Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

"CÁN BỘ LÀ CÁI GỐC CỦA CÔNG VIỆC"!

     Căn bệnh "sợ trách nhiệm" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ lúc sinh thời. Trong di sản tư tưởng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến căn nguyên của căn bệnh này một cách rất cụ thể: "Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực. Tôi muốn có địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm”.

    Theo Bác, những người mắc bệnh sợ trách nhiệm là những người: "Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng".

    Trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch vững mạnh" - xuất bản vào dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/2023) - trích đăng một số bài đã đăng trên Tạp chí Cộng sản, trong đó có những bài của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết cách đây gần 50 năm về bệnh sợ trách nhiệm, cũng đã chỉ rõ căn bệnh sợ trách nhiệm và những biểu hiện của nó: "Nhiệm vụ trước mắt đòi hỏi mọi người phải có tinh thần trách nhiệm rất cao, nhưng hiện nay trong cán bộ, đảng viên ta còn có những đồng chí sợ trách nhiệm".

    Nói về nguyên nhân của tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết có 4 nguyên nhân cơ bản.

    Thứ nhất là nhận thức và ý thức trách nhiệm, cũng như năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ công chức bị hạn chế.

    Thứ hai là việc nêu gương của một số cán bộ đứng đầu chưa được phát huy một cách nghiêm túc.

    Thứ ba là thể chế chính sách còn bất cập, chồng chéo, chậm sửa đổi một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn; quy chế, phối hợp giữa các bộ, địa phương vẫn còn một số mặt chưa kịp thời, đồng bộ, thống nhất.

    Thứ tư là kỷ cương, kỷ luật đang được siết chặt lại, phòng chống tham nhũng tiêu cực đang được đẩy mạnh và hàng loạt cán bộ công chức bị kỷ luật, khởi tố, truy tố do sai phạm nghiêm trọng cũng dẫn đến tâm lý một bộ phận cán bộ công chức sợ sai, sợ trách nhiệm.

    "Những biểu hiện về đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức đã vi phạm các quy định theo nghị quyết của Đảng, vi phạm các quy định của Luật Chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Cán bộ, công chức", Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhấn mạnh.

KHÔNG ĐỂ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Sự nham hiểm của những luận điệu xuyên tạc
Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.
Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.
Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo… Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.
Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình
Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.
Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.
Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương…).
Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển… để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.
Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.
Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.
Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay.

Tấm gương Hồ Chí Minh về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với đề ra chủ trương, chính sách và sự vận dụng của Đảng ta.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là mẫu mực về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng đường lối, chính sách. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng, hoàn thiện đường lối đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.

 

Tấm gương Hồ Chí Minh về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận  với đề ra chủ trương, chính sách và sự vận dụng của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc ở căn cứ Việt Bắc - Ảnh: backan.gov.vn

1. Hồ Chí Minh - tấm gương mẫu mực về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với đề ra đường lối, chính sách

Cuộc đời của Hồ Chí Minh gắn liền với hoạt động thực tiễn. Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn từ những cuộc đấu tranh của cách mạng Việt Nam chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Người nhận ra một chân lý: nếu dân tộc mà chưa giành được độc lập, thì vấn đề giai cấp cũng không giải quyết được. Mặc dù rất khâm phục lòng yêu nước và đánh giá cao những cống hiến của các bậc cách mạng tiền bối cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhưng từ thực tiễn, Người đã nhận thấy những hạn chế và bế tắc về mục tiêu, đường lối và phương pháp cách mạng của các nhà yêu nước đương thời. Thực tế đó đã thôi thúc Người đi ra nước ngoài để xem cho rõ thực chất của xã hội các nước phương Tây là thế nào. Năm 1911, Nguyễn Tất Thành đã dấn thân vào thực tiễn đầy chông gai và nguy hiểm - đi tìm đường cứu nước.

Trải qua những năm tháng đầy gian truân ở các nước Á, Phi, Mỹ, Âu, làm rất nhiều nghề, phân tích, tổng kết thực tiễn các cuộc cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đi tới khẳng định: đó là các cuộc cách mạng không triệt để, “nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục (tước đoạt - BT) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”(1)

Cũng từ tổng kết thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc có đánh giá hết sức khoa học về thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga. Người khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(2). Đây không phải là nhận định cảm tính chủ quan, mà là sự tổng kết thực tiễn đấu tranh của nhân loại mà Nguyễn Ái Quốc đã dày công nghiên cứu.

Tính triệt để hay không triệt để, “đến nơi” hay không “đến nơi” của một cuộc cách mạng - theo Nguyễn Ái Quốc - chính là kết quả của cuộc cách mạng đó có giải phóng cho toàn thể nhân dân lao động hay không, nhân dân lao động có thật sự nắm được chính quyền mới ra đời đó hay không. Theo đó, Người khẳng định, cuộc cách mạng mang tính triệt để nhất và thành công nhất trong thế giới lúc bấy giờ “chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi”(3), vì “ở đó dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”(4)

Từ tổng kết thực tiễn sự thất bại của các phong trào đấu tranh cách mạng Việt Nam chống Pháp những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra một trong những nguyên nhân là thiếu một lý luận tiên phong dẫn đường. Người dẫn lời của V.I.Lênin “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”(5). Đó chính là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc quyết tâm đi tìm cho cách mạng Việt Nam một đường lối giải phóng phù hợp.

