Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Đồng tiền, quyền lực và sự thoái hóa

 

Phát biểu trước đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đặt câu hỏi: “Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang đi được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Câu hỏi đặt ra là tại sao khi đã lên đến những đỉnh cao về chức vụ, quyền lực và tiền bạc thì không thiếu, mà không ít cán bộ vẫn liều lĩnh thực hiện các hành vi phạm pháp? Ma lực nào đã thúc đẩy họ?

Nền kinh tế thị trường và xã hội thị trường

Các vị từng là Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, bí thư, chủ tịch UBND thành phố, một số người từng là anh hùng... vì dính vào tham nhũng, tiêu cực mà phải ngồi tù sẽ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời trong dằn vặt, tủi hổ. Vậy, tại sao họ đánh đổi hoặc có thể nói là bán những thứ quý giá mà mình đang có, trong đó quan trọng nhất là danh dự, sự tôn trọng của xã hội đối với mình để lấy tiền?        

Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền có sự chi phối rất lớn. Nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của đồng tiền, giá trị của đồng tiền và sức hút của đồng tiền cũng ngày càng lớn hơn. Dân gian ta lan truyền câu cửa miệng: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Nhưng có thật tiền sẽ mua được mọi thứ? Và một xã hội tốt đẹp có nên để xảy ra tình trạng tiền mua được mọi thứ?

Giáo sư người Mỹ Michael J.Sandel đã đặt ra câu hỏi này trong cuốn: “Tiền không mua được gì?” (What money can’t buy?). Trong xã hội Mỹ-điển hình của một xã hội tư bản đề cao giá trị đồng tiền, Michael J. Sandel vẫn nhìn thấy những thứ mà không thể và không nên dùng tiền để mua. Ông viết: “Có những điều tốt đẹp trong cuộc sống sẽ bị xói mòn, bị hư hỏng nếu chúng bị coi là hàng hóa. Vì vậy, để xác định xem thị trường có thể tồn tại ở đâu, cái gì nên tránh xa thị trường thì chúng ta phải tìm ra cách thức đánh giá giá trị một số thứ, như: Sức khỏe, giáo dục, cuộc sống gia đình, tự nhiên, nghệ thuật, trách nhiệm công dân... Chúng đều là những vấn đề mang tính đạo đức và chính trị chứ không chỉ đơn thuần là kinh tế”.

Michael J.Sandel đã đề cập đến vấn đề đạo đức của đồng tiền, hay chính xác là đạo đức khi sử dụng đồng tiền. Bởi theo ông: “Cuộc tranh luận này (cuộc tranh luận về khía cạnh đạo đức của đồng tiền-PV) không hề tồn tại trong kỷ nguyên tôn vinh thị trường. Hậu quả là khi không nhận biết được vấn đề, không bao giờ nghĩ đến chuyện tranh luận về chúng, từ chỗ có một nền kinh tế thị trường, chúng ta đã trượt sang trạng thái trở thành một xã hội thị trường”. Cũng theo tác giả người Mỹ: “Nền kinh tế thị trường là một công cụ đáng giá và hiệu quả, giúp chúng ta tổ chức được hoạt động sản xuất. Còn xã hội thị trường là một phương thức sống mà trong đó, các giá trị thị trường thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cuộc sống con người. Chúng ta muốn một nền kinh tế thị trường hay một xã hội thị trường? Làm sao chúng ta xác định được hàng hóa nào được phép mua bán, còn hàng hóa nào phải chịu sự chi phối của các giá trị phi thị trường? Chỗ nào không nên có vai trò của đồng tiền?”.

Như thế, đồng tiền chi phối xã hội, ảnh hưởng tới cách nghĩ, cách ứng xử và đạo đức xã hội là câu chuyện mà con người ở mọi quốc gia đều có thể cảm nhận được. Thế nhưng, tùy vào văn hóa xã hội và thể chế chính trị mà cách giải quyết vấn đề này rất khác nhau.

Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đang áp dụng ngày càng đầy đủ hơn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường. Nếu không có “định hướng XHCN”, thì các đặc điểm kinh tế thị trường của chúng ta cũng giống như nền kinh tế thị trường của các quốc gia trên thế giới. Phần “định hướng XHCN” vì thế rất quan trọng để hạn chế mặt trái của đồng tiền. Nhưng định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường là thứ mà chúng ta phải tốn nhiều công sức để thiết kế, định hình, nó bao gồm cả yếu tố thể chế và đạo đức.

Trong khi đó, mặt trái của kinh tế thị trường vẫn đang tác động hằng ngày, hằng giờ tới mỗi con người. Nền kinh tế càng phát triển thì lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế càng lớn và ý muốn dùng tiền để mua mọi thứ nếu không được phân tích, chỉ ra mặt trái, nếu không được kiểm soát thì có thể dần trở thành điều hiển nhiên của cuộc sống. Hệ lụy của nó là xã hội sẽ dần biến chất, đến mức những giá trị chuẩn mực đạo đức, nhân văn mang tính truyền thống của dân tộc, mang bản chất của xã hội XHCN sẽ bị thách thức. Ví như gần đây, chúng ta thấy có những ý kiến đòi phải công nhận mại dâm như một nghề chính thức trong xã hội, phải đóng thuế. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải xác định rõ xem nhân phẩm của người phụ nữ có phải là thứ có thể mang ra mua bán, trao đổi hay không? Truyền thống văn hóa của chúng ta, bản chất xã hội XHCN của chúng ta có chấp nhận được việc mua bán đó không?...     

Nếu ta để đồng tiền quyết định mọi vấn đề thì sẽ dẫn tới hệ lụy là người làm chính sách, nhà quản lý có thể hy sinh mọi thứ vì phát triển kinh tế. Vì phát triển kinh tế, chúng ta có thể hy sinh môi trường sống, vì kinh tế ta có thể hủy hoại cả nền văn hóa truyền thống của dân tộc, vì đồng tiền ta có thể hy sinh sức khỏe, vì đồng tiền ta có thể hy sinh các mối quan hệ trong gia đình... Để rồi cuối cùng, chúng ta sẽ không biết rõ mình là ai! Phát triển kinh tế, làm giàu kiểu như vậy thì thể hiện sự tàn phá hạnh phúc hơn là kiến thiết hạnh phúc.

Ngăn chặn lạm quyền và làm giàu bất chính

Bản thân đồng tiền không có lỗi, mà vấn đề là người sử dụng, mục đích sử dụng tiền. Dân gian có câu: “Tiền dùng đúng, tiền hiền như Phật. Bạc xài lầm, bạc ác hơn ma”. Nhu cầu kiếm tiền và làm giàu đúng pháp luật là nhu cầu chính đáng của công dân và được Đảng, Nhà nước khuyến khích. Tiếp nối tinh thần của các đại hội trước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu mục tiêu phấn đấu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cho nên việc người dân giàu có là mục tiêu của Đảng ta, xã hội ta. Dân giàu bằng công sức, lao động chính đáng, đúng pháp luật là cái phúc; nhưng cán bộ giàu có thể là cái họa. Bởi vì, cán bộ có thể sử dụng vị trí công việc của mình, lạm dụng quyền lực của Đảng, Nhà nước trao cho mình để kiếm tiền, làm giàu bất chính cho bản thân.

Khi nền kinh tế phát triển nhanh, cùng với đó là các quy định của pháp luật chưa được hoàn thiện, sự phất lên quá nhanh, quá dễ dàng của một số quan chức tham nhũng và các doanh nghiệp thân tín đã thách thức các giá trị truyền thống, trong đó có các giá trị đạo đức và cả niềm tin. Không ít cán bộ, công chức coi đồng tiền là thước đo số 1 cho thành công, đẳng cấp, uy tín và hạnh phúc, là thứ bảo đảm cuộc sống sung túc dài lâu cho họ và con cháu họ.

Cách nghĩ này khiến cho khi có cơ hội, họ cố vơ vét thật nhiều tiền cho đầy túi tham. Để nói về loại tham quan này, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nhận xét: “Ăn của dân không từ cái gì”. Chẳng thế mà khi nói đến nhiều vị cán bộ to, người ta không nhắc tới tài năng, trí tuệ, những đóng góp cho công việc, cho đất nước, cho nhân dân, mà chỉ thấy khen giàu: Ông/bà ấy có biệt phủ lớn lắm, có nhiều nhà lắm, đi nước ngoài tiêu tiền khủng khiếp...

Khi dân “khen” cán bộ giàu là phải hết sức suy nghĩ... vì nguồn tiền làm giàu đó từ đâu? Những “quan cách mạng” đó là một mối họa lớn cho sự tồn vong của Đảng, Nhà nước XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947 đã yêu cầu phải “lôi cổ những ông quan cách mạng này xuống”. Nếu không lôi họ xuống, để họ tiếp tục đục khoét, làm giàu bất chính một cách dễ dàng thì nhiều người trong xã hội sẽ học theo, cố chen chân để làm “quan cách mạng”, học thói làm giàu bất chính.

Theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, người ta sẽ coi vị trí “quan cách mạng” như một khoản đầu tư sinh lợi lớn. Nạn mua quan, bán chức vì thế sẽ ngày càng trầm trọng. Sau khi mua được chức rồi, những vị “quan cách mạng”-sẽ phải thu hồi lại vốn bằng cách bòn rút công quỹ, bòn rút cấp dưới, bòn rút nhân dân. Quyền lực của cơ quan công quyền nếu rơi vào tay của quan tham sẽ trở thành công cụ để hắn ta kiếm lợi cho bản thân.

Những năm gần đây, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) được đẩy lên cao trào, hàng loạt quan tham dù ở cấp nào cũng bị sa lưới, những khối tài sản tham nhũng khổng lồ được thu hồi. Kể cả những “quan cách mạng” đã nghỉ hưu vẫn bị lôi ra kỷ luật Đảng, xét xử, bỏ tù nếu bị phát hiện hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật. Hành động quyết liệt ấy đã cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội thấy trong PCTN không có vùng cấm, không có hạ cánh an toàn. Vì thế, những người đang có chức vụ phải thận trọng, giữ mình, còn kẻ có dã tâm muốn mua quan, bán chức sẽ phải chùn bước.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2045 nước ta sẽ thành nước phát triển, thu nhập cao. Khoảng cách 24 năm để từ một nước đang phát triển, thu nhập trung bình thấp thành nước phát triển, thu nhập cao, đòi hỏi sự nỗ lực tăng tốc phát triển kinh tế. Cùng với những đột phá về cơ chế, chính sách để phục vụ yêu cầu tăng tốc phát triển kinh tế, cũng cần hết sức quan tâm bồi đắp, gìn giữ đạo đức, nhân cách, văn hóa con người. Bởi khi tăng tốc phát triển kinh tế thì tiền của, vật chất sẽ sản sinh nhanh hơn, nhiều hơn, sự chi phối của đồng tiền đối với các mối quan hệ xã hội sẽ lớn hơn. Để có CNXH, chúng ta không chỉ cần xây dựng cơ sở vật chất, không chỉ là quan hệ sản xuất, mà còn cần con người. Do vậy, làm thế nào để ngăn chặn tiền của, vật chất, mặt trái của kinh tế thị trường làm thoái hóa con người; làm thế nào để xây dựng được con người không chỉ giàu có về tiền bạc, vật chất mà giàu có cả về trí lực, tâm lực và thể lực để tạo nên xã hội văn minh là vấn đề có tính chiến lược cần có giải pháp căn cơ.

(còn nữa)

HỒ QUANG PHƯƠNG (Báo Quân đội Nhân dân)

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực

 

Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Nghiêm túc với các cam kết quốc tế

Cho đến nay, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế, khu vực, đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là những người dễ bị tổn thương.

Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân.

Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019...

Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.

Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.

Những thành tựu nổi bật

Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến nghị.

Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là 99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25 trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.

Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam).

Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509 tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...

Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao.

Huyền Chi (Báo Công an Nhân dân)

VÌ SAO NGƯỜI DÂN NGA MANG THEO CỜ ĐỎ SAO VÀNG TRONG CÁC CUỘC DUYỆT BINH KỶ NIỆM?

 

Năm 1926, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi tới Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, một số thanh niên Việt Nam yêu nước đã được gửi sang Liên Xô để học tập. Khi Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, một số thanh niên trong nhóm này đã quyết định tham gia quân đội Xô Viết chống lại sự xâm lược của Phát-xít Đức. Nhiều người đã anh dũng chiến đấu và ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Moscow năm 1941.

Đến nay, nhờ những nỗ lực của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga, các cơ quan chức năng và bạn bè Nga, đã xác định được tên, tuổi của bảy chiến sĩ Việt Nam đã từng tham gia chiến đấu chống phát-xít trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; đó là các ông:

- Lê Phan Chăn (bí danh Lý Phú San), sinh ngày 01-6-1900 tại Tân Ước, Thanh Oai, Hà Đông (nay là TP Hà Nội);

- Đinh Trường Long (bí danh Lý Văn Minh), sinh năm 1910, tại xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa;

- Vương Thúc Thoại (bí danh Lý Thúc Chất), sinh năm 1910, tại Làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Vương Thúc Liên (bí danh Vương Thúc Tình), sinh năm 1903, tại Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Hoàng Thế Tư (bí danh Lý Anh Tạo), sinh năm 1910, tại Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Nguyễn Sinh Thân (bí danh Lý Nam Thanh), sinh năm 1908, tại Làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Ngô Chí Thông (bí danh Lý Chí Thông), sinh năm 1910 tại xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Trong đó, ba chiến sĩ: Lý Nam Thanh, Lý Anh Tạo và Lý Thúc Chất đã gan dạ chiến đấu, hi sinh trong các trận giao tranh ác liệt ở ngoại ô thủ đô Moscow.

Trong cuốn hồi ký của OMSBON, có đoạn:

"Tôi đã nhiều lần gặp những chiến sĩ người Việt khi đang hành quân hay ở trận địa tiền tiêu. Tôi được chứng kiến họ nhắm bắn chính xác vào quân thù. Các đồng ngũ cùng trung đoàn đều nói rằng đó là những con người dũng cảm. Đôi lần tôi chuyện trò cùng họ và tin chắc rằng các chiến sĩ người Việt này nói tiếng Nga thạo, thích hát những bài ca Nga. Những chiến sĩ tình nguyện người Việt này đã cùng đồng đội Nga chia sẻ mọi khó khăn gian khổ ngoài mặt trận. Nhiệm vụ chung của chúng tôi là đuổi phát-xít Đức khỏi Moscow và sau đó đánh bại hoàn toàn quân Hitler tàn ác.

Ngày 5 tháng 12 năm 1941, các đơn vị khác của Hồng quân ở ngoại ô Moscow chuyển sang thế phản công. Bọn Đức quốc xã hứng chịu thất bại nặng nề đầu tiên trên mặt trận Xô-viết. Hơn nửa triệu tên phát-xít bị tiêu diệt. Nhưng chiến thắng cũng là đắt giá với Hồng quân. Trung đoàn chúng tôi tổn thất nhiều đồng chí. Vào đầu năm 1942, khi chúng tôi đuổi hết bọn phát-xít Đức ra khỏi địa phận Moscow, ba chiến sĩ người Việt dũng cảm đã hy sinh.

Tôi nhớ về các bạn chiến đấu người Việt này khi chúng tôi chiếm được Berlin tháng 5 năm 1945, và khi nghe tin những người yêu nước Việt Nam giải phóng Sài Gòn vào tháng 5 năm 1975, rồi khi các phi công Liên Xô và Việt Nam cùng cất cánh bay lên không gian vũ trụ tháng 7 năm 1980. Khi đó tôi nghĩ rằng những đồng ngũ người Việt năm xưa của tôi hẳn sẽ rất vui mừng về điều này!".

Đó là lý do trong các cuộc duyệt binh kỷ niệm ngày chiến thắng, người dân Nga mang theo cờ đỏ sao vàng để tưởng nhớ đến những người hùng mang dòng máu Việt Nam./.

 

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới

 Công tác giáo dục chính trị là một hình thức cơ bản của công tác tư tưởng, văn hóa; là khâu cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Đồng thời, là nhân tố bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, ngày 31/3/2011, Thường vụ Quân ủy Trung ương ban hành Chỉ thị số 124-CT/QUTW về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; ngày 23/7/2013, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 2677/QĐ-BQP phê duyệt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới” (sau đây lần lượt gọi tắt là Chỉ thị 124 và Đề án). Đây là những định hướng cơ bản, mang tính đột phá, tạo bước chuyển biến mới trong thực hiện công tác giáo dục chính trị của toàn quân.

Sau 12 năm thực hiện Chỉ thị 124 và 10 năm thực hiện Đề án, chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị trong Quân đội đã có bước chuyển biến mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả quan trọng. Rõ nét nhất là chương trình, nội dung giáo dục được đổi mới toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm theo hướng cơ bản, hệ thống, thống nhất và thiết thực với từng đối tượng1. Các hình thức giáo dục chính trị được vận dụng linh hoạt, với nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả; trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và tổ chức học tập chính trị có nhiều đổi mới, sáng tạo2. Các cơ quan, đơn vị đã phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng, các thiết chế văn hóa và phương tiện, tạo môi trường giáo dục rộng mở, phong phú, hấp dẫn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục chính trị. Các chế độ, nền nếp sinh hoạt Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần ở cơ sở, tuyên truyền miệng, thông báo thời sự chính trị, đối thoại dân chủ,... được duy trì thường xuyên, đạt hiệu quả thiết thực. Cùng với việc quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia giáo dục và bảo đảm cơ sở vật chất, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục có sự đổi mới cả về hình thức, phương pháp và được tổ chức chặt chẽ ở tất cả các cấp. Các cơ quan, đơn vị đã gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong từng hoạt động giáo dục; phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47, cũng như tổ chức các cuộc thi,... nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác những thông tin xấu độc, nhận thức sai trái; kịp thời định hướng nhận thức, dư luận, giải quyết thấu đáo những vướng mắc nảy sinh về tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Với sự nỗ lực và quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện, công tác giáo dục chính trị đã góp phần xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; gắn bó máu thịt với nhân dân; ra sức huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm; vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tiếp tục lan toả hình ảnh và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tuy vậy, công tác giáo dục chính trị còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, nhất là việc đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục ở một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự sáng tạo, phong phú, hiệu quả chưa cao, còn lúng túng trước những tình huống phức tạp, nhạy cảm; tình hình vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội vẫn còn xảy ra, v.v.

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có biến chuyển phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, tình hình Biển Đông, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,... đã, đang tác động nhiều chiều đến tiến trình xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng. Đặc biệt, quá trình xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại,... sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, v.v. Tình hình đó, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục phát huy kết quả và kinh nghiệm trong thực hiện Chỉ thị 124 và Đề án thời gian qua, tập trung đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tại đơn vị, với nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ; trong đó, chú trọng thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị. Giáo dục chính trị là một nội dung, biện pháp quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; do đó, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ trì các cấp đối với công tác này giữ vai trò quyết định. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp phải thấu triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa, vị trí, vai trò của công tác giáo dục chính trị. Bởi đây là hình thức giữ vai trò chủ đạo, đi trước mở đường, tạo sự đồng thuận về nhận thức, nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân văn và tính dân tộc cho Quân đội cách mạng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho cán bộ, chiến sĩ. Do vậy, các cơ quan, đơn vị phải tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, hướng dẫn, quy chế, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; từ đó có chủ trương, phương hướng, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả. Chính ủy, chính trị viên các cấp chủ động trao đổi với người chỉ huy và chỉ đạo cơ quan chính trị làm tốt công tác tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả kế hoạch giáo dục chính trị hằng năm. Trong tình hình hiện nay, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác giáo dục chính trị, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì phải nêu cao trách nhiệm, thực hiện tốt “7 dám” mà đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương đã huấn thị, nắm chắc chương trình, nội dung, kế hoạch điều hành và tổ chức thực hiện bảo đảm đúng đối tượng, nội dung, thời gian, quân số tham gia; tích cực, tự giác học tập, làm gương cho bộ đội noi theo. Đối với cơ quan chính trị các cấp, cần nâng cao năng lực tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị; tăng cường kiểm tra, phát hiện những khó khăn, vướng mắc, bất cập để kịp thời giải quyết. Kiên quyết khắc phục triệt để biểu hiện “giao khoán” công tác giáo dục chính trị cho cơ quan chính trị và cán bộ chính trị.

Hai là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng trong tình hình mới. Chăm lo giáo dục chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trước sự biến chuyển, tác động nhanh của tình hình thế giới, khu vực cùng những phát triển mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng. Nó luôn đòi hỏi phải đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Thực tiễn tổ chức thực hiện Chỉ thị 124 và Đề án trong toàn quân những năm qua cho thấy, chỉ có tích cực đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp một cách phù hợp, công tác giáo dục chính trị mới đạt hiệu quả tốt và ngược lại. Vì vậy, việc đổi mới nội dung giáo dục cần được đẩy mạnh hơn nữa, nhưng phải chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm. Trước mắt, cần hướng vào các vấn đề mới, làm sáng rõ hơn nữa bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, coi trọng công tác nghiên cứu, biên soạn các nội dung về giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tình đồng chí, đồng đội; giáo dục pháp luật, kỷ luật, đạo đức, lối sống cho quân nhân, nhất là quân nhân trẻ. Quan tâm giáo dục, giải đáp những vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội, thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; công tác huy động nhân lực, vật lực của xã hội cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tổ chức, biên chế, trang bị, cách đánh của ta, v.v.

Về hình thức, các cơ quan, đơn vị cần bám sát tình hình thực tiễn đơn vị để vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp; trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; giáo dục chung với giáo dục riêng và giáo dục đột xuất theo yêu cầu, nhiệm vụ; giáo dục thông qua các phong trào thi đua, các cuộc vận động; thông qua hoạt động văn hóa văn nghệ, sinh hoạt chính trị tư tưởng, thực hiện Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần, đối thoại dân chủ, sinh hoạt của các tổ chức quần chúng và Hội đồng quân nhân. Trong điều kiện mới, cần gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục chính trị tại đơn vị với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương và các cuộc vận động,... tạo phong trào sâu rộng để giáo dục, rèn luyện bộ đội.

Ba là, thường xuyên chăm lo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị các cấp. Hiện nay, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, các hiện tượng tiêu cực và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ trực tiếp làm công tác giáo dục chính trị nói riêng không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, mà còn trực tiếp nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục chính trị của toàn quân. Vì vậy, các học viện, nhà trường cần xác định đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị các cấp là cơ bản, lâu dài, bảo đảm đội ngũ này có năng lực, trình độ toàn diện, trách nhiệm cao. Đồng thời, xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác giáo dục chính trị trong tình hình mới.

Đối với các cơ quan, đơn vị, hằng năm, cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác giáo dục chính trị nói riêng, nhất là cán bộ giảng dạy chính trị, báo cáo viên tại đơn vị được cập nhật những kiến thức mới; coi trọng bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp tiến hành. Kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng cán bộ tại chức với đào tạo tại các học viện, nhà trường; thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ, kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng, quy trình chuẩn bị và thông qua bài giảng theo Quy chế giáo dục chính trị tại đơn vị; tổ chức tốt các hội thi, hội giảng cán bộ giảng dạy chính trị ở các cấp. Thường xuyên động viên, tạo điều kiện cho cán bộ làm công tác giáo dục chính trị học tập, rèn luyện, nâng cao kiến thức, trình độ về mọi mặt, có điều kiện thì tiếp tục đào tạo sau đại học.

Bốn là, nâng cao chất lượng công tác quản lý, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục chính trị. Các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị đơn vị cơ sở cần nghiên cứu, quán triệt, nắm chắc những nội dung của Quy chế giáo dục chính trị tại đơn vị để vận dụng vào thực tiễn cho phù hợp. Trong đó, việc kiểm tra, đánh giá phải tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, đúng quy định; bảo đảm khách quan, chính xác, kiên quyết không chạy theo thành tích. Để đạt hiệu quả, các cơ quan, đơn vị cần chú trọng đổi mới hình thức, biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả; gắn kiểm tra nhận thức chính trị với thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong bối cảnh hiện nay, công tác kiểm tra phải hướng vào đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoạt động quân sự, xử lý tình huống, diễn biến tư tưởng của bộ đội, nhất là trước tác động tiêu cực của tình hình và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên mạng xã hội.

Năm là, bảo đảm tốt cơ sở vật chất, phương tiện; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, sử dụng hiệu quả ngân sách bảo đảm theo quy định; cùng với bảo đảm của trên, các đơn vị cơ sở phải giữ gìn, khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có; khai thác, phát huy tác dụng của các nhà văn hoá, thư viện, nhà truyền thống, phòng Hồ Chí Minh, những di tích lịch sử ở địa phương,… để truyền tải những giá trị văn hoá tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Phát huy tinh thần sáng tạo, khắc phục khó khăn, chủ động khai thác các nguồn lực để bổ sung, nâng cấp các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, giáo trình, tài liệu,... nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn cho công tác giáo dục chính trị. Đồng thời, vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ số vào giáo dục chính trị; phối hợp chặt chẽ các lực lượng tham gia giáo dục chính trị, chống ỷ lại hoặc để hư hỏng, mất mát, sử dụng không đúng mục đích các tài sản công. Cùng với đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng ở địa phương nơi đơn vị đóng quân để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục chính trị cho cán bộ, đoàn viên, hội viên.

Công tác giáo dục chính trị là bộ phận quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị nhằm xây dựng người quân nhân cách mạng “Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân”, xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội trong sạch, vững mạnh. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị là yêu cầu thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài; là trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng. Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội trong tình hình mới, các cơ quan, đơn vị cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên Quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cùng những căn bệnh mà nó sinh ra trong cán bộ, đảng viên Quân đội là vấn đề vừa cấp bách, trước mắt, vừa thường xuyên, lâu dài, trực tiếp góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong di sản để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều bài viết, bài nói tổng kết những vấn đề lý luận, thực tiễn về thực hành đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, làm cơ sở cho các hoạt động của Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể và xã hội. Nó là một thứ vi trùng rất độc hại, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm. “Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”1. Nó là kẻ thù ở bên trong mỗi cá nhân, tổ chức nên rất khó nhìn thấy, khó đấu tranh và rất nguy hiểm, không những ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân, tổ chức mà còn làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và đội ngũ cán bộ, đe doạ sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. “Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân2. Tuy nhiên, Người cũng lưu ý, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải “giày xéo lên lợi ích cá nhân”3 và nêu lên nguyên tắc tối cao đối với mỗi cán bộ, đảng viên là: “Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”4. Người chính là tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo.

Hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển cả về số lượng, chất lượng và về cơ bản đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, một bộ phận đảng viên nói chung, trong Quân đội nói riêng vì lợi ích cá nhân, có những biểu hiện phai nhạt bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, sa sút ý chí phấn đấu, ngại khó, ngại khổ, đùn đẩy trách nhiệm, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội,… ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội. Vì vậy, để làm theo lời Bác dạy, quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, cần đẩy mạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên Quân đội; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý chí đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế, chủ nghĩa cá nhân có điều kiện nảy sinh, phát triển và tác động đến đội ngũ cán bộ, đảng viên Quân đội ở những mức độ khác nhau. Do vậy, cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì các cấp phải xác định đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở cơ quan, đơn vị mình. Nội dung giáo dục không những trang bị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội; những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng và Quân đội, mà còn phải làm rõ những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân; trên cơ sở đó xác định nhiệm vụ, yêu cầu, giải pháp đấu tranh cụ thể, sát thực tiễn cơ quan, đơn vị mình. Cùng với đó, luôn coi trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao ý chí của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cùng với những căn bệnh mà nó sinh ra. Kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục truyền thống với sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng; tạo dư luận xã hội tích cực để ủng hộ cái đúng, đấu tranh, phê phán những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân và hành vi sai trái, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cán bộ, đảng viên về nhận thức, thái độ và hành vi, nâng cao chất lượng các hoạt động, các mặt công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì và tổ chức quần chúng đối với cán bộ, đảng viênChủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”5. Vì thế, công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì các cấp và các tổ chức quần chúng có vai trò rất quan trọng trong quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên và phát hiện, xử lý kịp thời những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Để thực hiện tốt nội dung này, cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì các cấp phải nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định chặt chẽ để đội ngũ cán bộ, đảng viên không thể nảy sinh những tư tưởng và hành vi của chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ, khoa học và toàn diện cả về tư tưởng chính trị, động cơ, thái độ, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách được giao. Quá trình thực hiện, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, lực lượng chuyên trách và các tổ chức quần chúng; gắn kết chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật theo đúng quy định của Đảng. Cùng với đó, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, đối thoại dân chủ để lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức quần chúng đối với cán bộ, đảng viên nhằm kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả với các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân và hành vi tham nhũng, tiêu cực; có cơ chế khen thưởng để động viên, khích lệ và bảo vệ đối với cá nhân, lực lượng tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh này.

Ba làphát huy vai trò tích cực, chủ động của cán bộ, đảng viên trong nhận diện và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Trong đời sống xã hội, mỗi con người đều có mặt tốt và điểm yếu không thể tránh khỏi, vấn đề đặt ra là “... phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi,...”6 theo như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, trong các hoạt động, mỗi cán bộ, đảng viên Quân đội phải luôn nhận thức đầy đủ những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân; từ đó, đặt ra những yêu cầu cao trong tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng, có thái độ cầu thị trong tiếp thu ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đơn vị, không ngừng tự hoàn thiện về mọi mặt; đồng thời, phải luôn tự vượt qua chính mình và dũng cảm trong đấu tranh với biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực trong đơn vị. Trong điều kiện hiện nay, việc phát huy vai trò tích cực, chủ động của cán bộ, đảng viên Quân đội trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân phải quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương gắn với thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, kết luận về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là: Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới; các quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung,… nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa” của cán bộ, đảng viên với kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Việc tự phê bình và tự đấu tranh với chính mình và với người khác để có nhận thức và hành động đúng, nhân văn, tiến bộ; đồng thời, loại bỏ cái xấu, cái tiêu cực, lạc hậu ra khỏi mỗi cá nhân, tổ chức và môi trường Quân đội là yêu cầu quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Mặc dù chúng ta đã đề cập nhiều, nhưng thời gian qua, việc thực hiện vấn đề này ở nhiều cơ quan, đơn vị vẫn còn có biểu hiện hình thức, né tránh, ngại va chạm, không dám đấu tranh, v.v. Vì thế, khắc ghi lời dạy của Bác Hồ: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”7, các cấp ủy đảng cần tiến hành hiệu quả các hình thức sinh hoạt tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa” của cán bộ, đảng viên. Chú trọng phát huy dân chủ, thái độ thẳng thắn, trung thực của cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình; chống biểu hiện ngại đấu tranh, dẫn đến nội bộ hiềm khích, nghi kỵ lẫn nhau; hoặc lợi dụng phê bình, “tự soi, tự sửa” để thực hiện mưu đồ cá nhân. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải nêu gương về tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa” về thực hành đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cho cấp dưới và quần chúng học tập, noi theo.

Khi phát hiện trong cán bộ, đảng viên có những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, như: thiếu trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, tham nhũng, tiêu cực,... các cấp ủy đảng phải kiên quyết đấu tranh, xử lý kịp thời nhằm đảm bảo sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng và kỷ luật Quân đội. Tránh tình trạng bao che, giấu giếm khuyết điểm, không tạo được sự răn đe đối với người vi phạm, không có tác dụng ngăn ngừa, cảnh tỉnh trong cơ quan, đơn vị; làm giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên Quân đội hiện nay.

Đại tá, TS. VŨ ĐÌNH ĐẮC, Trường Sĩ quan Chính tr

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng tám và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

 Cách mạng Tháng Tám thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc và thúc đẩy khát vọng phát triển đất nước

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười thành công; nước Nga Xô Viết ra đời; chính quyền cách mạng về tay công - nông. Đó là chính quyền kiểu mới, xác lập quyền làm chủ chân chính của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tư tưởng thiên tài của V.I. Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc, tự quyết định lấy vận mệnh và lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình được thực hiện. Đó là cuộc cách mạng vĩ đại và triệt để nhất trong lịch sử thế giới hiện đại, khai sinh chủ nghĩa xã hội hiện thực đầu tiên ở nước Nga, mở đầu cho sự hình thành “Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết” sau này. Vượt qua những thử thách khốc liệt của nội chiến và khủng hoảng do các thế lực tư bản chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa phương Tây gây ra, nước Nga đã đứng vững và hồi sinh nhờ tư tưởng cải cách kinh tế với “Chính sách kinh tế mới” (NEP) của V.I. Lênin. Trong bối cảnh ấy, năm 1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc đã hấp thụ tư tưởng về quyền tự quyết của các dân tộc của V.I. Lênin. Năm 1923, cách đây vừa đúng một thế kỷ, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc có mặt ở Liên Xô và trực tiếp chứng kiến “sự hồi sinh của nước Nga”; thấy được sự chăm sóc của Đảng Cộng sản và chính quyền Xô Viết đối với cuộc sống của người dân, nhất là đối với thiếu niên, nhi đồng, Người đã nhận xét: “Nếu chưa phải là thiên đường của tất cả thì ít nhất, nước Nga cũng là thiên đường của trẻ em”.

Năm 1925, khi hình thành tổ chức tiền thân của Đảng - “Hội thanh niên cách mạng đồng chí”, Nguyễn Ái Quốc đã trù tính: “Sau này, đất nước đi vào xây dựng chế độ mới, nhất định phải áp dụng Tân kinh tế chính sách của Lênin” (NEP). Năm 1927, mười năm sau Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc viết “Đường cách mệnh”, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và đặt cơ sở lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng cách mạng chân chính. Trong tác phẩm này, Người đưa ra quan niệm về “cách mệnh” mà vượt qua hàng thế kỷ, quan niệm đó vẫn còn nguyên giá trị, trở thành kinh điển, dù không hàn lâm, bác học mà hết sức dung dị, đời thường: “Cách mệnh” là gì? “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”1. Người còn nhấn mạnh: “Cách mệnh trước hết phải có Đảng. Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng không có chủ nghĩa giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”2. Và, “…chủ nghĩa cách mạng nhất, chân chính nhất, là chủ nghĩa Lênin,... ”3. Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng chân chính cách mạng của Việt Nam với tên gọi: “Đảng Cộng sản Việt Nam”. Và Người trực tiếp soạn thảo Chính cương, Sách lược, Điều lệ vắn tắt và chương trình hành động trước mắt của Đảng.

Sau hành trình 30 năm tìm đường cứu nước, cứu dân, năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hội nghị Trung ương Tám của Đảng (từ ngày 10/5 đến ngày 19/5/1941) do Người chủ trì đã quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt giải phóng dân tộc lên hàng đầu, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, thành lập Mặt trận Việt Minh (Việt Nam độc lập đồng minh), tập trung mọi nỗ lực vào thực hiện mục tiêu giải phóng, giành độc lập dân tộc, đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân khi thời cơ đến. Người ra lời kêu gọi, gửi những lời tâm huyết vào thư cho toàn quốc đồng bào “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đó là thông điệp thiêng liêng của lịch sử khi tình thế và thời cơ cách mạng đang đến gần. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ năm 1941 đến năm 1945, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với ngọn cờ dẫn đường của tư tưởng Hồ Chí Minh đã vận động vô cùng khẩn trương, đầy ắp các sự kiện, các tình huống, vượt qua muôn vàn thử thách để phát triển phong trào và đẩy tới cao trào cách mạng giành chính quyền với Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Hội nghị Trung ương Tám (tháng 5/1941) đi vào lịch sử Đảng như một mốc son chói lọi, tạo ra bước ngoặt của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và khẳng định giá trị, ý nghĩa, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 làm nên thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX, làm sinh thành chế độ mới, lập nên chính thể Cộng hòa dân chủ và Nhà nước dân chủ cộng hòa mà nhân dân trở thành người chủ và làm chủ vận mệnh của mình. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra một kỷ nguyên mới, khai sinh ra một thời đại mới trong lịch sử Việt Nam hiện đại - thời đại mang tên Hồ Chí Minh - thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Khi cách mạng nổ ra và thắng lợi trong toàn quốc chỉ trong vòng 02 tuần lễ, Đảng ta mới 15 tuổi (1930 - 1945) và toàn Đảng mới có gần 5.000 đảng viên. Khi đó, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập mới chưa đầy một tuổi (22/12/1944 - 02/9/1945) đã lập nên chiến tích vẻ vang như huyền thoại - cùng với nhân dân là nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám là kiểu mẫu của cách mạng giải phóng dân tộc, thể hiện thiên tài tư tưởng và tổ chức của Hồ Chí Minh và của Đảng, vận dụng tài tình thiên thời - địa lợi - nhân hòa, mà nhân hòa là gốc, xử lý nhuần nhuyễn mối quan hệ “Thời - Thế - Lực” trong cách mạng nhằm xóa bỏ ách thống trị của thực dân, đế quốc và phong kiến, giải phóng đồng bào ta từ tình cảnh nô lệ ngót một thế kỷ tới địa vị người chủ và làm chủ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là sự chứng thực vĩ đại của chân lý “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, của sức mạnh dân tộc giải phóng, thực hiện giải phóng dân tộc vì độc lập tự do, làm tiền đề và điều kiện để phát triển dân tộc theo nguyên lý độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu đến cùng cho hệ giá trị mục tiêu: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Nguồn: xaydungdang.org.vn

Thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nói về giá trị và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh bằng những luận điểm quan trọng trên hai bình diện giải phóng và phát triển: “Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân” và “Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ cộng hòa và thống nhất độc lập”4.

Trước âm mưu phá hoại thành quả của chế độ mới và xâm lược trở lại nước ta của thực dân Pháp, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với tinh thần: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”5. Người đã cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta tiến hành cuộc kháng chiến toàn diện và trường kỳ, với phương châm chiến lược “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, với tinh thần tự lực cánh sinh, với niềm tin mãnh liệt “kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”. Tư tưởng đó được rọi sáng và nuôi dưỡng từ Cách mạng Tháng Tám với thiên tài tư tưởng và tổ chức của Hồ Chí Minh.

Nói về nguyên nhân và bài học cơ bản nhất làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, Người nhấn mạnh: “Cách mạng và kháng chiến thắng lợi vì nhân dân ta rất đoàn kết, rất hăng hái, rất tin tưởng và đấu tranh rất bền bỉ”6. Tổng kết của Người đã phản ánh nguyên lý sâu xa của giải phóng và quy luật muôn đời của phát triển, đó là: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Nguyên lý và quy luật này tỏ rõ rằng: đoàn kết là sức mạnh và làm nên sức mạnh của toàn dân tộc. Dù khó khăn, thiếu thốn, gian khổ đến đâu, dù thử thách hiểm nguy đến chừng nào nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, sự đồng tâm, nhất trí của toàn dân thì cũng vượt qua được. Sức mạnh của lòng yêu nước đã từng được Hồ Chí Minh ví như một làn sóng mãnh liệt, đủ sức vượt qua muôn thác ghềnh hiểm trở, đủ sức nhấn chìm tất cả bè lũ cướp nước và bán nước. Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, tự lực, tự cường là cội nguồn và động lực thúc đẩy đoàn kết, đại đoàn kết. Giải phóng và phát triển luôn dựa trên nền tảng vững chắc đó. Người nhấn mạnh, không chỉ quyết tâm mà còn phải giữ vững tín tâm và tạo nên đồng tâm, nhất trí, hiệp lực, đồng sức đồng lòng, đồng thuận cả xã hội. Nếu thiên thời, địa lợi là quan trọng, thì nhân hòa còn quan trọng hơn. Đó là nhân tố quyết định mọi thành công. Nhờ có nhân hòa mà đội “Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân”, tiền thân của Quân đội ta chỉ với 34 chiến sĩ ban đầu, dựa vào dân mà đánh giặc, được dân đùm bọc, giúp đỡ và bảo vệ đã đánh thắng ngay từ trận đầu, làm nên truyền thống bách chiến bách thắng sau này. Chỉ thị thành lập Đội quân ấy do Hồ Chí Minh đề xướng đã mang tinh thần của Cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng với tầm nhìn xa trông rộng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của nhân dân: “Người trước súng sau, chính trị trọng hơn quân sự”, “có dân thì sẽ có súng, có dân thì sẽ có tất cả”. Giải phóng cho toàn thể dân tộc khỏi xiềng xích thực dân phải phát động được sức mạnh của toàn dân. Qua đó, Người giác ngộ, thức tỉnh, truyền cảm hứng cho toàn dân tộc và trở thành linh hồn khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thành ngọn cờ dẫn đường cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam; đồng thời, là biểu tượng cao quý cho khát vọng phát triển muôn đời của Việt Nam - khát vọng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Với Hồ Chí Minh và Cách mạng Tháng Tám do Đảng ta và Người lãnh đạo, khát vọng giải phóng gắn liền với khát vọng phát triển. Cả hai dòng chảy khát vọng ấy liên tục, bền bỉ có trong lòng Đảng, lòng dân suốt mọi thời kỳ lịch sử và nổi bật, thiết tha trong tấm lòng lãnh tụ, thành hoài bão, mong muốn tột bậc của Người, mong cho nước nhà được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được tự do, đồng bào ta có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành, được hưởng quyền hạnh phúc. Từ ý chí mãnh liệt của Người: “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập” đến “Tuyên ngôn độc lập” bất hủ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã truyền đi thông điệp của cả dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Đó là sự phát triển nhất quán của Hồ Chí Minh - tự do, độc lập phải thực sự gắn liền với hòa bình và thống nhất non sông và người dân phải được thụ hưởng đầy đủ hạnh phúc. Người luôn dằn vặt rằng, chúng ta giành được độc lập tự do rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, vẫn trong vòng tăm tối, dốt nát thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Bởi vậy, Người nhấn mạnh, chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở và được học hành; để dân xứng đáng được hưởng thành quả của một nước độc lập và góp sức cho nền độc lập ấy. Trong những ngày đầu gây dựng chính thể Dân chủ cộng hòa, Chính phủ do Người đứng đầu đã ban bố và thực hiện những chính sách thiết thực, cần kíp nhất để giữ vững nền độc lập, để mưu cầu cho quốc dân đồng bào được tự do và hạnh phúc, chống giặc ngoại xâm đi liền với chống giặc đói và giặc dốt. Người làm cho dân ta hiểu rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, dân đói nghèo thì nước hèn, dân tộc ỷ lại trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài thì không xứng đáng được độc lập tự do. Người nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, phát huy tự lực, tự cường để phát triển và từng bước đi đến bến bờ hạnh phúc. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người ký thác niềm tin vào lớp trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang, sánh vai được với các cường quốc năm châu hay không, một phần lớn nhờ vào công học tập của các em”7.

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ mới phải giải quyết cùng một lúc muôn vàn khó khăn, thử thách, nhất là trước tình huống hiểm nghèo, thù trong giặc ngoài, vận nước ngàn cân treo sợi tóc. Di sản mục nát mà chế độ cũ để lại là 02 triệu người chết đói thê thảm, 95% dân số nước ta thất học và mù chữ, ngân khố quốc gia khô kiệt, chỉ còn hơn một triệu đồng Đông Dương, hầu hết là tiền lẻ đã rách nát không tiêu được. Hồ Chí Minh đã phát động và làm gương trước toàn quốc đồng bào về tình tương thân tương ái, giúp nhau vượt qua mọi khó khăn buổi đầu. Các phong trào: “Hũ gạo cứu quốc”, “Tuần lễ vàng” do Người phát động, gây quỹ “đảm phụ quốc phòng” do Người chủ trương, toàn dân tăng gia sản xuất, “tấc đất tấc vàng” do Người kêu gọi để nhanh chóng diệt giặc đói, diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm,… đã tác động vô cùng to lớn vào việc giải quyết thành công những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ lâm thời. Trong hoàn cảnh ấy, chỉ trong thời gian ngắn, Hiến pháp đã được soạn thảo, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội được tổ chức thành công. Quốc hội khóa I đã được triệu tập và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành nguyên thủ quốc gia. Cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, 474 ngày đầu tiên, chế độ dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đạt được kỳ tích vẻ vang, để lại những bài học có giá trị và ý nghĩa to lớn trong việc phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng của Người để giữ vững nền độc lập và sự phát triển của toàn dân tộc.

Có hai sự kiện đặc biệt cần phải nhắc lại vào thời khắc khẩn trương của cuộc chiến đấu vì tự do và phẩm giá con người. Thứ nhất, tháng 10/1946, ngay khi từ Pháp trở về, nói chuyện với đồng bào đón Bác tại cảng Hải Phòng, Người bày tỏ niềm hy vọng về tương lai của dân tộc ta: “Dân tộc Việt Nam phải là một dân tộc thông thái”. Trong khi hậu quả của nền giáo dục ngu dân làm cho hầu hết dân ta mù chữ mà Người vẫn tài tình tổ chức thành công toàn thể quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội, bằng cách khẩn trương xóa nạn mù chữ để ai ai cũng biết đọc, biết viết, biết cầm lá phiếu mà lựa chọn người tài đức, xứng đáng để ủy quyền. Cũng trong hoàn cảnh, trình độ dân trí phổ thông còn thấp như vậy mà Người vẫn khát khao về “một dân tộc thông thái” thì đủ hiểu niềm tin và khát vọng phát triển của Người lớn đến mức nào. Thứ hai, giữa lúc khói lửa chiến tranh đang đến gần, thực dân Pháp ngang nhiên đe dọa và phá hoại, với tinh thần “Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết”, Hồ Chí Minh đã đến Nhà hát lớn ở thủ đô Hà Nội, dự Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (ngày 24/11/1946). Tại đây, Người đã đọc bài diễn văn nổi tiếng, đi vào lịch sử dân tộc. Người nhấn mạnh, nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở; văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Nền văn hóa mới Việt Nam phải có sức tiếp thu mọi cái hay, cái tốt từ mọi nền văn hóa khác, của các nước trên thế giới để làm phong phú cho văn hóa của dân tộc mình. Nền văn hóa mới của Việt Nam phải có sức mạnh chống lại mọi thứ phù hoa, xa xỉ, lãng phí, tham ô, xây dựng một đời sống vật chất, tinh thần văn minh cho nhân dân ta. Người cũng kêu gọi các nhà văn hóa quan tâm đặc biệt tới thế hệ trẻ, thiếu niên, nhi đồng và tương lai của nước nhà.

Như vậy, để giữ vững độc lập tự do - thành quả vĩ đại của cách mạng, phải đặc biệt chú trọng xây dựng chế độ mới bằng cách phát huy vai trò, tác dụng của văn hóa. Khát vọng phát triển được nuôi dưỡng từ khát vọng giải phóng. Khát vọng phát triển lại được thực hiện bằng sức mạnh của văn hóa, bằng tiếp biến văn hóa để phát triển. Đó là trù tính sâu sa, chiến lược của Hồ Chí Minh. Đặc biệt, Người nêu rõ hạnh phúc (vật chất, tinh thần) của người dân là cơ sở, mục đích của xây dựng văn hóa. Hạnh phúc của nhân dân là mối quan tâm thường trực, suốt đời trong lẽ sống và hành động của Người.

Hạnh phúc là giá trị cao nhất và kết tinh các giá trị Độc lập và Tự do. Hạnh phúc là chỉ số quan trọng bậc nhất và thực chất của phát triển như Đảng ta đã xác định trong Văn kiện Đại hội XIII: “đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “dân tộc cường thịnh, trường tồn”. Tâm nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được ghi trong Di chúc “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”8. Tâm nguyện ấy cũng là khát vọng phát triển của Người, được ấp ủ từ ngày đi tìm đường cứu nước, từ Cách mạng Tháng Tám - cách mạng giải phóng mà ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức thực hiện.

GS, TS. HOÀNG CHÍ BẢO, Nguyên ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - quyết tâm chính trị không thể đảo ngược của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “không kể đó là ai”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của nhân dân và cả hệ thống chính trị, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã trở thành quyết tâm chính trị và đạt nhiều kết quả quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đó là một xu thế không thể đảo ngược!

Tham nhũng là một hiện tượng tồn tại khá phổ biến trong xã hội có phân chia giai cấp, có nhà nước. Không riêng gì ở Việt Nam mà bất kỳ một quốc gia hay chế độ chính trị nào trên thế giới, ít nhiều cũng đều có vấn nạn này. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ ba căn bệnh: tham ô, lãng phí, quan liêu là những thứ giặc nội xâm bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Vì vậy, ngay từ khi mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và dự báo về mối nguy hại của các căn bệnh trên gắn với nhà nước, với người có chức, có quyền, nhất là bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí và được Người diễn đạt bằng thuật ngữ “bất liêm”, ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng, tiêu cực. Người coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội, vì bản chất của tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận, tham lam, tham ô là trộm cướp. Người phạm tội đó dù ở cương vị nào cũng phải đem ra xét xử theo đúng pháp luật để đề cao phép nước. Bản án tử hình dành cho Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu (năm 1950) về việc lợi dụng chức quyền nhận hối lộ, tham ô, sa đọa, vừa thể hiện sự nghiêm minh, vừa tỏ rõ quyết tâm của Đảng, Chính phủ trong phòng, chống tham nhũng ngay từ rất sớm.

Trong giai đoạn cả nước đang dồn sức cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, dù phải tập trung cao độ cho các nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, cấp bách của cách mạng, nhưng Đảng ta luôn quan tâm đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Ngày 26/4/1962, Bộ Chính trị (khóa III) đã ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW “Về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Sau hơn một năm thực hiện, để mở rộng nội dung quản lý nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, ngày 24/7/1963, Bộ Chính trị (khóa III) đã ban hành Nghị quyết số 85-NQ/TW “Về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”.

Khi cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận thấy “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực ngày càng gia tăng nghiêm trọng, cho nên trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc đều đề cập đến vấn đề phòng, chống tham nhũng. Tại Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”1. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”2. Cùng với đó, chỉ riêng trong 10 năm (2012 - 2022), “Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phòng, chống tham nhũng; Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hơn 2.000 nghị định, quyết định. Các bộ, ngành, địa phương ban hành hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về quản lý kinh tế - xã hội, phòng, chống tham nhũng”3. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) Đảng ta đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Tiếp đó, tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII), Đảng ta quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở tất cả 63 tỉnh, thành phố do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy làm Trưởng ban. Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta chưa bao giờ sao nhãng, mà luôn luôn đặt cảnh báo về nguy cơ và sự tác hại của tham nhũng ở mức độ cao nhất; là chỗ dựa vững chắc, là bảo đảm về mặt chính trị và tạo động lực to lớn và do đó, đây là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua.

Không chỉ dừng lại ở các chỉ thị, nghị quyết, các văn bản pháp luật đã được ban hành mà quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện bằng hành động quyết liệt và hiệu quả. Trong 10 năm (2012 - 2022), “đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 36 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang); qua thanh tra, kiểm tra, kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân, chuyển cơ quan điều tra, xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm”4. Cùng với đó, công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế cũng được tiến hành một cách kiên quyết, không khoan nhượng. Cũng trong 10 năm qua, “các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 19.546 vụ/33.868 bị can, truy tố 16.699 vụ/33.037 bị can; xét sơ thẩm 15.857 vụ/30.355 bị cáo về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế; khởi tố, điều tra 2.657 vụ/5.841 bị can, truy tố 2.628 vụ/6.199 bị can, xét sơ thẩm 2.439 vụ/5.647 bị cáo về tội tham nhũng. Tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã khởi tố, điều tra 4.200 vụ/7.572 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế, trong đó có 455 vụ/1.054 bị can về tội tham nhũng”5. Kết quả đó khẳng định chủ trương, quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là hoàn toàn đúng cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với thực tiễn khách quan, xu thế thời đại và được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Tuy nhiên, với dã tâm và âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, phủ nhận cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Chúng rêu rao rằng: cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ là sự đấu đá, tranh giành quyền lực, thanh trừng nội bộ giữa các phe nhóm trong Đảng. Số cơ hội chính trị thì bày tỏ hoài nghi và cho rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mạnh thì lấy đâu cán bộ để làm việc; rằng, làm mạnh tay sẽ lợi bất cập hại, gây cản trở sự phát triển, làm nhụt chí sáng tạo của cán bộ, đảng viên. Đáng tiếc là, trước kết quả phòng, chống tham nhũng, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện sợ trách nhiệm, xuất hiện tư tưởng “bàn lùi”,... không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và không dám dũng cảm đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, v.v.

Phải khẳng định rằng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề tất yếu khách quan của mọi nhà nước và chế độ xã hội, nhằm không ngừng thúc đẩy sự phát triển. Đối với nước ta, thực hiện tốt vấn đề này không chỉ góp phần quan trọng xây dựng Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, mà còn củng cố niềm tin vững chắc của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước quyết tâm chính trị của Đảng, trên thực tế, phòng, chống tham nhũng đã trở thành “cao trào”, là trách nhiệm chính trị lớn lao của cán bộ, đảng viên đối với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và vận mệnh của đất nước. Không chỉ những cán bộ, đảng viên suy thoái, sa vào tham nhũng bị xử lý theo quy định của pháp luật, mà một số đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước đã dũng cảm nhận trách nhiệm và tự nguyện từ chức khi để cấp dưới tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng. Điều đó khẳng định, đây là bước tiến vượt bậc trong công tác phòng, chống tham nhũng, là sự thay đổi trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trước vận mệnh của đất nước.

Cho đến nay, chúng ta có thể khẳng định rằng, công cuộc phòng, chống tham nhũng được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả tích cực, rõ rệt, thực chất hơn. Kết quả lớn nhất mà chúng ta đạt được trong cuộc chiến “chống giặc nội xâm” này không chỉ củng cố niềm tin của nhân dân, mà còn tạo lòng tin vững chắc của cộng đồng quốc tế vào sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng. Giáo sư Vladimir Kolotov, Giám đốc Viện Hồ Chí Minh tại Đại học Quốc gia St. Petersburg, nhận xét: “Chiến dịch “đốt lò” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một tầm nhìn chiến lược quan trọng bắt đầu được thực hiện từ lâu. Tình hình đang thay đổi, tình hình tham nhũng đang thay đổi và công tác phòng, chống tham nhũng cũng đang thay đổi,...”6. Còn trang tin Times of India khẳng định: “Việt Nam đã cung cấp một bài học quý giá mà các quốc gia có thể noi theo khi tham nhũng là vấn nạn phổ biến trên toàn cầu”7. Và sau Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022, Trang tin Bloomberg, nhận xét: “Hội nghị tổng kết 10 năm cuộc chiến chống tham nhũng của Việt Nam đã mở ra giai đoạn mới trong cuộc chiến chống tham nhũng với sự tham gia của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các địa phương. Các vụ xử lý kỷ luật các quan chức cấp cao vừa qua cho thấy quyết tâm của Đảng và các cơ quan pháp luật trong cuộc chiến chống tham nhũng với tinh thần không khoan nhượng, không vùng cấm, không ngoại lệ”8.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, “trên - dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”, được tiến hành một cách kiên trì, nhân văn, bài bản, thuyết phục với tinh thần không khoan nhượng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã trở thành phong trào, “xu thế không thể đảo ngược”, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Nhờ đó, tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đồng thời, là minh chứng rõ nhất bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng