Thứ Tư, 6 tháng 12, 2023

LỊCH SỬ KHÔNG CÓ TRÁCH NHIỆM DẠY CHÚNG TA YÊU NƯỚC???

         Tôi không đồng ý với phát biểu của "CÔ GIÁO THẢO" trước nhận định về việc học Lịch sử khi cô cho rằng “Lịch sử không có trách nhiệm dạy chúng ta yêu nước”. Vâng, có lẽ không học sử không phải là không yêu nước, nhưng không học sử thì tôi nghĩ đảm bảo sẽ rất khó có lòng nồng nàn yêu nước, khó không có lòng tự hào dân tộc. Vì có biết gì đâu mà tự hào, biết gì đâu mà yêu nước.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Lịch sử là gốc rễ của một dân tộc; nó giúp chúng ta hiểu về quá khứ, định hình hiện tại và lên kế hoạch cho tương lai.

Đất nước ta trải qua hàng trăm, hàng nghìn cuộc chiến tranh xâm lược và những “kẻ xâm lược” tìm mọi cách để đồng hóa, xóa bỏ văn hóa, xóa bỏ truyền thống của ta nhưng không thành công bởi vì nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, lịch sử được truyền tải đến các thế hệ qua những câu chuyện cổ tích, qua nhưng câu ca dao, qua những bài hát.... Thử hỏi nếu không nắm và hiểu được lịch sử liệu giờ đây Việt Nam có là một quốc gia hòa bình, độc lập không?

Không có gì quan trọng hơn việc giảng dạy lịch sử một cách đúng đắn. Nếu giáo viên không đáp ứng được nhiệm vụ này, sẽ đặt ra câu hỏi về năng lực, đạo đức nghề nghiệp của họ. Tôi nghĩ rằng giáo dục lịch sử không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà còn là việc nuôi dưỡng tâm hồn, tạo dựng niềm tự hào và yêu nước trong lòng học sinh.

Để lịch sử được người học hứng thú và ghi nhớ tốt cần sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy. Nó phải phù hợp với từng độ tuổi, từng đối tượng, đặc biệt là trong bối cảnh thế giới hiện đại, nơi mà thông tin có thể dễ dàng bị xuyên tạc.

Lịch sử không chỉ là một môn học trong chương trình giáo dục, nó còn là một phần quan trọng của bản dạng và dấu ấn độc đáo của một dân tộc. Do đó, việc giảng dạy lịch sử là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, đòi hỏi sự nghiêm túc, tận tâm và đạo đức cao đẹp từ phía giáo viên. Mọi sự chủ quan, lơ là trong việc này không chỉ ảnh hưởng tới thế hệ trẻ mà còn có thể đặt dấu hỏi lớn cho tương lai của dân tộc./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM NỖ LỰC PHÒNG, CHỐNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HỦY DIỆT HÀNG LOẠT!

         Sáng 6-12, tại Bộ Tư lệnh Hóa học, Cơ quan đầu mối Quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đã tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện nghị định của Chính phủ về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2019-2023!

Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chủ trì hội nghị.  

Dự hội nghị có Thiếu tướng Hà Văn Cử, Tư lệnh Binh chủng Hóa học, Phó trưởng Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Thiếu tướng Trịnh Thành Đồng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Hóa học và đại biểu đại diện các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng; đại biểu đại diện các cơ quan, bộ, ban, ngành Trung ương.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thượng tướng Võ Minh Lương nhấn mạnh: Thời gian qua, với vai trò là cơ quan đầu mối quốc gia về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD), Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định số 81/2019/NĐ-CP ngày 11-11-2019 của Chính phủ về phòng, chống phổ biến WMD; đưa nội dung Nghị định số 81 vào chương trình giáo dục chính trị cho các đối tượng trong toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ và đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về phòng, chống phổ biến WMD.

Các bộ, ban, ngành, địa phương chú trọng quán triệt, tuyên truyền nội dung, nghĩa vụ phòng, chống phổ biến WMD đến cán bộ, đảng viên và nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú. Sau 3 năm triển khai Nghị định 81, đã có 14 bộ, cơ quan ngang bộ và 58 tỉnh, thành phố tổ chức tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về Nghị định với hơn 700 chương trình và hàng trăm nghìn lượt độc giả, thính giả.

Các hoạt động tập huấn, huấn luyện nâng cao năng lực của các lực lượng chuyên môn, tuyến đầu, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan trong giám sát, nhận diện, đấu tranh, xử lý, ứng phó với WMD được quan tâm triển khai.

Binh chủng Hóa học - Cơ quan thường trực của Cơ quan đầu mối quốc gia Việt Nam về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (gọi là Cơ quan thường trực 81) đã, đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành Trung ương, địa phương thực hiện chức năng đại diện của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống phổ biến WMD và tổ chức, tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trao đổi thông tin, nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện, ứng phó các nguy cơ sự cố hóa học, sinh học, bức xạ và hạt nhân, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống phổ biến WMD…

Tại hội nghị, ngoài làm rõ những kết quả đã đạt được, các đại biểu cũng chia sẻ những khó khăn, vướng mắc trong phòng, chống phổ biến WMD. Cụ thể như: Hiện nay, chưa có quy định pháp luật đầy đủ về xử lý đối với các hành vi phạm trong phòng, chống phổ biến WMD làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý; chưa có văn bản của cấp có thẩm quyền xác lập, quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong kiểm soát hàng hóa, vật liệu có nguy cơ sử dụng vào mục đích phổ biến WMD; cơ chế, hướng dẫn thanh tra, kiểm tra, giám sát còn bất cập; kinh phí bảo đảm cho hoạt động này ở các địa phương còn hạn chế…

Vì thế, các đại biểu đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong thi hành các quy định về phòng, chống phổ biến WMD; tăng cường chỉ đạo thông tin, tuyên truyền, hợp tác quốc tế trong phòng, chống phổ biến WMD; chỉ đạo trang bị đầy đủ phương tiện nghiệp vụ, thực hiện chế độ chính sách cho lực lượng tham gia và chỉ đạo làm rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện hoạt động phòng, chống phổ biến WMD…

Đề nghị Bộ Quốc phòng tăng cường chỉ đạo cung cấp thông tin, biên soạn tài liệu hướng dẫn công tác phòng, chống phổ biến WMD; chỉ đạo tổ chức các hoạt động tập huấn, huấn luyện, diễn tập nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ phòng, chống phổ biến WMD để nâng cao nhận thức, kỹ năng xử lý tình huống phổ biến WMD…

Tại hội nghị, Chương trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh nội địa và phòng, chống phổ biến WMD đã được ký kết; các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống phổ biến WMD được khen thưởng./.




Yêu nước ST.

ĐÚC KẾT TRÍ TUỆ NHÂN LOẠI VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG ĐỂ HÌNH THÀNH NÊN TƯ TƯỞNG KHOA HỌC PHÙ HỢP VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM -  MỖI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẦN PHẢI HỌC TẬP CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, một danh nhân văn hoá, mà còn là một nhà chiến lược quân sự thiên tài. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam, tư tưởng cách mạng Pháp, tư tưởng tự do của Hoa Kỳ, lý tưởng cộng sản Mác-Lênin, tư tưởng văn hóa phương Đôngvăn hóa phương Tây và phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh.[1] Từ thực tiễn trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, đúc kết kinh nghiệm của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh đã thể hiện trong tư tưởng của Người là hệ thống toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng quân sự là cơ sở đặt nền móng của học thuyết quân sự cách mạng Việt Nam góp phần quan trọng vào thành công của cách mạng Việt Nam.

Trong nghệ thuật quân sự, Hồ Chí Minh tiếp thu từ nghệ thuật quân sự nhân loại, đó là nghệ thuật dùng binh của Tôn Tử, Khổng Minh, Napôlêông, …kế thừa và phát triển nghệ thuật quân sự của ông cha ta, đó là nghệ thuật dùng binh, chớp thời cơ và vận dụng mưu kế của Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi ... Đồng thời, nghệ thuật quân sự trong tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành và phát triển từ thực tiễn đất nước, con người Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc.

[1] Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị quốc gia. Tái bản lần thứ hai, 2006, trang 12, 13, 14.

Quan điểm, đường lối của Đảng trong đấu tranh phòng, chống hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng

Đảng ta đã xác định, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, ngày càng diễn ra quyết liệt. Trong các văn kiện đại hội Đảng ở thời kỳ đổi mới, Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ. Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch”. Đại hội IX của Đảng khẳng định phải “Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch”. Với tinh thần đó, Đại hội X của Đảng đã yêu cầu “chủ động và kiên quyết phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, góp phần làm thất bại mọi mưu toan “diễn biến hòa bình,” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch”. Đến Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”. Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Như vậy, có thể thấy, đấu tranh trên không gian mạng hiện nay là rất gay gắt trên mặt trận tư tưởng lý luận. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Tuy nhiên, việc đấu tranh phản bác các thông tin giả, xấu độc, sai sự thật trên không gian mạng ở một số cán bộ, giảng viên cơ sở chưa thật sự chủ động, chưa thường xuyên, còn lơ là, thiếu sót, thiếu tính tự giác dễ dẫn đến bị kẻ xấu lợi dụng, kích động nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin chưa thành thạo, nhiều cán bộ, giảng viên chưa biết cách vào các trang mạng xã hội để bình luận (comment) phản bác những luận điệu xuyên tạc… nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng.

Nhận diện một số hình thức chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng

Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong xã hội. Thủ đoạn tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giả danh mác-xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế, khiếm khuyết đó. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác-xít và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý số cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai, tự trị trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ tăng cường chống Đảng, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ”. Chúng ra sức đăng tải các bài viết, blog, hình ảnh, clip, thực hiện livestream (phát trực tiếp) nhằm kêu gọi tập hợp lực lượng những người thiếu hiểu biết, tạo dư luận về các vấn đề kinh tế, xã hội từ đó đẩy lên thành các vấn đề chính trị, gây nhiễu loạn thông tin; tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo ra sự khách quan, sau đó cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật, luận điệu sai trái. Các đối tượng thường núp dưới vỏ bọc các tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”... để tuyên truyền, xuyên tạc cương lĩnh, nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, quan điểm, nhất là những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”. Lợi dụng một số cá nhân thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thành lập các hội, fanpage... phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu độc, phản động, từ đó kích động hình thành các hoạt động như tuần hành, biểu tình, tụ tập kêu gọi chống đối gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng và Nhân dân. Một chiêu trò khác là thông qua các phần mềm gián điệp, phát tán các mã độc, đánh cắp thông tin cá nhân, thông tin nội bộ, các thế lực thù địch bịa đặt thông tin, tạo kịch bản hoàn hảo, phát tán “thông tin giả”, tung hỏa mù nhằm bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, nói xấu Đảng, Nhà nước và những cán bộ lãnh đạo, tạo tâm lý hoài nghi, bi quan, khủng hoảng niềm tin, phân vân trong xác định mục tiêu lý tưởng. Thông qua những buổi hội thảo trực tuyến bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa “lớp học làm giàu”, “những cách làm giàu nhanh chóng”,… của những tổ chức phi chính phủ, ca ngợi thành tựu của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam làm cho một bộ phận người dân có nhận thức sai lệch. Từ đó mất niềm tin trong cuộc sống, trở nên vị kỷ, chạy theo lối sống thực dụng, buông thả mà quên đi những đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đối tượng tác động của hoạt động tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên; người lao động…

KHÔNG ĐỂ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM!

     Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam!

Sự nham hiểm của những luận điệu xuyên tạc
Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.

Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.

Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo... Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình
Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.

Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.

Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương...).

Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển... để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.

Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TÁM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII!

     Sáng 04-12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII!
Dự và chỉ đạo Hội nghị có các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng.

Dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII cùng các cán bộ chủ chốt các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội trong toàn hệ thống chính trị và đông đảo cán bộ, đảng viên.

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, từ điểm cầu Trung ương tại Phòng họp Diên Hồng (Nhà Quốc hội) kết nối tới 16.242 điểm cầu các ban, bộ, ngành, đoàn thể, đơn vị ở Trung ương và các địa phương trên toàn quốc; có 1.441.261 các lãnh đạo, cán bộ, đảng viên tham dự nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết.

Nội dung các chuyên đề tập trung vào những vấn đề cốt lõi, những điểm mới của các nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII.

Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, các ban, bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII ở địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII cụ thể, thiết thực và hiệu quả.

Tại Hội nghị, các đại biểu nghe Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng truyền đạt chuyên đề: "Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc". Dự kiến sau đó, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề: "Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới".

Dự kiến, chiều cùng ngày, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng truyền đạt chuyên đề: "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới"; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa truyền đạt chuyên đề: "Tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới".

Điểm cầu Quân ủy Trung ương tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì. Cùng dự có các đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam: Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa; Trung tướng Nguyễn Trọng Bình, Thiếu tướng Phạm Trường Sơn. Tham dự hội nghị có Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hội nghị học tập, nghiên cứu, quán triệt và triển khai nội dung cốt lõi, điểm mới của các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khoá XIII, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp và cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục tuyên truyền sâu rộng việc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII trong các cơ quan, đơn vị; chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết bảo đảm thiết thực, hiệu quả./.
Ảnh: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì ở điểm cầu Quân ủy Trung ương.
Yêu nước ST.

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Phương thức, thủ đoạn phát tán

Đối với các thế lực thù địch nước ngoài, chúng sử dụng ba phương thức cơ bản sau:

Một là, tiến hành hoạt động từ nước ngoài vào thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo viết (sử dụng các sự kiện trong nước để xuyên tạc), đài phát thanh truyền hình, fax, Internet… ; sử dụng hàng hoá, thư tín (đặc biệt là thư tâm lý chiến, thư ân xá), ấn phẩm văn hoá độc hại (băng hình, phim, ảnh...); tiến hành tác động phá hoại tư tưởng đối với cán bộ và nhân dân Thủ đô khi ra nước ngoài công tác, học tập, lao động, thăm người thân, du lịch..., thông qua người thân của họ đang định cư ở nước ngoài để tác động.

Hai là, các trung tâm phá hoại tư tưởng, các cơ quan đặc biệt nước ngoài và bọn phản động trong người Việt lưu vong đưa người xâm nhập vào Hà Nội mang theo tài liệu Chúng lợi dụng các hoạt động giao lưu, hợp tác văn hoá, đầu tư kinh tế, lợi dụng các cuộc hội nghị, hội thảo quốc tế tổ chức tại Hà Nội để phát tán tài liệu, tuyên truyền các quan điểm sai trái...

Ba là, tiến hành các hoạt động móc nối, lôi kéo (tổ chức các buổi tiệc chiêu đãi văn nghệ sỹ, tài trợ cho nhà văn sang Mỹ dự lớp viết văn, văn nghệ sĩ dự hội thảo, nhà văn, nhà lý luận phê bình viết đề tài...) Sử dụng các quĩ Ford, VEF, với ý đồ tạo dựng một lớp người thân Mỹ đào tạo đại học, sau đại học. Dự kiến thành lập một số trung tâm bồi dưỡng ở Hà Nội, TPHCM và miền Trung nhằm tạo nguồn cung cấp thu thập tin tức phục vụ cho hoạt động phá hoại tư tưởng.

- Đối với các đối tượng cơ hội chính trị, chống đối chính quyền trong nước tại Hà Nội, chúng thường sử dụng các phương thức viết tài liệu và phát tán dưới mọi hình thức; nhận tài liệu xấu từ nước ngoài, từ các địa phương khác gửi đến in sao, phát tán rộng rãi; viết bài, ghi âm gửi ra nước ngoài, trả lời phỏng vấn các hãng thông tấn, báo chí nước ngoài; lấy những chuyện có thật (nhất là vấn đề chống tham nhũng, tiêu cực) để hư cấu, xuyên tạc, bóp méo; khơi lại, đòi xét lại các vụ án chính trị... lôi kéo các phần tử bất mãn trước đây có tham gia các vụ án này để làm "nhân chứng" thu thập tài liệu.

* Thời gian gần đây, đội ngũ cộng tác viên dư luận xã hội của thành phố đã phát hiện và cung cấp nhiều thông tin về các hoạt động phát tán các loại tài liệu "không chính thức" như:

- Một số phần tử nằm trong cái gọi là "nhóm dân chủ” dưới dạng các bài viết, bản kiến nghị, đơn đề nghị, thư ngỏ... gửi các đồng chí lãnh đạo chủ chốt cấp cao, các tổ chức ban ngành, bạn bè và những người quan tâm. Mặc dù nội dung các tài liệu đề cập đến nhiều chuyện cụ thể như: chuyện xung quanh một số vụ án lớn đã và đang xét xử"; "một số quan điểm, việc làm, năng lực, trình độ của cá nhân một vài đồng chí lãnh đạo cấp cao"... nhưng tựu trung đều có mục tiêu thù địch chế độ, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, nói xấu, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt cấp cao về năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, vi phạm nhân quyền, thiếu dân chủ... từ đó đưa ra yêu sách đòi đa nguyên đa đảng, thay đổi chế độ. Chúng phát tán 80 đầu tài liệu có nội dung phản động vào địa bàn Hà Nội. Nội dung các tài liệu vẫn tập trung tố cáo chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, dân tộc, cắt đất, dâng biển cho Trung Quốc, buôn bán trẻ em, phụ nữ làm mại dâm, xuất khẩu lao động nô lệ Đảng chú ý, có 2 tài liệu mới của 2 du học sinh Việt Nam cho rằng, chế độ cộng sản không còn phù hợp, kìm hãm sự phát triển của đất nước; 127 đầu tài liệu, trong đó có 50 tài liệu bênh vực cho số đối tượng cơ hội chính tả đang bị tạm giam hoặc đã bị xét xử, 4 tài liệu bôi xấu, đả kích các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, 3 tài liệu phê phán việc ký Hiệp định Vịnh Bắc Bộ, 5 tài liệu đả kích, phủ nhận nguyên lý Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, còn có một số tài liệu phát tán dưới dạng tờ rơi, tuyên truyền phát triển các đạo giáo lạ, tà đạo nhằm mục đích truyền đạo trái phép, chủ yếu tập trung ở khu vực nội thành, nhất là 4 quận cũ (Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng). Đối tượng được chúng tập trung tuyên truyền là những cán bộ cao tuổi đã nghỉ hưu, cựu chiến binh, học sinh, sinh viên các trường đại học và nông dân ngoại thành.

- Một số đầu sách có nội dung phức tạp, xuyên tạc lịch sử văn học Việt Nam vẫn được nhập khẩu, phát hành; trên thị trường băng, đưa nhạc xuất hiện một số băng, đĩa có nội dung đồi trụy được quay và lưu hành ngay trong nước.

- Một số báo đưa tin, bài không trung thực, thiều tính định hướng tư tưởng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận, nhất là các thông tin.

- Một số cơ quan thông tấn, báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA...) tiếp tục đưa các tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, vu khống chính quyền ép buộc số người dân tộc thiểu số thừa nhận tham gia hoạt động biểu tình tại Tây Nguyên là sai phạm...

- Năm 2004, trên địa bàn Hà Nội, tài liệu ngoài luồng phát tán ngành công an thu được là 1320 đầu tài liệu. Trong đó có 385 tài liệu gửi kèm theo hàng hóa hoặc do các đối tượng xách tay vào (chiếm 29,1%), 559 tài liệu gửi qua đường bưu điện và các phương tiện viễn thông như Internet, email (chiếm 42,3%), 102 tài liệu do số đối tượng cơ hội chính trị viết và tán phát (chiếm 7,7%), 18 tài liệu do thân nhân đối tượng cơ hội chính trị viết (chiếm 1,4%), 256 tài liệu không ghi tến người gửi hoặc ghi tến và địa chi giả không xác định được nguồn gốc (chiếm 19,5%).

