Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

Tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

          Trong tình hình hiện nay, để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần tập tiếp tục khẳng định và làm rõ một số nội dung cơ bản sau:

          Một là, Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho đường lối cách mạng, cho nhận thức và hành động thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức sống của Chủ nghĩa Mác đã, đang và sẽ tiếp tục tồn tại, phát huy giá trị có ý nghĩa thực tiễn lớn lao vào sự phát triển của nhân loại. Ngay cả ở các nước tư bản chủ nghĩa thì Chủ nghĩa Mác vẫn lan tỏa ngày càng rộng rãi và phát huy tinh thần khoa học, cách mạng của mình.

          Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của Đảng, thể hiện mục tiêu, khát vọng của dân tộc Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử nhân loại. Đi lên chủ nghĩa xã hội chính là sự lựa chọn tất yếu, khách quan, khoa học và hoàn toàn phù hợp với quy luật và xu thế phát triển của đất nước ta. Đó là sự thật đã trở thành chân lý mà không ai có thể phủ nhận. Điều này đã được chứng minh sinh động một cách hào hùng và thuyết phục qua thực tiễn 93 năm qua.

          Ba là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đột phá lý luận của Đảng, được thực tiễn kiểm định là hoàn toàn đúng đắn.
Học thuyết Mác đã chỉ rõ, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại, là nấc thang phát triển tất yếu của xã hội nên sẽ còn tồn tại ở các phương thức sản xuất khác nhau. Nếu như trong chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường được coi là mục tiêu, do vậy, các nhà tư bản có thể bất chấp thủ đoạn, cách thức, lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để chiếm đoạt giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt, thì ở Việt Nam, xuyên suốt các kỳ đại hội, Đảng ta xác định rõ, kinh tế thị trường chỉ là phương tiện, là cách thức để tạo lập, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, lấy con người là trung tâm, vì mọi người và do con người, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tuyệt nhiên không vì mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như chủ nghĩa tư bản.
          Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh: Sự lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hoàn toàn không phải một kiểu lắp ghép như các thế lực thù địch, phản động quy chụp mà đó chính là sự trung thành, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Không để kẻ xấu chia rẽ khối đại đoan fkết toàn dân tộc

 

          Đất nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một, tuy nhiên, mỗi dịp lễ, Tết, nhất là đến dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ngày Quốc khánh thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội lại “ra rả” những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc về khát vọng hòa bình, thống nhất cùng những nỗ lực, quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Cùng với đó là những “lý luận” ảo tưởng, hão huyền về “khôi phục” một chế độ đã qua hòng bôi đen sự thật, phá hoại khối đại đoàn kết, phá hoại chủ trương hòa hợp dân tộc. Trước những thủ đoạn, chiêu trò đó, chúng ta cần tiếp tục khẳng định:

          Một là, nước Việt Nam là một; dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn. Núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Vì thế, dù với toan tính “chia để trị” hay bất cứ âm mưu phân hóa, chia rẽ nào của các thế lực xâm lược, thì mỗi người dân đất Việt cũng đều là “con Rồng cháu Tiên” - chung một Quốc Tổ Hùng Vương.

Hai là, vì nước Việt Nam là một, nên “đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta”.

          Ba là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) để thực hiện khát vọng thống nhất non sông, hiện thực hóa tư tưởng, ý chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định thống nhất. Đồng bào Nam - Bắc nhất định sum họp một nhà”, chứ đó tuyệt đối không phải là “nội chiến”, càng không phải là “miền Bắc đánh chiếm miền Nam” hay “là cuộc chiến tranh ý thức hệ, huynh đệ tương tàn” như luận điệu phản động của các thế lực thù địch.

          Vì thế, hiểu đúng khát vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân về chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”  và “Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà… Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta.

Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên

 

          Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là nguyên tắc bảo đảm cho Đảng ta tiếp tục hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trước sự tác động của cách mạng KHCN hiện đại.

           Để làm được điều đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, những người xung kích trên mặt trận tư tưởng, lý luận cần phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ và phát triển không ngừng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng những thành tựu KHCN hiện đại để đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền nhằm kết nối, chia sẻ những thông tin hữu ích, đấu tranh với những nhận thức sai trái; phát huy hiệu quả các trang thiết bị, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch; tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận nhằm không ngừng lý luận hóa thực tiễn gắn chặt với thực tiễn hóa lý luận; xây dựng đội ngũ những nhà lý luận chính trị kiên định lập trường gắn chặt với kiến tạo đội ngũ những nhà khoa học chuyên ngành và liên ngành nhằm xây dựng một đội ngũ những nhà lý luận xuất sắc, trong đó những nhà lý luận chính trị đóng vai trò nòng cốt; xây dựng một cơ chế nghiên cứu khoa học lý luận chính trị một cách cơ bản, thực sự dân chủ và minh bạch; chú trọng sơ kết, tổng kết công tác nghiên cứu lý luận chính trị. Đó chính là con đường C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đã đi và chúng ta tiếp tục đi trên con đường ấy, vì sự phát triển của CNXH, sự tiến bộ và văn minh của dân tộc và nhân loại. Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nhằm khẳng định những đặc trưng, thuộc tính thể hiện sự ưu việt của nó so với các học thuyết lý luận khác trong lịch sử, mà còn là mệnh lệnh, yêu cầu sống còn đối với những người cộng sản chân chính.

          Đúng như Đảng ta đã xác định: Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam được thể hiện dưới hình thức lý luận; là bảo vệ linh hồn, mạch sống của Đảng, bảo vệ công cụ nhận thức vĩ đại, vũ khí tư tưởng lý luận sắc bén của cách mạng Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đây không là nhiệm vụ của riêng ai mà là công việc hàng ngày của mỗi cán bộ đảng viên chúng ta./.

Luận điệu cố tình xuyên tạc quan điểm "lấy dân làm gốc"

 

          "Lấy dân làm gốc" là quan điểm nhất quá của Đảng ta trong suốt quá trình hoạt động từ trước đến nay. Trải qua quá trình phát triển, có nhiều bước tiến mới nhưng những nội dung cơ bản của quan điểm vẫn được giữ vững và phát huy. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá, bôi xấu về quan điểm tốt đẹp này của Đảng ta.

