nhiệm, chưa xử lý nghiêm khắc đối với cơ quan và cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra khi không phát hiện ra vi phạm của đối tượng được thanh tra, kiểm tra cũng là một “lỗ hổng” trong kiểm soát quyền lực, dẫn đến vụ việc TN, TC không được phát hiện, ngăn chặn từ sớm nên ngày càng “phát triển” thành vụ việc lớn hơn.

“Khoảng trống”
nhân dân giám sát
Muốn phòng, chống TN, TC hiệu quả thì phải phát huy tốt vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân, bởi không có gì mà nhân dân không biết và không có gì qua mắt được nhân dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Phải biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”.

Nhận thức rõ vấn đề này, suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”, đến Đại hội lần thứ XIII vừa qua, Đảng đã bổ sung thêm “dân thụ hưởng”. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong phòng, chống TN, TC nói riêng, như: Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Quy chế dân chủ ở cơ sở... Đặc biệt, ngày 3-10-2017, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 99-QĐ/TW về hướng dẫn tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải công khai để nhân dân biết về nhiều nội dung, làm cơ sở góp ý và giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp ủy, tổ chức đảng, CB, ĐV... 

Tuy nhiên, hiện nay, việc phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân vẫn là khâu yếu, thậm chí còn tồn tại nhiều “khoảng trống” dẫn đến nhân dân rất khó thực hiện quyền kiểm tra, giám sát.

Đầu tiên, việc công khai, minh bạch là cơ sở, điều kiện để phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong tham gia kiểm soát quyền lực, phòng, chống TN, TC, bởi nếu nhân dân không biết thì làm sao có thể kiểm tra, giám sát? Thế nhưng lâu nay, việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương còn mang tính hình thức, đối phó; thậm chí, có tình trạng không thực hiện công khai và hiện tượng cố tình đóng dấu “mật” vào những tài liệu lẽ ra cần công khai. Hình thức công khai cũng chưa phù hợp, người dân khó tiếp cận, dẫn đến rất ít người biết. Đơn cử, việc công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là biện pháp vô cùng hiệu quả để phòng, chống tham nhũng, vì quần chúng sẽ giám sát, kịp thời phát hiện những tài sản bất thường, thông báo cho các cơ quan chức năng kiểm tra xem đó có phải là từ thu nhập phi pháp hay không; nhưng hiện nay, chúng ta chưa quy định công khai rộng rãi bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ các cấp để đông đảo nhân dân được biết. Việc phải công khai bản kê khai tài sản, thu nhập của những người có nghĩa vụ kê khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc (và một số trường hợp khác) cũng ít đơn vị thực hiện nghiêm.

“Khoảng trống” nữa là mặc dù Hiến pháp đã quy định rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” (Điều 8) và “... Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi công dân” (Điều 28)... song hiện nay, vừa thiếu những quy định chi tiết để thực hiện, vừa chưa có chế tài thực sự hiệu quả để bắt buộc các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức thực hiện đúng trách nhiệm của mình khi nhân dân thực hiện quyền giám sát và phản ánh, kiến nghị. Thậm chí, khá nhiều người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương còn chưa chấp hành nghiêm quy định tiếp công dân; vẫn còn hiện tượng trù dập, thành kiến với người khiếu nại, tố cáo, chưa thực sự quan tâm giải quyết.

Ngay việc dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là chủ trương nhất quán của Đảng, nhưng chúng ta cũng chưa có đầy đủ quy định để phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong công tác này, đặc biệt là chưa có quy định cụ thể để nhân dân tham gia vào việc đánh giá, bổ nhiệm cán bộ và phòng, chống TN, TC trong đội ngũ CB, ĐV, dẫn đến không ít trường hợp chọn nhầm cán bộ hoặc không kịp thời phát hiện cán bộ vi phạm. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã thẳng thắn nhìn nhận: “Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của CB, ĐV chưa hiệu quả”...

Thực tế cho thấy, hầu hết những trường hợp cán bộ vi phạm pháp luật thì dư luận nhân dân đều có ý kiến xì xào về phẩm chất đạo đức, lối sống, về tài sản nghi ngờ bất minh từ trước khi những cán bộ này bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý. Vì thế, khi cán bộ đó bị kỷ luật hoặc truy tố thì người dân ở nơi cư trú và quần chúng cùng cơ quan, đơn vị cũng không mấy bất ngờ, nhất là với những cán bộ ngang nhiên vi phạm hoặc có nhiều dấu hiệu bất thường trong suốt thời gian dài, như: Trịnh Xuân Thanh (thời kỳ công tác tại Tổng công ty Cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam và Bộ Công Thương), Vũ Huy Hoàng (lúc là Bộ trưởng Bộ Công Thương), Tất Thành Cang (khi là lãnh đạo các cấp ở TP Hồ Chí Minh), hay một số cựu lãnh đạo của TP Đà Nẵng, tỉnh Bình Thuận, Bộ Y tế...  

Những “lỗ hổng” trong cơ chế kiểm soát quyền lực, cùng với hệ thống pháp luật chưa thực sự chặt chẽ, nhiều kẽ hở là nguyên nhân cơ bản khiến một số cán bộ thiếu bản lĩnh đã vi phạm pháp luật, kỷ luật. Vấn đề này, chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập ở những bài sau./.
Môi trường (Yêu nước) ST.