Đối tượng chịu sự tác động của tài liệu phát tán

Đối với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thành phố, chúng dùng thủ đoạn lăng mạ, bôi nhọ nhằm hạ uy tín của Đảng, chính quyền với nhân dân, gây mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo Đảng với nhân dân Thủ đô.

Đối với tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, chúng xác định đây là lực lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội Việt Nam, nhất là đối với Thủ đô Hà Nội, do đó chúng kích động đấu tranh đòi tự do tuyệt đối về tư tưởng trong lao động sáng tạo khoa học kỹ thuật, sáng tác văn học nghệ thuật…

Đối với thanh niên, sinh viên Thủ đô - lực lượng trẻ, hiếu động, bồng bột, chưa chín chắn về nhận thức, dễ bị kích động và phản ứng theo đây chuyền, chúng kích động đấu tranh đòi học bổng, đòi trợ cấp giáo dục, đòi cải thiện dời sống, điều kiện sinh hoạt học tập, đòi có việc làm khi ra trường…

Đối với lực lượng quân đội và công an, chúng kích động nhằm trung lập hoá, vô hiệu hoá lực lượng vũ trang, thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, chia rẽ nội bộ.

Đối với các bậc cựu chiến binh và lão thành cách mạng, chúng sử dụng hình thức tuyên truyền mị dân, kích động chia rẽ lớp những người cộng sản tiền bối với những người đang giữ vị trí lãnh đạo hiện nay; kích động họ đấu tranh cho cái gọi là quyền "tự do, dân chủ, công bằng xã hội..." theo quan điểm phương Tây, nhất là với số ít người có tư tưởng công thần bất mãn.

Đối với cán bộ công chức nhà nước, chúng lợi dụng tình hình đời sống việc làm khó khăn để kêu gọi mọi người đấu tranh đòi cải thiện điều kiện làm việc, đòi được bảo hiểm, tăng lương hoặc bỏ cơ quan, xí nghiệp để buôn bán, làm ăn tự do.

Đối với các tầng lớp tôn giáo, chúng kích động họ đấu tranh đòi các tôn giáo phải được hoạt động tự do không phụ thuộc chính quyền, tự do in ấn, xuất bản, tự do ra báo chí, tự do tuyên truyền phát triển đạo...

Đối với tầng lớp nông dân ngoại thành, chúng kích động nông dân đấu tranh đòi lại đất đai đã góp vào HTX trước đây, cản trở giải phóng mặt bằng với chiêu bài đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực... nhằm gây mất ổn định ở nông thôn./.

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ NGUYÊN TẮC SINH HOẠT, LÀ QUY LUẬT TỒN TẠI, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Bài học đắt giá từ sự từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản Liên xô dẫn đến sự sụp đổ Liên bang Xô viết cho thấy sự cần thiết phải trung thành với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định nguyên tắc tổ chức và xây dựng của Đảng.
V.I.Lênin khẳng định, muốn tồn tại và phát triển, Đảng phải thường xuyên tự phê bình và phê bình; “Nếu một chính đảng nào mà không dám nói thật bệnh tật của mình ra, không dám chẩn đoán bệnh một cách thẳng tay, và tìm phương cứu chữa bệnh đó, thì đảng đó sẽ không xứng đáng được người ta tôn trọng” (1). Theo lời chỉ dạy của V.I.Lênin, hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã luôn coi tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt, là quy luật tồn tại và phát triển của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động. Bản chất của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý tưởng và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng. Đảng lãnh đạo xã hội, đồng thời cũng là một thực thể tồn tại trong xã hội, cho nên Đảng phải được xây dựng và phát triển trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và quy luật khách quan.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, bất cứ đảng nào cũng có lúc phạm phải sai lầm. Vấn đề là, đứng trước những sai lầm, mỗi đảng có thái độ ứng xử và cách thức xử lý khác nhau. Theo Ph.Ăngghen: “Giai cấp vô sản, cũng như tất cả các đảng khác, sẽ học tập nhanh nhất qua những sai lầm bản thân, những sai lầm này không ai có thể tránh hoàn toàn cho họ được” (2). Vì vậy, nghiêm túc nhìn nhận ra sai lầm và thành thật sửa chữa khuyết điểm, là cách tốt nhất để Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm quý giá từ chính những sai lầm của mình, giúp cho Đảng hoàn thiện chính mình và trở lên mạnh mẽ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề tự phê bình và phê bình. Người cho rằng mục đích tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ. Theo Người, Đảng phải vận động để tự phê bình và phê bình trở thành một thói quen, một nếp sinh hoạt; không nên duy trì theo kiểu “đóng cửa bảo nhau” trong nội bộ, mà phải vận động quần chúng cùng tham gia phê bình cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.
Tuân thủ những nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin và chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình, coi đây là nguyên tắc sinh hoạt quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành và đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, tự phê bình và phê bình luôn là nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu.
Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng
V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta, và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục” (3). Trong thực tiễn, khi phát hiện những hạn chế, tồn tại, Đảng ta đều công khai thừa nhận và đề ra biện pháp sửa chữa nghiêm túc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (4). Do đó, Người yêu cầu các tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính đảng, tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt công tác thực hiện nghị quyết, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, chân thành để sửa chữa và cùng nhau tiến bộ.
Thực hiện lời di huấn đó, hơn 90 năm qua, bất cứ khi nào, phát hiện ra những hạn chế trong lãnh đạo cách mạng, Đảng đều nghiêm túc kiểm điểm và nhanh chóng có biện pháp khắc phục. Nhờ đó, đã góp phần củng cố, tăng cường khối đoàn kết trong Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, đủ khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhận thấy chủ trương “thanh Đảng” của Xứ ủy Trung Kỳ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tập hợp lực lượng, Trung ương Đảng đã nghiêm khắc phê bình; đồng thời, yêu cầu Xứ uỷ Trung Kỳ phải nghiêm mật khảo xét lại từng địa phương, từng bộ phận, từng cá nhân, người nào sai, bộ phận nào sai, Xứ ủy cần trực tiếp lãnh đạo việc tự chỉ trích, nhận lỗi trước quần chúng, trước đảng viên và nhanh chóng khắc phục khuyết điểm. Vì lẽ đó, Đảng đã nhanh chóng giành được niềm tin và huy động sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp trung gian tham gia vào các cao trào cách mạng.
Trong giai đoạn 1953 - 1956, phát hiện những điểm không phù hợp trong lãnh đạo thực hiện cải cách ruộng đất, Trung ương Đảng đã nghiêm túc, thẳng thắn thừa nhận, chỉ rõ nguyên nhân, yêu cầu, biện pháp sửa sai và xử lý nghiêm đối với các trường hợp thực hiện không đúng đường lối lãnh đạo của Đảng. Sự thành thật nhận khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa của Đảng và Chính phủ đã góp phần củng cố mối đoàn kết toàn dân, ổn định nông thôn, hăng hái đẩy mạnh sản xuất phục vụ công cuộc kháng chiến.
Thời kỳ bước vào công cuộc đổi mới, trang nhất báo Nhân dân liên tục trong nhiều năm luôn có chuyên mục “Nói và làm” để công khai những hạn chế của bộ máy chính trị, vạch rõ hướng sửa chữa khắc phục, tạo niềm tin cho nhân dân. Với quyết tâm làm cho tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành “vũ khí sắc bén”, có thể thấy Đảng ta luôn nghiêm túc nhận thức rõ những tồn tại, hạn chế trong lãnh đạo kinh tế xã hội, những khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, yêu cầu tự phê bình và phê bình ở các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng luôn được duy trì nghiêm túc, hiệu quả và đảm bảo chất lượng.
Làm rõ cơ sở lý luận nguyên tắc tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho toàn Đảng thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững vai trò là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là vũ khí đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, hòng phủ nhận bản chất của Đảng và xuyên tạc các nguyên tắc tổ chức, xây dựng Đảng./.
Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ “VỊ THẾ CÔNG BỘC” CỦA NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng nhiệm vụ rèn luyện tư cách, tác phong, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thể hiện trong hệ thống quan điểm, chỉ dẫn của Người về công tác cán bộ; trong đó, nội dung “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo vẫn còn nhiều giá trị tham khảo cả về lý luận và thực tiễn. Thời gian tới, cần tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo
Về nội hàm, thuật ngữ “công” nghĩa là thuộc về nhà nước, việc chung cho mọi người, “bộc” có nghĩa là “đầy tớ”; như vậy, cụm từ “công bộc của dân” dùng để mô tả “người đầy tớ chung của dân”.Thực tế, công bộc của dân thường được hiểu như một triết lý, tư duy quản lý gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của quan chức, người nắm quyền lãnh đạo (hoặc mở rộng là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Trên thế giới, khái niệm công bộc của dân (servant of the people) xuất hiện khá sớm, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “servus” với nghĩa là nô lệ. Ở nước ta thời phong kiến, người thực hiện điều hành cơ quan công quyền là “quan” và “lại”, khi đó, khái niệm “công bộc của dân” chưa xuất hiện. Đến năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức lần lượt ra đời, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gói gọn trong thuật ngữ “công bộc của dân”.
Thực tế, lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền luôn gắn bó, thống nhất với lợi ích giai cấp, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác và chính bản thân Người là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong của người cán bộ trong vai trò “người công bộc”; là hình ảnh đẹp, vĩ đại để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo. Trong hệ thống quan điểm của Người về công tác cán bộ, “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước là nội dung nổi bật; các phát biểu, bài viết của Người đã nhiều lần nhấn mạnh chức vụ, quyền lực của mỗi cán bộ lãnh đạo là do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, cho nên, cùng với việc Đảng cầm quyền, được giao đảm nhiệm các vị trí trọng yếu trong cơ quan Nhà nước, khi thực thi các quyền lực đó, cán bộ lãnh đạo là những người đại diện cho nhân dân, là “công bộc của dân”, chứ không phải “làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân”, điều này cũng có nghĩa,“tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân” và làm cán bộ chính là “suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”,...
Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người tin tưởng và đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái đất nước; coi họ là người có trách nhiệm chính định hình chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết của nhân dân. Nhìn chung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo biểu hiện ở lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân được thành lập vào năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra”. Theo đó, vị thế công bộc, đầy tớ của cán bộ bắt nguồn từ bản chất của chế độ dân chủ, cụ thể: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”. Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, người dân chỉ trao cho Đảng, Nhà nước quyền thực thi quyền lực lãnh đạo, quản lý xã hội theo ý tưởng và lợi ích của dân. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là công bộc, là đầy tớ cho người đã giao quyền cho mình và có quyền phế truất mình; nhân dân là ông chủ nắm chính quyền, bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấyvà nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Để giữ được “vị thế” trong lòng dân, Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những đại biểu thay mặt nhân dân thi hành quyền lực nhà nước phải yêu thương và trung thành tuyệt đối với Đảng và lợi ích dân tộc, không ngừng tạo dựng niềm tin, sự ủng hộ từ nhân dân.
Thứ hai, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở sự tận tụy và trách nhiệm với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của chính quyền và các đoàn thể là phụng sự nhân dân, là làm đầy tớ cho dân. Tuy nhiên,từ “đầy tớ” ở đây không có nghĩa là “tôi tớ”, “tay sai” mà là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự, mang lại lợi ích cho nhân dân. Người yêu cầu: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò”, tức là “việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”; rằng “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Theo đó, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ rằng họ đang phục vụ lợi ích của nhân dân, đất nước với tinh thần “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Thực tế, sứ mệnh phụng sự nhân dân chính là phụng sự chân lý lớn nhất, nên dù người cán bộ thực hiện vai trò gì, công việc gì, nhưng có lòng tận tụy vì dân thì đều là điều cao quý; đồng thời, cần xác định có làm tốt chức năng của “người lãnh đạo” mới có cơ sở làm tốt chức năng của “người đầy tớ” và chỉ khi làm tốt chức năng “người đầy tớ” thì mới có thể làm tốt chức năng “người lãnh đạo”. Thêm vào đó, người đầy tớ tận tâm, tận lực với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ và quyền lãnh đạo của người làm lãnh đạo, cũng như “vị thế công bộc” được Đảng và nhân dân giao phó sẽ được bảo đảm. Như vậy, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở việc luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, đó cũng là phương pháp, tiêu chí đánh giá năng lực của chính người cán bộ lãnh đạo.
Thứ ba, cán bộ lãnh đạo cần giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, như “công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm” là phẩm chất căn cốt của người “đầy tớ” nhân dân. Để khẳng định “vị thế công bộc” của mình, người cán bộ phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, như “Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ. Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô, lãng phí. Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân”; mặt khác, luôn sẵn sàng đi đầu trong công việc, nỗi lo của dân, nhưng thành quả, niềm vui đạt được thì nhân dân phải được thụ hưởng trước; tránh biến quyền lực dân trao thành quyền lực cá nhân.
Thứ tư,“vị thế công bộc” còn được biểu hiện ở những đức tính, như cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị,... Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một đặc điểm rất nổi bật là sự khiêm tốn, giản dị. Trong một chế độ mà ngay cả vị Chủ tịch nước luôn coi mình là đầy tớ của dân và khiêm tốn, dám nhận sai, không ngừng học tập, trau dồi để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước thì chế độ ấy đích thực là của dân, do dân làm chủ. Theo Người, đức tính khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người, do đó người cán bộ lãnh đạo phải luôn lắng nghe, cập nhật kiến thức, phục vụ nhân dân một cách tận tâm, tránh lối sống tự phụ, xa cách với cuộc sống khó khăn, cực nhọc của người dân.
Ngoài ra, người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần học hỏi và bàn bạc, giải thích với dân chúng về mọi việc, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”, dân chúng nói gì cũng làm theo, mà phải có bản lĩnh vững vàng để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, vừa tránh “sợ sai”, “sợ khuyết điểm”; phải có tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi mọi yếu tố ngoại lai; tuyệt đối tránh tư duy cá nhân, thái độ kiêng kỵ, vừa tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò “cầm lái” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chính tư tưởng bảo thủ, duy ý chí, không chịu đổi mới là sợi dây cột chân cột tay người ta, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển nên phải tháo bỏ nó đi. Theo Người, muốn cán bộ công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì nhất định phải dám nghĩ, dám làm, có gan phụ trách; bởi “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. “Vị thế công bộc” của người lãnh đạo chính là ở ý chí kiên định và dám làm, dám chịu trách nhiệm như vậy.
Thứ năm, duy trì tinh thầnluôn học hỏi, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm và tự cải thiện bản thân để có năng lực đáp ứng công việc. Thực tế, năng lực để “phục vụ nhân dân” được thể hiện qua các yếu tố, như tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi,... Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc học hỏi, tự cải thiện là điều cần thiết cho người cán bộ lãnh đạo, phải “học tập, học tập nữa, học tập mãi” để nâng cao trình độ và khả năng lãnh đạo của mình. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chất lượng, tận tụy, có đủ tri thức, khả năng thích nghi với tình hình và giải quyết các vấn đề phức tạp - yếu tố quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Người xem xét vị thế công bộc của người cán bộ lãnh đạo như một sứ mệnh lớn, phải đảm nhận trách nhiệm cao cả để thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đất nước.
Dựa trên quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của đội ngũ cán bộ và quá trình đúc kết kinh nghiệm trong thực tiễn, đến nay, đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực, phẩm chất, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW,ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương”; Quy định số 08-QĐi/TW,ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, trong đó, đề cao tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tránh tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân; đặc biệt, Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” xác định rõ đội ngũ cán bộ, quản lý phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực và đạo đức cách mạng. Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, phải xây dựng “đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.
Một số vấn đề đặt ra:
Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ,... đã hướng sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất, khiến một số người quá đề cao các yếu tố vật chất, hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội; trong đó có một bộ phận không nhỏ nằm trong hàng ngũ “công bộc của dân”. Mặt khác, nhiệm vụ đổi mới tư duy chính trị và đổi mới tư duy kinh tế chưa có sự đồng bộ, thống nhất nên còn diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”. Thêm vào đó, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc chưa thường xuyên; tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng; vấn nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội,...
Bên cạnh đó, căn bệnh “sợ trách nhiệm” đang có dấu hiệu ngày càng xuất hiện phổ biến và dễ lây lan, khó chữa trị; là biểu hiện tâm lý sợ bị liên lụy, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong hoạt động công vụ, lo rằng lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, thiệt thòi... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Những người mắc bệnh “sợ trách nhiệm” sẽ không dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đổi mới, sáng tạo; thường rụt rè, do dự, chỉ muốn làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, mong tránh phạm phải khuyết điểm; ngại “va chạm” trong quan hệ công việc, cơ quan, nhất là với cấp trên, thậm chí, lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể,... Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” nhằm chấn chỉnh những đối tượng đang “mắc phải” bệnh sợ trách nhiệm, đồng thời, bảo vệ đội ngũ cán bộ chính trực, dám nghĩ, dám làm.
Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo ngày nay
Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ cũng như phát huy dân chủ trong quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng các khía cạnh trong công tác xây dựng Đảng trên tinh thần “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì mục tiêu mang lại lợi ích của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là trên hết. Từ tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo ngày nay cần đặt lợi ích của nhân dân lên cao nhất, theo đó trong công việc, nhiệm vụ, phải có sự tận tâm, lo lắng, quyết tâm xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đức tính trung thực, kiên định, khiêm tốn, minh bạch. Cụ thể, người lãnh đạo cần giữ lời hứa, thực hiện các cam kết, từ đó, tạo niềm tin vững chắc cũng như sự tôn trọng từ nhân dân. Mặt khác, cần đổi mới để có các biện pháp xử lý phù hợp, đủ mạnh, đủ sức răn đe hơn, tránh kẽ hở, yếu kém để các đối tượng vị lợi, thoái hóa, biến chất lợi dụng hòng tham nhũng, trục lợi, chà đạp lên lợi ích, vô trách nhiệm với đời sống người dân.
Thứ ba, chú trọng đúng mức nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, đội ngũ lãnh đạo cần nhanh chóng nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đổi mới phương thức quản lý và phát triển xã hội. Mặt khác, nâng cao ý thức học hỏi và tự phát triển, cập nhật kiến thức và phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình để có khả năng đối phó với thách thức của tình hình mới; tạo điều kiện kết hợp giáo dục rèn luyện trong tập thể với phát huy tính chủ động, tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ tư, biết lắng nghe, thương yêu, có trách nhiệm với đời sống người dân. Người cán bộ lãnh đạo ngày nay cần lắng nghe ý kiến của cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề chung. Ngoài ra, “vị thế công bộc” cần được đi kèm với trách nhiệm và lòng tự trọng; tuân thủ nguyên tắc đạo đức và dám chịu trách nhiệm trong tất cả quyết định và hành động của mình. Hiện nay, để tránh tình trạng không dám nghĩ, dám làm, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa phải không ngừng trau dồi bản lĩnh, ý chí kiên định thực hiện mục tiêu cách mạng, vừa luôn học hỏi và lắng nghe nhân dân; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; gần gũi, chân thành, tin tưởng đồng chí, đồng bào,... để quy tụ được mọi người, kiến tạo nguồn sức mạnh của khối đoàn kết trong chính quyền và nhân dân.
Thứ năm, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao nhằm trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm; cấp ủy, đảng viên phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân,... Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo cần giữ gìn đức tính trong sạch, trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, ỷ lại, vô trách nhiệm với nhân dân, đất nước./.
Nguồn: Tạp chí Cộng sản