Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

HỌ CŨNG ĐÃ ĐỔ MÁU VÌ HÒA BÌNH VIỆT NAM

 

Để có được tự do, hòa bình cho Việt Nam ngày hôm nay, không chỉ máu cha ông ta đã đổ xuống mà còn có cả máu của những người dũng cảm ở nơi xa, sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc nhớ đến Norman Morrison và Muhammad Ali.

Muhammad Ali - Huyền thoại boxing thế giới - nếu bắt tôi bắn họ, cứ đưa tôi vào tù đi.

Vào ngày 28/4/1967, Muhammad Ali từ chối gia nhập quân đội Mỹ để tham gia chiến tranh Việt Nam khiến ông bị tước giấy phép quyền anh và tất cả đai vô địch thế giới. Tay đấm huyền thoại nói rằng ông không gia nhập quân đội Mỹ vì lương tâm không cho phép, từ đó dẫn đến việc bị kết án 5 năm tù và phạt 10.000 USD. Trong 4 năm sau đó, Muhammad Ali huyền thoại vẫn bảo vệ ý kiến của mình trong mọi hoàn cảnh. Phong trào phản chiến, tại nước Mỹ đã trỗi dậy mạnh mẽ từ đó với sự tham gia của cả Bill Clinton, Tổng thống Mỹ giai đoạn 1993-2001. Tổng cộng có 16 triệu thanh niên Mỹ đốt thẻ quân dịch để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam. Phong trào đòi thả Muhammad Ali cũng nổ ra, dần lan rộng và thu hút nhiều vận động viên, người hâm mộ quyền Anh cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nhờ đó mà cuối cùng chính quyền Mỹ và Liên đoàn quyền Anh của nước này đã nhượng bộ. Năm 1971, Muhammad Ali được trả tự do. Sau khi giã từ sự nghiệp quyền Anh chuyên nghiệp vào những năm 80 của thế kỷ trước, Muhammad Ali tham gia nhiều hoạt động xã hội, các sứ mệnh nhân đạo và chương trình của LHQ mang tên “Thông điệp hòa bình”. Muhammad Ali đã từng đến thăm Việt Nam vào tháng 5/1994.

Norman Morrison - Ngọn đuốc sống trước Lầu Năm Góc

“… Emily con ơi!

Trời sắp tối rồi ...

Cha không thể bế con về được nữa

Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa

Đêm nay mẹ đến tìm con

Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn

Cho cha nhé.

Và con sẽ nói giùm với mẹ

Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn! …”

Có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy những câu thơ này thật quen thuộc, đây chính là bài thơ “Emily, con” của nhà thơ Tố Hữu đã viết 5 ngày sau khi Norman Morrison tự thiêu trước Lầu Năm Góc để phản đối chiến tranh ở Việt Nam và Norman Morrison là người cha trong bài thơ đó. Thế hệ GenZ không có nhiều người biết đến Norman Morrison nhưng vào năm 1965, hành động dũng cảm của anh đã xuất hiện trên rất nhiều mặt báo lớn ở Việt Nam nói riêng và mặt báo thế giới nói chung.

Norman Morrison sinh ngày 19/12/1933 ở Erie, bang Pennsylvania, Mỹ. Anh dạy học tại một trường trung học và là một người yêu hòa bình, là một trong những người hoạt động tích cực trong phong trào biểu tình phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính quyền Johnson. Anh không thể chấp nhận con số thương vong về người mà cuộc chiến phi nghĩa ấy đang gây ra, cả đối với người Việt Nam và binh sĩ Mỹ. Ông tin rằng nếu cuộc chiến này tiếp tục, đến một lúc nào đó, nó sẽ giáng một đòn nặng nề lên lương tâm của người Mỹ.

Năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và dùng không quân đánh phá ra các tỉnh miền Bắc nước ta, ông nhiều lần xuống đường phản đối chiến tranh, nhưng cuộc chiến vẫn ngày càng khốc liệt hơn. Morrison nghĩ rằng, khẩu hiệu, băng rôn và các cuộc tuần hành không làm những người cầm quyền chú ý thì anh phải dùng đến biện pháp cuối cùng: Ngọn lửa của thân thể mình!

Vào ngày 2/11/1965, Norman Morrison lái xe rời khỏi nhà đưa theo cô con gái út Emily khi ấy mới 1 tuổi. Sau 64km, họ đến trước Lầu Năm Góc, theo các nhân chứng kể lại, anh đã ôm và hôn lên trán đứa con gái bé bỏng của mình lần cuối, âu yếm nhìn cô bé. Người cha ấy giao con gái mình cho một người phụ nữ trong đám đông, trèo khỏi hàng rào, đổ lên người chỗ xăng đã chuẩn bị từ trước và châm lửa. Người đàn ông ấy trở thành ngọn lửa cao 3m trong sự bàng hoàng của đám đông.

Trước đó 3 tháng, Norman Morrison gửi thư cho báo Mặt trời Baltimore bày tỏ thái độ bất bình về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam nhưng Norman Morrison nhận ra tất cả những gì mình nỗ lực đều không hề chạm đến chính quyền Mỹ. Nhìn những đứa con của mình, người đàn ông ấy đau lòng vì những đứa trẻ ở Việt Nam đang chịu những cơn mưa bom đạn, sống trong những căn hầm, đáng lẽ chúng phải được vui chơi và đến trường. Khi châm lửa tự thiêu, ánh lửa bùng lên như một thông điệp của nhân dân Mỹ đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Khi biết tin về vụ tự thiêu của Norman Morrison, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lời chia buồn tới Anne, vợ của Norman Morrison. Khi bà Anne và các con tới thăm Việt Nam vào năm 1999, họ đã gặp nhà thơ Tố Hữu. Họ ngạc nhiên trước sự tiếp đón nồng nhiệt của Việt Nam và gặp nhiều người Việt Nam. Người con gái lớn của Norman đã chia sẻ “Là một người con, điều duy nhất giúp tôi hiểu về cái chết của cha mình là biết được nỗi đau xảy ra tại Việt Nam. Trong chuyến đi, tôi gặp những đứa trẻ nói với chúng tôi rằng, sự hy sinh của cha tôi có ý nghĩa như thế nào đối với họ. Đây là sự xoa dịu không gì tả xiết đối với tôi”, cô ấy đã thấy sự hy sinh của cha mình đã lên tiếng cho rất nhiều đứa trẻ vô tội khác. Sau chuyến thăm đó, Anne Morrison đã viết một bức thư gửi nhân dân Việt Nam như một lời cảm ơn chân thành: “Khi nào tôi còn sống thì tôi vẫn không thể quên được chuyến đi của tôi tới Việt Nam vào tháng 4/1999. Chuyến đi ấy đã hàn gắn những vết thương lòng của tôi. Sau cái chết của chồng tôi - Norman Morrison năm 1965 để phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, tôi biết nhân dân Việt Nam vô cùng xúc động về sự hy sinh của chồng tôi và kính trọng chồng tôi. Họ đã gửi những lời chia buồn đến gia đình tôi. Tôi vô cùng ngạc nhiên về tình cảm sâu sắc và lòng kính trọng dành cho chồng tôi của biết bao người dân Việt Nam mà họ vẫn gìn giữ trong suốt những năm tháng qua để nay lại bày tỏ trước chúng tôi. Tôi trân trọng và yêu quý những giọt nước mắt của họ, những giọt nước mắt của tình yêu và lòng thông cảm, Và ở một khía cạnh nào đó, những giọt nước mắt ấy là những hạt mầm của niềm vui …”.

Sau vụ tự thiêu của Morrison, phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ ngày càng phát triển với quy mô và lực lượng mới, nhiều tổ chức và cá nhân tham gia. Nhiều tờ báo Mỹ đã cử phóng viên sang chiến trường Việt Nam để phản ánh sự thật và tố cáo tội ác chiến tranh. Từ cuối năm 1965 trở đi, tình hình ở Mỹ diễn ra hai trận tuyến rõ rệt: một bên là chính quyền Mỹ với các đời tổng thống kế tiếp nhau cùng với một quốc hội ngày càng cam kết và dấn sâu vào chiến tranh xâm lược; với một bên là nhân dân Mỹ nhất quyết bằng mọi giá phải chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước. Sự kiện Norman Morrison và phong trào phản chiến của nhân dân tiến bộ Mỹ là lời bênh vực trung thực nhất cho dân tộc Việt Nam, là câu trả lời đúng đắn nhất cho câu hỏi vì sao dân tộc Việt Nam lại đứng lên cầm vũ khí đánh đuổi những kẻ xâm lược Mỹ, góp phần cùng nhân loại tiến bộ trên thế giới vạch trần âm mưu và tội ác của đế quốc Mỹ tại Việt Nam, giúp nhân dân Việt Nam có thêm sức mạnh tinh thần để vượt qua khó khăn, quyết tâm chiến đấu để giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Phong trào ủng hộ Việt Nam của nhân dân Mỹ thật sự là một phong trào rộng lớn bao gồm nhiều lực lượng, cá nhân, những người có tư tưởng hòa bình./.

Nguồn: ST

HAI BÀ TRƯNG TRONG THƯ TỊCH CỔ

     Hai Bà Trưng – Hai nữ vương, danh tướng đầu tiên gương cao cờ nghĩa chống chủ nghĩa bành trướng đại Hán, đặt nền móng đầu tiên cho cuộc đấu tranh không mệt mỏi giành độc lập của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử và truyền thuyết kể rằng: Hai Bà là chị em sinh đôi và sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất (năm 14 sau công nguyên). Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn dng dōi vua Hùng, phát tích từ vùng đất thiêng Mê Linh nay thuộc tỉnh Phú Thọ, là con gái của quan Lạc tướng vùng này. Trong bối cảnh đất nước bị nhà Hán đô hộ, thân mẫu của Hai Bà Trưng là bà Man Thiện sớm ga bụa song đã nuôi dy con cái theo tinh thần thượng vō và yêu nước. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai một Lạc tướng huyện Chu Diên, bị Thái thú Tô Định của nhà Hán giết hại. Trước cảnh nước mất nhà tan, Trưng Trắc cng em là Trưng Nhị quyết tâm tiến hành khởi ngha đền nợ nước, trả thù nhà. Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng lập đàn thờ trên cửa sông Hát Giang truyền lệnh khởi ngha. Nhân dân các quận Giao Chỉ, Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng nổi dậy hưởng ứng cuộc đấu tranh chống lại nhà Hán. Hai Bà lập nên vương triều mới, đng đô ở Mê Linh, xưng hiệu là Trưng Vương. Hai năm sau, tướng nhà Hán là Mã Viện mang hai vạn quân sang xâm lược nước ta. Do lực lượng yếu, Hai Bà lui về Cẩm Khê và cầm cự với quân giặc hơn một năm trời. Cuối cùng, sau khi bị thất bại, năm 43 Hai bà chạy về Hát Môn gieo mnh xuống sông Hát Giang tự vẫn. Mặc dù giành quyền tự chủ đất nước trong một thời gian ngắn (từ năm 40 đến năm 43) song tấm gương anh hùng, trung nghĩa của Hai Bà đã khắc ghi vào lịch sử và tâm thức người dân Việt Nam, làm vẻ vang cho phụ nữ Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

Chuyện Hai Bà Trưng được Đại Nam quốc sử diễn ca kể rằng:

Chị em nặng một lời nguyền;

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân;

Ngàn Tây nối áng phong trần;

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên:

Hồng quần nhẹ bước chinh yên;

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.

Thư tịch cổ nhất của nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng là bộ Đại Việt sử lược. Sách này cho hay: “Trưng Trắc người huyện Mê Linh, con gái của quan Lạc tướng vùng này. Trưng Trắc lấy chồng người huyện Chu Diên, tên là Thi Sách. Người vợ tính rất hùng dũng, (Thi Sách) làm việc gì đó có sai phạm nên bị Thái thú Tô Định mượn pháp luật để trừng trị (sát hại). Bà Trưng Trắc giận quá, bèn cùng với em gái là Trưng Nhị khởi binh ở Phong Châu, đánh phá các quận huyện. Dân ở hai quận Cửu Chân và Nhật Nam đều hưởng ứng cả. Bà chiếm được 65 thành ở ngoài phía Nam của nhà Hán rồi tự lập làm Vua, đóng đô ở huyện Mê Linh”.

Thư tịch cổ thứ hai của nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng là bộ Đại Việt sử ký toàn thư do tiến sĩ Ngô Sĩ Liên và các sử thần thời Lê biên soạn. Sách này có mấy đoạn rất đáng chú ý về Hai Bà Trưng, như sau: “Năm Kỉ Hợi, đời Hán Quang Vũ Lưu Tú, niên hiệu Kiến Vũ năm thứ 15,Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định, chính sự tàn tạo và tham lam, Trưng Nữ Vương liền dấy binh để đánh”. “(Vua) tên quý là Trắc, họ Trưng, nguyên họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (Phong Châu), vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên. Thi Sách cũng là con Lạc tướng. Con hai nhà Lạc tướng kết hôn với nhau”. “Mùa xuân, tháng 2 (năm Canh Tí), Vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Tô Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở các châu. Tô Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đều hưởng ứng. Trưng Trắc lấy được 65 thành rồi tự lập làm Vua”.

Ngoài Đại Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư, các thư tịch cổ tiếp sau của nước ta như Khâm định Việt sử thông giám cương mục và một số bộ dã sử khác cũng chép chuyện Hai Bà Trưng nhưng nhìn chung không có thông tin gì thêm.

Đọc các thư tịch cổ viết về Hai Bà Trưng, cảm giác đầu tiên thường có ở hầu hết mọi người là: chừng như tất cả chỉ mới dừng lại ở mức độ sơ bộ nhắc nhở về những sự kiện gắn liền với Hai Bà Trưng chứ chưa đủ để làm thoả mãn ý nguyện hiểu biết của hậu thế về hai nhân vật lịch sử kiệt xuất này. Sự bất nhất và sự giản lược của thư tịch cổ khiến cho người đọc lấy làm tiếc. Không còn cách nào khác, phương pháp phổ biến của giới sử học hiện đại vẫn là kết hợp chặt chẽ giữa việc phân tích và xử lí thư tịch cổ với việc tổ chức khảo sát trên một bình diện ngày càng rộng để tìm kiếm thêm các tài liệu có liên quan đến Hai Bà Trưng; trong đó, hai nguồn tài liệu mới hơn được các nhà sử học đặc biệt chú ý là các tờ thần tích và truyền thuyết dân gian.

Qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam, Hai Bà được mọi thời đi đánh giá là tấm gương anh hùng liệt nữ, niềm kiêu hãnh của phụ nữ Việt Nam và của đất nước, dân tộc Việt Nam. Ðến nay Hai Bà vẫn được bao phong đời đời, lửa hương không dứt tại các đền thờ Hai Bà, tại các di tch khởi ngha và liên quan đến cuộc đời Hai Bà như Hát Môn, Hạ Lôi, Ðồng Nhân, …. Trong lịch sử, văn ha dân tộc Việt Nam, Hai Bà Trưng đã được truyền thuyết dân gian tiếp nối qua nhiều đời và là một chân lу́ chi ngời trong đời sống tâm linh người Việt./.

CỘNG ĐỒNG MẠNG VIỆT NAM CHUNG TAY VẼ BẢN ĐỒ VIỆT NAM TRÊN R/PLACE

 

R/place là một sự kiện lớn trên Internet của mạng xã hội Reddit được tổ chức mỗi năm một lần và được theo dõi bởi hàng triệu người trên khắp thế giới. Đây là nơi mọi người trên thế giới có thể cùng nhau vẽ lên những bức tranh pixel thể hiện cho cộng đồng của mình trên một mặt phẳng khổng lồ. Mỗi 5 phút thì mỗi cá nhân sẽ được chấm 1 pixel (màu tùy ý) trên mặt phẳng này, từ những điểm ảnh đó, bức tranh sẽ dần hoàn thiện. Dự án R/place là một khoảng màu trắng chứa hàng triệu pixel (điểm ảnh). Vậy nên, để hoàn thành một bức pixel siêu to là siêu khó và giữ nó không bị "xâm phạm" bởi hàng triệu người còn khó hơn gấp bội vì số lượng người cùng làm rất đông nên việc đồng bộ các khâu là không hề đơn giản, bên cạnh đó còn không ít trường hợp chấm nhầm hay cố tình vẽ phá.

Từ đêm 24/7/2023, với sự phát động của một streamer trong nước, cộng đồng mạng Việt Nam đã cùng nhau chung tay vẽ bản đồ đất nước hình chữ "S", cùng lời khẳng định: "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam" trên R/place. Đến 7h00 sáng 25/7/2023, bản đồ Việt Nam có đủ 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa cùng với hình ảnh chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã chiếm một khoảng rất lớn trên R/place. Đây là điều chưa bao giờ Việt Nam làm được khi phải cạnh tranh với cộng đồng mạng các nước mạnh như Pháp, Mỹ, Maroc, …. Một bức tranh đủ lớn và có ý nghĩa như vậy sẽ được ghi nhận trên place-atlas (1 dạng bản đồ có thông tin của R/place). Theo đó, trên place-atlas có chú thích rằng: "Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á, đây là một vùng đất đẹp và có lịch sử vẻ vang. Lá cờ của quốc gia này gồm nền đỏ và một ngôi sao vàng chói lọi. Biển xanh có Hoàng Sa và Trường Sa ...".

Có thể nói đây là bức tranh to nhất, giữ vững được lâu nhất và mang rất nhiều ý nghĩa về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa cũng như tinh thần đoàn kết của cộng đồng mạng Việt Nam trên R/place. Đây là một món quà tri ân và vô cùng ý nghĩa hướng tới các ngày lễ 27/7, 19/8 và 02/9 năm nay. Khi chơi game, xem stream cũng là yêu nước!

 

SỰ THẬT LỊCH SỬ VỀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

 

Gần đến kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9, trên các trang mạng tung ra một số bài của những người khác chính kiến phê phán Cách mạng tháng Tám, cho rằng, “không có cuộc cách mạng này, nước Việt Nam vẫn thống nhất”. Có bài viết “đề nghị lấy ngày 11/3/1945, ngày Chính phủ Nhật dựng lên Chính phủ Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại đứng đầu làm ngày Quốc khánh của Việt Nam, thay cho ngày 2/9/1945?”. Có bài viết so sánh nhiều nước ở Đông Nam Á có tiến hành Cách mạng tháng Tám đâu mà nước họ vẫn phát triển hơn Việt Nam, như Thái Lan, Singapore, Indonesia, .… Những luận điệu sai trái trên đây cần phải được phê phán vì nó phản ánh sai trái lịch sử. Việc lấy ngày 11/3/1945 làm ngày Quốc khánh của Việt Nam thay cho ngày 2/9/1945 thật là phi lý, vì chính quyền bù nhìn Bảo Đại có còn nữa đâu, cái thây ma đã ruỗng nát từ lâu rồi.

Chúng ta biết rằng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra ở Việt Nam là một cuộc Cách mạng mang tính thời đại và tinh thần dân tộc mãnh liệt, mở ra trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan chính quyền của thực dân và phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa nhân dân ta từ người nô lệ thành người chủ thực sự của đất nước, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến thành một nước độc lập và dân chủ nhân dân; đưa Đảng ta từ một đảng hoạt động không hợp pháp, thành một đảng hoạt động hợp pháp, nắm chính quyền trong cả nước; đưa dân tộc ta tiến lên hàng đầu các dân tộc tiên phong trên thế giới. Rõ ràng, Cách mạng tháng Tám đã mở ra trang sử mới cho nhân dân Việt Nam, trang  sử hào hùng của dân tộc.

Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước thuộc địa và nửa phong kiến, góp phần mở ra một thời kỳ sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thế giới. Cách mạng tháng Tám thành công chứng tỏ rằng, trong thời đại ngày nay, một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân và đội tiên phong là Đảng Cộng sản lãnh đạo, hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa bị ách thực dân, đế quốc thống trị xâm lược. Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã đánh thẳng vào dinh lũy của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, làm đứt tung một khâu yếu nhất trong chuỗi xích của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, mở đường cho cách mạng giải phóng dân tộc phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước nông nghiệp lạc hậu, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thành công của Cách mạng tháng Tám đánh dấu mốc son chói lọi của nghệ thuật lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng mới 15 tuổi (1930-1945) đã lãnh đạo cách mạng thành công, giành chính quyền trong cả nước; là cuộc khởi nghĩa vĩ đại của nhân dân ta, là sự kết hợp tài tình giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, một cuộc nổi dậy chưa từng có cả ở thành thị lẫn nông thôn mà đòn tiến công quyết định là cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Cách mạng tháng Tám bắt đầu từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, họp từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, tại rừng Khuổi Nậm, thôn Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, tháng 5/1941, do Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Quốc tế Cộng sản, chủ trì, với sự tham gia của các đồng chí Trường Chinh, quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt là Ủy viên Thường vụ Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Đông Dương, .… Hội nghị họp vào giữa lúc tình hình chính trị thế giới đầy biến động. Ở những nơi xa xôi như Cao Bằng, các đại biểu dự Hội nghị cũng nhận được những tin tức về việc Đức  ký hòa ước với Anh, lôi kéo Anh – Mỹ vào khối liên minh chống Liên Xô. Tình hình khẩn cấp đến nỗi chỉ một tháng sau đó, phátxít Đức bắt đầu tấn công Liên Xô. Thái độ của Mỹ, Anh lúc đó bộc lộ rất rõ: Nếu Đức thắng, họ sẽ giúp Nga, nếu Nga thắng thì sẽ giúp Đức. Âm mưu của họ là muốn để cho hai nước Đức, Nga chém giết lẫn nhau nhiều chừng nào hay chừng ấy. Điểm nút thắt ở chỗ tập đoàn phát xít – đế quốc muốn cho Liên Xô thất bại, nhằm thủ tiêu chế độ Xô viết. Trước tình hình nghiêm trọng xảy ra trên thế giới như vậy, Hội nghị thảo luận kỹ về tình hình quốc tế. Trung ương nhận định thấy rằng sự giống nhau giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất với Chiến tranh thế giới thứ hai ở chỗ sự xâu xé quyền lợi giữa hai phe đế quốc (Đức, Ý, Nhật – Mỹ, Anh, Pháp), cả hai phe đều tham lam giành giật thuộc địa và thị trường của nhau. Cái chung giống nhau của họ còn thể hiện ở chỗ bắt các nước thuộc địa cung cấp nhân lực, tài lực, phục vụ cho chiến tranh và thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng. Hội nghị nhận định rằng, nếu Chiến tranh thế giới thứ nhất là một tiền đề dẫn đến Cách mạng tháng Mười Nga, thì Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ là một tiền đề dẫn đến thắng lợi của nhiều cuộc cách mạng mới ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định rằng, từ khi khói lửa Chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng, Đông Dương bị Pháp lôi cuốn vào vòng chiến, gây sự đổ nát về kinh tế và rối loạn về xã hội. Mối đe dọa của Pháp đang còn chống chất, thì bàn tay tàn bạo của phát xít Nhật đối với nhân dân Đông Dương ngày càng bóp chặt. Nhật tăng cường lục lượng quân sự trên bán đảo Đông Dương, hòng thôn tính Đông Dương. Chống lại chính sách thực dân, phát xít ở Đông Dương, Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ các dân tộc ở Đông Dương chỉ có một con đường đoàn kết chống kẻ thù chung, giành độc lập dân tộc cho mỗi nước. Muốn vậy, các dân tộc Đông Dương phải tập hợp được các lực lượng, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, lương, giáo, … bất kỳ ai có lòng yêu nước, thương nòi, cần tập hợp dưới lá cờ cứu nước, đánh đuổi Nhật, Pháp xâm chiếm Đông Dương, giành độc lập cho các dân tộc ở Đông Dương. Riêng đối với dân tộc Việt Nam, sau khi đánh đuổi Pháp, Nhật “sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung của toàn thể dân tộc …”. Dân tộc Việt Nam cần đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc khác trên bán đảo Đông Dương, giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của mỗi nước. Nghị quyết của Hội nghị quyết định khởi nghĩa vũ trang trong toàn thể các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Muốn có đủ lực lượng để khởi nghĩa vũ trang trong toàn quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương phải mở rộng và củng cố các tổ chức cứu nước, vũ trang bằng những phương tiện có thể có để tiêu diệt kẻ thù xâm lược trên bán đảo Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 nhấn mạnh đến vấn đề giữ chính sách dân tộc, đại đoàn kết, vì chính sách ấy “hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, hợp với nguyện vọng của các giai cấp, các dân tộc ở Đông Dương, hợp với cuộc tranh đấu chung của toàn thế giới chống phát xít và xâm lược, cuộc cách mạng Đông Dương mới thành công chắc chắn được”. Để đoàn kết toàn dân đấu tranh, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh vào ngày 19/5/1941 - ngày bế mạc Hội nghị. Hội nghị bầu Ban lãnh đạo mới của Đảng. Ban Thường vụ Trung ương chính thức gồm Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, do Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

Sau Hội nghị Trung ương 8, tháng 5/1941, mọi công tác chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành gấp. Ngày 23/3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp soạn thảo. Tư tưởng chỉ đạo có tính chất bao trùm của Chỉ thị thực chất là chương trình hành động cách mạng của nhân dân ta. Cần hành động ngay, hành động kiên quyết, nhanh chóng, sáng tạo, chủ động, táo bạo, không chịu bó tay khi tình thế biến chuyển thuận lợi, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật, cứu nước tiến đến tổng khởi nghĩa, “Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay chúng ta!”. Cùng với Chỉ thị là Hiệu triệu của Việt Minh kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên chống Nhật (sau khi Pháp đã đầu hàng) bằng các hình thức biểu tình, thị oai, bãi công, bãi thị, bãi khóa, phá đường giao thông, kho tàng, đánh đồn, chặn các đội quân tuần tiễu của Nhật, chặn bàn tay của của chúng lại, không để cho chúng tác oai, tác quái. Toàn dân tuốt gươm, chĩa súng, giết giặc, trừ gian, dựng lên một nước Việt Nam độc lập và tự do.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sự chỉ đạo kịp thời của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Tổng Bí thư Trường Chinh, khắp các địa phương đã nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại Việt Nam. “Tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và đọc tại Lễ độc lập ở vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, chiều ngày 2/9/1945, đã chính thức tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, ra đời.

Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước phải trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ xâm lược, cuối cùng đã giành được độc lập, tự do, giang sơn thu về một mối, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước như ngày hôm nay.

Mọi luận điệu xuyên tạc sự thật lịch sử về Cách mạng tháng Tám nhất định sẽ bị dư luận xã hội lên án./.

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trong Thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đại đoàn kết càng được kế tục và phát huy cao độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã dày công vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân, từng nói: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch.” Đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi và đoàn kết sẽ đưa đất nước ta tiến đến những đỉnh cao mới của thời đại. Tư tưởng đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Mặc dù ý nghĩa, vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam là vô cùng quan trọng và không thể phủ nhận, song với âm mưu đòi “phi chính trị hóa” quân đội, phá hoại chủ trương xây dựng cũng như sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, tiến tới phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực chống đối, thù địch vẫn không ngừng sử dụng các thủ đoạn, chiêu trò để xuyên tạc, chống phá, nhất là về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm vấn đề sau: Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”. Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”. Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành. Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội… Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” … Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”! Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân” … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”. Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”. Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”. Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”. Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam! Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội. Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy. Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị”. Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đặt trong bối cảnh lịch sử gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo lý khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối "nhai đi nhai lại"; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của tặng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SỰ SUY THOÁI.

Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã xác định rõ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, hệ thống chính trị là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Và trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái đó, nhân dân đóng một vai trò hết sức quan trọng. Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân chủ động, tích cực, tự giác trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có hiệu quả, ngày 3/10/2017, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 99-QĐ/TW về việc hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sau khi Quyết định số 99-QĐ/TW được ban hành, các cấp ủy, tổ chức đảng tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện mạnh mẽ, sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và gặt hái được nhiều thành công với nhiều tấm gương sáng, điển hình tiên tiến và nhiều cách làm hay đã xuất hiện. Cụ thể như cấp ủy, tổ chức đảng tại các tỉnh, thành phố đều đã ban hành các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 99-QĐ/TW cũng như những Chỉ thị, Nghị quyết Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng phù hợp điều kiện thực tiễn. Tại nhiều địa phương như Sơn La, Bắc Ninh, Nghệ An… thông qua nhiều hình thức: Tuyên truyền công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở, qua các hội nghị, sinh hoạt chi bộ hay qua các cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa những người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với cử tri, nhân dân… các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền tại địa phương đã chủ động thông báo công khai rộng rãi và khuyến khích người dân tham gia đóng góp ý kiến, kiểm tra, giám sát về 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên; những điều đảng viên không được làm; việc tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên… Những ý kiến, góp ý, phản ánh của người dân về các nội dung nêu trên đã kịp thời được các cơ quan chức năng tiếp thu và giải quyết đúng quy định, qua đó khuyến khích nhân dân tích cực, tự giác hơn nữa trong công tác đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên tại địa phương. Nhiều tỉnh, thành phố, thực hiện tốt trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy, cơ quan chính quyền trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với nhân dân từ đó nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp thu và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân nhất là về những vấn đề liên quan đến các biểu hiện tiêu cực, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội ở nhiều tỉnh, thành phố bằng những hình thức và cách làm sáng tạo đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức đại diện của mình thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên tại các tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cũng chính từ hoạt động giám sát, nhân dân đã phát hiện, tố giác những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, tiêu cực trong tư tưởng, đạo đức, thực thi nhiệm vụ, góp phần không nhỏ giúp các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm. Đánh giá về những thành công đạt được sau 5 năm thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW trên địa bàn cả nước, trong Kết luận số 54-KL/TW, ngày 9/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3/10/2017 của Ban Bí thư về tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ rõ: “Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát huy quyền làm chủ và vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái được nâng lên; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng mở rộng dân chủ, công khai để dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát; việc lắng nghe, tiếp thu, giải quyết ý kiến phản ánh của nhân dân có nhiều chuyển biến; phát huy ngày càng tốt hơn quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhân dân tin tưởng, chủ động và tích cực hơn tham gia đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”. Những thành tựu to lớn trong việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đạt được từ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và sự nỗ lực, quyết tâm triển khai thực hiện của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương là minh chứng rõ nét nhất, giúp bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng Đảng ta vi phạm dân chủ, quan liêu, xa dân; Đảng không vì lợi ích của dân, của nước mà chỉ tìm cách thâu tóm quyền lực để phục vụ lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ nên dung túng, bao che cho các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, tiêu cực, có hành vi tham ô, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, kỷ cương… Những luận điệu này không có đích đến nào khác ngoài việc xuyên tạc bản chất của Đảng, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, tạo cơ hội cho các thế lực phản động chống phá Đảng, chống phá chế độ. Tuy vậy, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận thực tế, việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thật sự cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW đầy đủ, kịp thời, bám sát thực tiễn, đặc biệt việc tổ chức thực hiện ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất nên chưa đạt hiệu quả cao. Vẫn còn tồn tại tình trạng nể nang, e ngại, ngại va chạm hoặc ngược lại lợi dụng dân chủ vì những mục đích xấu trong phản ánh, góp ý trực tiếp với cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan chức năng về những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Một số kiến nghị, phản ánh của người dân chưa được xem xét thấu đáo, giải quyết kịp thời. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu vẫn còn một số hạn chế, chưa thật sự đáp ứng tốt yêu cầu của công tác xây dựng Đảng… Những hạn chế nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhất là việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những quy định về việc công khai, minh bạch thông tin, quy trình, trách nhiệm trả lời, giải quyết kiến nghị sau giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cũng như việc lấy ý kiến đóng góp, phản ánh, kiến nghị của người dân về mọi vấn đề, nhất là các vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận liên quan các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên còn chưa được bổ sung, hoàn thiện kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền làm chủ và trách nhiệm của mình trong việc tham gia công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị ở các cấp do đó chưa chủ động, tích cực tham gia ý kiến, kiến nghị, góp ý, phản ánh với cấp ủy và chính quyền các cấp, về biểu hiện suy thoái, tiêu cực của cán bộ, đảng viên trong tư tưởng, đạo đức, lối sống và trong thực thi nhiệm vụ; cá biệt còn có trường hợp lợi dụng dân chủ để khiếu nại, tố cáo gây mất đoàn kết trong nội bộ. Ở một số nơi chưa thực hiện tốt cơ chế, chính sách bảo vệ cũng như chưa có sự động viên, khen thưởng kịp thời với những người dân tích cực kiểm tra, giám sát, dũng cảm tố giác những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò to lớn của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong nội bộ cần triển khai đồng bộ một số giải pháp như: Tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là vai trò của người đứng đầu trong việc cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm, có hiệu quả Quyết định số 99-QĐ/TW và Kết luận số 54-KL/TW của Ban Bí thư gắn liền với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII cũng như Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để người dân thật sự thực hiện được quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp, của cán bộ, đảng viên và góp ý, phản ánh đến các cơ quan chức năng để giải quyết, xử lý; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội trong việc vận động nhân dân nhận thức đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân, từ đó kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp nhận, trả lời, giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các phản ánh, kiến nghị chính đáng, những khiếu nại, tố cáo chính xác của người dân. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện các cơ chế, chính sách, pháp luật bảo vệ, động viên, khuyến khích người dân phát hiện, tố giác đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, suy thoái và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

CHỐNG BIỂU HIỆN CƠ HỘI VỀ CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG - NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, THƯỜNG XUYÊN

tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.Cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Các nhà lý luận mác-xít đã chỉ mặt những phần tử cơ hội Ngay từ khi mới ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã phải đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch được núp bóng dưới mọi hình thức. Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin đã chỉ ra một loại kẻ thù hết sức nguy hiểm, đó là những phần tử cơ hội, khoác áo cộng sản nhưng lại ngấm ngầm chống phá Đảng. Đó là những con người chỉ vì lợi ích nhất thời hằng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn; chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến hậu quả về sau... tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động cơ “thành thật”. "Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả” và nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cơ hội ấy từ các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng và lịch sử. V.I.Lênin là người kế tục xuất sắc nhất sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đã phấn đấu quên mình để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại báo hiệu sự suy sụp của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của cách mạng vô sản, đưa chủ nghĩa Mác lên một bước phát triển mới, thành Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là những năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết, trong bài viết “Về vấn đề thanh đảng”, V.I.Lênin vạch rõ mặt những phần tử cơ hội trong đảng, những phần tử giỏi về thủ đoạn “ngoại giao tư sản”, khả năng thích ứng “thay màu đổi sắc để ẩn nấp được dễ dàng hơn, như con thỏ rừng, về mùa đông, thay lông thành màu trắng”. Vì thế, V.I.Lênin yêu cầu, cần phải đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược. Theo V.I.Lênin, có như vậy sẽ làm cho đảng trở thành một đội tiền phong của giai cấp vô sản vững mạnh hơn. Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội trong Đảng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, việc đầu tiên, trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Để Đảng Cộng sản là một Đảng thực sự cách mạng, chân chính, tất yếu phải đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội trong Đảng, nhất là cơ hội về chính trị. Trong bối cảnh hết sức khó khăn khi mới thành lập Đảng, nhưng nhiệm vụ đấu tranh chống những phần tử cơ hội trong Đảng luôn đặt ra yêu cầu cấp thiết. Song cũng phải nhận diện rõ và phân loại đối tượng cụ thể để có phương pháp đấu tranh phù hợp. Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20 và 30-3-1938 chỉ rõ: “Phải tẩy sạch những phần tử trotsky đã lọt vào trong Đảng”. Do đó, muốn đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị tốt, cần phải nhận diện đúng thực chất “cơ hội về chính trị”. Nhận diện những biểu hiện cơ hội chính trị trong Đảng Từ những nghiên cứu, luận giải trên cho thấy, cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Hơn 90 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều lần khẳng định trong các nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh: “Hiện nay phải đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức đảng, cảnh giác và tỉnh táo không để cho những phần tử cơ hội về chính trị, phản động chui vào hàng ngũ Đảng”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Nhận diện những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng hiện nay qua 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối tượng đấu tranh chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng là những cán bộ, đảng viên hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đoàn thể hoặc đã nghỉ hưu được luật pháp quy định... Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền... Kiên quyết và đồng bộ giải pháp phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức công kích, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Chúng hàm hồ dự đoán, tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng. Những suy luận vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vừa nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Ngoài ra, trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ”  Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ đã lên tiếng rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng./. 

Tăng cường sức mạh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa

 Rõ ràng, sự xuyên tạc của các thế lực thù địch phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng ta, chúng đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu. Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên. Tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./. 

Tác hại khôn lưng của âm mưu phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

 Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./. 

Âm mưu phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

 

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước. Các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này./. 

Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 – Tuyên bố nước Việt Nam “đã thành một nước tự do độc lập”

 Trước khi đưa ra lời tuyên bố, bằng lời lẽ đanh thép, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt dối trá và phản bội của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.

Người đã liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra cho nước ta trong suốt hơn 80 năm đô hộ: về chính trị, “chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào…”; về kinh tế, “chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. chúng cướp không hầm mỏ, ruộng đất, nguyên liệu…”; đồng thời khẳng định sức mạnh đoàn kết của nhân dân cả nước đã “nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đây là kết quả của cả một quá trình đấu tranh đầy gian khổ, khó khăn, đầy máu và nước mắt.

Tiếp theo đó, đại diện cho chính phủ lâm thời của nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” và tin tưởng đồng thời khẳng định “các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.” Tác giả tự hào nêu cao truyền thống anh hùng bất khuất chống thực dân, chống phát xít dân tộc ta và khẳng định: "Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".

Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập là một lời tuyên bố mang ý nghĩa lịch sử như một lời thề thiêng liêng, thể hiện sâu sắc khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta, biểu thị quyết tâm và sức mạnh Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Bản Tuyên ngôn cũng cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn xa về sự phát triển của lịch sử, có những dự báo thiên tài về tương lai của cách mạng cũng như quá trình hội nhập sâu rộng của cách mạng Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới. Trong suốt 78 năm qua, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Với tinh thần đó, cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã giành được những thành tựu to lớn trong đấu tranh thống nhất đất nước và trong công cuộc đổi mới. Đối với mỗi người dân Việt Nam, Bản Tuyên ngôn độc lập vẫn sống mãi, không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lí mà còn bởi giá trị nhân văn về quyền con người và quyền dân tộc./. 

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại

 Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 đã khẳng định quyền dân tộc và quyền con người luôn gắn bó chặt chẽ với nhau bằng việc luận dẫn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới là có dụng ý sâu sắc. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ ra đời sau khi nước Mỹ đấu tranh giành độc lập thành công. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cũng ra đời trong chiến thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân chống áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản Tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lí và là kết quả của những cuộc cách mạng có tính chất tiên phong của những nước có ảnh hưởng lớn trên thế giới, khiến cho không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng.

Tuy nhiên, nếu như bản tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp chỉ đơn thuần đề cập đến quyền con người như một sự tất yếu của tạo hóa thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã phát triển sáng tạo, đưa ra một mệnh đề không thể phủ nhận về quyền độc lập của mọi dân tộc: “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc./.

 “VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI” CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM 

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược và quân dân ta đã lập nên những chiến công hiển hách; qua đó đã xuất hiện những danh tướng lẫy lừng. Một trong số đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp - “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc ta.

Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có viết: Các vị tướng đạt đến bậc “đại danh tướng” trong lịch sử dân tộc, đó là: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ.

Đến thế kỷ 20, trong thời đại Hồ Chí Minh, mẫu mực thứ tư để hợp thành “tứ đại danh tướng Việt Nam” là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu như trong bộ ba nhân tướng thời trung cổ, vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đã được nhân dân suy tôn thành “Đức Thánh Trần” thì ở thế kỷ 20, “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng với đại võ công Điện Biên Phủ năm 1954 đã được suy tôn là “Vị tướng huyền thoại”.

Trước hết, từ thầy giáo dạy lịch sử trở thành người chỉ huy quân sự. Có một câu hỏi mà chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh mới lý giải một cách thấu đáo, đó là: Vì sao Người chọn Võ Nguyên Giáp - thầy giáo dạy lịch sử ở Trường Tư thục Thăng Long, về dung mạo thuộc hàng “bạch diện thư sinh” đảm nhiệm việc thành lập tổ chức quân sự và chỉ huy quân sự, trong khi ở thời kỳ đó, có hàng chục học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) được đào tạo cơ bản về quân sự! Và ngay từ lần gặp đầu tiên năm 1940, tại Côn Minh (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy ở Võ Nguyên Giáp những dấu hiệu của một thiên tài quân sự và tin tưởng giao cho Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ chỉ huy quân sự của cách mạng Việt Nam; đồng thời Người căn dặn Võ Nguyên Giáp “Phải tranh thủ học tập về quân sự”, quyết định giao cho Võ Nguyên Giáp việc thành lập và chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Đây là sự kiện đánh dấu và quyết định đến sự nghiệp chỉ huy quân sự của Võ Nguyên Giáp.

Thứ hai, Võ Nguyên Giáp là vị chỉ huy được phong quân hàm duy nhất chỉ có một lần - cấp hàm Đại tướng. Sau chiến dịch Đông Bắc năm 1947 giành thắng lợi, ngày 20-01-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp - Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ. Đây không chỉ là trọng trách mà Đảng, Nhà nước giao cho mà còn là sự tin tưởng vào tài năng, đức độ, “văn - võ song toàn”, có đầy đủ phẩm chất, nhân cách một người làm “Tướng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”; và “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trái tim, khối óc và hành động cách mạng suốt cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thứ ba, trong hơn 30 năm là Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam cùng nhân dân ta đánh thắng các đội quân xâm lược của chủ nghĩa phát xít, thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới quyền chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đánh bại quân xâm lược của phát xít Nhật, để giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau đó, đánh thắng thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ - được đối phương coi là tập đoàn cứ điểm “bất khả xâm phạm”. Điều cần nhấn mạnh là, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra nhiều quyết định quan trọng, trong đó có quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình là chuyển phương châm Chiến dịch Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Chính quyết định ấy đã góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở miền Bắc nước ta.

Hiệp định Geneva ký kết chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp xâm lược nước ta, đặt ách thống trị kiểu thực dân mới, buộc nhân dân ta phải tiếp tục cuộc kháng chiến mới, gay go, ác liệt hơn. Với ý chí quyết tâm “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ tiếp tục giao nhiệm vụ chỉ huy Quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy toàn dân, toàn quân ta lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, đặc biệt là chiến thắng "Điện Biên phủ trên không" năm 1972 và chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc nhiều viên đại tướng của Pháp, Mỹ phải hứng chịu thất bại ở Việt Nam. Đây không chỉ là chiến công lẫy lừng của quân và dân ta mà còn là sự kiện nổi bật trong lịch sử chiến tranh ở thế kỷ 20. 

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dù trên cương vị nào được Đảng, Nhà nước giao cho, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều dồn hết tâm sức, trí tuệ và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Và điều đặc biệt là, Võ Nguyên Giáp được nhân dân vinh danh là "Đại tướng của nhân dân"; được cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân gọi với cái tên trìu mến: “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam - điều hiếm gặp trên thế giới!

Thứ tư, cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại cho quân và dân ta, nhất là các tướng lĩnh, sĩ quan quân đội “cẩm nang”, “sách gối đầu giường” qua những tác phẩm tổng kết hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc mà Đại tướng là vị chỉ huy tài ba, lỗi lạc và đã giành chiến thắng. Tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp là những tác phẩm: “Phát động du kích chiến tranh”, “Tiến mạnh sang giai đoạn mới”, “Chiến tranh giải phóng và Quân đội nhân dân - ba giai đoạn chiến lược”. Với kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng đã viết nhiều tác phẩm bàn về lực lượng vũ trang nhân dân, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chiến tranh nhân dân trên địa bàn sông nước... Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975, Đại tướng có điều kiện nhìn nhận, đánh giá những vấn đề thuộc về chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu sâu tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự Việt Nam... và hàng loạt tác phẩm, hồi ký như: “Từ nhân dân mà ra”, “Chiến đấu trong vòng vây”, “Đường tới Điện Biên Phủ”, “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”, “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”... Điều đó càng chứng tỏ phẩm chất “văn - võ song toàn” của Đại tướng, đúng như Giáo sư Vũ Khiêu đã viết: “Võ công truyền Quốc sử/ Văn đức quán nhân tâm”.

Thứ năm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vĩnh biệt thế giới vào lúc 18 giờ 9 phút ngày 04-10-2013, để lại nỗi tiếc thương vô hạn với đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế; là sự mất mát to lớn đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân. Giáo sư Vũ Khiêu viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lòng tiếc thương và cảm phục vô hạn: “Gương rọi đất trời rực sáng ngàn thu nhân lại trí/ Lệ tràn sông núi khóc than hai bác Võ như Hồ”! Giáo sư sử học Lê Văn Lan viết: “Mùa thu năm 2013, lịch sử thời hiện đại lại đang chứng kiến một điều huyền diệu: Bậc Nhân tướng thời đại Hồ Chí Minh họ Võ - khi được lập ban thờ ở khắp nơi, được các động tác thực hành tín ngưỡng và những lời lẽ nguyện cầu của rất nhiều người suy tôn thành kính... cũng đang “hóa thánh” và “hiển thánh”, đang hóa thân thành bậc Thánh tướng thời hiện đại”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, trở thành mẫu mực thứ tư trong “Tứ đại danh tướng Việt Nam”, là “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc Việt Nam. Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đại tướng là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại công lao, tài năng, đức độ của người cộng sản kiên trung, mẫu mực, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người “Anh Cả” của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Với lòng kính trọng và ngưỡng mộ của các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ dành cho Đại tướng, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta nguyện phấn đấu không ngừng theo tấm gương của Đại tướng, quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo phương hướng, mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.


 GIÁ TRỊ VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM TRƯỜNG TỒN CÙNG ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC

Cách mạng Tháng Tám là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc ta. Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã nhất tề nổi dậy tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ chế độ thực dân và phong kiến, giành lấy chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã tạo nên bước ngoặt trọng đại trong tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ đây, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta là người làm chủ đất nước, đoàn kết một lòng cùng nhau bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Cuộc cách mạng này còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào về thành quả Cách mạng Tháng Tám bởi đó là sự kết tinh của truyền thống yêu nước nồng nàn, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc được phát huy lên tầm cao mới dưới sự lãnh đạo thiên tài của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Cách mạng Tháng Tám đã để lại những giá trị vĩ đại trường tồn cùng đất nước và dân tộc.