Suốt cuộc hành trình gần 10 năm (1911 - 1920), Nguyễn Ái Quốc dày công nghiên cứu rất nhiều công trình lý luận, tác phẩm văn học của các nhà văn lớn, gia nhập các hội như Hội Nghệ thuật và khoa học và Hội Những người bạn của nghệ thuật, nghiên cứu kỹ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ…

Năm 1920, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy chân lý giải phóng cho dân tộc - con đường cách mạng vô sản. Đây là dấu mốc của bước chuyển trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc từ lập trường yêu nước chân chính sang lập trường cách mạng vô sản.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng vĩ đại, có đóng góp to lớn vào lý luận Mác - Lênin. Người đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam và phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa. Đó là tư tưởng giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc là trên hết, trước hết. Người khẳng định: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(6)

Đó là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu công phu, đầy sáng tạo của Người, thâu thái những tinh hoa tư tưởng của nhân loại trên mọi lĩnh vực và tìm ra điểm tương đồng, hướng tới giải phóng nhân loại. Điều quan trọng trong quan điểm của Hồ Chí Minh là không phải nghiên cứu để tiếp thu một cách máy móc, nguyên xi, mà tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo, vận dụng vào thực tiễn cách mạng có hiệu quả.

Với Hồ Chí Minh, không chỉ nghiên cứu, học tập lý luận và dừng lại ở tổng kết, mà phải biến lý luận đó, sự tổng kết đó thành những chủ trương chính sách có hiệu quả. Người là tấm gương tiêu biểu cho việc gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng đường lối, chính sách. Sau khi tổng kết thực tiễn sự phát triển của thế giới, tiếp thu lý luận Mác - Lênin, Người chủ trương đưa vào nội dung học tập tại các khóa huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu gồm: “Lịch sử các cuộc cách mạng, ba quốc tế, các phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, lịch sử Cách mạng tháng Mười Nga, Cách mạng Tân Hợi, cách mạng đang diễn ra ở Trung Quốc với Tam dân chủ nghĩa và Tam đại chính sách”(7), nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ hướng tới thành lập một chính đảng cho cách mạng ở Việt Nam.

Từ tổng kết thực tiễn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, trong từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh đã đề ra các chủ trương đúng đắn và những chính sách hết sức khoa học, linh hoạt. Chẳng hạn, với chính sách “thêm bạn, bớt thù”, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, Hồ Chí Minh đã linh hoạt, sáng tạo, khéo léo tìm ra lời giải cho sách lược cách mạng của Việt Nam sau năm 1945 một cách thần kỳ, đưa dân tộc thoát khỏi cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, đánh bại thực dân Pháp tại Điên Biên Phủ năm 1954, đưa miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(8); “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”(9).  Theo đó, để có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp, trước hết phải có chính sách đối với cán bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu thực hiện chính sách đối với từng loại cán bộ.

Trong Di chúc, Người căn dặn rất kỹ: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”(10). Đảng và Chính phủ cần chọn một số chiến sĩ trẻ trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, ưu tú nhất, cho đi học thêm các ngành, nghề để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc, là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi CNXH ở nước ta.

Người viết: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”(11); “đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên””(12). Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

 Như vậy, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chỉ thật sự có hiệu quả khi phục vụ thiết thực việc đề ra đường lối, chủ trương và ban hành chính sách hành động phù hợp thực tiễn.

Đi qua gần 30 quốc gia, vượt qua muôn vàn gian khổ, làm rất nhiều nghề để kiếm sống, với quyết tâm cháy bỏng tự do cho đồng bào mình, độc lập cho Tổ quốc mình; với khối tri thức lý luận khổng lồ, nhất là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành đường lối, chính sách phù hợp cho cách mạng Việt Nam. Trong suốt sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh gắn chặt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với việc đề ra đường lối, chính sách. Đó chính là cơ sở để Đảng ta tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến xây dựng thành công CNXH.

2. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới

Tính đúng đắn của lý luận chỉ thể hiện khi nó trở thành hiện thực thông qua hoạt động thực tiễn. Ngược lại, tổng kết thực tiễn chỉ có giá trị và ý nghĩa khi những bài học được rút ra từ sự tổng kết đó được chuyển hóa thành tư tưởng, lý luận định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động tổ chức thực tiễn ở giai đoạn tiếp theo, nghĩa là phải gắn chặt việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận với việc đề ra đường lối, chính sách.

Vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, hơn 90 năm qua, trong từng giai đoạn lịch sử, Đảng ta đã đề ra đường lối, chính sách phù hợp với yêu cầu cách mạng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bên cạnh những thuận lợi có được, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã có bước đột phá là quyết định đổi mới.

Tại Đại hội VI, Đảng ta nhận định: Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Theo đó, Đảng ta nhận định: “việc đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước, đã có nhiều thiếu sót. Do đó, trong mười năm qua, đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên củ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết”(13). Trên cơ sở đó, Đại hội nhấn mạnh: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”(14).

Đến Hội nghị Trung ương 8 Khóa IX, Đảng nhấn mạnh việc  “xây dựng những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc (cả những định hướng chính sách chung và những định hướng chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội)”(15).

Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 - 2011), Đảng nhấn mạnh: “Hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân. Tiếp tục đổi nới nhận thức trong định hướng chính sách phân phối, chính sách tiền lương, xây dựng hệ thống an sinh xã hội (bảo hiểm, hỗ trợ, ưu đãi xã hội…). Thực hiện chính sách khuyến khích làm giàu chính đáng theo pháp luật, đi đôi với xóa đói, giảm nghèo”(16).

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách với phù hợp quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển”(17), phải “đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(18).

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách”(19).

Với ý chí quyết tâm, nỗ lực, bản lĩnh, sáng tạo, quyết đoán, với sự thường xuyên tổng kết thực tiễn, đổi mới lý luận, Đảng ta đã đề ra đường lối, chính sách phù hợp, lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn.

_________________

Ngày nhận bài: 07-11-2023; Ngày bình duyệt: 10-11-2023; Ngày duyệt đăng: 02-12-2023.

(1), (3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 296, 304, 304.

(2), (10, (11), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 387, 616, 617, 612.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 48.

(7) Hồ Song: Giáo trình lịch sử Việt Nam, quyển 2, t.2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1979, tr. 130.

(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5 Sđd, tr. 280, 309.

(13), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr. 353-354, 380.

(15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 62, Sđd, 2016, tr. 100.

(16) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 69, Sđd, 2018, tr. 441-442.

(17), (18) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, t. I, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 200, 201.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG VIDEO ĐỘC HẠI, XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH CÔNG AN, QUÂN ĐỘI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện những TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”… Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ của lực lượng Công an, Quân đội.

Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các video có nội dung xấu độc trên các nền tảng TikTok, YouTube Short, Facebook Reel, Bigo Bar, Instagram, Likee… trong phạm vi nào đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi người sử dụng mạng xã hội.
Sự bùng nổ của video ngắn độc hại trên mạng xã hội
Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút. Ðiểm mới của TikTok là nền tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng (filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending). TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử dụng mạng xã hội này như nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới, nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.
Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn độc hại không chỉ xuất hiện trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short, Instagram Reel… Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Hầu hết các ứng dụng video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.
Theo thống kê từ Statista, Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất. Mỗi ngày, người dùng Việt Nam dành tới gần 7 giờ đồng hồ để tham gia các hoạt động liên quan tới Internet. Nếu các video độc hại bị lan truyền với thời lượng lớn sẽ gây tình trạng nhiễu loạn thông tin, đúng sai bị đảo lộn, bởi sẽ có rất nhiều người bị tiếp nhận thông tin thụ động. Thậm chí có thể xem là một trong những tác nhân gây ra sự vô cảm trong xã hội. Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).
Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn độc hại trên mạng xã hội
Khi những video ngắn độc hại lan rộng trên mạng xã hội thời gian qua như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”…, đã có những ý kiến, bình luận mang tính a dua, cổ xuý theo nội dung mà video đề cập. Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ, hoạt động chiến đấu của lực lượng Công an, Quân đội xuất hiện khá nhiều gây nhiễu loạn thông tin cho người xem, đặc biệt với những cán bộ, chiến sĩ Công an tuổi đời còn trẻ. Ẩn sâu đằng sau những video đó còn là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài.
Qua thực tiễn trào lưu video ngắn độc hại trên mạng xã hội thời gian qua, có thể nhận thấy “bàn tay đen” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng âm mưu và hoạt động chống phá tập trung vào các nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, chỉ huy trong Công an, Quân đội; thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội; kích động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do Internet…
Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau. Việc sử dụng các video ngắn độc hại hướng vào vấn đề phi chính trị hóa Quân đội và Công an, thực chất là muốn tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về mặt hình thức, những video ngắn trên mạng xã hội trước tiên làm tổn hại đến lực lượng CAND, để người dân hiểu sai, hiểu không tốt về lực lượng Công an. Từ những vụ việc đơn lẻ, các đối tượng thổi phồng, tiến tới gây phản ứng quy kết cho cả lực lượng CAND, tạo ác cảm, tiến đến không ủng hộ, chống đối lực lượng Công an, gây ra những xung đột xã hội.
Những luận điệu xuyên tạc nêu trên nếu không phát hiện, xử lý kịp thời sẽ gây ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an, giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Luận điệu xuyên tạc thông qua video trên nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, a dua để điều hướng dư luận nhằm thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng. Tình hình đó khiến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng Công an nói riêng và lực lượng vũ trang nhân dân nói chung trên mạng xã hội là vấn đề thời sự, cấp bách hiện nay.
Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng CAND Việt Nam luôn thể hiện phẩm chất anh hùng, bản lĩnh kiên cường, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, hy sinh, lập nhiều chiến công, giữ vững vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Cùng với hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm ANTT, lực lượng CAND còn làm tốt công tác an sinh xã hội với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”; triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế; gương mẫu, đi đầu trong nhiều mặt công tác… Những kết quả, thành tích đó đã đóng góp rất quan trọng vào việc xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn coi Công an, Quân đội là một trong những lực lượng cần tập trung chống phá, xuyên tạc, mục đích nhằm hạ uy tín, vị thế, gây chia rẽ giữa các lực lượng và chia rẽ giữa Công an, Quân đội với các ngành, với nhân dân, tạo ra những nghi kỵ, ác cảm để lấy cớ kích động chống đối.
Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ gia tăng lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, tác động đến cộng đồng. Việc các thế lực xấu tung video ngắn trên TikTok, Facebook, các nền tảng mạng xã hội là chiêu trò lợi dụng trào lưu người sử dụng mạng đang có thói quen xem các video ngắn, các thông tin nhanh, nóng, tức thời. Do đó, dù phương pháp, thủ đoạn có những biến tướng thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng – sai. Hơn ai hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực xấu.

Vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.

  Trong thế giới ngày nay, chiến tranh, xung đột, trong đó có xung đột dân tộc đang diễn ra hết sức phức tạp. Vì vậy, chung tay giải quyết xung đột đó theo hướng bảo đảm lợi ích chân chính của các dân tộc là nguyện vọng của nhân loại tiến bộ. Nhân kỷ niệm 205 năm ngày sinh và 140 năm ngày mất của C.Mác, bài viết phân tích những luận điểm cơ bản về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và khẳng định những giá trị của các luận điểm đó đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.

Vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam hiện nay

Việt Nam đặt tầm nhìn đến năm 2050 trở thành nước phát triển - Ảnh: thanhnien.vn

1. Những luận điểm cơ bản về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản

Cho dù thời đại ngày nay đã có nhiều thay đổi hết sức to lớn song những nguyên lý, nguyên tắc, quan điểm cơ bản của hệ thống lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên giá trị. Vấn đề dân tộc - một nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong số đó. Chỉ riêng tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã có nhiều luận điểm đặc biệt quan trọng đề cập đến vấn đề dân tộc mà hiện vẫn có ý nghĩa sâu sắc cho giai cấp công nhân, cho chính đảng cộng sản trong quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc.

Vấn đề thứ nhất: Về cơ sở hình thành dân tộc

Với thế giới quan mới - thế giới quan duy vật lịch sử được thể hiện trong các tác phẩm như Gia đình thần thánh, Hệ tư tưởng Đức...và đạt đến độ chín muồi trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, những người sáng lập chủ nghĩa Mác đã xem xét vấn đề dân tộc theo một nguyên tắc mới. Theo đó, mọi hiện tượng lịch sử không còn bị quy giản vào năng lực của cái tinh thần, của thần linh, thượng đế hay ý chí chủ quan của con người mà suy cho cùng do sản xuất vật chất quyết định. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”(1). Theo ý nghĩa ấy, chính sự thay đổi của sản xuất vật chất đã làm xuất hiện các hình thức cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc). Khi giai cấp tư sản ra đời với tư cách đại diện cho một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn so với các phương thức sản xuất trước đó, do yêu cầu của sản xuất, từng bước dân cư được tập trung, các mối quan hệ xã hội vốn tồn tại khá biệt lập trong từng lãnh địa phong kiến dần được mở rộng... Cứ như thế, từng bước, dân tộc tư sản được hình thành.

Về vấn đề này, vào năm 1874, trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đã được Ph.Ăngghen nghiên cứu tỉ mỉ và có những bổ sung dựa trên các tài liệu của các nhà dân tộc học đương thời. Theo đó, hình thức cộng đồng người đầu tiên xuất hiện là các thị tộc. Cùng với quá trình sản xuất và đời sống, các hình thức cộng đồng người như bộ lạc, bộ tộc và cuối cùng là dân tộc ra đời.

Quan niệm trên đây đã làm sáng tỏ sự thật lịch sử về sự ra đời của các hình thức cộng đồng người. Lịch sử đó không còn có tính chất thần bí như quan niệm của các tôn giáo hay có tính chất tư biện của các nhà triết học duy tâm. Dân tộc là sản phẩm mà suy cho cùng do sự vận động của sản xuất vật chất đưa lại. Vì thế, vấn đề có ý nghĩa đối với hiện tồn được rút ra là, để gia tăng sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ một quốc gia - dân tộc hay giữa các quốc gia - dân tộc với nhau, tất yếu phải gia tăng các mối quan hệ xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế đến chính trị và các lĩnh vực khác.

