Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2023

Tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, thực hiện hiệu quả mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội - Một số vấn đề đặt ra hiện nay

 TCCS - Trong những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn xác định phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của Thủ đô; đặc biệt, đã gắn việc thực hiện dân chủ ở cơ sở với triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, hướng tới xây dựng chính quyền đô thị tinh gọn, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng trò chuyện với người dân trong diện giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 4 - vùng Thủ đô tại xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội_Nguồn: nhandan.vn

Đảng bộ thành phố Hà Nội là Đảng bộ lớn nhất cả nước với 50 đảng bộ cấp trên cơ sở, gần 47 vạn đảng viên, chiếm khoảng 9% đảng viên của cả nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên khá cao so với mặt bằng chung cả nước. Thành ủy Hà Nội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Phát huy dân chủ ở cơ sở trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội - Những kết quả đạt được đáng ghi nhận

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tăng cường.

Thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14, ngày 27-11-2019, của Quốc hội, về “Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” từ ngày 1-7-2021, tại 175 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây, Thành ủy Hà Nội đã chú trọng lãnh đạo các quận, thị xã triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị gắn với phát huy dân chủ, nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phù hợp với tính chất đô thị, hướng đến phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. 

Thành ủy, chính quyền và các đoàn thể thành phố đã khẩn trương xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị và tổ chức nhiều hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị bảo đảm công khai, dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường trách nhiệm trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ của nhân dân; về thực hiện mô hình chính quyền đô thị, trong đó tập trung vào những điểm mới, những lợi ích của việc thí điểm mô hình chính quyền đô thị, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tăng cường tuyên truyền trên cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và thành phố.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp của thành phố Hà Nội tăng cường công tác vận động, nắm chắc tình hình, dư luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là những vấn đề khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị để phản ánh, tham mưu, đề xuất với Thành ủy, các cấp ủy trong công tác định hướng dư luận, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.

Công khai, minh bạch trong công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường trong điều kiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị.

Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố lãnh đạo, chỉ đạo các quận ủy, thị ủy và UBND các quận, thị xã tập trung chỉ đạo việc phát huy dân chủ trong sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ tại UBND các phường được tiến hành công khai, minh bạch, bảo đảm phù hợp với vị trí việc làm, năng lực chuyên môn. Đến ngày 1-7-2021, các quận và thị xã Sơn Tây đã hoàn thành công tác sắp xếp tổ chức bộ máy tại 175 UBND phường. Thực hiện chuyển công chức phường tại 175 phường thành biên chế công chức thuộc UBND quận, thị xã. Đội ngũ cán bộ chuyên trách khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở phường vẫn được giữ ổn định theo quy định. Công tác sắp xếp, bố trí công tác và giải quyết các chế độ, chính sách đối với chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân (HĐND) phường sau sắp xếp, kiện toàn được thực hiện đúng quy định, không có đơn, thư khiếu nại, tố cáo.

Sau sắp xếp, cơ quan hành chính phường đã tích cực, chủ động điều hành, hoạt động nhanh nhạy, thông suốt hơn, quyết định nhanh những vấn đề cấp bách trên địa bàn, trên cơ sở xác định rõ người, rõ trách nhiệm, rõ việc, hướng đến phục vụ người dân tốt hơn. Đảng ủy các phường đã thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, đổi mới trong việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng sâu sát cơ sở; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo được chú trọng; phát huy vai trò lãnh đạo theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Những quy định mới trong mô hình chính quyền đô thị đã tăng cường cơ chế trách nhiệm, phối hợp trong giải quyết và thực hiện thủ tục hành chính giữa quận, thị xã và phường. Chủ tịch UBND phường chủ động, có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của phường do mình quản lý; nâng cao tính tự chủ, phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm, sáng tạo của các phường trong quá trình phục vụ người dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của phường, quận, thị xã nhanh và hiệu quả.

Việc ủy quyền công chức Tư pháp - hộ tịch được ký chứng thực đã phát huy hiệu quả; tạo điều kiện thuận lợi giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, công sức cho tổ chức, công dân đến làm thủ tục hành chính. Công dân có thể nhận kết quả ngay khi đến giao dịch tại UBND phường, không phải chờ đợi, làm giảm đáng kể chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; giảm tải áp lực, công việc cho chủ tịch, phó chủ tịch UBND phường để tập trung giải quyết các nhiệm vụ. Tổng số hồ sơ chứng thực bản sao tại phường do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 63,6%; hồ sơ chứng thực chữ ký do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 59,1% tổng số hồ sơ chứng thực chữ ký tại UBND phường. Nhiều mô hình thí điểm được thực hiện, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, điển hình như UBND quận Hoàn Kiếm đã triển khai thực hiện mô hình “Các thủ tục hành chính không chờ” (Thủ tục hành chính không giấy hẹn, thực hiện ngay) tại các phường với hàng chục loại thủ tục hành chính khác nhau.

Công tác giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của HĐND quận, thị xã ở phường, giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường, HĐND các quận và thị xã được tăng cường. Kết quả cho thấy, các chủ thể này đã thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quyết định các giải pháp lớn để thực hiện chính sách, pháp luật và các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn theo phân cấp. Hội đồng nhân dân các quận, thị xã đã tăng cường các hoạt động giám sát đối với hoạt động của UBND phường, tăng cường công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân để lắng nghe ý kiến, phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt quyền đại diện cho cử tri trên địa bàn. Các ban HĐND, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã được giao trách nhiệm thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của các phường tại đơn vị bầu cử, tham dự các cuộc họp, hội nghị đối thoại, hội nghị tiếp xúc cử tri để kịp thời tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo dõi, giải quyết theo quy định. Hội đồng nhân dân, thường trực HĐND, các ban của HĐND và các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã đã tiến hành các cuộc giám sát chuyên đề đối với UBND phường. Ngoài giám sát chuyên đề, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã thực hiện giám sát thường xuyên về giải quyết kiến nghị của cử tri.

Mối quan hệ công tác giữa UBND, chủ tịch UBND phường với đảng ủy, bí thư đảng ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường được quy định cụ thể rõ ràng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như của người dân trên địa bàn phường đối với hoạt động của UBND phường.

Công tác đối thoại với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân được thực hiện tốt, đã phát huy hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân.

Chủ tịch UBND các phường đã thực hiện tốt việc đối thoại định kỳ hằng năm với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn phường theo Quyết định số 2200-QĐ/TU, ngày 25-5-2017, của Thành ủy Hà Nội, về “Ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn thành phố”.

Thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, UBND các phường đã tổ chức thực hiện nghiêm túc hội nghị đối thoại giữa chủ tịch UBND phường với nhân dân theo đúng quy định tại Điều 12, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP, ngày 29-3-2021, của Chính phủ, “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27-11-2019, của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” (được tổ chức mỗi năm ít nhất 2 lần trước các kỳ họp thường kỳ của hội đồng nhân dân các quận và thị xã); theo đó, đã có 389 buổi đối thoại được tổ chức, các buổi đối thoại đều được tổ chức đúng thời gian quy định. Tại các hội nghị đối thoại, lãnh đạo phường đã báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn...; đồng thời, giải đáp các kiến nghị, phản ánh của nhân dân trên địa bàn. Qua đối thoại, chủ tịch UBND các phường đã tiếp nhận 2.940 kiến nghị của tổ chức, cá nhân; các kiến nghị của công dân, tổ chức được chủ tịch UBND các phường trao đổi trực tiếp, giải đáp công khai, dân chủ tại hội nghị (có 2.732/2.940 kiến nghị, đạt 92,9%). Đối với những kiến nghị chưa thể giải đáp ngay tại hội nghị, chủ tịch UBND các phường sẽ trả lời bằng văn bản sau hội nghị; các nội dung vượt thẩm quyền sẽ được báo cáo lên UBND các quận, thị xã để tổng hợp, trả lời.

Thông qua công tác đối thoại, người đứng đầu chính quyền đã có thể kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, quan tâm giải quyết các kiến nghị, đề nghị chính đáng của nhân dân; đồng thời, cung cấp thông tin tuyên truyền, vận động, giải thích để nhân dân hiểu rõ hơn những việc chính quyền các cấp đã làm được, cũng như những vướng mắc đang gặp phải để cùng tháo gỡ, giải quyết trên tinh thần xây dựng, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhìn chung, công tác tiếp dân được UBND các phường thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.

Giai đoạn từ 1-7-2020 đến 30-6-2021, có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 15.376 lượt công dân, tiếp nhận 4.408 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 4.239 kiến nghị (chiếm 96,2%), với các kiến nghị còn lại đang giải quyết, tiến hành báo cáo lên cơ quan cấp trên các nội dung vượt thẩm quyền.

Giai đoạn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tiếp theo (từ 1-7-2021 đến 30-6-2022), có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 14.022 lượt công dân (giảm 9% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm), tiếp nhận 3.462 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (giảm 20% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm). Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 3.110 kiến nghị (chiếm 89,8%).

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các phường đã tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội.

Mặc dù không tổ chức HĐND ở phường, nhưng quyền dân chủ và giám sát của nhân dân vẫn được duy trì và ngày càng được nâng cao, thông qua các hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở thành phố Hà Nội; trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gắn với thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp với nhân dân trên địa bàn thành phố; qua đó, nâng cao được vị thế, vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố Hà Nội trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Ngọc Tuấn tiếp công dân tại trụ sở Ban tiếp công dân thành phố_Nguồn: hanoimoi.com.vn

Qua hơn một năm thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tổ chức 447 cuộc giám sát và hàng nghìn cuộc giám sát của các ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng; trong đó, có 582 cuộc về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường đã tổ chức 153 cuộc phản biện xã hội, tập trung vào dự thảo nghị quyết, đề án, chương trình, quyết định của UBND các phường.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thí điểm thực hiện mô hình chính quyền đô thị gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, như việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Ở một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy và hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở chưa đạt hiệu quả cao. Đội ngũ cán bộ, chuyên trách ở phường gồm các chức danh bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, chủ tịch hội cựu chiến binh, bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường vẫn là cán bộ cấp xã, chưa được chuyển thành cán bộ thuộc biên chế quận, thị xã; do đó, chưa có sự đồng bộ, thống nhất quản lý biên chế cán bộ, công chức phường.

Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND quận, thị xã tăng lên, trong khi số lượng đại biểu chuyên trách của HĐND quận, thị xã còn ít, nên việc tổ chức các hoạt động giám sát mới chỉ được duy trì ở mức độ như trước khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, chưa có sự thay đổi rõ nét, chủ động thực sự về số lượng và chất lượng khi không tổ chức HĐND ở phường. Hoạt động của HĐND ở một số địa phương còn mang tính hình thức. Công tác tiếp công dân của các đại biểu HĐND quận, thị xã tại các phường đạt hiệu quả chưa cao. Một số tổ đại biểu HĐND quận, thị xã chưa chủ động trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là việc tổ chức giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường.

Việc nắm bắt và tổng hợp tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trước, trong tiếp xúc, đối thoại còn chưa kịp thời; công tác tham mưu giải quyết các ý kiến, kiến nghị trong quá trình tiếp xúc, đối thoại có nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, chưa sâu sát; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, bộ phận trong thực hiện kết luận sau tiếp xúc, đối thoại còn lúng túng, chưa đồng bộ, chưa thực sự rõ trách nhiệm.

Một mặt, với quy mô dân số trung bình của các phường thuộc các quận lớn, với hơn 22.300 người (theo tiêu chuẩn là 15.000 người), trong đó có 41 phường, có quy mô dân số hơn 30.000 người; với một số phường có quy mô dân số rất lớn, như phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai) là 82.891 người, phường Đại Kim (quận Hoàng Mai) là 54.295 người, phường Trung Hòa (quận Cầu Giấy) là 54.770 người, thì khối lượng công việc tại các phường là rất lớn, gây áp lực khi thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công chức phường. Số lượng biên chế công chức làm việc bình quân tại các phường là 15 người/phường, về cơ bản bằng mức bình quân công chức cấp xã, mà chưa có cơ chế, chính sách đặc thù đối với các phường có quy mô dân số lớn.

Mặt khác, ngoài các nhiệm vụ theo chuyên môn được tuyển dụng, thì đội ngũ cán bộ, công chức phường đều được giao thêm nhiệm vụ theo dõi, nắm bắt tình hình tại các tổ dân phố, trong khi chế độ, chính sách không có gì thay đổi, nên chưa động viên được đội ngũ cán bộ, công chức phường tận tâm, tận lực trong công việc, công tác. Thực hiện theo cơ chế quản lý mới, phường là một đơn vị dự toán, phụ thuộc vào dự toán của cơ quan cấp trên, nên một số nhiệm vụ phát sinh đột xuất không có trong dự toán sẽ gặp phải khó khăn trong triển khai, thực hiện. Việc bố trí kinh phí chi lương, phụ cấp, các khoản theo lương và chi hoạt động của đảng ủy, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nằm trong kinh phí dự toán của UBND phường chưa thật sự thuận lợi, chưa bảo đảm tính chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy và hoạt động của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tại phường.

Nguyên nhân khách quan: Tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Đồng thời, việc triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị là việc mới và khó; trong khi đó, hệ thống các văn bản quy định, hướng dẫn ở một số lĩnh vực ban hành còn chậm, thiếu đồng bộ, nên không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế nhất định. Chính sách cán bộ còn nhiều bất cập, chậm đổi mới, vừa chưa khuyến khích cán bộ phát huy hết năng lực, tâm huyết với công việc, vừa khó thu hút được cán bộ về làm việc ở những lĩnh vực khó khăn, nhất là ở cấp cơ sở.

Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên, công chức chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị, nên việc thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa thực sự quyết liệt, sâu sát, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

Vai trò tham mưu của một số cơ quan, đơn vị trên một số lĩnh vực công tác chưa được thể hiện rõ nét, chưa thật sự chủ động tham mưu trong rà soát, đề xuất, hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở. Công tác phối hợp triển khai nhiệm vụ ở một số cơ quan, đơn vị, có lúc, có việc còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.

Một số cán bộ, công chức phường còn ngại thay đổi, chậm đổi mới tư duy, làm việc theo “kinh nghiệm”, một bộ phận cán bộ, công chức chưa thật sự tích cực, chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện kỹ năng và đổi mới phương pháp làm việc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của mô hình chính quyền đô thị. Tổ chức bộ máy, biên chế của một số địa phương, cơ sở còn chưa được quan tâm kiện toàn, bố trí đầy đủ người và phương tiện cần thiết. 

Công chức, viên chức hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại bộ phận “một cửa” của Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm_Ảnh: Tư liệu

Tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Thành ủy Hà Nội xác định, tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, nhằm thực hiện có hiệu quả mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị; theo đó, trong thời gian tới cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, thành phố về việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện Quy chế dân chủ trong các cơ quan nhà nước, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thực chất và hiệu quả. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất ý chí và hành động trong các cấp ủy, cơ quan, đơn vị để tiếp tục triển khai hiệu quả việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.

Thứ hai, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy, bảo đảm đồng bộ với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu tổ chức thí điểm chính quyền đô thị của Thủ đô Hà Nội.

Thứ ba, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, ủy quyền, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý chính quyền của thành phố. Huy động mọi nguồn lực đầu tư cho sự phát triển của thành phố, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, xây dựng thành phố thông minh để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao hiệu quả trong công tác phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tác nghiệp, bảo đảm đồng bộ, liên thông từ thành phố đến cơ sở, để từng bước mở rộng việc cung cấp các loại hình dịch vụ công trực tuyến và vận hành thông suốt hệ thống thông tin trong hoạt động điều hành, tác nghiệp của các cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thường xuyên tự kiểm tra, giám sát của mỗi cấp ủy, mỗi cấp chính quyền và của cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị; nhất là hoạt động giám sát, tiếp công dân của HĐND thành phố, quận, thị xã.

Thứ năm, đổi mới việc thực hiện quyền giám sát khi không tổ chức HĐND phường. Việc thực hiện quyền làm chủ và giám sát của nhân dân khi không tổ chức HĐND phường được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của HĐND thành phố, HĐND quận; giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc cơ quan nhà nước khác, như thông qua kiểm tra, giám sát của Đảng; giám sát trực tiếp của nhân dân thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, thông qua báo chí, các kênh thông tin, truyền thông, mạng xã hội,... Vì vậy, tiếng nói của người dân ở cấp cơ sở của các đô thị vẫn được HĐND các cấp, cũng như cơ quan nhà nước lắng nghe, xem xét, giải quyết.

Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tạo điều để kiện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đối thoại, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị là nhiệm vụ mới, khó, phức tạp. Tuy nhiên, với quyết tâm chính trị cao, sự hướng dẫn của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phát huy sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là việc đề cao phát huy dân chủ ở cơ sở trong từng nhiệm vụ tổ chức thí điểm chính quyền đô thị. Do vậy, thời gian qua, việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực, cơ bản bảo đảm các mục tiêu, mục đích, tiến độ đã đề ra. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương tổ chức thí điểm chính quyền đô thị đạt kết quả tốt./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng giai cấp nông dân - Vận dụng vào công cuộc xây dựng nông thôn hiện đại, nông dân văn minh ở Việt Nam hiện nay

 TCCS - Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giai cấp nông dân Việt Nam - lực lượng rất to lớn của dân tộc. Xây dựng nông thôn hiện đại, nông dân văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ trương nhất quán của Đảng, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng giai cấp nông dân

Tháng 10-1923, tham luận ở Hội nghị quốc tế nông dân lần thứ nhất, tại Mát-xcơ-va (Nga), Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Nông dân trong các thuộc địa của Pháp bị hai tầng bóc lột”(1). Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” đăng trên báo Cứu quốc dưới bút danh Đ.X, từ ngày 16-1 đến ngày 23-9-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc đặc điểm, tình hình nông dân dưới chế độ thực dân và phong kiến: “Nông dân thì nghèo khổ đã sẵn, lại bị sưu cao, thuế nặng. Địa chủ lấy địa tô quá nặng, cho vay cắt họng, làm cho nông dân nhiều khi phải bán vợ đợ con. Nếu gặp hạn hán bão lụt, là chết đói đầy đường”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giai cấp nông dân, với tư cách là lực lượng cách mạng, là lực lượng có sức mạnh “long trời lở đất”, nếu như được tổ chức lại dưới sự dẫn dắt của đảng cộng sản; đồng thời, Người phân tích rõ, nhấn mạnh nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội, có lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc. Trong lịch sử dân tộc, giai cấp nông dân luôn là lực lượng chủ lực trong các cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ chủ quyền đất nước. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản năm 1923, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Quần chúng nông dân bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất, rất yêu nước”(3); do đó, khi xác định vai trò quan trọng của giai cấp nông dân, Người khẳng định: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực. Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng - cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản”(4).

Nhận thức rõ vai trò của nông dân, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam vừa được thành lập, Đảng đã có chủ trương vận động nông dân đi theo cách mạng và sớm cử đảng viên đi sâu vào các vùng nông thôn để vận động, tập hợp nông dân. Chính vì thế, nông dân đã tin tưởng theo Đảng làm nên thắng lợi của các phong trào cách mạng giai đoạn 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945, mà đỉnh cao là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ nông dân cứu quốc toàn quốc tháng 11-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”(5) cho độc lập, tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đa số dân ta là nông dân. Mỗi việc đều phải dựa vào nông dân. Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau thắng lợi, kiến quốc mới chóng thành công, nông dân mới được giải phóng”(6).

Người còn chỉ rõ: “Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân./ Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân”(7). Đánh giá rõ vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nghị quyết Đại hội III của Đảng tháng 9-1960 khẳng định: “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về thực chất là cuộc cách mạng nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”(8). Trong bài “Gửi Nông gia Việt Nam” đăng trên tờ báo Tấc đất số 1 ngày 7-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Loài người ai cũng “dĩ thực vi tiên” (nghĩa là trước cần phải ăn); nước ta thì “dĩ nông vi bản” (nghĩa là nghề nông làm gốc). Dân muốn ăn no thì phải giồng giọt cho nhiều. Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp. Vậy chúng ta không nên bỏ hoang một tấc đất nào hết. Chúng ta phải quý mỗi tấc đất như một tấc vàng”(9). Thực tế cho thấy, nông dân là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra lương thực để nuôi sống xã hội. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề nông dân và nông nghiệp: “Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp phần lớn./ Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”(10). Người khẳng định: “Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã là chiến sĩ sản xuất, cần phải cố gắng như chiến sĩ ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã phải sản xuất tốt để bộ đội và nhân dân ta ăn no đánh thắng. Vì vậy, nhiệm vụ của các hợp tác xã nông nghiệp, của bà con xã viên, của cán bộ công tác ở nông thôn là rất quan trọng”(11). Rõ ràng, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rõ vị trí, vai trò của việc hợp tác, liên kết trong nông nghiệp. Tuy nhiên, Người khẳng định, giai cấp nông dân phải có giai cấp công nhân - giai cấp tiên tiến nhất - lãnh đạo, dẫn dắt thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thực hiện cho được liên minh công - nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng. Chỉ có khối liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội”(12). Người đã phân tích rất sâu sắc về liên minh công - nông, nhấn mạnh liên minh quần chúng nông dân đông đảo với giai cấp công nhân là cơ sở chủ yếu để có thể lập ra một mặt trận dân tộc rộng rãi và vững chắc.

Trên cơ sở đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp nông dân đã có nhiều đóng góp quan trọng, to lớn vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, nông dân cùng quân dân cả nước đã làm nên chiến thắng Mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Thực hành dân chủ ở nông thôn

Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998, của Bộ Chính trị (khóa VIII), “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, Đảng ta đã có nhiều chủ trương đúng đắn về dân chủ, coi dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới. Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và nhấn mạnh, nhận thức về dân chủ, thực hành dân chủ của nhân dân, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp có bước chuyển biến tích cực, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được chú trọng, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của người đứng đầu chính quyền ở cơ sở có bước chuyển biến quan trọng. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền ở cơ sở đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết bức xúc và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của người dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm khu vực trưng bày sản phẩm và chế biến chè của Hợp tác xã Hảo Đạt, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên _Ảnh: TTXVN

Cụ thể hóa Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, các xã, phường, thị trấn triển khai cơ bản đầy đủ những nội dung công khai cho nhân dân biết, bàn thảo, quyết định và giám sát về các dự án, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, khu, cụm công nghiệp, dân cư; mức giá bồi thường thu hồi đất; công khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới,... Công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính theo “cơ chế một cửa”, “một cửa liên thông”, được triển khai tích cực; ý thức trách nhiệm, tinh thần, thái độ phục vụ tổ chức, công dân của đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở có nhiều chuyển biến rõ nét. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn, thư kiến nghị, phản ánh, tố cáo, khiếu nại của công dân được chính quyền cơ sở thực hiện nền nếp, mang lại hiệu quả tích cực. Công tác đối thoại với nhân dân được cấp ủy, chính quyền các cấp chú trọng và thực hiện hiệu quả, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải tỏa bức xúc của người dân, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền ở cơ sở. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và thực hiện quy ước, hương ước thôn, bản, tổ dân phố bảo đảm theo quy định, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn hóa mới. Tuy nhiên, việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 ở xã, phường, thị trấn có nơi, có việc còn hình thức, chưa thực chất; trong thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, cũng như việc công khai một số chương trình, dự án, công trình ở một số địa phương, cơ sở còn chưa đầy đủ, kịp thời. Việc tiếp thu ý kiến của nhân dân, giải quyết kiến nghị, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân ở một số nơi còn chưa kịp thời, chưa gắn với thực hiện kỷ luật, kỷ cương, đúng pháp luật.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém nêu trên là do: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 chưa được một số cấp ủy, chính quyền ở cơ sở quan tâm đúng mức; công tác nắm bắt tình hình nhân dân, nhất là những vấn đề mới nảy sinh, nhạy cảm, nổi cộm, bức xúc, còn thiếu kịp thời,... Công tác hòa giải ở cơ sở, xử lý mâu thuẫn phát sinh, tránh tạo thành “điểm nóng” có lúc, có nơi làm chưa tốt, còn để xảy ra một số vụ việc lớn, phức tạp, kéo dài. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, hành vi vi phạm pháp luật.

Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về xây dựng giai cấp nông dân, xây dựng nông thôn mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”(13). Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương lần thứ năm khóa XIII, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”(14) đề ra quan điểm đúng đắn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là ba thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hóa theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”; đồng thời, khẳng định nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đầu tiên là nâng cao vai trò, vị thế, năng lực làm chủ, cải thiện toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn; bảo đảm quyền làm chủ của nông dân và cư dân nông thôn theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành dân chủ ở nông thôn theo Quyết định số 263/QĐ-TTg, ngày 22-2-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025”, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp, như tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; nâng cao trình độ dân trí, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương xã hội; nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ, sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông, công nghệ thông tin trong thực hành dân chủ ở cơ sở. Các ban, bộ, ngành trung ương phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, thành phố ban hành văn bản hướng dẫn cần thiết theo thẩm quyền; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo trong quá trình tổ chức thực hiện. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có vị trí quan trọng trong việc xây dựng và ban hành kế hoạch thực hiện, như nguồn vốn, mục tiêu, nhiệm vụ, phân công rõ trách nhiệm cho các sở, ban, ngành, các huyện, thị xã, thành phố thực hiện. Tiếp tục hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động, gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” giai đoạn 2021 - 2025, 2025 - 2030.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nông thôn hiện đại và nông dân văn minh

Một là, xây dựng nông thôn hiện đại.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nông thôn hiện đại, nông dân văn minh là một vấn đề lớn, cần có lộ trình và bước đi thích hợp, sát thực tiễn ở từng vùng, miền của đất nước. Nội dung xây dựng nông thôn hiện đại chính là thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 và các giai đoạn tiếp theo.

Để xây dựng nông thôn hiện đại, các cấp ủy phải lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khai thác mọi nguồn lực thực hiện hiệu quả Bộ tiêu chí về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 - 2025. Xây dựng nông thôn hiện đại phải có quy hoạch phù hợp theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội, với tầm nhìn lâu dài, có các khu chức năng dân sinh, khu công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp và dịch vụ bảo đảm giải quyết được việc làm có thu nhập cao cho cư dân nông thôn, góp phần thực hiện mục tiêu “ly nông không ly hương”, gắn với bảo vệ tốt môi trường; đồng thời, tăng cường công tác quản lý quy hoạch và tổ chức thực hiện theo quy hoạch hiệu quả. Khai thác, phát huy tối đa nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, như giao thông, thủy lợi, điện, cơ sở văn hóa, thương mại, thông tin và truyền thông, nhà ở khu vực nông thôn... từng bước đồng bộ, chất lượng, hiệu quả. Xây dựng nông thôn hiện đại gắn với những tiến bộ trong thực hiện tiêu chí về thu nhập, giảm nghèo đa chiều, có tỷ lệ lao động được đào tạo nghề cao, phát triển đa dạng các mô hình liên kết, mô hình hợp tác xã, khuyến nông, phát triển làng nghề,... để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Xây dựng nông thôn hiện đại phải gắn với phát triển văn hóa - xã hội - môi trường, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm; đồng thời, xây dựng nông thôn hiện đại, gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức có kiến thức, kinh nghiệm, có phẩm chất, đạo đức tốt, luôn gắn bó, gần gũi với nhân dân.

Trên cơ sở đó, từng bước phấn đấu đạt được mục tiêu tổng quát của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới do Thủ tướng Chính phủ phát động. Thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, quá trình đô thị hóa, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững; thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu và nông thôn mới cấp thôn, bản. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, thúc đẩy bình đẳng giới. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bộ và từng bước hiện đại, bảo đảm môi trường, cảnh quan nông thôn “sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững”.

Để đạt được mục tiêu to lớn đó, trước hết các bộ, ban, ngành chức năng, cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành phố cần tăng cường tuyên truyền, quán triệt, triển khai các nghị quyết, quyết định, thông tư, hướng dẫn về xây dựng nông thôn mới; tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức trong mỗi cán bộ, đảng viên, người dân; phát huy, khai thác mọi nguồn vốn, bao gồm vốn đầu tư, vốn sự nghiệp, vốn trung ương, vốn địa phương, vốn xã hội hóa để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa nông thôn. Đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức lại sản xuất - yếu tố quyết định việc tăng thu nhập của người nông dân. Việc tổ chức lại sản xuất phải gắn kết chặt chẽ với tổ chức lại xã hội nông thôn theo hướng hợp tác, liên kết trong sản xuất, bảo quản, chế biến, kinh doanh nông sản, các sản phẩm làng nghề và phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng,...

Mô hình du lịch nông nghiệp tại tỉnh Khánh Hòa_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Hai là, xây dựng nông dân văn minh.

Xây dựng nông dân văn minh là vấn đề rất lớn, rất quan trọng của Đảng. Để người nông dân đạt đến trình độ văn minh, đảm nhận được vai trò chủ thể, vị trí trung tâm, thì phải có thời gian, phương pháp, bước đi tích cực, cụ thể. Theo đánh giá của Trung ương, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, số hộ khá và giàu tăng. Tuy nhiên, “Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn còn nhiều bất cập; lao động nông thôn có xu hướng già hóa; năng suất lao động và thu nhập bình quân của cư dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”(15). Người nông dân văn minh trước hết phải là người nông dân có tri thức. Muốn vậy, cấp ủy phải lãnh đạo cả hệ thống chính trị làm tốt công tác tuyên truyền, để mỗi người nông dân chuyển biến được nhận thức của mình về vai trò chủ thể, có tâm thế tự chủ, có kiến thức, kỹ năng, năng lực, bản lĩnh làm chủ bản thân, làm chủ xây dựng, phát triển cộng đồng dân cư nông thôn. Các cơ quan thông tấn báo chí là công cụ sắc bén, thường xuyên chuyển tải thông tin đến người nông dân.

Trên cơ sở đó, các ban, bộ, ngành chức năng của Trung ương, cấp ủy, chính quyền các cấp có các giải pháp đồng bộ, khoa học, sát thực tế với từng vùng, miền nông thôn, để từng bước thực hiện trang bị tri thức cho nông dân. Đảng, Nhà nước sớm bổ sung cơ chế, chính sách để hỗ trợ nông dân tiếp cận; đào tạo kiến thức, huấn luyện kỹ năng, cập nhật kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, trang bị kiến thức mới, khả năng làm chủ máy móc, thiết bị công nghệ,... cho nông dân. Qua đó, người nông dân sẽ tự cập nhật các vấn đề mới phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh, để nghiên cứu, phân tích và giải quyết các yếu tố liên quan đến năng suất, chất lượng, giá thành sản phẩm; đồng thời, chủ động hơn trong xử lý tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, sử dụng hiệu quả giống mới, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm. Nhà nước tiếp tục bổ sung cơ chế, chính sách để tạo môi trường, điều kiện tốt nhất cho sự gắn kết “bốn nhà”: Nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp. Sự gắn kết này ngày càng chặt chẽ, thì tri thức người nông dân được nâng cao, nông nghiệp sẽ phát triển nhanh, bền vững. Cần nghiên cứu để quy hoạch và phát triển các trường đào tạo cho nông dân, con em nông dân, vì muốn có một nền nông nghiệp chuyên nghiệp, phải có đội ngũ nông dân chuyên nghiệp hóa. Muốn có một nền nông nghiệp tri thức, người nông dân phải được trang bị tri thức cần thiết.

Ngoài trang bị kiến thức về sản xuất, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, hợp tác xã, cần trang bị cho người nông dân kiến thức về văn hóa để họ chủ động tham gia với cộng đồng, tổ chức các hoạt động vui chơi, thể dục - thể thao, rèn luyện sức khỏe, xây dựng đời sống tinh thần ở nông thôn; đồng thời, trang bị kiến thức để người nông dân tự chủ, tự giác đóng góp sức mình nhằm bảo vệ, tôn tạo, phát huy các di sản, truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em ở các vùng, miền trong cả nước. Người nông dân văn minh là người có ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, xây dựng “tình làng, nghĩa xóm”, ủng hộ, tự nguyện xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã, xây dựng các mối liên kết để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và phát triển toàn diện nông thôn./.

------------------------

Nhận diện “tự diễn diễn”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

 Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa... mà nó còn diễn ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, với các biểu hiện chính như sau:

TRÁI ĐẮNG CHO NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC LÀM TAY SAI CHO BỌN PHẢN ĐỘNG.

Chắc hẳn chúng ta không xa lạ gì với những cái tên như: Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài... từng được sống trong ảo vọng, được "Việt Tân" tung hô hết mực, với ý đồ nuôi

BỘ MẶT ĐỂU CÁNG CỦA NHỮNG KẺ NÚP DANH DÂN CHỦ

Tay “luật sư” tị nạn Nguyễn Văn Đài, đang chui lủi bên Đức có vẻ rất ngóng trông vào đám phản động trong nước và khi có tin các chiến sỹ Công an cùng người dân bị sát hại dã man, Đài như bắt được vàng, Y tỏ ra rất sung sướng và liên tục lên mạng kêu gọi

Tăng “sức đề kháng” trước thông tin sai trái

Để không bỏ lọt những bộ phim có “hình lưỡi bò” khi chiếu tại thị trường Việt Nam, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, các ban, bộ, ngành và nhất là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - đơn vị có thẩm quyền trực tiếp - cần nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, kiểm duyệt các bộ phim trước khi công chiếu tại Việt Nam.

Cẩn trọng trước sự “xâm lăng” văn hóa


Thời gian qua, một số phim nước ngoài có hình ảnh bản đồ xuất hiện “đường lưỡi bò” phi pháp đã được phát hiện kịp thời và ngay lập tức bị cấm chiếu tại thị trường Việt Nam. Câu chuyện đặt ra là về phía các cơ quan chức năng cũng như khán giả phải làm gì trước sự “xâm lăng” văn hóa để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ?

MỘT QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN, XUYÊN TẠC


Tham nhũng xuất hiện từ khi có giai cấp, nhà nước và tồn tại ở các chế độ chính trị khác nhau. Bản chất của tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế mà không phụ thuộc vào bất cứ chế độ chính trị hay đảng phái nào. Ngày nay, tham

KHÔNG THỂ TÁCH RỜI MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT, GẮN BÓ MÁU THỊT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN VÀ QUÂN ĐỘI

 


Quân đội ta từ nhân dân mà ra, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Nhân tố có tính quyết định để Quân đội ta trưởng thành ngày càng lớn mạnh,

Loại bỏ thói xu nịnh trong cơ quan, đơn vị.


Từ xưa đến nay, trong xã hội đã hình thành nét văn hóa ứng xử để làm cho con người có những hành vi chuẩn mực với nhau hơn. Văn hóa ứng xử là nét đẹp của mỗi người được hình thành trong quá trình tương tác giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa các thế hệ thông qua hành vi giao tiếp (ngôn ngữ, cử chỉ) nhằm hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ.

MÓN "QUÀ" PHÁ HỎNG CUỘC ĐỜI!

 


Mấy ngày qua, theo dõi phiên tòa xét xử vụ án “chuyến bay giải cứu” và vụ án Việt Á dư luận được nghe nhiều từ “quà” và “qua”.

BÀI HỌC CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY!

     Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân cả nước đồng loạt nổi dậy, tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, để đến ngày 19/8/1945, kết thúc hơn 80 năm Nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít, đất nước giành được độc lập, Nhân dân ta trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. 78 năm đã trôi qua, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Hồng quân Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Bec-lin. Ngày 9/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 8/8/1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật. Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay thầy đổi chủ, chống lại cách mạng.

Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp. Tháng 3/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 4/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 8/1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: tập trung, thống nhất, kịp thời. 23 giờ ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18/8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền.

Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) lịnh sử, trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.

Từ đây, đất nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những sự kiện vĩ đại nhất trong sự cách mạng Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có ý nghĩa to lớn đó là: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thiên tài Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc tiên phong trong trận chiến đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Cách mạng Tháng Tám khẳng định tầm vóc quốc tế to lớn, góp phần cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới đứng lên giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám một lần nữa khẳng định vai trò và tính tất yếu sự lãnh đạo của Đảng và thiên tài Hồ Chí Minh đã đưa Đảng ta lên vị trí Đảng cầm quyền. Đảng đã lãnh đạo toàn dân, tiến hành xây dựng lực lượng, tạo thời cơ, chớp thời cơ khi tình hình trong nước và quốc tế thuận lợi để lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. Sự cầm quyền của Đảng không tự nhiên mà nó phải là sự phấn đấu hy sinh to lớn của các chiến sĩ cách mạng, là được Nhân dân tin yêu và che trở.

Một số thế lực thù địch hằn học với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám của ta mà rêu rao rằng: Đảng đã cướp công từ tổ chức khác; rằng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chỉ là sự ăn may... Đó đâu phải là cướp công, ăn may mà thực tiễn chứng minh là kết quả của đường lối cách mạng đúng đắn từ bản lĩnh và trí tuệ của Đảng và thiên tài Hồ Chí Minh và sự phấn đấu, hy sinh anh dũng của biết bao chiến sĩ cộng sản, những người yêu nước và của dân tộc, với quan điểm “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đó là sự cầm quyền của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là tất yếu khách quan, chính đáng, là sự lựa chọn của lịch sử và Nhân dân.

Những bài học kinh nghiệm và sự vận dụng trong tình hình hiện nay
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi nổi bật và vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, là mốc son chói lọi trong lịch sử ngàn năm của dân tộc ta. Đó chính là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi đó đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong đó có bài học về xây dựng Đảng là cốt lõi quyết định cách mạng Việt Nam.

