Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

“ĐÂU CÓ GIẶC LÀ TA CỨ ĐI”

 "Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ/Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/Mắt ta sáng, chí căm thù bảo vệ đồng quê ta tiến bước/Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi..."-Lời bài hát “Hành quân xa” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận hơn 60 năm qua đã vang lên hùng tráng, tự hào trong những chặng đường hành quân của các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ. Ít người biết, bài hát được sáng tác rất nhanh, chỉ khoảng một giờ đồng hồ, khi tác giả Đỗ Nhuận hành quân cùng bộ đội tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Từ trước Chiến dịch Đông-Xuân 1953-1954, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã ấp ủ ý định sáng tác một bài hành khúc cho chiến sĩ vừa hành quân vừa hát. Nhưng dự định mãi vẫn chưa viết ra được. Trong một khóa học chính trị, được gặp Bác, Đỗ Nhuận bày tỏ băn khoăn với Bác về việc sáng tác hành khúc. Bác khuyên: “Theo Bác thì chú cứ sáng tác thế nào cho đông đảo cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thích là được”.
Câu nói giản dị của Bác đã có sức gợi mở lớn đối với Đỗ Nhuận. Một lần, ông cùng Đại đội 267, Tiểu đoàn 54 (nay là Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102) hành quân lên Điện Biên Phủ. Lúc đó, không ai biết mình có vinh dự được tham gia Chiến dịch Trần Đình (mật danh của Chiến dịch Điện Biên Phủ). Bộ đội hành quân mà không biết sẽ tập kết ở đâu. Họ cùng nhau bàn luận, phán đoán ý đồ tác chiến của cấp trên. Bỗng một người trong tốp nói: "Thôi, khỏi cần biết, đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi". Thế là câu nói tình cờ ấy trở thành tứ thơ để Đỗ Nhuận phát triển thành ca từ bài “Hành quân xa”. Và bài hành khúc nổi tiếng đã tập trung và làm nổi rõ chủ đề tư tưởng "đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi". Có thể nói đây là một sáng tác mẫu mực cho thể hành khúc. Bài hát được viết ở thể một đoạn gồm bốn câu nhạc rất cân đối, vuông vức. Âm vực toàn bài được khống chế trong vòng một quãng 8 là quãng lý tưởng đối với quảng đại quần chúng vì dễ hát. Tuy vậy, do cách sắp đặt các vòng hòa âm và giai điệu có sự biến động ít nhiều về tiết tấu mà bài hát giản dị nhưng vẫn phong phú về màu sắc, không bị đơn điệu.
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận sinh năm 1922, quê ở Cẩm Bình, Hải Dương. Ông là Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về âm nhạc. Ca khúc đầu tiên ông sáng tác là "Trưng Vương". Sau Cách mạng Tháng Tám, ngay khi Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945) ông đã viết ca khúc "Tiếng súng Nam Bộ". Ca khúc "Đoàn lữ nhạc" của ông cũng được phổ biến rộng rãi trên cả nước. Bên cạnh ca khúc “Hành quân xa”, ông còn có nhiều bài hát nổi tiếng về Chiến thắng Điện Biên Phủ như: “Giải phóng Điện Biên”, “Trên đồi Him Lam”, “Chiến thắng Tây Bắc”.../.
ST


TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng không chỉ “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá” của Đảng và dân tộc ta mà còn cung cấp những cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Người không chỉ bắt đúng bệnh, đưa ra đúng phác đồ điều trị, mà còn kê các phương thuốc đặc trị chứng bệnh tham nhũng của cán bộ, đảng viên.

Chủ nghĩa cá nhân - “bệnh mẹ” đẻ ra tham nhũng
Bệnh tham nhũng trong cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh diễn đạt trong một thuật ngữ chung nhất là tham ô. Người chỉ rõ bản chất của tham ô là hành vi “lấy của công làm của tư. Là gian lận, tham lam”, “tham ô là trộm cướp”. “Của công” chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp, phục vụ mục đích chung là giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Bất cứ hành vi nào lấy “của công” làm “của tư” cũng đều là hành vi tham ô... Trong “Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã chỉ ra 6 “lầm lỗi rất nặng nề” của cán bộ cần phải ra sức sửa chữa đó là: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, kiêu ngạo. Trong đó, Người đặc biệt cảnh báo và lên án hành vi “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức...”.
Thực tiễn cho thấy, Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng Cộng sản Việt Nam có vinh dự lớn lao trở thành Đảng cầm quyền. Thắng lợi của của cuộc cách mạng đó là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh, sức sáng tạo phi thường và “tư cách của một Đảng cách mệnh chân chính”. Tuy nhiên, nước nhà giành được độc lập chưa lâu, chính quyền cách mạng non trẻ lại phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn của giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; tình cảnh đất nước hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”. Bên cạnh tập trung giải quyết những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền dân chủ, nhân dân, Đảng ta lại phải đối phó với giặc nội xâm còn nguy hại hơn đó là chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Người khẳng định, chủ nghĩa cá nhân là bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh con nguy hiểm; một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm khác. Trong số những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra, tham nhũng là căn bệnh nguy hiểm nhất, là “hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trộm cắp tiền bạc của Nhân dân, tổn hại kinh tế của Chính phủ, cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hơn nữa”. Người cũng nhắc lại lời cảnh báo của V. I. Lênin: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót… đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng… Phải lập tức đề nghị một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ (ăn hối lộ, tặng hối lộ, và những cách hối lộ khác)”. Không phải ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Chính phủ lại dám thẳng thắn phê phán gay gắt như thế đối với những khuyết điểm, sai lầm của cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng, đây là những lỗi lầm đặc biệt nghiêm trọng, có hại cho dân, cho nước cần phải ra sức kiên trì sửa chữa. Đặc biệt, sự phê phán không chỉ bằng văn thư hành chính nội bộ mà còn công khai lên báo chí công luận, như để tự phê bình, tự kiểm điểm trước nhân dân. Việc chỉ ra đích danh tham ô là hành vi “trộm cướp”, “là mật thám, phản quốc” đủ để quần chúng thấy rõ quan điểm, thái độ của Đảng ta không chấp nhận sự tồn tại của những hành vi ấy trong đời sống chính trị của Đảng và toàn dân. Đồng thời. là sự khởi đầu cho việc hình thành một lối sống văn hóa trong Đảng, một tập quán chính trị tiến bộ và là tiêu chí quan trọng của một đảng “là đạo đức, là văn minh” - đã là cán bộ, đảng viên phải trong sạch, phải nói không với tham nhũng.
Hồ Chí Minh không chỉ dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, chỉ rõ thực trạng tham nhũng bằng thái độ kiên quyết không “giấu giếm khuyết điểm” mà quan trọng hơn Người đặt niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi tất yếu trong cuộc đấu tranh đó. Đó là niềm tin cách mạng và khoa học chứ không phải là “ý niệm tuyệt đối” trong giáo lý tôn giáo; thể hiện ý chí quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sai lầm, chỉ ra con đường và biện pháp diệt trừ tham nhũng. Bởi vì, đó là danh dự, lương tâm của những người cộng sản, nếu không làm được như vậy thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Tuy nhiên, cũng cần bàn thêm ở đây, để đấu tranh diệt trừ tham nhũng mà không gây ra hoang mang cho những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm và thức tỉnh cán bộ đảng viên “cải tả quy chính”, theo Hồ Chí Minh phải hết sức thận trọng, bình tĩnh, tỉnh táo và mưu lược. Nghĩa là, phải có chiến lược phòng chống tham nhũng cụ thể, xác định rõ quyết tâm, kiện toàn tổ chức, bố trí lực lượng, định ra phương pháp, phương tiện đấu tranh, tuyệt nhiên không phải là hành động tự phát, nhất thời. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ắt phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên”. Trên cơ sở nhận diện đúng nguyên nhân nảy sinh tham nhũng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đúng “phác đồ điều trị” để phòng, chống tham nhũng.
Tự phê bình và phê bình - “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham nhũng
Trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam cũng như trong quan niệm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam không đơn thuần là một Đảng chính trị, thực hiện các chức năng tổ chức, lãnh đạo giai cấp mà Đảng luôn là một cơ thể sống hoàn chỉnh, có đạo đức và trí tuệ - Đảng là “đạo đức, là văn minh”. Vai trò lãnh đạo của Đảng là to lớn, tổ chức của Đảng là chặt chẽ, kỷ luật, đường lối của Đảng là sáng suốt, đúng đắn; đảng viên của Đảng là những người ưu tú nhất song không phải là Đảng không có những sai lầm, khuyết điểm. Tuy nhiên, những sai lầm, khuyết điểm của Đảng là có thể khắc phục, sửa chữa được, vì Đảng có chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường, xác định rõ tôn chỉ mục đích là phục vụ nhân dân, đặc biệt là có phê bình và tự phê bình. Tự phê bình và phê bình giống như chiếc gương soi, như người bạn đồng hành, soi đường, chỉ lối cho mỗi cán bộ, đảng viên trong mỗi bước đi để tránh “vết xe đổ” của chính mình và của người khác. Lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra quy luật ấy. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định mục đích tự phê bình và phê bình là để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, giữ gìn đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Hồ Chí Minh khẳng định, tự phê bình và phê bình chính là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham nhũng. Để tự phê bình và phê bình đem lại kết quả phải “khéo dùng cái vũ khí sắc bén” ấy, để không bị kẻ xấu lợi dụng vào việc công kích, nói xấu, triệt hạ nhau. Khi gặp khó khăn thì tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động, dũng cảm vượt qua khó khăn. Khi thuận lợi thì tự phê bình và phê bình, để nhận rõ thách thức ở phía trước, không chủ quan “ngủ quên trên vòng nguyệt quế”. Khi mắc khuyết điểm, sai lầm, kể cả tội lỗi xấu xa, đê tiện nhất thì “Phê bình và tự phê bình như uống thuốc xổ. Xổ rồi thì phải uống thuốc bổ. Tháo xe đạp ra chùi cho sạch bụi, lúc lắp vào phải cho dầu mỡ, xe mới chạy được”. Tự phê bình và phê bình là một vấn đề rất nhạy cảm, đụng chạm đến từng cá nhân và tổ chức. Tâm lý của con người là thích được khen hơn bị chê. Mọi người dễ cho rằng tự nói ra khuyết điểm, tự nhận khuyết điểm nghĩa là tự thừa nhận sự non kém của mình. Điều này dễ liên lụy đến uy tín, chức tước, địa vị và thứ bậc nghề nghiệp, vì “người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng muốn tự phê bình và phê bình căn bệnh tham ô đòi hỏi phải có hai yếu tố đặc biệt quan trọng đó là thái độ và phương pháp đúng.
Thứ nhất, thái độ đúng là yếu tố rất quan trọng giúp ngăn ngừa tham nhũng ngay khi nó còn trong trứng nước, thể hiện ở tinh thần cầu thị, lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông chia sẻ, dũng cảm, kiên trì đấu tranh trên tình đồng chí thương yêu, giúp đỡ nhau. Nếu thái độ không đúng dễ dẫn đến bao che, giấu giếm khuyết điểm, dễ gây hiềm khích, mất đoàn kết, mất niềm tin đối với đồng chí mình. Nó càng đặc biệt nguy hại khi tự phê bình và phê bình hành vi tham ô bị lợi dụng làm bình phong cho ai đó vì mưu đồ cá nhân, vì lòng hẹp hòi, đố kỵ, hòng hạ bệ đồng chí mình gây mất đoàn kết nội bộ, làm hoang mang mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, tự phê bình và phê bình “phải ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Hồ Chí Minh cũng lưu ý, thái độ khoan dung, nhân ái cần phù hợp với từng đối tượng cụ thể, với tính chất mức độ của khuyết điểm, sai lầm, tuyệt đối không được cào bằng; phải kiên quyết xét rõ công - tội, không thiên tư, thiên vị. Với những cán bộ, đảng viên biết ăn năn, hối cải, Đảng cần khoan dung, độ lượng tạo cơ hội cho họ sửa chữa khuyết điểm, sai lầm. Quan điểm trên không chỉ thể hiện bản chất nhân văn của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn khơi gợi ý thức tự giác ở mỗi cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Thứ hai, phương pháp đúng - đây là vấn đề mấu chốt nhất cần phải có. Theo Hồ Chí Minh, phương pháp hiệu quả nhất đó là phải được duy trì thường xuyên và trên cơ sở đề cao trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bài “Tự phê bình”, Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm”. Trong sinh hoạt, mỗi cán bộ, đảng viên phải chỉ ra cho đồng chí mình những tác hại, nguyên nhân dẫn đến khuyết điểm sai lầm. Đồng thời, phải thường xuyên quan tâm hướng dẫn, động viên, kiểm tra, theo dõi quá trình sửa chữa khuyết điểm, sai lầm của đồng chí, đồng nghiệp. Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán các biểu hiện hình thức, thiếu nhất quán “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, nặng về hô hào khẩu hiệu, bệnh thành tích… sẽ làm giảm hiệu quả, đôi khi phản tác dụng của việc tự phê bình và phê bình. Để đề cao trách nhiệm nêu gương theo Người cần phải chú trọng nêu gương trong Đảng trước, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ cao cấp. Người chỉ rõ: “Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước”. Bởi vì, “uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”.
Việc tự phê bình và phê bình hành vi tham ô phải gắn liền với những điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh của từng cá nhân trên từng cương vị công tác. Ở mỗi đơn vị, trong từng hoàn cảnh, nội dung, cách thức tiến hành phải phù hợp với điều kiện khi thực hiện tự phê bình và phê bình. Những cán bộ, đảng viên có tinh thần cầu thị sẽ thấy việc tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay để trị bệnh tham ô. Còn đối với những trường hợp suy thoái, nhất là tha hóa, biến chất thì việc phê bình không còn nghĩa lý gì. Do vậy, chỉ phê bình thôi chưa đủ mà cần kết hợp với các biện pháp khác, nhất là việc kiểm soát quyền lực.
Kiểm soát quyền lực - “thanh bảo kiếm nhiệm màu” phòng, chống tham nhũng
Trong điều kiện đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề kiểm soát quyền lực khi trao cho cán bộ, đảng viên. Bởi vì, “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Do đó, nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha” bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Theo Hồ Chí Minh, muốn kiểm soát quyền lực phải có hai điều: “Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường xuyên làm. Hai là, người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”.
Để kiểm soát quyền lực thì việc lựa chọn cán bộ phụ trách kiểm tra, giám sát, kiểm soát là yêu cầu quan trọng bậc nhất. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải chú trọng lựa chọn những người biết đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, phải có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và “ít lòng tham muốn vật chất”, không vì cảnh nghèo mà thay lòng đổi dạ sinh ra bất liêm. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Theo Người, đây chính là căn cứ quan trọng bậc nhất trong đánh giá, lựa chọn cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát. Đồng thời, phải lựa chọn những người có đủ uy tín, kinh nghiệm, năng lực trình độ để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực. Không phải gặp việc gì, gặp ai cũng có thể phái đi kiểm tra, giám sát, kiểm soát được. Do đó, Hồ Chí Minh cho rằng: cán bộ phụ trách công tác kiểm tra trước hết phải là người lãnh đạo và “người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm và giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra”. Trong công tác kiểm tra, người lãnh đạo cần chú trọng xây dựng một đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và phải chịu trách nhiệm đối với công tác kiểm tra của mình. Đồng thời, Hồ Chí Minh phê phán rất nghiêm khắc những người lãnh đạo, cán bộ kiệm tra mắc bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy: “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”.
Song song với việc lựa chọn cán bộ, để đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát quyền lực thực sự là “thanh bảo kiếm nhiệm màu” trong phòng, chống tham nhũng đòi hỏi phải có phương pháp đúng, nghĩa là kiểm tra, kiểm soát phải có hệ thống và sát thực tiễn. Mục đích của việc kiểm tra, kiểm soát quyền lực nói chung, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng nói riêng là “để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”, tuyệt nhiên không phải là hành động “bới bèo ra bọ, quét nhà ra rác” rồi tìm cách hạ uy tín, hạ bệ nhau. Đối tượng kiểm tra theo Hồ Chí Minh bao gồm: Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy. Trong quá trình kiểm tra không nên chỉ căn cứ vào các báo cáo, mà phải sâu sát thực tiễn đi đến tận nơi. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, hiệu quả công việc chính là thước đo đánh giá kết quả sử dụng quyền lực ủy thác. Thông qua công tác kiểm tra để xem những nghị quyết đó đã thực hành được đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, nhân dân có ra sức tham gia hay không. Trên cơ sở đó vừa phát huy ưu điểm, phát hiện cái mới, cái tốt hơn nhằm điều chỉnh phương thức lãnh đạo sát hợp hơn; đồng thời, ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa dân, không sâu sát thực tiễn trong tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Ngoài ra, để kiểm tra, kiểm soát quyền lực không chỉ dựa vào lực lượng chuyên trách mà quan trọng nhất cần phải dựa vào tai mắt của nhân dân. Trên thực tế, hầu hết các vụ việc tham nhũng đều do nhân dân phát hiện và tố giác. Muốn phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, kiểm soát quyền lực, theo Hồ Chí Minh, Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; phải công khai mọi hoạt động của Nhà nước; phải hình thành các thiết chế dân chủ để mọi người dân “biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Đây chính là cơ sở để người dân tham gia kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, của mọi cán bộ, đảng viên trong Nhà nước. Trên cơ sở đó, các hành vi tham nhũng dù tinh vi đến đâu cũng không thể che mắt nhân dân. Cán bộ phụ trách công tác kiểm tra phải thường xuyên gần gũi dân, lắng nghe dân, bảo vệ dân và học hỏi dân để phát hiện tiêu cực, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra cần phải công khai trừng trị cán bộ, đảng viên đã tha hóa, biến chất, suy thoái để răn đe, cảnh tỉnh và nêu gương “tự chỉnh đốn” trước quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, Đảng không dũng cảm cắt bỏ ung nhọt, sâu bệnh sẽ rất khó để phòng ngừa tham nhũng. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin ân giảm án tử hình của Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu được coi là điển hình của tinh thần “thượng tôn” pháp luật, đức trị kết hợp với pháp trị - thực sự có sức mạnh răn đe đối với những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tha hóa quyền lực vào thời điểm lúc bấy giờ.
Giáo dục đạo đức công dân – “chất đề kháng hữu hiệu” để phòng, chống tham nhũng
Đạo đức công dân là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi của công dân trong quan hệ với Nhà nước, nó được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, sức mạnh của dư luận xã hội và pháp luật. Hồ Chí Minh coi giáo dục đạo đức công dân là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Bởi vì, đạo đức công dân chính là nền tảng tinh thần định hướng, dẫn dắt công dân hướng tới những giá trị dân chủ mới, đề kháng với những biểu hiện phi dân chủ, ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy nhà nước, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng. Nó được thể hiện ở hai khía cạnh: tạo ra môi trường chính trị - xã hội trong sạch, lành mạnh và tạo ra sức đề kháng từ bên trong để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng.
Xét ở khía cạnh thứ nhất, bản chất của đạo đức công dân chính là việc đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với nhà nước. Với tư cách là người chủ quyền lực, khi đạo đức công dân được nâng cao họ sẽ sáng suốt lựa chọn những đại biểu ưu tú để “ủy thác quyền lực”, tránh hiện tượng trao nhầm quyền lực dẫn đến các hành vi tham nhũng và các căn bệnh xấu xa, hư hỏng khác. Đồng thời, nó tạo ra dư luận xã hội tích cực mà ở đó các hành vi tham nhũng bị phát hiện, theo dõi, lên án và phê phán kích liệt vì tham nhũng là ăn cắp, là “tội lỗi đê tiện nhất”. Hồ Chí Minh khẳng định: “...nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho”. Mặt khác, trong xã hội dân chủ, chuẩn mực đạo đức công dân quan trọng nhất đó là “tuân theo pháp luật nhà nước”, thể hiện ở tinh thần “thượng tôn pháp luật”, không ai được phép đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy mọi công dân tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng. Theo đó, kể từ nay, bất cứ ai, dù giữ cương vị gì trong nhà nước, nếu phạm phải tham nhũng thì đều bị nghiêm trị.
Xét ở khía cạnh thứ hai, cán bộ, đảng viên của Đảng là người thực hiện chức năng kép, vừa là người thừa hành quyền lực ủy thác của nhân dân vừa là những “công dân đứng đắn”, “công dân tốt”, “công dân kiểu mẫu”. Theo Hồ Chí Minh: sự tha hóa đạo đức của đối tượng này thể hiện rõ rằng họ “Chẳng những không làm tròn nhiệm vụ của người cán bộ, mà còn không làm tròn bổn phận của người công dân; đã đặt lợi ích riêng của cá nhân lên trên lợi ích chung của Nhà nước”. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên toàn Đảng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Do đó, việc tu dưỡng đạo đức công dân, biểu hiện cao nhất ở tuân thủ tính nghiêm minh của pháp luật chính là chất đề kháng hữu hiệu giúp cán bộ, đảng viên “không muốn tham nhũng” và “không dám tham nhũng”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mọi hành vi bất liêm sẽ dễ dàng bị phát hiện, bị tố giác nếu cán bộ, đảng viên không đề cao nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình. Trách nhiệm nêu gương của những “công dân kiểu mẫu” không chỉ thể hiện trong công tác mà còn biểu hiện sinh động trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình và nơi cư trú. Dự luận cũng đồng tình theo quan điểm: “Bộ mặt đạo đức thực sự của con người biểu hiện trong cách sống ở gia đình. Người ích kỷ nhỏ nhen và độc đoán trong gia đình không thể là một công dân chân chính”. Càng gần dân, cọ sát với dân càng học hỏi được ở nhân dân nhiều điều hay, nhiều kiến thức của cuộc sống bổ ích và chắc chắn sẽ càng vì dân, tránh xa các hành vi tham nhũng.
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành tựu to lớn, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Tuy nhiên, sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ. Tình trạng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” từ chỗ chỉ là “một bộ phận” đã lây lan sang “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên; làm sói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng…
Thực tế, trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, “đã thi hành kỷ luật 2209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý cả đương chức và nghỉ hưu”. Quyết tâm của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ trong lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Chính phủ với địa phương: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, trái lại rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người”.
Quan điểm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng” được thể hiện rõ trong phát biểu của người đứng đầu Đảng: “Tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm những việc đang dở dang, những khâu còn yếu, những địa bàn trọng điểm. Toàn Đảng, toàn Dân quyết tâm. Không có chuyện dừng lại hay ngập ngừng. Mà cũng không thể ngừng lại được. Đây là yêu cầu của cách mạng, yêu cầu, tình cảm của Nhân dân, mong muốn của Đảng ta. Phải khẳng định quyết tâm ấy. Còn trong chúng ta có ai dao động, ngập ngừng thì tự giác báo cáo, xin tự thôi đi!”.
Lịch sử nhân loại đã có hàng nghìn năm bàn đến nạn tham nhũng dưới các chế độ nhà nước, với nhiều tên gọi khác nhau. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cha ông ta còn lưu truyền một lễ hội quan trọng thường được tổ chức dịp đầu năm - Lễ hội “Thề không tham nhũng”. Điều đó nói lên rằng, cũng giống như phần còn lại của thế giới, nhân dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận hành vi tham nhũng trong đời sống xã hội. Đồng thời, cũng cho thấy tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài, gian khổ của cuộc đấu tranh ấy. Bằng những tư tưởng đúng đắn, sáng tạo, độc đáo, tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng đã, đang và mãi mãi là kim chỉ nam định hướng cho toàn Đảng và toàn dân tộc trong cuộc “chiến đấu khổng lồ” nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, để Đảng ta thực sự xứng đáng với sứ mệnh thiêng liêng, cao cả và vĩ đại - là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”./.
ST


KHẮC PHỤC NHỮNG BIỂU HIỆN LỆCH LẠC TRONG HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

Quán triệt và triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, việc học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền nếp trong tổ chức thực hiện và đạt nhiều kết quả quan trọng, là cơ sở để thực hiện có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tuy nhiên, trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn một số biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn về vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này. Nguyên nhân là do một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại học, lười học, lười nghiên cứu; trong nghiên cứu không có phương pháp khoa học, hoặc không nghiên cứu thấu đáo, nghiên cứu lý luận thiếu tính thực tiễn, minh họa đường lối, quan điểm nhưng chưa cắt nghĩa đủ độ sâu sắc với vấn đề thực tiễn đặt ra, dẫn tới hiểu và vận dụng không đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này-hoặc vô tình hay hữu ý-đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch, sai trái, cơ hội chính trị lợi dụng nhằm chống phá Đảng.
Để học tập, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng, thích ứng với tình hình mới và đạt hiệu quả thiết thực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cần khắc phục những sai lệch sau:
Thứ nhất, khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng; xem nhẹ lý luận, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện của bệnh ngại học, lười học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập. Hoặc là sau một thời kỳ học tập tại chức có cán bộ phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”.
Nhận thấy những nguy hại của căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, Đảng ta cũng đã chỉ rõ, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, phải “khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.
Thứ hai, khắc phục biểu hiện tách rời lý luận với thực tiễn; không thấy sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Người có nguồn gốc lý luận chủ yếu từ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngày 12-7-1946, trả lời phóng viên trong cuộc họp báo tại biệt thự Roayan Môngxô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập hoặc “tách mình” ra khỏi quan điểm, lập trường tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, đúng như Người đã nói: “Cố gắng vận dụng những nguyên lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong hoàn cảnh cụ thể của nước mình”.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu của sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi vì Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, đặc biệt là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt nền tảng vững chắc cho những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm và phương pháp chỉ đạo cách mạng. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây để hình thành tư tưởng của mình.
Bản chất của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, những quan điểm tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, không nhận thức được sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hoặc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin đều sai trái, có dụng ý xấu.
Thứ ba, khắc phục khuynh hướng cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh “không phải là một hệ thống” mà chỉ là những quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người.
Cần phải khẳng định rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là bao quát nhiều lĩnh vực, nhưng không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về mục đích cách mạng: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: Toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: Động viên toàn dân, tổ chức toàn dân… Do đó, yêu cầu phương pháp luận khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trên bình diện tổng thể hay từng bộ phận là phải luôn luôn quán triệt mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố, các bộ phận khác nhau trong sự gắn kết tất yếu của hệ thống tư tưởng đó quanh hạt nhân cốt lõi là tư tưởng độc lập, tự do.
Nhận thức như vậy trong nghiên cứu và vận dụng sẽ tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn hoặc quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
Thứ tư, khắc phục khuynh hướng đơn giản hóa, tầm thường hóa hoặc đi sâu vào tầm chương trích cú, xa rời thực tiễn cách mạng.
Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đạt đến sự hòa quyện nhuần nhuyễn lý trí với tình cảm, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân. Trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét triết lý phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc, vừa quốc tế. Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại.
Khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề quan trọng là ở chỗ nhận ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua sự nghiệp cách mạng của Người. Đừng cố tìm và không nên tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có sẵn, vì như vậy cũng vô hình trung là xuyên tạc, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ năm, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều; đồng thời bảo vệ, phát triển và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ ở những nguyên lý, những quan điểm do các lãnh tụ nêu lên mà còn ở sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển của các thế hệ tiếp theo. Chính sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển đó làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn và ngày càng có sức mạnh to lớn.
Có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh là một nhà lý luận-thực tiễn. Người xây dựng lý luận, vạch cương lĩnh, đường lối, chủ trương cách mạng và trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Người tổng kết, bổ sung để hoàn chỉnh và phát triển, cho nên tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh luôn sáng tạo, không lạc hậu, giáo điều. Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ căn cứ vào các tác phẩm, bài viết mà cần coi trọng hoạt động thực tiễn của Người, thực tiễn cách mạng dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng do Người đứng đầu.
Hơn nữa, Hồ Chí Minh có một phong cách nói và viết rất ngắn gọn không theo lối viết kiểu hàn lâm. Vì vậy, chỉ căn cứ vào bài viết, bài nói, tác phẩm của Người là chưa đầy đủ, mà phải thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của Người. Vấn đề đặt ra là để phù hợp với chính những lời nói và việc làm của C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh, trong nghiên cứu khoa học cũng như vận dụng vào hoạt động thực tiễn, chúng ta cần chú trọng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ: Tuyệt đối trung thành, vận dụng sáng tạo, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại, chủ nghĩa giáo điều.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao trình độ tư duy lý luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước ta trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó đặt ra yêu cầu mới là tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhất thiết phải nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng đó phù hợp, gắn bó sống động với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình mới.

ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Gần 40 năm qua kể từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó có việc bảo đảm nhân quyền góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước. Việt Nam cũng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và luôn được đánh giá là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam.

Nhiều năm trở lại đây, vấn đề dân chủ, nhân quyền là một trong những mục tiêu trọng tâm mà các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội, phản động thường xuyên lợi dụng, khai thác để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Theo đó, một số phúc trình, báo cáo về nhân quyền thế giới đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, các đối tượng chống phá không ngừng rêu rao về cái gọi là “tù nhân lương tâm”, từ đó lợi dụng, đòi quyền can thiệp tình hình nội bộ Việt Nam, cổ súy, kích động những đối tượng vi phạm pháp luật, bất mãn và cơ hội chính trị tố cáo Việt Nam vi phạm quyền con người.
Chẳng hạn, báo cáo của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam (VNHR) – một trong những tổ chức phản động người Việt lưu vong tại California, Mỹ đã dựng lên việc hiện có gần 300 “tù nhân lương tâm” đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam và gần 80 người bị chính quyền bắt giữ trong năm 2021.
Một số đối tượng được gọi tên và tung hô trên các diễn đàn như “anh hùng” vì đã dũng cảm đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng trên thực tế lại là các đối tượng thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước, bôi xấu chế độ hoặc vi phạm pháp luật nhà nước.
Ngoài ra, cũng phải nhắc tới một số cá nhân vì bất mãn cá nhân hoặc mục đích riêng thường xuyên trả lời phỏng vấn báo đài, nước ngoài xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; thậm chí tập hợp lực lượng là các phần tử, tổ chức trong nước và ngoài nước, hướng dẫn kỹ năng hoạt động chống phá chính quyền.
Tổ chức khủng bố Việt Tân còn dựng lên “giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”, đồng thời coi đây như “một nỗ lực đóng góp cụ thể vào công cuộc đấu tranh cho nhân quyền và tự do của dân tộc Việt Nam”!
Với chiêu bài cổ súy, bảo vệ cho những hành vi xem thường luật pháp, gây rối trật tự xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá chế độ, các đối tượng chống đối trong nước móc ngoặc với các thế lực thù địch bên ngoài tìm mọi cơ hội để lan truyền những thông tin ngụy tạo, sai sự thật hòng đánh lừa dư luận về những sai lầm khuyết điểm của các tổ chức cá nhân, lên án “sự yếu kém của chế độ”, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Mục đích mà các đối tượng hướng đến là nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam; kích động chia rẽ làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình” và đích cuối cùng là nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Cần khẳng định rằng, trong tiến trình xây dựng nền văn minh, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của luật pháp.
Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người.
Trong đó, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Các luận điệu chống phá mà những đối tượng cơ hội, phản động, các thế lực thù địch đưa ra không dựa trên những thông tin chính thống, có kiểm chứng mà dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén có dụng ý, với động cơ chính trị rõ ràng để bôi nhọ Việt Nam.
Như cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự bịa đặt, sai lệch về pháp lý, bởi lẽ khi có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chịu hình phạt theo quyết định có hiệu lực của tòa án.
Ở Việt Nam hoàn toàn không có “tù nhân lương tâm”, chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật và bị các cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc kích động hay ra sức bảo vệ các đối tượng gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự cổ súy cho những kẻ vi phạm pháp luật bị kết án nhưng không chấp hành hình phạt, đội lốt dân chủ, lợi dụng dân chủ để chống phá đất nước, chuyển hóa chế độ xã hội tại Việt Nam.
Có thể thấy rất rõ mưu đồ này qua việc tổ chức khủng bố Việt Tân ra sức tung hô, đánh bóng và lấy tên giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng – vốn là tên một thành viên của tổ chức này, song trên thực tế lại là đối tượng có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật.
Ngày 18/10, tại TP Vinh (Nghệ An), Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999. Quá trình xét xử tại phiên phúc thẩm tiếp tục làm rõ Lê Đình Lượng là đối tượng phản động đặc biệt nguy hiểm; là đối tượng tích cực tuyên truyền, lôi kéo các đối tượng có tư tưởng chống đối trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia vào tổ chức Việt Tân.
Do đó, tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo Lê Đình Lượng chịu mức án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế. Do đó, không ai bất ngờ khi giải thưởng Lê Đình Lượng được lập ra chỉ nhằm trao và cổ súy cho những “nhà hoạt động nhân quyền” cũng đều là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị tòa kết án.
Trên thực tế, ngay từ khi thành lập, Nhà nước Việt Nam luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu, và vấn đề này được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân một cách đầy đủ. Cụ thể tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… Pháp luật tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân nếu phù hợp tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc.
Đồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân có mục đích xấu, động cơ không trong sáng, viện cớ về quyền tự do dân chủ, nhân quyền nhưng lại chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng.
Với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đã có những nỗ lực không mệt mỏi trong nhiều năm qua để thúc đẩy và bảo đảm nhân quyền.
Nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các tổ chức của Liên hợp quốc đánh giá cao. Việt Nam xứng đáng với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Thời gian qua, Việt Nam tích cực tham gia và chủ trì các nghị quyết đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con người,… từ đó có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc.
Việt Nam luôn cầu thị và nỗ lực làm tốt hơn trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong nhiều báo cáo chính thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn đề cập trực tiếp về những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới.
Thực tế tuy đạt nhiều thành tựu về kinh tế-xã hội với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, được sự hỗ trợ, quan tâm từ Chính phủ nhưng nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên cơ sở vật chất các ngành giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, y tế… còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu đồng bộ, chưa thật sự sát với thực tiễn. Nhưng quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta là “không ai bị bỏ lại phía sau” và để đạt được điều đó cần sự chung sức, đồng hành, quyết tâm của toàn xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay xuất hiện những đối tượng có mục đích đen tối, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng, cố tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân; thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để không bị kẻ xấu dẫn dắt, tin nghe theo những luận điệu sai sự thật, mỗi người cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Các cá nhân trong điều kiện và khả năng thực tế cần tích cực tham gia đóng góp công sức vào quá trình phát triển của đất nước; chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Ý NGHĨA CỦA “LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN” ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

     Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh - không chỉ là lời hiệu triệu của non sông đất nước, mệnh lệnh trái tim chứa đựng một ý chí mãnh liệt, một quyết tâm cháy bỏng, thúc giục cả dân tộc vùng lên“thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” mà còn trở thành nền tảng vững chắc, ý nghĩa sâu sắc đối với công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam vùng đứng lên “ai có súng dùng súng, ai có gươm cầm gươm…”, quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã được phát huy lên tầm cao mới, sau 9 năm “Lời kêu gọi toàn quốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát ra, nhân dân Việt Nam muôn người như một, chung sức đồng lòng, cùng nhau làm nên một Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký vào Hiệp định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Lời kêu gọi ấy tiếp tục vang lên ở hai miền đất nước, thúc giục cả hai miền Nam, Bắc quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn đất nước năm 1975, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng CNXH.

    Cả nước hoà bình, thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thuận lợi để nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn muôn vàn khó khăn, thách thức trước mắt. Đất nước vừa có hoà bình vừa có chiến tranh ở hai đầu biên giới và bị bao vây cấm vận từ nhiều phía. Trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, Đảng ta chủ trương “Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH, không một phút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Và trong khi không một phút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH” . Vì vậy, cùng với phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta tiếp tục kế thừa và phát huy sức mạnh của cả dân tộc theo tinh thần Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, củng cố quốc phòng - an ninh - điều kiện để giữ vững hoàn bình, xây dựng thành công CNXH.

    Sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đã từng bước đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng, đạt nhiều thành tựu trong hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã tạo ra nền tảng vững chắc để dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thực hiện khát vọng Việt Nam hùng cường.

    Tuy nhiên, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều thách thức đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề bức xúc như mặt trái của kinh tế thị trường tác động sâu sắc đến lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức; tệ quan liêu tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, tìm mọi cách để phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, chống lại sự phát trển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội, tìm cách xóa bỏ sự lãnh đạo của tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Những vấn đề đó tác động trực tiếp, thường xuyên đến quá trình xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân giai đoạn cách mạng mới.

    Để khắc phục mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra, trong bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước hiện nay, Đảng ta bên cạnh tiếp tục phát huy giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 lên tầm cao mới và đẩy mạnh hơn nữa Cuộc vận động "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh", cổ vũ và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, không chỉ đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội mà còn chỉ ra kinh nghiệm sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

    Đảng ta chủ trương xây dựng nền QPTD vững mạnh vì mục đích hoà bình được đúc kết từ những bài học kinh nghiệm quí báu trong kho tàng lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc Việt Nam, đặc biệt được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Quan điểm “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng” đặt trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay như một “luật chơi” của thời đại tiếp tục gợi mở hướng vận dụng mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược, đòi hỏi những biện pháp ứng xử bang giao khôn khéo, mềm dẻo trong quan hệ đối ngoại, vừa biết “nhân nhượng” về sách lược để “thêm bạn, bớt thù”, tránh được các cuộc xung đột và chiến tranh, vừa giữ vững những nguyên tắc chiến lược cơ bản trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập mà không hoà tan vào dòng chảy của thế giới đương đại.

    Xây dựng nền QPTD vững mạnh vì mục đích hoà bình là chiến lược cơ bản, lâu dài của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Quan điểm chiến tranh nhân dân, QPTD là quan điểm cơ bản nhất trong đường lối quân sự của Đảng, thể hiện tập trung, sâu sắc quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng, quan điểm thực tiễn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm này xác định lực lượng quần chúng nhân dân và yếu tố chính trị - tinh thần là sức mạnh to lớn quyết định thắng lợi của chiến tranh. Tiếp tục chú trọng xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần, phát huy vai trò nhân tố con người, đồng thời từng bước đẩy mạnh hiện đại hoá lực lượng quốc phòng để tăng cường sức mạnh quốc phòng. Công cuộc xây dựng nền QPTD vững mạnh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục chú trọng xây dựng sức mạnh chính trị-tinh thần, phát huy vai trò nhân tố con người, đồng thời từng bước đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân và sức mạnh của nền QPTD, toàn diện.

    Tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng Việt Nam được xây dựng từ việc đúc kết những bài học kinh nghiệm của quá khứ, đồng thời xuất phát từ thực tiễn phòng thủ đất nước, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Điều đó cũng phù hợp với quan niệm hiện đại về quốc phòng, coi quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, bao gồm tổng thể các mặt hoạt động đối nội và đối ngoại, diễn ra trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ, quân sự… nhằm giữ vững hoà bình, ngăn chặn mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập dân tộc, đẩy lùi âm mưu gây chiến và nguy cơ chiến tranh, đồng thời sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù khi chúng phát động chiến tranh xâm lược.

    Đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” . Đây chính là sự khẳng định sức mạnh của quốc phòng toàn dân là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của hệ thống chính trị, trong đó, Quân đội và Công an làm nòng cốt. Mục đích xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta vì mục đích hoà bình, coi việc giữ vững hoà bình, ổn định để phát triển đất nước theo định hướng XHCN là mục đích tối cao, đồng thời, góp phần tích cực vào việc bảo vệ nền hoà bình trong khu vực và trên thế giới. Đó cũng là chiến lược tự vệ chủ động, kết hợp xây dựng với bảo vệ đất nước, thực hiện giữ nước ngay từ khi chưa có chiến tranh, tìm cách ngăn ngừa chiến tranh và phương án tốt nhất là không phải tiến hành chiến tranh, thực hiện ước vọng của cha ông ta từ ngàn xưa “tắt muôn đời chiến tranh”.

    Lòng yêu nước và tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của dân tộc Việt Nam ngời sáng trước họa xâm lăng hơn 77 năm trước từ “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ là cơ sở để xây dựng niềm tin vững chắc vào truyền thống yêu nước, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, phát huy ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế mà còn là nền tảng để phát triển nền quốc phòng toàn dân vững chắc - nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần, ngọn nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đồng thời “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” cổ vũ tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, bất kỳ khi nào, trong mọi tình huống, luôn phải đặt dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân ta, dân tộc ta được đặt trên nền tảng vật chất của công cuộc đổi mới, dựa trên thế và lực của đất nước được tạo lập nên gần 4 thập niên qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, sẽ là những yếu tố bảo đảm vững chắc cho cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.

LẬT TẨY BẢN CHẤT CỦA TỔ CHỨC "CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI"

 Với các hoạt động chống phá nhằm lật đổ chính quyền, phá hoại sự ổn định phát triển của đất nước bằng bạo động, vũ trang, tháng 1/2018, Bộ Công an đã thông báo “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức khủng bố.

Cùng với công tác đấu tranh, xử lý, các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương đã tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu được bản chất của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Đến thời điểm này, nhiều đối tượng từng là thành viên cốt cán của tổ chức và một số người từng bị lôi kéo đã từ bỏ, không tham gia vào tổ chức.
BÀI 1: Khi những người trong cuộc bỏ “cuộc chơi”
Trong khoảng 4 năm (từ năm 2015-2019) những người theo dõi tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chắc hẳn đều biết các đối tượng cốt cán, đứng sau Đào Minh Quân là những cái tên như Quách Thế Hùng; Kelly Triệu (Triệu Thanh Hoa) và Nguyễn Đức Thắng… Song đến thời điểm này, các đối tượng này đều đã từ bỏ tổ chức.
Quy y cửa Phật, nhận ra sai lầm
Một trong số đó là Kelly Triệu hay Kelly Triệu Thanh Hoa. Kelly Triệu còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Huỳnh (SN 1968, sống tại Westminster, California, Mỹ). Sau một thời gian hoạt động, đến thời điểm này, Huỳnh đã từ bỏ tổ chức, tìm đến cửa Phật như một sự giải thoát!. Vì sao một đối tượng cầm đầu, cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại tự rời bỏ nếu tổ chức này có “thực lực” như những lời Đào Minh Quân vẫn ra rả tuyên truyền trên mạng xã hội.
Để lý giải cho vấn đề này, trước hết phải lật ngược lại thời gian khi Huỳnh tham gia vào tổ chức. Khoảng tháng 2/2012, trong quá trình làm từ thiện tại một số thành phố ở bang California, Huỳnh quen biết và được Sloan Trương, đại biểu của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Garden Grove, kiêm phụ trách cái gọi là “Ban tài chính” tuyên truyền, giới thiệu, lôi kéo tham gia vào tổ chức. Trước đó, bố Huỳnh từng là đại uý cảnh sát của chế độ Việt Nam cộng hoà nên khi nhận thấy tôn chỉ, mục đích hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam, khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hoà, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của Huỳnh nên bà ta đã đồng ý tham gia tổ chức này.
Sau đó, Huỳnh được Nguyễn Đức Thắng (SN 1951, sống tại Mỹ), đối tượng được phong là Thiếu tướng, Tổng Cục trưởng Tổng cục tiếp vận của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, nguyên Chánh văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” hướng dẫn cách viết đơn và hoàn tất các thủ tục gia nhập tổ chức, với bí danh “Kelly Triệu Thanh Hoa”; phân công làm “Đại biểu của Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Westminter.
Tháng 7/2016, Huỳnh được “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” phong cấp hàm chuẩn tướng, phân công nhiệm vụ phụ trách thanh niên. Không lâu sau đó, đối tượng được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Nha nhân viên – Bộ Quốc phòng. Dưới sự chỉ đạo của Đào Minh Quân, Huỳnh đã thực hiện hàng loạt các hoạt động chống phá quyết liệt.
Cụ thể, đối tượng sử dụng mạng xã hội, móc nối, lôi kéo hơn 30 người tham gia vào tổ chức này; đồng thời thường xuyên sử dụng 2 tài khoản Facebook “Kelly Trieu” và “Thanh Hoa Trieu” để đăng tải, chia sẻ các bài viết, vi deo, hình ảnh có nội dung tuyên truyền về đường lối hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; ca ngợi, suy tôn hình ảnh Đào Minh Quân; kêu gọi người dân đăng ký tham gia “Trưng cầu dân ý”; bầu Đào Minh Quân làm “Tổng thống Đệ tam Việt Nam cộng hoà”.
Chìm đắm trong “giấc mộng” do Quân và một số đối tượng dựng lên trong khoảng 10 năm, khoảng năm 2018, Huỳnh phát hiện Quân và số cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lập các công ty giả để kêu gọi thành viên đóng góp cổ phần chỉ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Cùng với đó là những bức xúc, bất mãn âm ỉ đã dồn góp lâu ngày do đã đóng góp nhiều tiền, công sức cho hoạt động của tổ chức nhưng không được ghi nhận công trạng nên đối tượng đã chủ động chấm dứt liên hệ, gặp gỡ với các thành viên của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và xuất gia, đi tu.
Năm 2022, dưới tên được “cha sinh, mẹ đẻ” đặt là Huỳnh, đối tượng tìm về quê hương, đất nước. Gần đây nhất, vào ngày 29/8, Huỳnh tiếp tục về Việt Nam để tham dự lễ ” Tự tứ kế khoá an cư kiết hạ” (lễ ra hạ/làm từ thiện tại TP Hồ Chí Minh). Để tránh bị liên luỵ do Bộ Công an đã công bố tên Kelly Triệu là thành viên tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” trên cổng thông tin điện tử; đồng thời cũng muốn quên đi quá khứ, đối tượng đã sử dụng tên là Huỳnh làm thủ tục nhập cảnh về nước. Dẫu là muộn nhưng “có vẫn còn hơn không”!
Ngoài Huỳnh, một số đối tượng từng là thành viên cốt cán trong bộ máy của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” trước đây cũng tuyên bố ly khai khỏi tổ chức như Quách Thế Hùng, Đại tướng, Chủ tịch hội đồng quốc lão, kiêm Phó tổng Tư lệnh quân lực Việt Nam Cộng hoà; Nguyễn Đức Thắng, Thiếu tướng, Tổng cục trưởng Tổng cục tiếp vận “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” (nguyên Chánh văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”); Trần Trưng Nguyệt Ánh, Chuẩn tướng, Thứ trưởng Bộ An sinh xã hội; Nguyễn Huy Hoàng, Đại tá, Chánh Văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Đỗ Đức T, Đại tá, tuỳ viên quân sự; Tuệ Lan, Chủ tịch hội đồng tôn giáo.
Còng lưng trả nợ vì nghe theo kẻ “tâm thần chính trị”
Đó là câu chuyện của Quách Thế Hùng (SN 1948), một đối tượng cốt cán từng chống cộng quyết liệt. Hùng mang quốc tịch Mỹ, là bác sĩ, đi du học ở Mỹ năm 1974. Đối tượng từng tham gia lễ kỷ niệm “Ngày thành lập quân lực Việt Nam cộng hoà” tại “Tụ nghĩa đường” Mỹ nhằm “Tưởng niệm quân đội Việt Nam cộng hoà đã hy sinh vì lý tưởng tự do”.
Thông qua đó, Hùng và các đối tượng đã tuyên truyền, khuyếch trương về hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; kêu gọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước tham gia chương trình “Trưng cầu dân ý” đợt 2 bầu Quân về nước làm Tổng thống “Đệ tam Việt Nam cộng hoà” nhằm “giải thể” Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hùng còn tham gia tuyên truyền cái gọi là “Thi đua truyền thống quốc tế” với nội dung gồm thuyết trình các phim, ảnh, tư liệu về tiểu sử Quân; xây dựng các bài viết ca ngợi tinh thần “đấu tranh” của các thành viên trong nước; biên soạn tài liệu, sách, báo giới thiệu về “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”…
Không dừng lại ở đó, Hùng còn cùng đồng bọn xây dựng tượng đài Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ tại “Tụ nghĩa đường”; xuyên tạc chính quyền Việt Nam “hèn nhát” không dám đề cập đến sự kiện lịch sử liên quan đến các cuộc xâm lược của Trung Quốc; ủng hộ Quân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về Việt Nam tiếp quản chính quyền, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Hùng cùng các đối tượng cốt cán đẩy mạnh công tác tuyên truyền; phá hoại tư tưởng. Đối tượng còn triệt để lợi dụng việc trong nước tiến hành Đại hội Đảng lần thứ XIII; bầu cử quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp để tán phát hàng nghìn tài liệu, bài viết, video nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền, xuyên tạc tình hình bầu cử, tình hình chống dịch tại Việt Nam; kêu gọi nhân dân tẩy chay bầu cử, tẩy chay việc tiêm vaccine của Trung Quốc. Song đến thời điểm này, Hùng đã không tham gia tổ chức. Từng là những đối tượng hoạt động tích cực; tham gia với vai trò điều hành, cốt cán, vì sao các đối tượng cầm đầu tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại từ bỏ tổ chức”?