Vấn đề thứ hai: Về phương thức hình thành dân tộc

Có thể khẳng định, một trong những phát hiện quan trọng của những người sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc là phát hiện ra các phương thức điển hình trong quá trình hình thành dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng đề cập đến vấn đề này. Theo đó, ở châu Âu, về cơ bản, dân tộc được hình thành gắn liền với vai trò của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tuyên ngôn cho rằng: “Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất”(2).

Với các khu vực khác trên thế giới, do những điều kiện lịch sử khác nhau nên các dân tộc ra đời cũng có những đặc thù. Thường thì, ở khu vực châu Á, dân tộc ra đời sớm và gắn liền với vai trò của nhà nước hay ở khu vực Bắc Mỹ, một số quốc gia - dân tộc ra đời do những tác động của quá trình thực dân hóa và hình thành sau các cuộc chiến tranh, xung đột.

Từ quan điểm trên đây, điều có ý nghĩa mà chúng ta có thể rút ra là, các dân tộc ra đời không phải theo một phương thức duy nhất, trái lại, mỗi dân tộc được hình thành theo phương thức nào lại tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử, văn hóa của từng cộng đồng người. Do đó, khi giải quyết vấn đề dân tộc, chính phủ các quốc gia cần đặc biệt quan tâm đến tính đặc thù của mỗi hình thức cộng đồng người để tránh sai lầm chủ quan, áp đặt.

Vấn đề thứ ba: Về quan hệ giữa giai cấp với dân tộc và con đường khắc phục nạn áp bức dân tộc

Kể từ khi giai cấp và sau đó là dân tộc ra đời, giai cấp luôn gắn bó với dân tộc. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản khẳng định sự thật đó. Theo đó, trong mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, có một giai cấp tiên tiến nhất, được dân tộc lựa chọn để đại diện cho dân tộc. Khi giai cấp đó trở nên lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của dân tộc thì dân tộc sẽ lựa chọn một giai cấp khác thay thế.

Lịch sử cho thấy, trong thời kỳ đang lên, giai cấp tư sản đang đóng vai trò là giai cấp cách mạng, chính nó là người đại diện cho dân tộc và dân tộc ấy là dân tộc tư sản. Ngược lại, khi giai cấp này đánh mất vai trò của mình, trở thành lực cản của tiến bộ xã hội, tất yếu dân tộc sẽ nảy sinh nhu cầu lựa chọn một giai cấp khác đại diện cho mình. Trong điều kiện ấy, lợi ích của giai cấp tư sản không còn tương dung với lợi ích của dân tộc. Xét theo ý nghĩa ấy, “giai cấp công nhân không có Tổ quốc” bởi Tổ quốc đó là Tổ quốc của giai cấp tư sản.

Nghiên cứu bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác, Ph.Ăngghen nhận thấy, mặc dù tiến bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến, song chế độ tư bản chủ nghĩa không khắc phục được ách áp bức giai cấp cho dù nó được che đậy dưới nhiều hình thức ngày càng tinh vi. Không ai khác, chính giai cấp tư sản là nguyên nhân làm cho phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, cho dù các học giả tư sản đã cố gắng để biện minh, song rốt cuộc vẫn phải thừa nhận. Đặc biệt, sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra phạm vi toàn cầu đã làm xuất hiện một hình thức áp bức mới - áp bức dân tộc kiểu tư bản chủ nghĩa.

Phân tích nguyên nhân của tình trạng áp bức dân tộc trong thời đại tư bản chủ nghĩa, Tuyên ngôn cho thấy, áp bức giai cấp là nguyên nhân dẫn đến áp bức dân tộc. Lý do bởi, để tìm kiếm tư bản, giai cấp tư sản không thể không mở rộng thị trưởng tiêu thụ hàng hóa ra khỏi biên giới quốc gia - dân tộc và việc mở rộng thị trường tư bản chủ nghĩa thường gắn với các cuộc chiến tranh, xâm lược. Theo đó, các hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân ra đời. Không chỉ các quốc gia tư sản hùng mạnh chèn ép các quốc gia tư sản khác mà còn làm xuất hiện một hình thái áp bức mới - tập thể các quốc gia tư sản thôn tính, nô dịch các dân tộc nhược tiểu.

Thực tế trên đây đã đưa C.Mác, Ph.Ăngghen đi đến một kết luận đặc biệt quan trọng rằng, để thanh toán triệt để nạn áp bức dân tộc cần xóa bỏ triệt để nạn áp bức giai cấp trong từng quốc gia - dân tộc và trên phạm vi toàn thế giới. “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”(3).

Tuy nhiên, do vấn đề dân tộc gắn bó chặt chẽ với vấn đề giai cấp bởi cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trên từng địa hạt của từng dân tộc nên cuộc đấu tranh đó đồng thời phải thực hiện cả mục tiêu dân tộc. Về vấn đề này, Tuyên ngôn cho rằng: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là, trước hết giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”(4) và “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”(5).

Các quan điểm trên đây là những chỉ dẫn đặc biệt quan trọng cho người cộng sản, nhất là trong bối cảnh mới của thời đại. Chỉ dẫn đó lưu ý rằng, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử toàn thế giới, giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia - dân tộc trước hết phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc và giải quyết thành công mục tiêu giai cấp và mục tiêu dân tộc, tránh các biểu hiện của chủ nghĩa hư vô dân tộc như V.I.Lênin đã nhiều lần cảnh báo.

Vấn đề thứ tư: Về sự cần thiết phải “trở thành dân tộc” của giai cấp công nhân

Giai cấp và dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ. Dưới tác động của giai cấp và cùng với nó là nhà nước, các dân tộc trên thế giới từng bước ra đời (kể cả ở phương Đông và phương Tây).

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, bao giờ cũng có một giai cấp đại diện cho dân tộc. Yêu cầu đặt ra là, giai cấp đó phải đáp ứng được lợi ích không chỉ của giai cấp mình mà còn đáp ứng được lợi ích chân chính của dân tộc. Vì thế, một khi giai cấp cầm quyền trở nên lạc hậu, không đủ sức giải quyết các nhiệm vụ trên thì dân tộc sớm hay muộn, nhanh hay chậm sẽ tự tìm thấy một lực lượng xã hội khác để đại diện cho mình.

Do đó, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử toàn thế giới, giai cấp công nhân ở mỗi nước trước hết “phải tự mình trở thành dân tộc”, trở thành người đại diện xứng đáng cho dân tộc, được dân tộc lựa chọn và ủng hộ. Muốn vậy, các chính đảng cách mạng phải thực hiện thành công chức năng tổ chức giai cấp, đồng thời phải tự hoàn thiện bản thân mình. Cần thực hiện chức năng tổ chức giai cấp bởi nhờ nó, giai cấp công nhân không chỉ duy trì được vai trò tiền phong (cả về phương diện kinh tế - kỹ thuật, cả về phương diện chính trị - xã hội), đủ sức đại diện cho những gì tiến bộ nhất của dân tộc mà còn có khả năng củng cố sức mạnh của bản thân mình với tư cách một giai cấp. Mặt khác, bản thân Đảng cũng phải tự tổ chức mình, tự hoàn thiện mình để xứng đáng là bộ tham mưu của giai cấp, đủ sức lãnh đạo giai cấp và dân tộc nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. Do đó, trước hết, giai cấp công nhân phải “giành lấy dân chủ”, “phải tự mình trở thành dân tộc”. Về vấn đề này, Tuyên ngôn khẳng định: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”(6).

Vấn đề thứ năm: Về sự đoàn kết giữa các dân tộc

Lịch sử cho thấy, kể từ khi trở thành giai cấp thống trị, giai cấp tư sản không những không thủ tiêu nạn áp bức giai cấp mà còn củng cố, tăng cường nạn áp bức dân tộc, làm gia tăng xung đột giữa các dân tộc. Thế giới hiện đại ngày nay cũng đang chứng kiến hàng loạt xung đột dân tộc thảm khốc mà người phải chịu trách nhiệm trước hết là giai cấp tư sản.

Ngược lại, giai cấp công nhân và những người cộng sản tuyên bố sẽ thiết lập quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc mà xét đến cùng, để thực hiện mục tiêu đó, phải khắc phục triệt để nạn áp bức giai cấp mà trước hết, giai cấp công nhân “phải tự mình trở thành dân tộc”. Điều này cũng có nghĩa, các dân tộc phải được độc lập, bởi không độc lập và thống nhất trong từng dân tộc thì về phương diện quốc tế, không thể thực hiện được sự đoàn kết giai cấp vô sản và sự hợp tác hòa bình và sự tự giác các dân tộc đó để đạt tới những mục đích chung.

Đã hơn 175 năm kể từ ngày Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được công bố đến nay, nhìn lại toàn cảnh thế giới, chúng ta thấy tư tưởng cơ bản của nó vẫn còn có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Hiện thế giới có trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, hệ thống thuộc địa kiểu cũ của CNTB cơ bản bị xóa bỏ, song xung đột giữa các dân tộc vẫn diễn ra, hòa bình, hữu nghị, hợp tác thật sự giữa các dân tộc vẫn là mục tiêu phấn đấu của nhân loại tiến bộ. Nhiều dân tộc, nhất là dân tộc nhỏ yếu dù được độc lập song vẫn bị chèn ép và ngày càng phụ thuộc vào các nước lớn... Nguyên nhân thật sự của thực trạng đó là gì nếu không phải bởi chủ nghĩa đế quốc hiện đang tạm thời chiếm ưu thế, chi phối cục diện thế giới, nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Để thoát khỏi tình trạng trên, không có con đường nào khác ngoài việc khôi phục độc lập, thống nhất thật sự của các dân tộc dưới ngọn cờ của giai cấp công nhân.

2. Giá trị của các luận điểm về vấn đề dân tộc của C.Mác, Ph.Ăngghen đối với cách mạng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Kể từ khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được công bố đến nay, phong trào dân tộc trên thế giới đã trải qua nhiều thăng trầm, song sức sống của Tuyên ngôn và ý nghĩa thời đại của nó vẫn mang tính thời sự. Thế giới chúng ta hiện vẫn tồn tại tình trạng áp bức giai cấp, áp bức dân tộc cho dù hình thức và nội dung đã có nhiều thay đổi. Xu hướng chủ đạo của thời đại vẫn là hòa bình, hợp tác, phát triển song xung đột, chiến tranh vẫn hiện diện. Hơn một năm qua, cuộc xung đột Nga - Ucraina về một khía cạnh nào đó là xung đột giữa Nga với Mỹ và phương Tây xuất phát từ nhiều nguyên nhân rất phức tạp, song trong đó có nguyên nhân phát sinh từ vấn đề dân tộc cũng như cách ứng xử giữa các dân tộc. Cuộc xung đột này cho chúng ta thêm căn cứ để khẳng định giá trị và ý nghĩa thời đại của các quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

Với Việt Nam, những chỉ dẫn của Tuyên ngôn về vấn đề dân tộc càng có ý nghĩa hơn bởi Việt Nam là quốc gia đa tộc người, đa tôn giáo nên dễ bị các thế lực phản động lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề củng cố khối đại đoàn kết dân tộc càng khó khăn hơn khi Việt Nam đang trong quá trình phát triển nên chịu nhiều tác động không thuận bởi sự cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nhất là giữa các nước lớn. Vì thế, giải quyết tốt vấn đề dân tộc trên cả hai tuyến quan hệ, với các quốc gia - dân tộc trên thế giới và trong nội bộ quốc gia - dân tộc là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách được đặt ra hiện nay. Điều đó đòi hỏi cần nghiên cứu và vận dụng sáng tạo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trong bối cảnh mới. Theo chúng tôi, có thể bao hàm một số định hướng lớn sau đây:

Thứ nhất, tăng cường các liên kết toàn diện trên các lĩnh vực giữa các quốc gia - dân tộc cũng như giữa các tộc người trong nội bộ quốc gia - dân tộc

Cơ sở của định hướng này là ở chỗ, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã cho chúng ta thấy rằng, dưới tác động của sản xuất và đời sống cũng như để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, các hình thức cộng đồng người từ thị tộc cho đến bộ lạc, bộ tộc và dân tộc từng bước ra đời. Theo đó, các mối quan hệ xã hội giữa các thành phần dân cư ngày càng được mở rộng, phát triển và ngược lại chính các mối quan hệ đó lại trở thành cơ sở để duy trì sự tồn tại của các cộng đồng người. Do đó, khi tăng cường các mối quan hệ xã hội sẽ góp phần củng cố khối đoàn kết trong nội bộ từng quốc gia - dân tộc và giữa các quốc gia - dân tộc với nhau.

Mặt khác, thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, mỗi khi có sự gia tăng mối quan hệ giữa các dân tộc, nhân loại lại có thêm diện mạo mới theo hướng phát triển và trường hợp Việt Nam không phải là ngoại lệ. Kể từ ngày đổi mới, theo chủ trương tích cực, chủ động hội nhấp quốc tế, thế và lực của đất nước đã có sự chuyển biến rất tích cực. Ở trong nước, đoàn kết dân tộc được giữ vững, tăng cường, nội lực dân tộc được phát huy... Do đó, tận dụng mọi cơ hội của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trên cơ sở độc lập về đường lối trong bối cảnh mới là phương châm để xây dựng đất nước hùng cường, bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia.

Thứ hai, giải quyết đúng đắn quan hệ giai cấp - dân tộc

Lý luận mácxít về dân tộc nói chung và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng khẳng định, giữa dân tộc và giai cấp có mối quan hệ rất chặt chẽ. Để giải quyết triệt để tình trạng áp bức dân tộc cần khắc phục triệt để căn nguyên dẫn đến tình trạng đó, đó là nạn áp bức giai cấp. Tuy nhiên, cần lưu ý ý kiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, rằng, cuộc đấu tranh giai cấp trước hết diễn ra trên địa hạt dân tộc nên giai cấp công nhân trước hết phải đủ sức đại diện cho dân tộc, phải “tự mình trở thành dân tộc”. Do đó, ngoài mục tiêu giai cấp, nó cần và phải giải quyết mục tiêu dân tộc.

Bài học lịch sử cho thấy, nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập cho dân tộc, vững bước tiến lên xây dựng chế độ XHCN. Trong công cuộc đổi mới, việc giải quyết đúng đắn quan hệ giữa giai cấp và dân tộc đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. “Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó càng khẳng định rằng, Đảng ta không chỉ đại diện cho giai cấp mà còn là người đại diện chân chính cho dân tộc. Do đó, để tiếp tục đưa đất nước tiến lên cần tiếp tục kiên định mục tiêu giai cấp, đồng thời “Bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(7) nhằm nâng cao đời sống mọi mặt của người dân, tăng cường nội lực dân tộc, đồng thời giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đẩy nhanh quá trình thực hiện các mục tiêu của CNXH.

Thứ ba, Đảng phải xứng đáng là người đại diện cho lợi ích chân chính của dân tộc

Xứng đáng trở thành người đại diện chân chính cho lợi ích của giai cấp và của dân tộc là mục tiêu, là phương châm hành động của Đảng ta, đồng thời là yêu cầu khách quan nhằm giữ vững và tăng cường vai trò của một chính đảng cộng sản cầm quyền. Để hoàn thành sứ mệnh vẻ vang ấy, nhất thiết Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Muốn vậy, không có sự lựa chọn nào khác, Đảng phải tự chỉnh đốn, tự phát huy nội lực, tự trưởng thành và phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Vấn đề này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập nhiều lần. Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn: để “chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta cũng khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”(8).

Thứ tư, kiên định nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã thể hiện rõ mục đích cuối cùng của người cộng sản là xóa bỏ mọi hình thức áp bức giữa con người với con người và giữa các dân tộc để con người hoàn thiện chính mình và bộc lộ nhân tính một cách tự do. Tư tưởng rất đúng đắn và hết sức nhân đạo trên đây ngày nay đã được long trọng ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng khác. Bình đẳng dân tộc đã trở thành một quyền dân tộc cơ bản, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thừa nhận. Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù việc bảo đảm các quyền cơ bản của dân tộc đã có những bước tiến dài, song ách áp bức dân tộc vẫn tồn tại, nhiều dân tộc nhỏ yếu vẫn bị các nước lớn chèn ép, do đó cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ nhằm bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản vẫn cần được thúc đẩy.

Với Việt Nam, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng cơ bản của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhất quán chủ trương thiết lập quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các dân tộc trên thế giới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”(9).

Trong nội bộ quốc gia - dân tộc, chúng ta nhất quán thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Kiên trì nguyên tắc, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”(10).

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế diễn ra quyết liệt, nhất là giữa các nước lớn, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Thực tiễn chính trị hiện đại cho thấy, nhiều dân tộc nhỏ yếu bị áp lực trong việc lựa chọn mục tiêu, con đường để phát triển. Nếu thiếu sự độc lập, tự chủ, có thể những nước này sẽ trở thành công cụ của các cường quốc và phải gánh chịu nhiều hệ lụy tiêu cực cho dân tộc mình. Trong bối cảnh đó, thái độ đúng đắn nhất là kiên trì theo đuổi nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp, xung đột trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, các công ước và thỏa thuận quốc tế, đồng thời kiên quyết lên án mọi hành vi sử dụng bạo lực hay đe dọa sử dụng bạo lực trong quan hệ quốc tế, phấn đấu cho một thế giới công bằng, bình đẳng hơn giữa các dân tộc, các quyền dân tộc cơ bản được bảo đảm. Theo đó, Việt Nam “không chọn phe mà chọn công lý, lẽ phải”. Đó là thái độ đúng đắn nhất trong bối cảnh thế giới rất phức tạp hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 543 (tháng 5-2023)

Ngày nhận bài: 18-4-2023; Ngày bình duyệt: 08-5-2023; Ngày duyệt đăng: 22-5-2023.

 

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.14.

(2), (3), (4), (5), (6) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.603, 624, 611, 624, 623-624.

(7), (8), (9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110, 191, 161, 170.


SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VÀ “LÁ BÀI NHÂN QUYỀN”

     Tiến bộ về khoa học và công nghệ, sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát. Bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau, như xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế lớn trong đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực tinh hoa cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, khủng bố, biểu tình, bạo loạn đối với Việt Nam có thể được thực hiện tinh vi hơn.

    Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.

    Đồng thời các hội, nhóm, tổ chức phi chính phủ nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam; gắn viện trợ nhân đạo với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận…. Hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án với những mỹ từ như “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ các đối tượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và số đối tượng chống đối trong nước gia tăng hoạt động. Nhiều tổ chức như Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL), Freedom House (FH)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.

    Trong thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, danh tiếng và hình ảnh tích cực của một quốc gia ngày càng được coi trọng, thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế bởi hình ảnh quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ quốc tế mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như năng lực cạnh tranh của đất nước. Do vậy, việc tạo dựng, quảng bá, nâng cao hình ảnh quốc gia ngày càng được các nước chú trọng như một chiến lược sức mạnh mềm trong môi trường quốc tế nhiều biến đổi.

    Thông qua nền tảng số, bè bạn quốc tế đã biết đến Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, nay trở thành một Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ kinh tế thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; có vai trò, vị thế ngày càng nổi bật trong khu vực và trên thế giới; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO..

    Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới.