Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022
ĐIỂM TIN NHANH NGA- UKRAINE (Sáng 02/11)
NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các
tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích
động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu
tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng
không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội.
Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía
Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài
nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân
tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định
chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Nổi lên thời gian qua là các vụ việc trọng điểm xảy ra trên địa bàn Tây Bắc,
trong đó tập trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của
các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ
lập ra tôn giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi
kéo, tập hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Ở một số
địa phương, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các
phần tử xấu còn lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô
Dợ, Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo
liên quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để
tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là
tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước
Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông
qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt
cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia
tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức Chúa trời
Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên
đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước
riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác…
Những vấn đề nêu trên đã và đang tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội trong khu vực, tạo thành những điểm nóng tôn giáo.
Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn
chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi
trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các
đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ,
thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của
cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ
đó tạo tâm lý tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng,
chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động
quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các
hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ. Không những vậy, một số đối tượng
cực đoan trong tôn giáo còn lợi dụng tình hình thiên tai hay đại dịch COVID-19 để
tuyên truyền xuyên tạc, tạo “chiến tranh tâm lý”, gây hoang mang, lo lắng, hoài
nghi trong nhân dân, nhất là việc xuyên tạc chất lượng của vaccine phòng COVID-
19; xuyên tạc chính sách phòng, chống COVID-19 của Nhà nước ta; bôi nhọ các
lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ nhân dân chống dịch bệnh; thổi phồng những
mất mát, tổn thất do dịch bệnh gây ra, quy nguyên nhân dịch bệnh do “chính quyền
thờ ơ, vô cảm”, “đường lối của Đảng sai lầm”!
Rõ ràng, qua phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo
được các thế lực thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để
lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay,
thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại
được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy
hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng
của đồng bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối
tượng sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín
đồ tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật.
Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam
nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ
xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn
đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt
động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận
thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng
nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt
động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống
đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở
tuân thủ pháp luật của Nhà nước.
ĐỪNG ĐỂ ‘LẠC TRÔI” THEO NHỮNG LỜI TUNG HÔ KÍCH ĐỘNG
Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án
và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên
truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc
thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới
nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên
sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính
chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ
thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được
HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái
độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên
phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định,
đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa
sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên
truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội,
không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của
bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm
phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến
sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ
nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình
nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt
nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.
Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống
phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị
Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ
vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do
ngay lập tức”!
Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật
diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về
sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm
nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh
oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt
Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt
miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân
chủ”!
Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng
truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan
ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu
“Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với
tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.
Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra
thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính
RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019
về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc
thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam,
chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một
phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.
Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những
thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế,
các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các
tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ
trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do
ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi
năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể
trên các phương tiện truyền thông.
Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện”
như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị
cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp
luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong
khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang
có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống
Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời
phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính
sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang
mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài
liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung
về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín
ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng
ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền,
phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc
đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
KHÔNG THỂ CHIA RẼ, ĐOÀN KẾT GIỮA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Trong
thực hiện “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc để lôi kéo, kích động
đồng bào chống phá Đảng và Nhà nước ta là một chiêu trò nguy hiểm mà các thế
lực thù địch, thường xuyên tiến hành. Mặc dù đã thất bại trong mưu đồ dựng lên
cái gọi là”nhà nước Đề-ga” ở Tây Nguyên, “vương quốc Mông” ở Tây Bắc… nhưng âm
mưu, thủ đoạn ấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ.
Những
năm gần đây, thông qua internet, mạng xã hội các thế lực thù địch gia tăng bóp
méo, thông tin sai lệch về đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, tuyên
truyền xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Lợi dụng
việc các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam áp dụng các biện pháp xử lý đối với
những phần tử là người dân tộc thiểu số vi phạm pháp luật trong các vụ việc gây
rối trật tự an ninh - an toàn xã hội tại một địa phương, các thế lực thù địch
xuyên tạc, vu cáo rằng: “Ở Việt Nam, quyền bình đẳng giữa các dân tộc không
được bảo đảm”; “các lực lượng an ninh Việt Nam trấn áp đồng bào dân tộc…”. Sự
xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch dù có lươn lẹo, tinh vi đến đâu đi
chăng nữa cũng không phủ nhận được thực tế. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc
với 54 dân tộc anh em. Hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam sinh sống
ở địa bàn miền núi, biên giới nơi có vị trí chiến lược cả về chính trị, kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của đồng bào các
dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
Đảng, Nhà nước ta đã đề ra chủ trương, chính sách dân tộc rất đúng đắn và rõ
ràng: Đó là, muốn có bình đẳng dân tộc thì phải giành và giữ cho được độc lập
dân tộc; quyền bình đẳng thực sự giữa các dân tộc chỉ được xây dựng, thực hiện
trên nền tảng độc lập dân tộc. Sau giải phóng, đặc biệt trong những năm đổi
mới, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hướng tới ưu tiên cao nhất là thực hiện quyền
phát triển của các dân tộc. Với những điều kiện thuận lợi mới, đời sống của
đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện trên nhiều mặt, mọi người đều bình
đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm đối với đất nước. Các dân tộc
càng đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Không phải ngẫu nhiên mà bà Gay McDougall - chuyên gia độc lập về các
vấn đề dân tộc thiểu số của Liên hợp quốc, đã đánh giá cao việc Việt Nam coi
cộng đồng các dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành của dân tộc Việt Nam. Qua
khảo sát thực tế, bà Gay McDougall hoan nghênh quyết tâm chính trị, các chính
sách, biện pháp và chương trình của Chính phủ Việt Nam nhằm bảo đảm quyền của
các dân tộc thiểu số trên mọi lĩnh vực, nhất là những nỗ lực thu hẹp khoảng
cách phát triển kinh tế - xã hội giữa đồng bào miền núi, dân tộc thiểu số với
miền xuôi. Cùng với tôn giáo, dân tộc luôn là vấn đề mà các thế lực thù địch
lợi dụng để chống phá Việt Nam. Đối với địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa
vấn đề dân tộc thường gắn với vấn đề tôn giáo vì mặt bằng dân trí, trình độ
nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là vùng đồng bào
thiểu số còn nhiều hạn chế. Các thế lực thù địch thường lợi dụng sự hạn chế về
hiểu biết của bà con để tuyên truyền xuyên tạc, kích động. Trên địa bàn có đông
người Mông sinh sống, chúng lấy lý do “Người Mông không có Tổ quốc” xúi giục,
lôi kéo người Mông di cư, có lúc ồ ạt trong nội bộ các tỉnh biên giới, đi Tây
Nguyên, sang Lào, làm cho tình hình an ninh chính trị trên địa bàn có lúc diễn
biến phức tạp. Một số người nhẹ dạ, cả tin, một số phần tử thoái hóa, biến chất
bị chúng lôi kéo vào các hoạt động chống phá. Chúng lợi dụng truyền đạo để
tuyên truyền nói xấu Đảng, Nhà nước, xuyên tạc đường lối, chủ trương chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo,
vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền ở cơ
sở. Để đấu tranh ngăn chặn những âm mưu và hành động ấy chúng ta phải tiến hành
đồng bộ nhiều việc. Thực tế trên cho thấy, công tác tuyên truyền, vận động quần
chúng ở địa bàn vùng đồng bào dân tộc, cần đẩy mạnh với nhiều hình thức và cách
làm phù hợp, đề cao tính hiệu quả. Cần huy động sức mạnh tổng hợp của cấp ủy,
chính quyền địa phương, các ban ngành, đoàn thể, tiến hành tuyên truyền vận
động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước. Đặc biệt, cần đi sâu vào từng bản, làng, từng cơ sở để tuyên truyền chủ
trương phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn
giáo để đồng bào hiểu rõ những âm mưu, thủ đoạn thâm độc xảo quyệt của bọn phản
động đội lốt tôn giáo gieo rắc những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, những luận
điệu xuyên tạc nói xấu Đảng, Nhà nước, chia rẽ người Kinh với người dân tộc,
chia rẽ Đảng với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Cần sáng tạo
nhiều hình thức tuyên truyền văn hóa cổ vũ thuần phong mỹ tục, những tập quán,
nếp sống văn hóa đẹp, lành mạnh của các dân tộc, đồng thời phê phán đấu tranh
mạnh mẽ với những hiện tượng mê tín, dị đoan, bài trừ các hủ tục lạc hậu. Đây
chính là những hàng rào vô hình ngăn chặn sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai, tư
tưởng phản động và luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch. Chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là nhất quán và rõ ràng, thể hiện đầy đủ quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: “Sự nghiệp cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng”, “Dân là gốc”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”. Tuy nhiên, các chính sách này cần được
thể chế hóa, cụ thể hóa phù hợp với từng vùng, miền và từng địa phương, tạo ra
những chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc và quan trọng nhất là phục vụ lợi ích
thiết thực của người dân. Chính sách dù hay đến mấy mà cuối cùng người dân
không được hưởng lợi, không có lợi ích trong đó thì cũng vô nghĩa. Các chính
sách, do vậy, cần được kiểm nghiệm trong thực tế và có những điều chỉnh phù hợp
sát đúng với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, bảo đảm phát huy hiệu quả cao nhất
trên thực tế. Làm như vậy thì nhất định không một thế lực nào có thể bóp méo,
xuyên tạc, chia rẽ, phá hoại quyền bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc ở Việt
Nam./.
ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU ĐÒI XÓA BỎ MỘT SỐ ĐIỀU LUẬT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Thời đại ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng pháp
luật và các quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tình hình, đặc điểm, điều
kiện cụ thể. Điều đó thể hiện sự tiến bộ, văn minh của loài người.
Thế nhưng, hiện một số người, nhất là số cơ hội chính trị có quan hệ với các
tổ chức thù địch, đối tượng phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài
đang tìm cách đi ngược lại sự văn minh, tiến bộ xã hội. Các đối tượng tìm kiếm sự
can thiệp từ bên ngoài nhằm kêu gọi xóa bỏ một số điều luật với các mục đích chính trị xấu.
Thực chất, việc kêu gọi xóa bỏ các điều luật này xuất phát từ các đối tượng
có âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Vậy, mục đích của các đối
tượng kêu gọi xóa bỏ các điều luật này là gì?
Thứ nhất, các đối tượng đang muốn đưa mình thoát khỏi "vùng cấm" của
luật pháp, muốn đứng ngoài vòng pháp luật để dễ bề hoạt động chống phá mà
không bị chế tài pháp luật xử lý. Các đối tượng đang cố gắng tạo cho mình một
vành đai an toàn, nằm trong "nhóm lợi ích" vượt ra ngoài sự quản lý của pháp luật
để tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước như: Tuyên truyền chống Nhà
nước; thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt
Nam… mà không bị pháp luật cấm đoán.
Thứ hai, các đối tượng muốn gây sự chú ý từ bên trong lẫn bên ngoài, thông
qua các hoạt động tuyên truyền kêu gọi, tẩy chay, đòi xóa bỏ các điều luật nhằm
gây sự chú ý cho dư luận trong nước cũng như cộng đồng quốc tế, nhất là các tổ
chức theo dõi nhân quyền, các cơ quan truyền thông thiếu thiện chí, thường xuyên
có các bài viết chống phá Việt Nam như đài RFA, RFI... Các hoạt động kêu gọi
nhằm đánh lạc hướng dư luận để tạo suy nghĩ rằng môi trường chính trị của Việt
Nam đang "rối ren"; tâm lý người dân bất ổn, hoang mang, qua đó hòng tạo áp lực
dư luận để đòi hỏi phải thay đổi các quy định hoặc xóa bỏ các điều luật này.
Thứ ba, tất cả các hoạt động kêu gọi xóa bỏ các quy định của điều luật trên
không nằm ngoài âm mưu tạo ra môi trường thuận lợi để tiến hành các hoạt động
chống phá Đảng, Nhà nước, mục đích hướng đến là thay đổi nhận thức của đông
đảo quần chúng toàn xã hội, tiến tới xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Việc kêu gọi xóa bỏ một số điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam nhằm xuyên tạc, vu khống, hạ bệ hình ảnh Việt Nam, cho rằng chúng ta vi
phạm dân chủ, nhân quyền; vu cáo nhà nước sử dụng các điều luật này để "bóp
nghẹt" quyền tự do dân chủ, các quyền căn bản của công dân được Hiến định.
Các đối tượng chống phá muốn xóa bỏ các điều luật nói trên đều nằm trong âm
mưu, ý đồ hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia và đây không phải là thủ đoạn
mới. Các Bộ luật Hình sự trước đây khi ban hành và thực thi thì các tổ chức, cá
nhân thù địch, phản động cũng tìm cách đả phá, đòi huỷ bỏ những điều luật mà họ
cho rằng "lạc hậu", "trói cột", "bịt miệng"…
Thực tế, không phải vì nhận thức thiếu hiểu biết dẫn tới phạm pháp mà hầu
hết các đối tượng đều hiểu rõ những hành động của mình là trái với quy định của
pháp luật, là phạm tội, nhưng với các động cơ khác nhau, họ vẫn cố tình thực hiện
hành vi phạm tội. Thậm chí không ít đối tượng dù bị cơ quan chức năng nhiều lần
cảnh cáo, nhắc nhở hay xử phạt hành chính, xử lý hình sự nhưng sau đó vẫn bất
chấp, cố tình thực hiện hành vi, thách thức pháp luật. Do đó, việc xử phạt với các
điều khoản tương ứng hành vi, tính chất phạm tội là việc làm đương nhiên của cơ
quan bảo vệ pháp luật. Điều đó càng cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật và
việc xử lý đó được cộng đồng xã hội đồng tình ủng hộ (ngoại trừ các phần tử tham
gia các tổ chức phản động, chống phá Nhà nước).
Một nguyên tắc trong xây dựng nhà nước pháp quyền là phải thượng tôn
pháp luật, không ai có thể đứng ngoài pháp luật. Dù là ai, vị trí nào, gia thế ra sao
thì khi vi phạm đều xử lý bình đẳng và pháp luật hình sự cũng quy định rõ các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo đó, những ai chủ mưu, cầm
đầu, cố tình thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nhiều lần, tái phạm
nguy hiểm… thì sẽ bị tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngược lại, những ai vì nhận
thức thấp kém, phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo; biết ăn năn, hối lỗi, thành khẩn khai
báo… thì được giảm nhẹ hình phạt. Khi xét xử, luận tội, toà án xem xét công và tội
rõ ràng, công minh.
Việc điều tra, truy tố, xét xử các bị can, bị cáo tuân thủ theo quy định của Bộ
luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình xét xử đảm bảo việc tranh tụng
dân chủ trước toà. Các vụ án xét xử bị cáo theo các tội danh mà các đối tượng
thường xuyên có hoạt động kêu gọi xóa bỏ như Điều 109, Điều 117, Điều 331 Bộ
luật Hình sự cũng đảm bảo theo quy định, nguyên tắc đó. Các hoạt động tố tụng
đều thực hiện theo các trình tự, thủ tục được luật pháp quy định, thể hiện sự công
khai, minh bạch, trách nhiệm trong các hoạt động công tố và các bản án được xem
xét khách quan, người dân ủng hộ, điều này cũng góp phần củng cố niềm tin của
nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
LẬT TẨY NHỮNG CHIÊU TRÒ TUNG HỎA MÙ, GÂY NGHỜ VỰC
Tiếp tục nhiệm vụ xây
dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, từ đầu năm 2022
đến nay, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã tập
trung chỉ đạo các cơ quan chức năng đấu tranh mạnh với tội phạm tham nhũng và
kinh tế.
Một số
vụ án điển hình như vụ Công ty Việt Á, những “chuyến bay giải cứu”, mua sắm
thiết bị trong lĩnh vực y tế, giáo dục… được phát hiện, xử lí. Qua đó, nhiều tổ
chức, cá nhân bị kỉ luật; đã có những cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản
lí bị khởi tố, bắt giam vì cáo buộc nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn
trong khi thi hành công vụ. Và mới đây nhất, tối 20/10/2022, Cơ quan Cảnh sát
điều tra đã khởi tố bị can, bắt tạm giam cựu Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư
tỉnh Đồng Nai, bà Bồ Ngọc Thu về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ. Đây là diễn tiến của việc mở rộng điều tra vụ án được khởi tố
cuối tháng 4/2022 đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty AIC
Nguyễn Thị Thanh Nhàn cùng một số bị can có hành vi thông thầu, gian lận trong
đấu thầu, vi phạm Luật Đấu thầu để AIC trúng 12 gói thầu với tổng giá trị hơn
476 tỉ đồng. Đấu tranh phòng, chống tội phạm lĩnh vực kinh tế từ đầu năm 2022,
nổi lên là vụ Trịnh Văn Quyết (chủ tịch FLC) với hành vi thao túng thị trường
chứng khoán; vụ Đỗ Anh Dũng, chủ tịch Tân Hoàng Minh cùng đồng phạm thông qua
phát hành trái phiếu lừa đảo, chiếm đoạt hơn 8.000 tỉ đồng (khoảng 320 triệu
USD); vụ Vạn Thịnh Phát với hành vi gian dối phát hành, mua bán trái phiếu,
chiếm đoạt hàng nghìn tỉ đồng của nhà đầu tư. Riêng vụ Trịnh Văn Quyết, theo
kết quả điều tra bước đầu, từ năm 2014 đến năm 2016, thông qua việc tăng vốn
điều lệ khống từ 1,5 tỉ đồng lên 4.300 tỷ đồng tương ứng 430 triệu cổ phần của
Công ty CP Xây dựng Faros. Khi được niêm yết 430 triệu cổ phiếu ROS trên sàn
chứng khoán, Trịnh Văn Quyết và một số đồng phạm đã bán, chiếm đoạt tiền của
các nhà đầu tư hơn 6.400 tỉ đồng (khoảng 260 triệu USD). Những vụ việc trên cho
thấy, tội phạm kinh tế đã gây thiệt hại khủng khiếp đối với nền kinh tế nói
chung, với các nhà đầu tư và người dân nói riêng. Đã có biết bao người khánh
kiệt tài sản, bao gia đình tan nhà nát cửa vì bỗng chốc trở thành nạn nhân của
những kẻ lừa đảo siêu hạng. Và việc điều tra, xử lí cương quyết nhằm ngăn chặn
tội phạm, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt là nhiệm vụ cấp bách mà Bộ Công an và
các cơ quan chức năng đã và đang nỗ lực thực hiện, dưới sự chỉ đạo sát sao,
quyết liệt và hiệu quả của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực. Thực tế sờ sờ như vậy song vẫn có những luận điệu ở cả trong và ngoài
nước tung hỏa mù dưới chiêu bài: Nào là, Công an Việt Nam đang hình sự hóa các
quan hệ kinh tế, dân sự; nào là chống tham nhũng tiêu cực ở Việt Nam vẫn chỉ “tắm
từ vai” và chỉ nhằm vào những người không cùng cánh hẩu; nào là Công an sắp sửa
“sờ gáy” tập đoàn này, doanh nghiệp kia, v.v. khiến một bộ phận dư luận, nhà
đầu tư dao động, làm ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán nói riêng, sự phát
triển của nền kinh tế nói chung. Không chỉ tung hỏa mù, gây ngờ vực vào quyết
tâm và hiệu quả chống tham nhũng, tiêu cực, các thế lực thù địch còn đặt vấn
đề: Càng chống thì tiêu cực, tham nhũng càng nhiều; muốn chống tham nhũng hiệu
quả, thì cần thay đổi thể chế. Những luận điệu sai trái, trơ trẽn nêu trên được
một số người triệt để khai thác, lợi dụng, nhằm mục đích “giảm cường độ” và
hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đảo ngược quá trình lành mạnh
hóa, minh bạch hóa các hoạt động đầu tư, kinh doanh và thị trường chứng khoán
cũng như nền kinh tế. Nhìn lại 3 năm qua, trong bối cảnh đại dịch COVID-19
hoành hành khiến hàng vạn người thiệt mạng, sản xuất đình đốn, tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế bị trùng xuống; tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
Nhà nước, mọi mặt đời sống xã hội, quốc phòng và an ninh vẫn được bảo đảm. Đáng
mừng, từ cuối năm 2021, sản xuất, xuất khẩu phục hồi, tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế Việt Nam được . Thực tế đó cho thấy kết quả, hiệu quả sự lãnh đạo,
chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ trong thời gian qua.
Đồng thời, việc Bộ Công an khởi tố điều tra một số cá nhân, tổ chức trong các
vụ án như FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát… đã góp phần bảo đảm thị trường
chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tài chính, ngân
hàng hoạt động ổn định, lành mạnh, minh bạch, an toàn và phát triển bền vững,
bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp. Đây là việc
làm cần thiết, đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực pháp
lý quốc tế. Nói một cách ngắn gọn, hành vi “phù phép” vài tỉ đồng thành hàng
ngàn tỉ đồng thông qua việc tăng vốn điều lệ khống; sau đó, niêm yết trên sàn
chứng khoán rồi bán, chiếm đoạt hàng ngàn tỉ đồng của nhà đầu tư, của người
người dân… thì không thể là một giao dịch kinh tế, dân sự bình thường. Đó là
tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần xử lí nghiêm theo pháp luật.
NÓI THẬT: LOẠN NGÔN, LỘNG NGÔN
Trong xã hội ta, từ xưa
đến nay có một căn bệnh mãn tính khó chữa và xem ra càng nặng hơn trong thời
hiện đại, khi mạng xã hội trở nên thông dụng như cuốn sách để ngỏ của mỗi cá
nhân. Đó là bệnh loạn ngôn. Bệnh này còn có những người anh em “sinh ba, sinh
tư” là lộng ngôn, ngoa ngôn, xảo ngôn.
Loạn
ngôn thường thấy ở những người bạ đâu nói đấy, bất chấp phép tắc, nói “như đúng
rồi” mà không nghĩ tới hậu quả. Lộng ngôn thể hiện qua những lời đay nghiến,
phỉ báng, một tấc đến trời. Ngoa ngôn thì gặp từ vỉa hè đến nơi công sở, chả
hiếm những lời quá quắt, thị phi, phải trái bất phân. Còn xảo ngôn thì lắm khi
nghe có vẻ lọt lỗ tai, nhưng thường là lời bịa đặt, giả dối. Đáng chú ý, trong
rất nhiều thứ loạn ngôn ngoài đường phố, trong công sở thì biểu hiện này trên
các mạng xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, TikTok, Instagram… là phổ
biến nhất. Các nhân vật “chém” mạnh nhất lại thường là một số người trong
giới nghệ sĩ, trí thức, làng văn, làng báo… Họ là những người có sức ảnh
hưởng lớn tới công chúng. Chính vì thế, sức công phá của những quả tù mù có
khói độc nguy hại khôn lường. Loạn ngôn, lộng ngôn nhảy dựng lên trên những sân
khấu nào? Thôi thì đủ cả, chuyện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là
chuyện nhân sự. Họ thông tin, bình luận, phán xét với cách nhìn phiến diện, chủ
quan và cả những ác ý nhằm giải tỏa những ấm ức cá nhân, hoặc nhằm trả thù một
ai đó. Họ bàn chuyện trong nước, ngoài nước, chuyện chính sử, chuyện ngoài
chính sử, từ chuyện vô lối như “đưa lược cho sư” đến chuyện hoang đường “gà mái
gáy”. Họ nhất quyết tin “cỏ bên kia đồi luôn xanh”, cái gì của tây cũng nhất,
còn của ta thì chỉ đáng nải chuối cuối buồng. Có cán bộ cấp cao gương mẫu không
đi máy bay vé VIP, đáng hoan nghênh chứ, vậy mà cũng có người dè bỉu “diễn ấy
mà” (!). Thậm chí, công việc đại sự chống tham nhũng cũng có những “anh hùng
bàn phím” nhảy vào xiên xẹo lung tung, cho rằng, chẳng qua đây là cuộc thanh
trừng nội bộ, là nhằm phang “chết tươi” hoặc “có sống cũng thành tật” những người
thuộc phe này, nhóm kia. Hơn hai năm cả nước gồng mình chống đại dịch Covid-19,
cùng với những điều tốt đẹp cũng không ít chuyện đáng buồn, trong đó có chuyện
ngồi lê đôi mách, một tấc đến trời. Đến mức có những đối tượng đã bị xử lý
trước pháp luật. Điển hình là trường hợp một cá nhân ở quận Nam Từ Liêm,
TP Hà Nội đã đăng tải gần 300 bài viết, đưa các thông tin bịa đặt
trên Facebook, ám chỉ một số cá nhân đại diện các công ty đang niêm yết trên
sàn chứng khoán sắp bị bắt, gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán,
làm thiệt hại về kinh tế, uy tín của tổ chức, cá nhân và nhà đầu tư. Trường hợp
khác là một nữ doanh nhân ở phía Nam đã tổ chức nhiều buổi phát trực tiếp những
thông tin từ “trên trời rơi xuống”, tùy tiện sử dụng những từ “lộng ngôn, loạn
ngôn, xảo ngôn” mang tính chất nhục mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người
khác.
Đấy là
trường hợp vi phạm pháp luật. Còn có những trường hợp tuy không vi phạm nhưng
lại gây nhức nhối, tê buốt, như vướng cái dằm lim trong kẽ móng tay. Lời nói
gió không bay mà nó luẩn quẩn, găm vào óc, vào tim bao người, nhất là với các
bạn trẻ, gây lệch chuẩn, rối loạn giá trị. Có cả những anh nói năng lưu loát,
luôn tỏ vẻ ta đây đọc thiên kinh vạn quyển, thật ra thì chữ nghĩa cũng vừa một
vốc. Chuyện mới đây ở lễ khai giảng của một trường quốc tế tại Việt Nam là một
thí dụ. Có anh được gọi là “diễn giả” nói về “trọc phú kiến thức”, ý nói cần
phải có kiến thức thật từ mình (tri thức nguyên bản), chứ không chỉ có mớ kiến
thức hổ lốn đọc được qua sách vở. Ý kiến này gây một làn sóng tranh luận, rằng
chính “diễn giả” kia đã làm rối tung rối mù một câu chuyện muôn thuở: Học trong
sách và học trong cuộc sống, đọc sách và ngấm sách. Cha ông ta chẳng đã phê
phán, đã kể bao câu chuyện thâm thúy về những người học vẹt là gì?
PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH
Nhìn
lại và suy ngẫm, chúng ta hiểu rõ vì sao Bác Hồ lại ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, mong
muốn toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên đánh giặc cứu nước, bởi chúng ta muốn
hòa bình nên chúng ta đã nhân nhượng nhưng càng nhân nhượng thì thực dân Pháp
càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Đúng vậy! Chỉ sau 21
ngày Bác Hồ đọc Tuyên Ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình, tuyên bố trước
quốc dân đồng bào và toàn thể nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới về
việc khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân
đầu tiên ở Đông Nam Á. Thế nhưng, quân xâm lược Pháp đã phá hỏng tất cả. Chúng
đã tước đoạt quyền sống, quyền được độc lập, tự do, quyền được mưu cầu hạnh
phúc của nhân dân ta. Ngày 23-9-1945, chúng đã trở lại hành trình cướp bóc nước
ta một lần nữa. Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng và Bác Hồ đã có
nhiều đối sách sáng suốt để tránh cuộc chiến tranh đẫm máu do thực dân Pháp gây
nên.
Sự thật
này đã được nhiều nhà báo quốc tế thừa nhận, đánh giá cao tính nhân văn của
Chính phủ Hồ Chí Minh. Thế nhưng, kẻ xấu lại giở trò vu cáo Việt Nam là thủ
phạm gây ra cuộc chiến tranh vô nghĩa ấy. Thật hèn hạ và vô liêm sỉ! Có lẽ thời
ấy, từng em bé Việt Nam cũng hiểu chiến tranh sẽ cướp đi tuổi thơ và mái trường
thân yêu. Hơn thế, người dân Việt Nam hiểu rõ nỗi nhục gần 100 năm bị thực dân
Pháp đô hộ và sự đắng cay của người dân mất nước. Không ai muốn chiến tranh,
không ai muốn đổ máu, hy sinh. Bởi vậy, họ đã theo Đảng, Bác Hồ “quyết tử cho
Tổ quốc quyết sinh”, “nhất định không chịu làm nô lệ” dám đương đầu với cuộc
kháng chiến trường kỳ dẫu biết “máu trộn bùn non, gan không núng, chí không
mòn”, họ đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn
động địa cầu” bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt, đã buộc thực dân Pháp phải ngồi
vào bàn đám phán và ký Hiệp định Giơnevơ thừa nhận nền độc lập của Việt Nam,
cay đắng rút quân về nước.
Nhưng
quân xâm lược “vẫn ngựa quen đường cũ”, chống Việt Nam đến cùng. Chúng đã cấu
kết và “bật đèn xanh” cho đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược nước ta. Và đế quốc Mỹ
đã buộc chúng ta phải “cầm súng chiến đấu”. Tổ quốc kêu gọi, nhân dân trả lời.
Họ đã đứng lên, cầm súng tự cứu lấy mình, giành lại độc lập dân tộc. Đó là việc
làm đúng, nhưng tại sao kẻ xấu lại xuyên tạc, cho rằng đấy là cuộc “nội chiến”
giữa hai miền Nam – Bắc, là “cuộc chiến tranh ý thức hệ” ? Để chống lại
đội quân xâm lược, những kẻ đến Việt Nam đốt nhà, giết người, gieo đau thương
tang tóc, nhân dân ta đã phải chiến đấu liên tục suốt 21 năm dòng; đã phải trải
qua 5 đời tổng thống Mỹ, 222 tháng với 4 lần thay đổi chiến lược. Đó là “Chiến
tranh đơn phương” (1953-1961) của Tổng thống D. Eisenhower; “Chiến tranh đặc
biệt” (1961-1965) của Tổng thống J. Kennedy; “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968)
của Tổng thống L. Johnson; “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1974) của Tổng
thống R. Nicxon. Cùng với đó là 8 lần thay đổi Đại sứ toàn quyền Mỹ và 4 lần
thay đổi Tổng tư lệnh quân viễn chinh ở Việt Nam, song vẫn không cứu vãn thất
bại. Nhân dân Việt Nam đã kiên cường, dũng cảm chiến đấu dù phải “đổ máu, hy
sinh” nhưng quyết giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Ai đó cho rằng
cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là “chiến tranh ủy nhiệm”, họ đã mắc sai lầm, bởi nó
hoàn toàn không phải như thế. Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng kiên
quyết, kiên trì chiến đấu để giành lại độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà
với tinh thần tự lực cánh sinh là chính. Chúng ta chiến đấu vì chính chúng ta,
chứ chẳng phải vì ai, do ai ủy nhiệm, phó thác việc đánh Mỹ hoặc mặc cả với
nhân dân ta về điều này điều nọ, cho dù trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước chính nghĩa của nhân dân ta, các nước xã hội chủ nghĩa có giúp đỡ nhưng
không có bất cứ lời giao kèo, lời đính kèm nào. Luận điệu cho rằng cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là “không nhất thiết vì nó gây nên
cảnh nồi da nấu thịt”, “nội chiến, huynh đệ tương tàn” là hoàn toàn sai trái,
nó đã vùi dập tính nhân văn, thiện chí và tính chất chính nghĩa của cuộc kháng
chiến chống quân xâm lược tàn ác. Đó là sự chà đạp thô bạo lên nhân phẩm, lẽ
phải, đạo lý; là sự xúc phạm danh dự của một dân tộc anh hùng, lương tri của
thời đại và bào chữa cho tội ác của quân xâm lược. Thử hỏi nếu không có sự đổ
máu, hy sinh, không trải qua hơn 30 năm chiến đấu gian khổ, ác liệt, liệu nhân
dân Việt Nam có giành được độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc? Thử hỏi ai đã
gây ra hai cuộc chiến tranh tàn ác, giết chết hơn 2 triệu đồng bào vô tội ? Ai
đã để lại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9 và
nhiều nghĩa trang liệt sĩ khác trên khắp mọi miền đất nước với nhiều ngôi mộ vô
danh? Chẳng nhẽ người dân Việt Nam tự tạo ra? Chẳng nhẽ người dân Việt Nam đến
nước Pháp, nước Mỹ để gây ra hai cuộc chiến tranh đẫm máu, chẳng nhẽ nhân dân
Việt Nam muốn sử dụng quân đội và vũ khí tấn công nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ,
dải chất độc hóa học và bom, đạn lên đất đai, sông nước của họ; phủ nhận, bôi
đen lịch sử, văn hóa của họ? Thật nực cười bởi sự phi lý của kẻ “vừa ăn cắp,
vừa la làng” là những kẻ xâm lược, tàn phá Việt Nam, thế mà dám tự thừa nhận
mình có sứ mệnh đi khai hóa, truyền bá văn minh cho Việt Nam. Lịch sử đã ghi
nhận sự thật ấy. Ai đã phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam đồng nghĩa với phủ
nhận lịch sử truyền thống hào hùng, vẻ vang của một dân tộc. Phủ nhận sự hy
sinh xương máu của các thế hệ người Việt Nam chống lại quân xâm lược là hoàn
toàn vô lý, là tội ác, không thể chấp nhận. Ở đất nước này, kẻ mưu toan phủ
nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đòi vớt vát tia hy
vọng mỏng manh: áp đặt chế độ áp bức, bóc lột lên đất nước của Hồ Chí Minh có
độc lập, chủ quyền chỉ là sự hoài vọng vô nghĩa, hoàn toàn ảo tưởng. Xâm lược
Việt Nam là một việc làm sai trái cả về đạo lý và pháp lý; “đạo trời không
dung, đạo đất không tha” bởi nó trái với công lý và lẽ phải. Phủ nhận thành quả
cách mạng và cuộc chiến tranh chính nghĩa là quan điểm hư vô lịch sử, bôi đen
hiện thực, xúc phạm quá khứ hào hùng, thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Là
người có trái tim và khối óc, có học thức và lương tri, hiểu rõ đạo lý, pháp lý
và lẽ sống làm người, nhất thiết chúng ta phải đấu tranh vạch trần sự giả dối
và kiên quyết đấu tranh phê phán, bác bỏ mọi mưu toan chống phá nền hòa bình,
độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta.Đằng sau thái độ “hư vô lịch
sử”, xúc phạm quá khứ hào hùng, thiêng liêng của dân tộc làsự chống phá Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta. Chúng ta không cho phép bất cứ ai, thế lực nào làm
điều sai trái ấy. Không cho phép bọn “mượn gió bẻ măng”, xuyên tạc lịch sử để
chống phá Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII sắp diễn ra ở Hà Nội./.
PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG VÀ CUỘC CHIẾN TRANH CHÍNH NGHĨA CỦA NHÂN DÂN TA. SỰ VÔ LÝ CẦN PHẢN BÁC
Phủ nhận thành quả cách
mạng, xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi đen bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, làm
mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước là âm mưu, thủ đoạn chống phá
nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch. Vì vậy, đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, lệch lạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ Đảng,
Nhà nước và nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng là
yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách trong bối cảnh, tình hình hiện nay; đặc
biệt trước ngày Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII sắp được tổ chức. Đây là lương
tâm và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam yêu nước.
Với
luận điệu xuyên tạc thàng công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các thế lực
thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức chống phá Đảng, Nhà nước ta từ sự
phủ nhận lịch sử đến bôi đen thành tựu hiện thực đổi mới đất nước hơn 35 năm
qua. Chúng cho rằng mọi sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam đều bắt nguồn từ sự
ra đời của Đảng (1930), nhất là việc Đảng lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, đánh đuổi thực dân Pháp. Chúng coi đấy là nguyên nhân chính
dẫn đến “hai cuộc chiến tranh dẫm máu, làm cho hơn hai triệu người dân Việt Nam
mất mạng”. Hơn thế, chúng vu cáo Đảng ta “đánh mất cơ hội được người Pháp khai
hóa, truyền bá văn minh”, nếu “Đảng không mắc sai lầm ấy thì Việt Nam đã giầu
mạnh từ lâu”, “không hèn mọn và mất dân chủ” bởi “chế độ độc đảng toàn trị như
bây giờ”. Hùa theo giọng điệu vu cáo trên, một số người lại cho rằng “Thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là ăn may vì Nhật thua quân Đồng Minh trong
Thế chiến thứ hai”, “để lại khoảng trống quyền lực ở Hà Nội nên “Đảng Cộng sản
Việt Nam “biến thành Thạch Xanh”, cướp thời cơ giành được thắng lợi nhanh
chóng”. Cho nên “thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là tình cờ, sự ăn
may”, “Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh không có tài cán, công trạng gì”.
Chúng còn cho rằng “chế độ độc đảng toàn trị của Chính phủ Hồ Chí Minh” chỉ
khác “chế độ vua quan bù nhìn” bởi cái tên gọi “lãnh đạo tập thể”, “dân chủ giả
hiệu”, v.v..Những giọng điệu lạc lõng “sặc mùi” vu cáo, xuyên tạc, khiêu khích,
kích động nêu trên đã “tiêm nhiễm nọc độc” vào một số người dân mà trình độ
hiểu biết, nhận thức có hạn, lại thiếu thông tin nên đã “nhẹ dạ cả tin, nghe
theo đài địch”. Nhưng nhìn chung, ở Việt Nam, bằng sự thật của “sự đổi đời” do
Cách mạng Tháng Tám đem lại, tuyệt đại đa số người dân đã bác bỏ sự bịa đặt, vu
khống hòng hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của
các thế lực thù địch. Hơn ai hết, nhân dân ta hiểu rõ giá trị của cuộc sống hòa
bình, độc lập, tự do, có được cơm no, áo ấm; thấm thía lời dạy của Bác Hồ, công
ơn trời biển của các anh hùng, liệt sĩ; sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của
Đảng. Họ ý thức sâu sắc rằng, nếu không có Đảng, Bác Hồ dẫn đường, chỉ lối,
chắc chắn Cách mạng Tháng Tám không thể thành công; nhân dân ta không thể thoát
khỏi ách áp bức, bóc lột; sự đô hộ của thực dân Pháp. Nếu không có Cách mạng
Tháng Tám, Việt Nam vẫn chỉ là “một nước thuộc địa, nửa phong kiến”, kinh tế
nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, người dân vẫn phải đi làm thuê kiếm sống, bị
đánh đập dã man, tàn ác; cả dân tộc bị đầy đọa bởi nạn đói rét, thất học; người
dân bị khinh rẻ, miệt thị bởi cái tên gọi “An nam mít”.
Là
người dân Việt Nam sống trên dải đất hình chữ S, cùng dòng giống “Lạc Hồng”,
không ai quên sự kiện “kinh thiên động địa” xảy ra năm 1945: Nạn đói đã cướp đi
sinh mệnh của hơn hai triệu người dân Việt Nam vô tội, bằng 10% dân số nước ta
thời đó. Nỗi đau vẫn còn mang, sự nhục nhã không thể xóa sạch. Nhờ có Đảng, Bác
Hồ soi đường, chỉ lối, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, hiểu rõ điều phải
trái, đúng sai; ý thức rõ rằng muốn cứu nước, cứu nhà, thoát khỏi thân phận nô
lệ, lầm than; giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là làm cuộc cách
mạng vô sản, thực hiện “cuộc đổi đời”, tự cứu lấy mình. Họ đã tin tưởng cách
mạng, một lòng một dạ đi theo Đảng, tham gia phong trào Xô viết – Nghệ Tĩnh
1930-1931, phong trào dân chủ 1936-1939, phong trào phản đế Đông Dương
1939-1945; coi đó là những cuộc “tổng diễn tập” chuẩn bị cho Cách mạng Tháng
Tám thành công. Sử sách còn ghi, lòng người còn nhớ, các thế lực thù địch, phản
động, cơ hội chính trị không thể “lấy oán báo ân”, phủ nhận sạch trơn sự thật
lịch sử. Ai cũng biết, nhờ thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã xóa bỏ sự thống trị dã man, tàn bạo của quân xâm
lược, giành lại quyền sống làm người, nhân dân tự tin bước lên vũ đài chính
trị, tự xác lập “ngôi vị làm chủ đất nước”; kiến tạo và xây dựng chế độ xã hội
mới bắt đầu từ ngày Bác Hồ đọc Tuyên Ngôn độc lập, khai sinh Nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Đó là sự thật, không thể chối cãi, cớ sao bọn người xấu lại cố
tình bịa đặt, phủ nhận, xuyên tạc, bôi đen sự thật ấy. Mọi người đã hiểu rằng
Cách mạng Tháng Tám không phải là sự chuyển giao chế độ “vua trị” sang “đảng
trị” như một số người “dựng chuyện”, “rêu rao”. Về thực chất, Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 là một “cuộc đổi đời” do nhân dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Bác Hồ, đã thay đổi chế độ quân chủ phong kiến sang chế độ Dân Chủ Nhân
dân, Dân Chủ Cộng Hòa. Kể từ đó, nhân dân ta ra sức xây dựng cuộc sống mới,
kiến tạo và xây dựng chế độ xã hội mới trên nền tảng Dân Chủ Cộng Hòa và độc
lập, thống nhất. Vì vậy, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là “nguyên
nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu” như kẻ xấu đã vu cáo, quy kết, buộc
tội Đảng ta.
TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT, CHỐNG CHIA RẼ ĐỒNG BÀO TÔN GIÁO VÀ ĐỒNG BÀO KHÔNG TÔN GIÁO
Theo quan điểm của Đảng,
Nhà nước ta, đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn
giáo, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau là một bộ phận không thể
tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng bào theo tôn giáo, đồng bào
không theo tôn giáo, đồng bào theo các tôn giáo khác nhau đều là dân tộc Việt
Nam mà thiếu gắn bó thì sẽ làm cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc suy yếu. Vì
vậy, việc xây dựng, củng cố, tăng cường đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo phải được quan tâm thường xuyên và phải dựa trên
những yêu cầu, nguyên tắc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đoàn
kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo phải trên cơ sở
lợi ích quốc gia, dân tộc và vì mục tiêu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của
cách mạng Việt Nam. Trong thực tiễn lịch sử Việt Nam điều này đã được khẳng
định rất rõ. Chính sự đoàn kết ấy đã tạo nên sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng
mọi thù trong, giặc ngoài, xóa bỏ mọi áp bức, bất công xây dựng một cuộc sống
phồn vinh, hạnh phúc. Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định khối đại đoàn kết
toàn dân tộc nói chung và sự đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo với đồng bào
không theo tôn giáo, đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nói
riêng là động lực chủ yếu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng bào
theo tôn giáo, đồng bào không theo tôn giáo và cả hệ thống chính trị đều phải
có trách nhiệm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo phải tôn trọng
lẫn nhau, tin cậy ở nhau để chung sức, chung lòng củng cố tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở
các địa phương nhất là vùng đồng bào tôn giáo, theo chức năng nhiệm vụ của mình
phải ra sức củng cố, tăng cường mối đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo cùng nhau phát triển kinh tế – xã hội, củng cố
quốc, an ninh xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh. Một quan điểm, lập trường
rõ ràng nữa của Đảng và Nhà nước ta là, đi đôi với thực hiện đoàn kết giữa đồng
bào theo tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau chúng ta phải kiên quyết đấu tranh với những hành động lợi dụng
vấn đề “tôn giáo” gây chia rẽ mất đoàn kết, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn
dân tộc nói chung, đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo
tôn giáo nói riêng. Trong mọi trường hợp cần phân biệt rõ ràng đâu là vấn đề
thuộc về tín ngưỡng, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chia
rẽ, chống phá để có thái độ, hành động đúng đắn. Có thể khẳng định đoàn kết
giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo là nguyên tắc trọng
tâm, xuyên suốt và nhất quán trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Những
thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực trong thời gian
qua là hết sức to lớn, không những chỉ trong nước mà bạn bè quốc tế cũng thừa
nhận. Đó là kết quả của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là đồng
bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, cũng như đồng bào theo các
tôn giáo khác nhau luôn gắn bó trên nền tảng chính sách đại đoàn kết toàn dân
tộc của Đảng ta. Những năm gần đây, đồng bào theo các tôn giáo, đồng bào không
theo tôn giáo đã đoàn kết tích cực tham gia có hiệu quả vào nhiều hoạt động,
nhiều cuộc vận động như xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân
đạo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư… Đặc biệt
là cùng với Mặt trận Tổ quốc tham gia hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, nhiều chương trình góp phần xây dựng,
củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh trật tự, phòng, chống tệ nạn xã hội…Các tổ
chức tôn giáo đã có nhiều cách làm sáng tạo tuyên truyền, vận động các tín đồ
sống “tốt đời, đẹp đạo”. Đạo Công giáo có đường hướng hành đạo “Sống Phúc âm
trong lòng dân tộc”,“Kính Chúa yêu nước”; đạo Tin lành có phương châm hành đạo
như “Sống phúc âm phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc”; Phật giáo
có “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; “Nước vinh đạo sáng” của đạo Cao
Đài;… Tuy nhiên trên thực tế cũng có không ít nơi này, nơi kia, người này,
người khác chưa hiểu rõ và thực hiện chưa tốt chính sách tôn giáo trước hết là
chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết người có tôn giáo với nhau, đoàn kết
người khác tôn giáo với nhau, đoàn kết người có tôn giáo với người không tôn
giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Không ít người, trong đó có cả chức sắc tôn
giáo không gương mẫu trong thực hiện chính sách. Đặc biệt một số đối tượng đã
lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị. Các thế lực thù địch âm mưu sử dụng
tôn giáo để kích động, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ
đồng bào tôn giáo, không tôn giáo và giữa các tôn giáo với nhau hòng chống lại
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Để tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo mà Đảng ta đã xác định, có
nhiều nội dung cần bàn. Nhưng vấn đề đặc biệt quan trọng, có tính chiến lược
lâu dài và phải tiến hành thường xuyên, đồng bộ là phải làm cho toàn Đảng, toàn
dân nói chung, các tín đồ, chức sắc tôn giáo nói riêng hiểu rõ và thực hiện
đúng quan điểm, tư tưởng, chính sách tôn giáo của Đảng ta. Nhà nước bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân; nghiêm cấm
sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng. Mọi công dân theo tôn
giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Thông qua công tác
tuyên truyền, giáo dục phải làm cho mọi người dân, các chức sắc và tín đồ tôn
giáo nhận thức rõ về âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân
dân ta. Giải quyết được hai việc ấy, trước mắt sẽ tăng sức đề kháng cho quần
chúng nhân dân nói chung và đồng bào giáo dân nói riêng. Khi quần chúng nhận
thức đúng vấn đề họ sẽ nâng cao cảnh giác, xác định rõ trách nhiệm trong phòng
ngừa và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống
phá Việt Nam của các thế lực thù địch.
TÔN GIÁO KHÔNG THỂ NÀO ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT
Gần đây trên một vài
trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, thường viện dẫn một số trường hợp công dân
Việt Nam theo các tôn giáo vi phạm pháp luật bị các cơ quan bảo vệ pháp luật áp
dụng các biện pháp xử lý, để từ đó quy chụp nói rằng: “Việt Nam đàn áp tôn giáo”.
Đây là một sự xuyên tạc, vu cáo trắng trợn. Việt
Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân. Quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người
dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín
ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam được quy
định rõ trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế, được tất cả những người
có lương tri trong nước và trên thế giới thừa nhận. Điều 24 Hiến pháp năm 2013
đã quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, cụ thể như sau: “Mọi
người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo
hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với việc khẳng
định trong Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các luật, nghị
định, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ
trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền
về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật. Ở Việt Nam có hầu hết các
tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc, nhà tu hành. Tôn giáo ở Việt Nam
luôn đồng hành cùng sự phát triển của đất nước Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có
43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động,
với hơn 26 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số Việt Nam… Cùng
với việc công nhận tư cách pháp nhân, mở mang cơ sở thờ tự, các tổ chức tôn
giáo ở Việt Nam đều xây dựng đường hướng hoạt động tiến bộ theo tinh thần: Gắn
bó, đồng hành cùng dân tộc, hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, ủng hộ và
tích cực tham gia góp phần vào công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những
đối tượng mà một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam nhắc đến họ không
phải bị bắt, bị đưa ra xét xử vì lý do tôn giáo mà là họ đã lợi dụng tôn giáo
và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Một thực tế cần nhắc lại rằng, không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên
thế giới, giáo dân trước hết là công dân. Trước khi thực hiện lời răn dạy của
chúa, đức phật và các đấng tối cao họ phải có bổn phận thực hiện và chấp hành
đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước. Không ai được phép lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị chống pháp
Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tôn giáo không thể đứng trên pháp luật, đứng ngoài
pháp luật. Giáo dân trước hết là công dân, mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng
trước pháp luật. Khi phạm vào các tội được quy định trong pháp luật, thì dù
công dân đó có theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, theo tôn giáo nào đều
chịu sự trừng phạt của pháp luật một cách bình đẳng. Tự do tôn giáo không thể
bị đánh lận với những đối tượng lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phạm
pháp. Ở Việt Nam không có chuyện đàn áp vì lý do tôn giáo, mà chỉ có những kẻ
vi phạm pháp luật Việt Nam bị xử lý mà thôi.
TÔN TRỌNG, BẢO VỆ NHÂN QUYỀN LÀ CHỦ TRƯƠNG NHẤT QUÁN CỦA VIỆT NAM
Việt Nam đã trúng cử trở
thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, tại
phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 tại New York (Mỹ), ngày
11/10/2022 (theo giờ New York, đêm 11/10 theo giờ Hà Nội). Kết quả bầu cử cho thấy
sự tham gia tích cực của Việt Nam trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc, những cam kết và nỗ lực mạnh mẽ của Việt Nam về thúc đẩy và bảo
vệ quyền con người đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, tin tưởng và đánh giá
cao. Tôn trọng và bảo vệ
nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam và điều này
được thể hiện rõ trong bản Tuyên ngôn độc lập và trong Hiến pháp. Đảng và Nhà
nước ta luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại; bảo đảm
và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững. Tính đến năm 2021, Việt
Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con
người (Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế-xã hội và
văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước
về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền trẻ em; Công ước
về quyền của người khuyết tật; Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử
hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người); phê chuẩn, gia
nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước
cơ bản. Việt Nam cũng tham gia
tích cực tại các khóa họp thường niên và các phiên họp đặc biệt của Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc về tình hình tại Myanmar, Palestine, Afghanistan,
Sudan, Ethiopia, một mặt giới thiệu về các nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy
và bảo vệ quyền con người, phản bác các thông tin sai lệch, sai sự thật, mặt
khác tham gia tích cực vào các thảo luận của Hội đồng Nhân quyền về các vấn đề
toàn cầu, tình hình bảo vệ quyền con người tại các khu vực trên thế giới cần sự
quan tâm đặc biệt, góp phần vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc
đảm bảo các quyền con người cơ bản cho người dân tại tất cả các quốc gia trên
thế giới.
Tháng
2/2021, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị cấp
cao trong khuôn khổ Khóa 46 Hội đồng Nhân quyền, trong đó nêu bật các chính
sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
trong bối cảnh đại dịch. Việt Nam hỗ trợ khẩu trang, vật tư y tế cho hơn 50
nước và đối tác quốc tế, đề xuất và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua
bằng đồng thuận Nghị quyết chọn ngày 27/12 là Ngày quốc tế phòng chống dịch
bệnh với mục đích nâng cao nhận thức về việc phòng ngừa và ứng phó các dịch
bệnh. Để bảo đảm cho mọi người Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ quyền con người,
Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp
luật. Tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày
2/6/2005, của Bộ Chính trị, “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” cho thấy, đến nay, trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thì quyền con
người, quyền công dân đã có luật điều chỉnh và không ngừng được bổ sung, hoàn
thiện. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được xem là đỉnh cao trong hoạt động lập
hiến về bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, khẳng định sự nhất quán về nội dung
quyền con người, quyền công dân trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992;
đồng thời, bổ sung nhận thức mới, đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn trong việc
thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam đã tham gia. Bên cạnh việc chế định quyền con người trong
Hiến pháp, Nhà nước chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp
luật về quyền con người. Từ năm 2019 đến tháng 1/2022, Quốc hội Việt Nam đã
thông qua 39 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến
quyền con người, quyền công dân, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm
2013, bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên,
như: Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Thanh niên năm 2020, Luật Giáo dục năm
2019, Luật Cư trú năm 2020, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính năm 2020, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm
2019, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020, Luật Người Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020… Thực hiện một số khuyến nghị, các đơn
vị đầu mối của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng đang rà soát để sửa
đổi, bổ sung một số luật phù hợp các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc
nghiên cứu sửa đổi Luật Trẻ em, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống
mại dâm, nghiên cứu sửa đổi Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011, nghiên
cứu xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính. Cùng với việc thúc đẩy, nâng cao hiệu
quả hoạt động thực thi pháp luật về quyền con người, Việt Nam đặc biệt chú
trọng tới việc xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người. Ngoài
thiết chế nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và truyền
thông, báo chí cũng tham gia tích cực bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền
công dân. Các cơ quan chuyên môn, chuyên trách về quyền con người được Nhà nước
thành lập, như Ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ và các địa phương; xây
dựng và hoàn thiện tổ chức của các cơ quan chuẩn bị và thực hiện báo cáo tình
hình thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là
quốc gia thành viên; xây dựng và hoàn thiện báo cáo nhân quyền trong khuôn khổ
cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc,
cũng như các hoạt động hợp tác quốc tế khác trên lĩnh vực quyền con người.
Việt Nam không chỉ là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn
thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 mà
còn được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục
tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Trong
bối cảnh đại dịch COVID-19 và tình hình thiên tai, bão lụt tại các địa phương
gây thiệt hại nặng nề về kinh tế-xã hội, nhưng với sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc,
Việt Nam đạt được những thành tựu ấn tượng. Tạp chí The Economist tháng 8/2020
xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Trang
liberationnews.org (Mỹ) kết luận: Thành công của Việt Nam trong phòng, chống
dịch COVID-19 “không đơn giản là một phép màu”, mà đó là “kết quả của một chính
phủ xã hội chủ nghĩa đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế”. Đó là mô hình “để
không ai bị bỏ lại phía sau”. Với những kết quả đạt được trong việc thực thi
pháp luật về quyền con người, cùng với môi trường thiên nhiên tươi đẹp, chế độ
chính trị văn minh, văn hóa đặc sắc, xã hội ổn định, con người thân thiện, cởi
mở, năm 2019, Việt Nam đã lọt vào top 10 danh sách những quốc gia đáng sống và
làm việc nhất thế giới.