          Các đối tượng chống phá triệt để lợi dụng một số tiêu cực, sai phạm của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý để xuyên tạc rằng "đầy tớ của nhân dân" thì có cuộc sống sung sướng, hưởng thụ, có tài sản kếch xù, và chủ thể đích thực được thụ hưởng là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, có chức có quyền, thuộc một bộ phận nhỏ của xã hội chứ không phải là toàn thể người dân, nhất là nhân dân lao động. Từ đó các đối tượng cố tình phủ nhận tất cả những nỗ lực và thành quả về dân chủ và bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang dày công gây dựng. Không khó để nhận thấy mục đích mà các đối tượng hướng tới là nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

          Cần nhận thức rằng, quan điểm về dân chủ, thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và dân chủ XHCN từ lâu không chỉ là tư tưởng mà đã được cụ thể hóa trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước qua nhiều kỳ đại hội và đang được hiện thực hóa, phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

          Phát huy tư tưởng "lấy dân làm gốc" và sự bổ sung cụm từ "dân giám sát, dân thụ hưởng" vào phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" tại Văn kiện XIII được xuất phát từ quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc của Đảng ta và là bước phát triển mới trong nhận thức về phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Chính vì vậy, "dân thụ hưởng" không phải là khẩu hiệu suông mang tính hình thức. Đó là kết quả mang tính tất yếu trong sự phát triển nhận thức và giá trị tất yếu mà người dân được hưởng trong nền dân chủ XHCN.

          Thực tiễn đã chứng minh, những năm qua, nhân dân ta đã và đang được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước trên mọi phương diện, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện. Với mục đích tối thượng của mọi chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng hệ thống pháp luật, quản lý xã hội... đều trên cơ sở vì con người, mang lại những điều tốt đẹp nhất cho con người, người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Mọi luận điệu bôi xấu, xuyên tạc về quan điểm "lấy dân làm gốc" đều là sai lệch, không có cắn cứ, không có giá trị.

Nâng cao ý thức, cảnh giác với những thông tin xấu độc trên mạng xã hội

 

          Theo số liệu chính thức, có tới 70% dân số nước ta tham gia mạng xã hội. Các thế lực thù định luôn biết lợi khai thác những tính năng hấp dẫn của mạng xã hội để đăng tải, truyền bá những tư tưởng xấu độc. Vì thế, các cơ quan chức năng, cũng như mỗi người dân phải nêu cao cảnh giác với những loại thông tin đó trên mạng xã hội.

          Đối với các cơ quan hữu quan của Đảng, Nhà nước và các chủ thể quản lý pháp luật về an ninh mạng: Cần chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường các biện pháp giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của công dân về pháp luật, nhất là Luật An ninh mạng; các chỉ thị, quy định về cung cấp, phát triển, sử dụng các nền tảng mạng xã hội; ý thức, trách nhiệm và những nguyên tắc khi tham gia các nền tảng mạng xã hội của người dân. Hoàn thiện các quy định về quản lý thông tin trên mạng xã hội; tập trung nghiên cứu xây dựng luật về quản lý thông tin trên mạng, Luật An ninh mạng để có thể tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ, phù hợp; tích cực xây dựng khung khổ pháp luật khoa học, tiến bộ để truyền thông xã hội hoạt động, phát triển lành mạnh, đúng hướng và quản lý tốt mạng xã hội.

          Đối với người tham gia mạng xã hội: Khi tham gia môi trường mạng, các “cư dân mạng” nên lan tỏa những thông tin, hình ảnh tốt đẹp về các hoạt động xã hội, hoạt động vì cộng đồng, phê phán những thói xấu, biểu hiện lệch lạc, hướng tới thông điệp nhân văn, xây dựng văn hóa ứng xử trên mạng xã hội thanh lịch, văn minh. Đồng thời, cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, không sử dụng ngôn ngữ lai căng, tục tĩu, có tính bạo lực; chỉ đăng, phát thông tin rõ nguồn gốc, đã được kiểm chứng. Đặc biệt, không được lập nhóm, hội để nói xấu, bôi nhọ, xúc phạm người khác hoặc công kích lẫn nhau; không “vào hùa” theo đám đông khi chưa hiểu rõ về vụ việc hoặc không có căn cứ. Trong quá trình đăng tải các thông tin, các cư dân mạng không đăng những thông tin bịa đặt, thông tin vi phạm pháp luật; không sử dụng những ứng dụng không rõ nguồn gốc để tránh bị làm phiền bởi các tin rác hay bị lấy cắp thông tin tài khoản.

          Các “cư dân mạng” cần nắm rõ và tuân thủ các quy định của Luật An ninh mạng. Trên cơ sở đó, mỗi người cần biến tài khoản mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin lành mạnh và thực hiện truyền thông xã hội trên tinh thần trách nhiệm cộng đồng, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình, phản bác... những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội.

Những luận điệu chống phá mới của các kẻ cơ hội chính trị

 

          Ngày nay, khi không gian mạng càng tự do, càng phát triển thì các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng mạng xã hội để bôi xấu, xuyên tạc những giá trị tốt đẹp của xã hội ta.

          Cách thức phổ biến của chúng là: Xuyên tạc, bịa đặt về lịch sử thân thế, sự nghiệp; xúc phạm đời tư, cuộc sống gia đình, gán ghép các mối quan hệ xã hội... Để tăng hiệu quả, họ thường tung thông tin này vào những thời điểm nhạy cảm về chính trị, như: Những sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; trước, trong và sau dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn; đại hội Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp...

          Ngoài ra, chúng còn mượn một hiện tượng, một cá nhân cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất bị pháp luật nghiêm trị để đánh tráo khái niệm, quy chụp, đánh đồng thành bản chất chế độ xã hội, bản chất của Đảng và Nhà nước. Chỉ cần một hành động, một câu nói nào đó của cán bộ, đảng viên cũng bị họ phân tích, mổ xẻ, xuyên tạc ở nhiều góc độ để thêu dệt thành những câu chuyện thị phi rùm beng. Thậm chí, họ còn cố tình dàn dựng những “cạm bẫy” nhằm kích động, làm cho những cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh, kinh nghiệm, mất kiềm chế trong những tình huống cụ thể để tổ chức quay phim, chụp hình rồi cắt ghép, chỉnh sửa, thêu dệt thành những câu chuyện gây bức xúc trong “dư luận”. Hơn thế nữa, họ còn rất thạo các cách thức để thổi phồng sự việc, để thu hút người theo dõi, tạo điểm nóng trong “dư luận”. Từ một hành động nhỏ chưa phù hợp của một cán bộ, đảng viên nào đó, họ có thể "vẽ" thành một bức tranh toàn cảnh về đạo đức, lối sống, về nghệ thuật xã giao, văn hóa công vụ... của cả một cơ quan, đơn vị, của Đảng, của xã hội rồi đem so sánh với các nước khác, bất chấp sự khập khiễng. Nguy hiểm hơn, để hướng dư luận theo mưu đồ của mình, họ chặn hoặc loại bỏ những bình luận trái chiều, ý kiến đấu tranh của những người có chính kiến để tạo nên dạng thông tin một chiều có lợi cho mục đích chống phá.
          Không khó để nhận ra đây là những thủ đoạn của hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Bởi vì, thủ đoạn dù có tinh vi đến đâu, xảo quyệt thế nào thì bản chất cũng chỉ là chiêu trò “bình mới, rượu cũ”. Mỗi chúng ta phải tích cực ngăn chặn chúng lại, không để chúng làm vấy bẩn không gian mạng bằng những thủ đoạn thấp hèn như vậy.

Thủ đoạn bôi xấu công đoàn Việt Nam

 

          Hiện nay, công đoàn các cấp đang tổ chức đại hội, tiến tới Đại hội Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2023-2028, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn lại gia tăng chống phá với những luận điệu như: Công đoàn Việt Nam chỉ là bù nhìn; chỉ có "công đoàn độc lập" mới bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

          Có thể thấy, chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành là hết sức thâm độc, nham hiểm. Đây thực chất là âm mưu nhằm hạ thấp vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam để phục vụ cho mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta, làm cho nước ta bị suy yếu, mất đoàn kết. Nếu công nhân, người lao động không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh sẽ mắc mưu kẻ xấu, vi phạm pháp luật.

          Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, Nhà nước ta ghi nhận và cho phép quyền tự do lập hội của công dân. Nhưng việc lập hội phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật, được Nhà nước Việt Nam công nhận.

Còn cái gọi là “công đoàn độc lập” hay “nghiệp đoàn độc lập” do một số kẻ tự khởi xướng hoàn toàn bất hợp pháp, trái với quy định của pháp luật và không được Nhà nước Việt Nam thừa nhận. Bề ngoài, chúng tuyên bố “không làm chính trị” nhưng lại câu kết với các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam như: Nghiệp đoàn FO, Lao động Việt, Nhóm bạn công nhân (thuộc Việt Tân), Luật khoa tạp chí, Hội nhà báo độc lập... Các tổ chức này hoàn toàn không đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và công nhân, mà thực chất là đội lốt, mượn mũ công nhân để thực hiện mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động.

          Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy những bài học đắt giá từ sự nhận thức chưa đúng, dẫn đến công nhân bị dẫn dắt bởi các tổ chức “dân sự” như “công đoàn độc lập”, “công đoàn đoàn kết”, “công đoàn tự do”... Các hội, nhóm, tổ chức này sử dụng nhiều chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo công nhân vào cái bẫy của chúng để hình thành lực lượng chống đối chính quyền, lật đổ chế độ nhằm cướp quyền lãnh đạo.

          Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết, không thể thiếu và vai trò, uy tín của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức công đoàn các cấp hiện nay. Còn cái gọi là “công đoàn độc lập”, "nghiệp đoàn độc lập" không hề và không thể đại diện cho quyền, lợi ích của công nhân, người lao động, mà chỉ là kiểu lợi dụng để thực hiện mưu đồ chính trị. Vì vậy, người dân cần hiểu rõ để tránh mắc mưu các thế lực thù địch, phản động./.

Cần đấu tranh với những lời bình luận "bẩn" trên mạng xã hội

 

          Lợi dụng chức năng cho phép người dùng bình luận (comment) trên mạng xã hội. Nhiều cá nhân, tổ chức phản động đưa những thông tin xấu độc lên mạng xã hội với chủ đích chống phá, bôi xấu, phá hoại tiêu cực.
          Những lời, bình luận "bẩn" có khá nhiều dạng. Dạng dễ nhận thấy nhất là những comment tục tĩu. Những bình luận "bẩn" dạng này thường là những lời nói bậy bạ, vô văn hóa, văng tục, chửi thề, song thường thì câu từ không có nhiều ý nghĩa cụ thể mà chỉ nhằm mục đích a dua phá hoại. Loại này có thể dễ dàng gặp ở những diễn đàn không có người quản lý trực tiếp (admin) hoặc những trang mạng có bộ lọc ngôn từ không cao. Tuy nhiên, số lượng comment loại này thường rất nhiều nên dễ vượt quá sự kiểm soát.

          Loại bình luận "bẩn" thứ hai tinh vi hơn, dễ lọt lưới kiểm soát hơn vì nhìn thoáng qua tưởng chừng vô hại. Những kẻ thường xuyên tung bình luận "bẩn" dạng này bỏ thời gian để theo dõi xem những người còn lại trong diễn đàn đang nói về điều gì để bắt lỗi, chất vấn... những bình luận này thường gay gắt hơn mức bình thường. Người đưa ra bình luận luôn sẵn sàng đối đáp kịch liệt với “chủ thớt” (cách gọi của cư dân mạng để chỉ người lập ra topic) để chứng minh nhận xét của mình, cứ như vậy sẽ tạo nên làn sóng lan truyền trên mạng.
          Loại bình luận "bẩn" thứ ba là những comment do chính “chủ thớt” nêu ra để làm chủ đề bàn luận cho cư dân mạng tham gia hoặc mượn một topic nào đó và đưa ra nhận xét, bình phẩm, đánh giá của mình, từ đó lôi kéo, kích động người khác cùng bình luận nhằm đạt được ý đồ. Dạng bình luận "bẩn" này thường được dựng lên có chủ đích rõ ràng, có thể vì mục đích chính trị, kinh tế, xã hội... Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến dạng bình luận "bẩn" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng mạng xã hội, truyền thông xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, xúc phạm danh dự các vị lão thành cách mạng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội...

          Những người thực hiện thủ đoạn này được đào tạo khá bài bản với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nên họ thực hiện ngày càng thường xuyên và tinh vi hơn. Đối tượng họ hướng đến là các lão thành cách mạng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và những người có vị trí, vai trò, tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước hoặc cán bộ, đảng viên thường xuyên, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân…

          Không để cho kẻ xấu lợi dụng, mỗi cá nhân tham gia mạng xã hội cần tỉnh táo, nhận diện ra những bình luận xấu, có chủ đich của các kẻ tiêu cực. Từ đó có những đấu tranh, phản bác lại chúng cho thích đáng. 

Giải pháp tăng cường giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đối ngoại

 

          Trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

          Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ. Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.
          Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

          Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại... Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

Đường lối ngoại giao độc lập tự cường của Đảng ta

 

          Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

          Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

          Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
          Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

          Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

          Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một mô hình được sáng tạo từ những giá trị cốt lõi, nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

          Theo Mác, “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia”.  Lênin cũng đưa ra chính sách kinh tế mới nhằm khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, phát triển quan hệ hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất là nội dung cốt lõi của kinh tế chính trị Mác - Lênin  mà bất cứ thời đại nào cũng cần chú trọng. Việt Nam đang trải qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thừa nhận những bất cập do quá trình cải biến cách mạng xã hội tạo thành, để từ đó không ngừng điều chỉnh, xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn, tích lũy cơ sở vật chất cho xã hội xã hội chủ nghĩa.

          Ngày nay, các thành phần kinh tế không ngừng phát triển, mang lại những đóng góp tích cực cho nền kinh tế Việt Nam. Song, Đảng cũng thẳng thắn thừa nhận còn tồn tại tình trạng bóc lột trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là một hiện tượng kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, nhưng với sự lãnh đạo, định hướng của Đảng trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chúng ta không để tình trạng này trở thành bản chất của nền sản xuất cũng như bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua địa vị thống trị của giai cấp tư sản chứ không phải phủ nhận hoàn toàn những yếu tố tích cực, tiến bộ của chủ nghĩa tư bản.

          Do đó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là một mô hình kinh tế phát huy được hết sức mạnh của các nguồn lực, đảm bảo lợi ích kinh tế được đặt trong mối quan hệ sâu sắc với tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một phép cộng đơn thuần mà là mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế thị trường và tính định hướng xã hội chủ nghĩa.

          Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp chúng ta  thoát khỏivòng luẩn quẩn trong xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội như nhiều nước tư bản lớn hiện nay đang phải đối mặt.

Luận điệu sai trái của những kẻ thù địch về những quy luật cốt lõi trong hệ thống học thuyết của kinh tế chính trị Mác - Lênin

 

          Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa mà đỉnh cao là nền kinh tế thị trường. Những kẻ chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin muốn phủ định quy luật giá trị khi đưa ra những hiện tượng, sự vật cá biệt để chứng minh quy luật này sai, không còn ý nghĩa và giá trị khoa học trong thời đại ngày nay.

          Những kẻ tự cho mình hiểu học thuyết Mác - Lênin đã sử dụng những ví dụ cũ rích và đã sai ngay từ phương pháp tiếp cận khi lấy một sự vật, hiện tượng cá biệt nằm ngoài quy luật kinh tế trong hệ thống học thuyết Mác để phủ nhận giá trị khoa học trong những nghiên cứu của ông. Họ dựa vào những hình thái của hàng hóa trong xã hội hiện đại, đánh đồng giữa trí tuệ nhân tạo với máy móc để khẳng định máy móc cũng tạo ra giá trị thặng dư - từ đó cổ vũ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chỉ trích chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, lạc hậu, xóa nhòa đi ý nghĩa to lớn của quy luật sản xuất giá trị thặng dư mà Mác đã dày công nghiên cứu, phát hiện. Những thế lực thù địch còn đề cập đến những nội dung xoay quanh vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, dùng những thứ dân chủ giả hiệu để phê phán sở hữu của chủ nghĩa xã hội. Chúng cho rằng, chủ nghĩa xã hội sẽ cướp đi quyền sở hữu của con người, cổ súy cho việc dùng quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để nô dịch lao động của người khác; khẳng định sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản sẽ xóa bỏ bóc lột thông qua việc đề cập đến những chính sách ưu đãi công nhân, người lao động của các tập đoàn tư bản lớn.

          Cố tình hạ thấp, thậm chí phủ nhận giá trị khoa học của quy luật giá trị, quy luật sản xuất giá trị thặng dư, thế lực thù địch muốn khẳng định sự tồn tại vĩnh cửu của chủ nghĩa tư bản, đánh đồng kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản. Chúng coi kinh tế thị trường là riêng có của chủ nghĩa tư bản, và cả chủ nghĩa tư bản cũng như kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản là xu hướng tất yếu và duy nhất của nhân loại. Chúng cho rằng sẽ không cần và không có một mô hình kinh tế thị trường nào khác kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đưa ra quan điểm phủ nhận chủ nghĩa xã hội, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Dù có cố tình thế nào đi nữa thì Quy luật giá trị trong học thuyết của Mác - Lênin cũng vẫn là một quy luật đúng đắn và khách quan, không thể có thế lực nào muốn xoá bỏ, xuyên tác được. Tất cả những luận điệu xuyên tạc về quy luật giá trị này đều là chủ quan, vì những mục đích thấp hèn, cá nhân mà thôi.

Những luận điệu cố tình, lạc lõng, sai sự thật

 

          Gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua. Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

          Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

          Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

          Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

          Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Chúng ta cần lên án mạnh mẽ những luận điệu xấu, độc nêu trên!

Thêu dệt, bóp méo sự thật

 Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, Người Phát ngôn Bộ Công an cũng như các cơ quan chức năng đã có các thông tin chính thức với báo chí và tại một số hội nghị, diễn đàn có liên quan. Việc thông tin đảm bảo tính chính xác, kịp thời, giúp người dân trong nước và dư luận quốc tế nắm được thông tin, bản chất vụ án, ủng hộ cơ quan chức năng tích cực điều tra, làm rõ để xử lý trước pháp luật; đồng thời lên án các cá nhân, tổ chức đứng sau vụ án, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu gây bất ổn tại khu vực Tây Nguyên.

BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC KHÔNG ĐẾN TỪ VIỆC LIÊN MINH QUÂN SỰ

 BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC KHÔNG ĐẾN TỪ VIỆC LIÊN MINH QUÂN SỰ

 Trong chính sách quốc phòng Việt Nam, không liên minh quân sự là chính sách tối ưu, hữu hiệu để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Chúng ta quán triệt và thực hiện nhất quán tinh thần “thêm bạn, bớt thù”. Nếu tham gia liên minh quân sự, buộc chúng ta sẽ phải gắn với một bên, tạo ra sự đối trọng, thế đối đầu với các nước khác - tức là “chuốc” thêm kẻ thù, hoàn toàn trái ngược với tinh thần trên. Đồng thời, tham gia liên minh quân sự thì Việt Nam phải chia sẻ trách nhiệm về tài chính, nhân lực, thậm chí có thể phải nhân nhượng một số lợi ích quốc gia, dân tộc; kéo theo nguy cơ xung đột, chiến tranh, điều mà nhân loại yêu chuộng hòa bình, trong đó có nhân dân Việt Nam không hề mong muốn. Việt Nam chỉ chọn đứng về hòa bình, đứng về lẽ phải, công lý trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Trong chính sách quốc phòng “bốn không”, Việt Nam cũng thực hiện nghiêm nguyên tắc không liên kết với nước này để chống nước kia. Nguyên tắc này giúp cho chúng ta có vị thế phù hợp để đối thoại với các nước hay tham gia vào các cơ chế đối thoại quốc phòng an ninh, quan sát viên các hội nghị, các cuộc tập trận ở khu vực.

Thực tiễn lịch sử cách mạng của nước ta đã chứng minh, thắng lợi trong giải phóng dân tộc, những thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay không đến từ việc liên minh quân sự, không đến từ việc chọn bên, chia phe, thân bên này chống bên kia trong các quan hệ quốc tế. Việt Nam giành được độc lập, thống nhất đất nước đến từ việc kết hợp sức mạnh nội lực với ngoại lực, trong đó xác định nội lực là chính, quyết định, ngoại lực là quan trọng. Thành quả cách mạng ấy là sự kết tinh của ý chí tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước trên thế giới. Bác Hồ đã từng chỉ ra rằng: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Bảo vệ Tổ quốc cũng vậy, không thể trông chờ, ỷ lại vào nước khác mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, tiềm lực của đất nước, bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại. Lịch sử dân tộc ta trải qua mấy nghìn năm, công cuộc dựng nước luôn gắn liền với giữ nước. Chính sách quốc phòng “bốn không” được đúc kết từ truyền thống, kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của ông cha, phù hợp với tình hình thực tiễn thế giới, khu vực và trong nước, chính sách ấy ngày càng chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả trên thực tế.

GÓP PHẦN NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HIỆN NAY

GÓP PHẦN NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HIỆN NAY

 Giáo dục và Đào tạo là lĩnh vực đặc biệt, có vai trò quyết định đến tiến trình phát triển lâu dài của đất nước, không những thế, nó còn tác động đến mọi gia đình, mọi con người trong xã hội. Do đó, đây là lĩnh vực các thế lực thường xuyên tìm cách tác động theo mục đích của “Diễn biến hòa bình”.

  Mục tiêu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo là làm suy giảm niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng, bộ máy chính quyền của Nhà nước, dần dần đi đến thay đổi đường lối chính trị theo những mưu đồ của họ. Thực hiện mục tiêu đó, các thế lực thù địch không từ một thủ đoạn, một lĩnh vực cụ thể nào. Do đó, cần cảnh giác với một số luận điểm của các thế lực thù địch lợi dụng việc cải cách, đổi mới căn bản Giáo dục và Đào tạo để thực hiện mưu đồ ở những nội dung sau:

- Xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo. Một số yếu kém trong Giáo dục và Đào tạo được họ khai thác triệt để, cho rằng đó là do lỗi của sự lãnh đạo và quản lý, ở đây họ chỉ nhìn thấy lỗi, thấy khuyết điểm mà không hề thấy những thành quả to lớn của giáo dục đã đạt được, những thành quả đó là nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Mặt khác, họ còn xuyên tạc là do thể chế chính trị tác động, giáo dục nặng về chính trị, tư tưởng cho nên chương trình, nội dung nặng nề và họ đòi bỏ phần giáo dục lý luận chính trị. Thực chất, bất cứ nền giáo dục nào cũng đều phải hướng đến mục tiêu đào tạo ra những thế hệ nguồn nhân lực có lý tưởng, biết vì dân tộc, vì quốc gia mình trên cơ sở nắm vững tri thức khoa học của nhân loại.

- Thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, yếu kém trong Giáo dục và Đào tạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào giáo dục nước nhà, cũng là giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Hiện nay, cả hệ thống chính trị cũng như ngành Giáo dục và Đào tạo đang đổi mới tự làm lành mạnh, trong sạch bên trong; quá trình này tất yếu phải loại bỏ những yếu tố tiêu cực, cản trở sự phát triển, đương nhiên những cái đó cần được lên án mạnh mẽ. Tuy nhiên, việc lên án này không được quy chụp cho cả hệ thống chính trị và ngành giáo dục, không được xuyên tạc từ một vài hiện tượng để đi đến kết luận bản chất. Hiện tượng tiêu cực trong giáo dục có ở mọi quốc gia, mọi nền giáo dục, ngay ở các nước phương Tây và Mỹ cũng không tránh được những hiện tượng này. Việc vi phạm pháp luật trong tuyển sinh ở một số địa phương vừa qua tại các tỉnh phía Bắc đã có pháp luật giải quyết, không được nhân đó bôi nhọ thanh danh của một số đồng chí lãnh đạo, vơ thêm các địa phương khác đang rất nghiêm túc, rất minh bạch trong công tác này.

- Sùng ngoại, bài nội trong vấn đề giáo dục, một số người chưa biết giáo dục các nước như thế nào, nhưng lại nức tiếng khen họ và chê bai nền giáo dục nước nhà. Một số khác cố gắng dành dụm để cho con mình ra nước ngoài học bằng được để mong con mình hơn con người; cứ tưởng học được như vậy là tài và nói xấu, chê bai giáo dục nước nhà, cho là lạc hậu, yếu kém; học xong không trở về quê hương để phục vụ, đóng góp sáng kiến cho dân tộc phát triển. Giáo dục nước ngoài mặt này, mặt khác tiến bộ khi chúng ta nhìn vào, nhưng chưa chắc đã mang lại hiệu quả trong điều kiện cụ thể của nước ta, cho nên chúng ta chỉ có thể tham khảo, tiếp thu những điểm, những cách làm xét thấy phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, chúng ta không đóng cửa mà sẳn sàng giao lưu với các nền giáo dục khác, nhưng cũng không thái quá trong vấn đề mở cửa giáo dục.

- Ra sức quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây và Mỹ coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Nguy hiểm hơn, họ còn đòi loại bỏ các môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi chương trình đào tạo; giảng viên, sinh viên phải được tự do về tư tưởng, không bị chi phối hoặc phụ thuộc vào bất cứ hệ tư tưởng nào.  

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

 

Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

Vang vọng Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác

 

Vang vọng Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác

Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác đã mở đầu cho các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, lan rộng khắp cả nước, góp phần đắc lực vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam; là nguồn cảm hứng bất tận, có giá trị không chỉ trong quá khứ mà ngay cả với hiện tại và tương lai, là di sản vô giá mãi trường tồn với dân tộc Việt Nam!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng di sản Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta là cả kho tàng di sản vô giá. Cả một đời vì nước vì dân, lời Bác cũng là lời của non nước, luôn thôi thúc, khơi dậy ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. 75 năm đã trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (ngày 11/6/1948) chính thức phát động phong trào thi đua ái quốc. Trong những thời khắc cam go, ác liệt của dân tộc, Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động đến mọi tầng lớp Nhân dân, có giá trị hiệu triệu, lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi hy sinh gian khổ, nhất là trong bối cảnh cần giải quyết đồng thời những nhiệm vụ cấp bách của dân tộc nhằm chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Bác kêu gọi toàn thể đồng bào, dù ở cương vị nào, làm công việc gì, đều phải tích cực thi đua yêu nước: “Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau: Làm cho mau/ Làm cho tốt/ Làm cho nhiều. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến/ Toàn diện kháng chiến. Cách làm là: dựa vào Lực lượng của dân/ Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua yêu nước đã phát triển khắp cả nước, có sức lan tỏa rộng rãi, nhiều sáng tạo mang lại khí thế sôi nổi trong các hoạt động thi đua:“Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm,” “Hũ gạo kháng chiến,” “Sóng Duyên Hải” “Gió Đại phong,” “Cờ Ba nhất”… đến các phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng,” “Phụ nữ ba đảm đang,” “Tuổi nhỏ chí lớn,” “Dạy tốt, học tốt”… thu hút đồng bào và chiến sĩ cả nước tích cực lao động sản xuất, học tập, kiên cường, dũng cảm chiến đấu diệt giặc ngoại xâm, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong thời kỳ đất nước đổi mới, nhiều phong trào thi đua yêu nước vẫn tiếp tục tạo được sức lan tỏa rộng khắp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thu hút mọi tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia hưởng ứng. Nhất là các hoạt động thi đua yêu nước gắn với học tập và làm theo Bác ngày càng nở rộ, xuất hiện ngày càng nhiều mô hình, cách làm hay, sáng tạo trong các hoạt động thi đua yêu nước, mang lại nhiều hiệu quả thiết thực như phong trào:"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Ðền ơn đáp nghĩa", "Vì Trường Sa thân yêu", "Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi", "Thanh niên lập nghiệp", "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"... đã góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng.

 

Các phong trào thi đua yêu nước đã hun đúc tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc, kết thành sức mạnh vô địch, đưa dân tộc Việt Nam vượt lên mọi khó khăn, thử thách, lập nên những kỳ tích vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không chỉ được kiểm nghiệm từ thực tiễn của hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, một lần nữa, phong trào thi đua yêu nước được hưởng ứng của đông đảo quần chúng Nhân dân, tạo ra động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ vượt qua những thời điểm khó khăn của đất nước, vượt qua cuộc chiến giữa thời bình - cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, cuộc chiến không tiếng súng nhưng cũng đầy cam go và thách thức, hiểm nguy. Chưa bao giờ con người lại có cảm giác giữa sự sống và cái chết mong manh đến thế. Có đi qua những khó khăn, hiểm nguy mới thấu hiểu những giá trị của sự bình yên, giá trị của đoàn kết, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách… tất cả được khơi dậy từ lòng yêu nước, thương nòi!

Chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn từ những phong trào thi đua yêu nước, song giờ đây, trong bối cảnh thời đại mới, rất cần những phong trào thi đua yêu nước có sự sáng tạo đột phá để thực sự tạo ra động lực mới, tư duy mới, khơi dậy sự vươn lên mạnh mẽ, xây dựng đất nước giàu mạnh, hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường; xây dựng xã hội tích cực học tập, hăng say lao động, sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra nhiều của cải, vật chất, mang lại sự giàu có cho người dân và đất nước.

Muốn vậy, các hoạt động thi đua yêu nước phải thiết thực, gắn với công việc hàng ngày của mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên trong thực thi chức trách không được hời hợt, thờ ơ, vô cảm trước các nhu cầu của doanh nghiệp và người dân, không đùn đẩy trách nhiệm, hoặc “mắc bệnh sợ trách nhiệm”… đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều hệ lụy xấu, làm chậm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, những người làm việc trong bộ máy công quyền Nhà nước luôn phải ý thức được bổn phận trách nhiệm của mình là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, mang lại lợi ích cho xã hội, cho Nhân dân và cho đất nước; cần phải làm tốt nhiệm vụ được giao, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc hàng ngày cũng chính là thi đua yêu nước.

Nhất định phải phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là vai trò của Nhà nước đối với các phong trào thi đua yêu nước. Phải gắn các phong trào thi đua với các mục tiêu phát triển đất nước phù hợp với bối cảnh của thời đại. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh hoàn thiện, cải cách và nâng cao chất lượng thể chế cũng như thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước. Đổi mới thể chế, trong đó, đổi mới tư duy về thể chế, tư duy quản lý nhà nước phải đi đầu… tức là phải đổi mới tư duy lãnh đạo và tầm nhìn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là căn cốt có tính nền tảng cho các phong trào thi đua yêu nước. Và mọi đổi mới, cải cách cũng phải được bắt đầu từ đội ngũ lãnh đạo có khát vọng, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, quan trọng hơn là dám thay đổi và từ bỏ những thứ đã cũ và lạc hậu, xóa bỏ tư tưởng giáo điều, bảo thủ, trì trệ trong cả tư duy và hành động.

 

Theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những công việc làm hàng ngày. Thật ra, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ: Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch sẽ, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng. Nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn. Mọi việc đều thi đua như vậy”. Người khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”, như vậy, muốn phong trào thi đua yêu nước có hiệu quả thiết thực thì cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải làm gương sáng cho mọi người, tập thể noi theo, “Nói thì phải làm”, “Nói đi đôi với làm”. Theo Người: “Yêu nước thì việc gì có lợi cho Nhân dân, dù khó khăn đến mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho dân, dù khó khăn mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ hết”. Người nhấn mạnh: “Cán bộ phải thi đua với quần chúng, xung phong làm gương mẫu cho quần chúng để kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”; “Một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Suy cho cùng, phong trào thi đua yêu nước phải được bắt đầu từ những cán bộ, đảng viên… Cho dù ở góc độ vĩ mô, vi mô hay trong phạm vi quản trị nào đó, kể cả các hoạt động phong trào thi đua thì tư duy và tầm nhìn của đội ngũ lãnh đạo, quản lý Nhà nước luôn là một trong những nhân tố quyết định hàng đầu. Một dân tộc có trở nên thịnh vượng, hùng cường hay không, phần lớn ảnh hưởng bởi khát vọng, tư duy quản lý Nhà nước và tầm nhìn của các nhà lãnh đạo. Quốc gia nào cũng cần đội ngũ cán bộ, lãnh đạo có năng lực tư duy: “Lo cho dân, nghĩ cho dân, làm lợi cho dân và làm việc vì dân…” Theo đó, cán bộ, đảng viên phải tiên phong, đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, cũng như khả năng truyền cảm hứng tới người dân cùng hướng về mục tiêu khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam cũng chính là thắng lợi của các hoạt động thi đua yêu nước - thắng lợi của những gian khổ, hy sinh. Chúng ta càng thấm thía ý nghĩa sâu sắc từng câu, từng chữ trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác, với những ngôn từ hết sức dung dị, gần gũi nhưng vô cùng sâu sắc và thiết thực, thể hiện rõ biện chứng nhân - quả, không chỉ phù hợp với bối cảnh của lịch sử lúc bấy giờ. Đến nay, Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên ý nghĩa lịch sử, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là kim chỉ nam, nền tảng quan trọng cho toàn Đảng, toàn dân ta nỗ lực phấn đấu, thực hiện có hiệu quả công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.

Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác đã mở đầu cho các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, lan rộng khắp cả nước, góp phần đắc lực vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lịch sử dần lùi xa theo năm tháng, song lời Bác vẫn vang vọng mãi với non sông, đất nước Việt Nam. Mọi thành quả của cách mạng Việt Nam gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với muôn vàn lời dạy của Người. Cả một đời vì nước vì dân, lời Bác cũng là lời của non nước, luôn thôi thúc, khơi dậy ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng di sản Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta là cả kho tàng di sản vô giá. Trong đó, Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người vẫn là nguồn cảm hứng bất tận, có giá trị không chỉ trong quá khứ mà ngay cả với hiện tại và tương lai, là di sản vô giá mãi trường tồn với dân tộc Việt Nam.

 

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của dân tộc; là ngọn đuốc soi đường cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay. Với bản chất cách mạng, khoa học và mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho các các dân tộc, cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Đại hội XIII đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo quá trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Đó là: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây được coi là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Giá trị hiện thực của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

 Giá trị hiện thực của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của Cuộc cách mạng công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh (vào cuối thế kỷ XVIII), đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản – một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. Cuộc đấu tranh đó đã đặt ra yêu cầu khách quan: phải có lý luận dẫn đường. Và, chủ nghĩa Mác ra đời để đáp ứng yêu cầu khách quan đó; đồng thời, chính thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản đã trở thành tiền đề thực tiễn cho sự khái quát và không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chủ nghĩa Mác.

Gần hai thế kỷ kể từ khi C. Mác và Ph. Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại nước Đức, được V.I. Lênin kế tục và phát triển tại nước Nga, điều đó càng khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Bởi, nó không những chỉ ra bản chất bóc lột, phơi bày bản chất sâu xa, những mâu thuẫn cố hữu nhất tồn tại trong lòng chế độ tư bản - nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, mà còn dự báo chính xác xu hướng vận động của các hình thái kinh tế - xã hội để đi đến khẳng định tương lai của nhân loại là chế độ cộng sản chủ nghĩa. Đồng thời, vạch ra cho giai cấp vô sản phương pháp cách mạng để giải phóng giai cấp, đưa xã hội loài người tiến lên.

Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều bị thất bại vì không có đường lối phù hợp. Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết là phải khắc phục sự khủng hoảng về đường lối cứu nước. Từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; trong đó, tập trung trước hết vào việc thành lập một chính đảng để lãnh đạo cách mạng. Và ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, đánh dấu một sự kiện đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ phong kiến, thực dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Thành tựu phát triển toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong thời kỳ đổi mới đã được Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó khẳng định tầm vóc, ý nghĩa, giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, nhằm thực hiện mưu đồ thay đổi đường hướng chính trị ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi biện pháp, hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giai đoạn hiện nay; làm phai nhạt niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi đời sống chính trị - tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng bằng các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá rất đa dạng:

Về tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau để phủ nhận, xuyên tạc. Trước hết, họ phủ nhận tài năng kiệt xuất của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin; đồng thời, cho rằng: C. Mác và V.I. Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng; học thuyết Mác chỉ là sự sao chép sống sượng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh và triết học cổ điển Đức; là sản phẩm lai tạo hỗn hợp mang tính chủ quan, áp đặt được tua lại nhiều lần. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ và có chủ đích của các thế lực thù địch. Cần thấy rằng, tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin được đúc rút, khái quát nhờ tài năng kiệt xuất của cả C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin trong thực tiễn hoạt động chính trị sôi động của các ông. Nhờ đó mà các ông đã  tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lý luận, xác lập một thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét và cải tạo hiện thực, từ đó xây dựng nên Học thuyết của mình. Nhìn vào thực tiễn lịch sử, nếu không có những bộ óc vĩ đại, với một thế giới quan khoa học, cách mạng thì không thể đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử.

Đối với những quan điểm, nguyên lý có tính chất nền tảng, là những phát kiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, họ tập trung xuyên tạc hòng hạ thấp, phủ nhận các nội dung: học thuyết hình thái kinh tế - xã hội; học thuyết giá trị thặng dư; học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ còn phê phán quan điểm của C.Mác về luận điểm đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội; cho rằng: những luận điểm này làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích hận thù, cổ vũ cho chiến tranh, độc quyền, độc đoán, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên không phù hợp với xu thế của thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển, v.v. Các thế lực thù địch, phản động không chỉ tìm cách phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin về mặt lý luận mà dựa vào sự sụp đổ của mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX), họ rêu rao: đó là do sự sai lầm của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho nên đó là sự sụp đổ đã báo trước. Đây là thể hiện của nhận thức phiến diện, thiếu khách quan và khoa học trước sự vận động và phát triển của các mô hình xã hội. Nói về sự sụp đổ, tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chúng ta coi đó là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng không phải là tất yếu và càng không phải là sai lầm của học thuyết Mác. Nguyên nhân chính, trực tiếp, có tính quyết định dẫn đến sự tan rã đó là do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ của Đảng Cộng sản cầm quyền, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Do đó, đây chỉ là sự sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, không đồng nghĩa với “sự cáo chung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” như xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao.

Về vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam, họ dựa vào bối cảnh thời gian, không gian ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin để phủ nhận, xuyên tạc với luận điệu: chủ nghĩa Mác – Lênin không nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn đầy đủ, nó chỉ phù hợp với các nước châu Âu; trong khi đó, ở châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác các nước châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin đối với Việt Nam chỉ là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống, văn hóa dân tộc, việc vận dụng vào Việt Nam là khiên cưỡng. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra những quy luật vận động chung của lịch sử loài người và các ông cũng đều nhấn mạnh việc vận dụng những quy luật chung ấy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước cũng phải có những cải biến trong những vấn đề chi tiết cho phù hợp với đặc điểm của quốc gia, dân tộc. Bản thân các ông cũng không hề coi lý luận của mình là tối cao, tuyệt đỉnh, mà cần phải có sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa vào từng điều kiện lịch sử cụ thể: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong quá trình vận dụng những quy luật chung, những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác – Lênin, của chủ nghĩa cộng sản, phải chú ý đến đặc thù của dân tộc mình. Người khẳng định: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Do đó, việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.

Về vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, các thế lực thù địch cho rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời vào thế kỷ XIX trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí nên chỉ hợp với thời điểm đó, cùng lắm là thế kỷ XX, còn hiện nay loài người đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học xã hội, khoa học nhân văn. Vì thế, nó mang đặc trưng tích lũy, kế thừa, chứ không mang đặc trưng thay thế như những tri thức thuộc ngành khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại ngày nay vốn không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản là “bóc lột”; ngược lại, nó làm cho những mâu thuẫn đó càng thêm sâu sắc. Điều này được biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, như: mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động vẫn tồn tại và gia tăng, khoảng cách giàu - nghèo mở rộng, phân phối của cải không công bằng, nạn thất nghiệp tăng lên, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội trở nên trầm trọng, v.v. Điều đó càng chứng tỏ thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn và có ý nghĩa thời đại như thực tiễn đã và đang minh chứng: Cải cách chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc (từ năm 1978), đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) và các quá trình tương tự ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được triển khai với các nguyên tắc đúng đắn; vừa toàn diện, đồng bộ; vừa có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, giải pháp phù hợp; vừa kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, gắn quốc gia với thế giới. Nhờ vậy, Trung Quốc đã trở thành cường quốc có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Cuba hiên ngang trước bao vây cấm vận, kiên định xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền, dân chủ, thịnh vượng và bền vững; các nước xã hội chủ nghĩa khác đều có nhiều thành công trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội. Đây thật sự là một quá trình cải cách, đổi mới thành công cả về tư duy lý luận, nhận thức, tầm nhìn và thực tiễn, chủ trương, chính sách, khẳng định xung lực của chủ nghĩa xã hội trước mọi sóng cồn, gió cả của thời cuộc.

Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động sử dụng thủ đoạn tấn công trên nhiều phương diện. Họ xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh không có tư tưởng riêng, mà chỉ là ảo tưởng do Đảng Cộng sản nghĩ ra. Hơn thế, họ còn đưa ra luận điệu: tư tưởng Hồ Chí Minh không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay và cho rằng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến đấu tranh dân tộc, theo chủ nghĩa dân tộc nên chỉ có giá trị trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc chứ không có giá trị đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác – Lênin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam.

Thực hiện mưu đồ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiến hành thủ đoạn vô cùng nham hiểm, đó là tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc, nhằm làm đứt gãy từng bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ biện luận rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ phù hợp với phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Điển hình là việc Hồ Chí Minh không bao giờ “bê nguyên xi” chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mà đều có sự thay đổi. Do đó, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua chủ nghĩa Mác – Lênin” hay “chỉ cần chủ nghĩa Mác – Lênin là đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam”. Họ còn cho rằng: “chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Việc tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở để các thế lực thù địch, phản động tiến thêm một bước nữa đòi lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế cho chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam. Từ đó, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam và cũng gián tiếp phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như những luận điệu của thế lực thù địch rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu, kế thừa, phát triển lên tầm cao mới, vận dụng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Giá trị và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với nhân loại nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng là không thể phủ nhận. Do vậy, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu khách quan, đòi hỏi phải kết hợp giữa kiên định và phát triển; trung thành và vận dụng sáng tạo; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tổng kết với bổ sung, phát triển; giữa bảo vệ và đấu tranh, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin luôn và mãi là nền tảng tư tưởng vững chắc của các đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.