Một là, bài học về xây dựng Đảng. Có thể nói ngay từ những ngày đầu khó khăn, gian khổ của cách mạng Đảng ta đã nhận lấy vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Với bản lĩnh trí tuệ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng, thể hiện: Ra đời được 15 năm, với gần 5.000 đảng viên, Đảng đã trải qua 4 cuộc vận động cách mạng lớn: Cao trào cách mạng 1930 - 1931; Đấu tranh khôi phục phong trào cách mạng 1932 - 1935; Đấu tranh dân chủ 1936 - 1939; Cao trào cách mạng trực tiếp đấu tranh giành chính quyền 1939 - 1945. Hoạt động trong điều kiện thực dân Pháp và bè lũ tay sai đàn áp, khủng bố ác liệt, nhiều lần, nhiều tổ chức của Đảng bị phá vỡ, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng bị bắt và bị giết hại, nhưng Đảng vẫn nhen nhóm được ngọn lửa cách mạng, kiện toàn lại các tổ chức. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng được thử thách, rèn luyện trong thực tế đặc biệt hiểm nghèo, kể cả thử thách về sự sống và cái chết. Trong 15 năm có tới 4 Tổng Bí thư của Đảng bị bắt và sát hại (các đồng chí: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ). Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị một án tử hình vắng mặt do Tòa án Vinh (Nghệ An) xử vào cuối năm 1929 tại Vinh, Nghệ An; bị chính quyền thực dân Anh tại thuộc địa Hồng Kông kết án tù từ giữa năm 1931 đến đầu năm 1933 và chính quyền Tưởng Giới Thạch tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc kết án tù từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943.
Vượt lên trên tất cả những khó khăn đó, Đảng đã chủ động xây dựng được cương lĩnh, đường lối và các chương trình hành động đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn, từng thời kỳ. Đảng luôn lấy lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ Nam cho hành động trong cuộc đấu tranh thực hiện khát vọng giành độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng trong tháng 8 năm 1945 là sức mạnh của Đảng được xây dựng trên cơ sở khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, khi Đảng kêu gọi Nhân dân đứng lên làm cuộc cách mạng thì muôn người như một, đoàn kết thành sức mạnh vô cùng to lớn, lực lượng Tổng khởi nghĩa nhanh chóng lan nhanh trên toàn quốc chỉ trong vài tuần lễ đã đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Vận dụng bài học này trong tình hình hiện nay trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.  

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu cần nhận thức và nêu gương hành động để chứng tỏ rằng, Đảng xứng đáng với niềm tin của nhân dân với vị trí vai trò và trách nhiệm Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội. Dân tin Đảng, Đảng tin Dân vẫn là bài học nóng hổi từ Cách mạng Tháng Tám để vượt qua khó khăn, thách thức hoàn thành sứ mệnh mà Nhân dân tin tưởng, giao phó.

Đảng phải xây dựng đường lối đúng và đề ra những chủ trương phù hợp; tăng cường xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là xây dựng Nhà nước của nhân dân, do Nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng phải kiên định lý luận Mác - Lênin, nắm chắc tình hình trong nước và quốc tế để giải quyết các mối quan hệ trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động khó lường.

Đảng phải đấu tranh không khoan nhượng với những hành vi tham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống, thoái hóa biến chất, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” vi phạm pháp luật. Gương mẫu trong lời nói và việc làm, gần dân sát dân, phấn đấu vì lợi ích của Nhân dân. Phát huy vai trò lãnh đạo cán bộ, đảng viên đặc biệt là người đứng đầu trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay cần phải thực hiện 6 dám: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Tránh tình trạng lợi ích nhóm, cơ hội thu vén cá nhân, ưu ái họ hàng, đồng thời chống biểu hiện sợ sai không dám làm gì.

Hai là, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng vững chắc của khối liên minh công - nông, đấu tranh vì độc lập, tự do.
Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng Nhân dân trong lịch sử, “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc, ngay từ khi mới thành lập và lãnh đạo Nhân dân đấu tranh cách mạng, Đảng đã rất chú trọng việc xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất. Từ năm 1930 đến năm 1941, qua nhiều chặng đường thể nghiệm xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, đặc biệt với sự ra đời của mặt trận Việt Minh (năm 1941) đã đảm bảo cho khối đại đoàn kết dân tộc được tạo dựng vững chắc và sâu rộng. Với chủ trương đúng đắn là “liên hiệp hết thảy các tầng lớp Nhân dân, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật giành độc lập...”, cùng phương thức tổ chức đa dạng, phong phú, mặt trận Việt Minh đã trở thành hạt nhân quy tụ, tập hợp các giai cấp, tầng lớp Nhân dân đứng vào hàng ngũ của mình để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành chính quyền về tay Nhân dân.

Có thể nói khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là công nông trí - nhân tố đặc biệt quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, càng quan trọng hơn trong sự nghiệp cách mạng giai đoạn hiện nay trong một thế giới hội nhập, toàn cầu hóa; trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để biến nước ta thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Theo tinh thần bài học Cách mạng Tháng Tám, đoàn kết cần được xây dựng trên cơ sở của cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng sự đồng thuận xã hội, tôn trọng những ý kiến riêng của cá nhân miễn là những ý kiến đó không làm tổn hại chung cho sự phát triển của đất nước.

Đoàn kết trong giai đoạn cách mạng hiện nay còn cần cả sự tích cực giáo dục chính trị, nâng cao sự giác ngộ về tinh thần yêu nước; đấu tranh chống lại các quan điểm và hành động sai trái của các thế lực thù địch và chống lại tất cả những hành động làm tổn hại đến sự đoàn kết toàn dân tộc, chống lại sự kích động hằn thù dân tộc, chống lại mọi tiêu cực trong hệ thống chính trị và ngoài xã hội.

Ba là, kịp thời tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, vận dụng linh hoạt chủ động, sáng tạo tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền.
Muốn có thời cơ thì phải biết tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến thì phải tận dụng nắm thời cơ và tranh thủ thời cơ, không được bỏ lỡ. Đây là nội dung có tầm quan trọng đặc biệt trong nghệ thuật chỉ đạo cách mạng. Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám 1945 là một minh chứng sinh động về sự nhạy bén trong đánh giá và nhận định chỉ đạo chớp thời cơ khởi nghĩa của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, việc nắm bắt thời cơ được thể hiện ngay khi Đảng đưa ra những dự báo về tình thế cách mạng để dân tộc Việt Nam vùng lên giành chính quyền về tay Nhân dân. Khi phát xít Nhật nổ súng lật đổ thực dân Pháp ở Đông Dương (ngày 9/3/1945), với chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12/3/1945), Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng đã nhận định tình hình và dự đoán hai tình huống có thể diễn ra: thứ nhất là, quân đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật; thứ hai là, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Và tình hình đã diễn ra đúng như dự đoán thứ hai của Đảng ta, ngày 14/8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh vô điều kiện đã khiến cho quân Nhật ở Đông Dương hoang mang cực độ, đồng thời chính phủ thân Nhật ở Việt Nam cũng tỏ ra hoàn toàn tê liệt. Đến đây, kẻ thù của cách mạng Việt Nam đã suy yếu, không còn có khả năng thống trị như cũ được nữa, thời cơ “ngàn năm có một” cho chúng ta giành chính quyền đã xuất hiện, đòi hỏi chúng ta phải hành động mau lẹ và kiên quyết. Nếu không kịp thời phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền thì “vạn năm” cũng không thể được bởi lúc này quân Tưởng và Anh đang sẵn sàng nhảy vào Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất là để thực hiện âm mưu mới của chủ nghĩa đế quốc trên danh nghĩa đồng minh. Trước tình thế vô cùng khẩn cấp và thuận lợi đó, Đảng đã quyết định phát động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền và chỉ từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945, với sự kết hợp linh hoạt các hình thức, phương pháp đấu tranh cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, tuyên truyền kết hợp với bạo lực cách mạng, nhằm phân hóa, cô lập kẻ thù, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi một cách nhanh, gọn, và thành công triệt để.

Vận dụng quan điểm đó hiện nay Đảng ta cần phải đánh giá đúng tình tình, có quyết sách đúng đắn phù hợp với thực tiễn với xu thế thời đại. Biết hành động tạo ra thời và chớp lấy thời cơ để hành động, đây là yêu cầu cấp thiết để hành động có hiệu quả.

Phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc nhìn nhận, phân tích, đón bắt, tận dụng tốt thời cơ, trong bối cảnh hiện nay. Sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, không cho phép chúng ta ngồi chờ mà cần phải hành động và có những quyết sách để đi tắt, đón đầu. Do đó, nhiệm vụ của công tác dự báo đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Dự báo phải sát, đúng thì mới có giải pháp hiệu quả trong các quyết sách. Phát huy nội lực, kết hợp tốt nội lực với ngoại lực tạo nên sức mạnh tổng hợp phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Bốn là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến.

Ngay từ khi Đảng ta mới thành lập, trong “Chính cương vắn tắt” do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã khẳng định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Chính từ phương hướng đó, trong quá trình lãnh đạo Nhân dân đấu tranh giành chính quyền, xuất phát từ thực tế nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu, nổi lên hàng đầu, Đảng đã linh hoạt trong giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, giữa chống đế quốc và phong kiến, trong đó xác định đặt nhiệm vụ giành độc lập dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ đấu tranh giai cấp thực hiện từng bước thích hợp ở từng giai đoạn, tùy thuộc vào tiến trình giải phóng dân tộc. Chính sự linh hoạt trong giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chống đế quốc và phong kiến trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã đáp ứng đúng nguyện vọng thiêng liêng, cấp bách của toàn dân tộc và đã giúp cho Đảng huy động được sức mạnh của toàn dân tộc cùng quyết tâm chống thực dân Pháp và phát xít Nhật, làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, nước ta cũng phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng Nhân dân, vì lợi ích của quần chúng Nhân dân. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng ta cần xử lý tốt mối quan hệ độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, dân tộc và thời đại. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH, đòi xóa bỏ CNXH… đều đi ngược lại quyền lợi, lợi ích của Nhân dân, dân tộc. Các luận điệu này cần phải bị vạch trần và đấu tranh, loại bỏ.

Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh ngày 2/9, giúp chúng ta càng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò lãnh đạo tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại về vai trò của quần chúng Nhân dân đối với cách mạng… Từ đó xác định trách nhiệm của các thế hệ hôm nay trong việc vận dụng sáng tạo, phát triển những bài học kinh nghiệm quý giá của Cách mạng Tháng Tám vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, tự do, độc lập và giàu mạnh, theo như mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII./.
Môi trường ST.

ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Trong Thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đại đoàn kết càng được kế tục và phát huy cao độ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã dày công vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân, từng nói: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch.” Đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi và đoàn kết sẽ đưa đất nước ta tiến đến những đỉnh cao mới của thời đại.

Tư tưởng đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Trải qua các thời kỳ cách mạng, quan điểm của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Đảng luôn xác định, “đoàn kết” là giá trị cốt lõi, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Marx-Lenin, được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân,” đoàn kết được nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ.”

Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”

Chính vì thế, ngay từ khi vừa thành lập, Đảng ta đã không ngừng xây dựng, củng cố khối liên minh công-nông và coi trọng việc đoàn kết, tập hợp các lực lượng khác như thanh niên, phụ nữ, học sinh, trí thức, tiểu thương, tư sản, địa chủ.

Với tuyên ngôn về đoàn kết, thống nhất, Đảng đã trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với xu hướng cách mạng thế giới, là tiền đề quan trọng nhất cho những bước phát triển tiếp theo.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, nhằm “liên hiệp hết thảy các giới, đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.”

Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh “sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập.”

Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đánh dấu bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng, hướng tới việc mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nội lực dân tộc cho một cuộc hồi sinh vĩ đại.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc biết nương tựa vào nhau, chung sức đồng lòng vì lẽ phải, vì lương tri và những giá trị làm người cơ bản.

Đó là biểu tượng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam và sức mạnh của đoàn kết quốc tế: toàn dân đồng lòng nổi dậy, lực lượng Đồng minh chống phátxít trên thế giới ủng hộ; từ chiến khu về đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị, rồi cả thành thị cùng nông thôn nhất tề nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân.

Có được sức mạnh đó là nhờ nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trên cơ sở lợi ích, nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân để tổ chức, tập hợp họ vùng lên đấu tranh “lấy sức ta giải phóng cho ta.”

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, cả dân tộc bước vào thời kỳ “kháng chiến kiến quốc.” Đây là thời kỳ vô cùng khó khăn khi ta phải đương đầu với cả giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.

Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Quốc hội ra đời với các đại biểu đến từ tất cả các giai tầng trong xã hội, từ công nhân, nông dân, tiểu tư sản, người dân tộc thiểu số thuộc mọi ngành, lĩnh vực văn hóa, tôn giáo.

Mặt trận dân tộc thống nhất với nhiều tên gọi khác nhau như Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, giúp nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954); chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), hoàn thành độc lập và thống nhất đất nước.

Ngay sau Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng đưa lên nhiệm vụ hàng đầu.

Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam).

Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

Tại Đại hội VI, Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.”

Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Đại hội IX nhấn mạnh động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội.

Đại hội X chỉ rõ nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc nằm trong nội dung quan trọng của chủ đề thứ hai của Đại hội “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại.”

Để phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, Báo cáo chính trị Đại hội XIII đã nêu 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó quan điểm thứ ba đề cập đến phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân… tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.”

Đánh giá những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa.

Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.”

Với những thành quả cách mạng đã đạt được, dưới sự lãnh đạo bản lĩnh, trí tuệ của Đảng, sự quản lý điều hành năng động, sáng tạo của Nhà nước cùng tài năng, đức tính cần cù, ý chí và khát vọng vươn lên mãnh liệt của nhân dân ta, tiếp tục vận dụng bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh lịch sử mới, chúng ta có đầy đủ cơ sở để vững tin vào sự hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Yêu nước ST.