Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

TÁC HẠI CỦA TỰ DIỄN BIẾN, TƯ CHUYỂN HOA TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

    “Tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên hiện nay có thể được biểu hiện ở cả trong nhận thức chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng, niềm tin và ý chí quyết tâm hành động với các biểu hiện cụ thể, chẳng hạn: Suy giảm về nhận thức, về tư tưởng chính trị, ngày càng xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, xa rời lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xa rời Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời đường lối của Đảng. Suy giảm niềm tin vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Suy giảm về phẩm chất đạo đức, lối sống, ngày càng xa rời những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN, trượt dần sang đạo đức, lối sống tư sản, quay về với những thói hư, tật xấu của đạo đức, lối sống phong kiến…

    “Tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên có thể diễn ra trước hết trong mỗi con người cán bộ, đảng viên với các mức độ và biểu hiện cụ thể khác nhau về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Và nếu không được phát hiện, phòng, chống kịp thời sẽ dần dần lan rộng theo nhiều chiều hướng: Từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao; từ cán bộ cấp cao xuống cán bộ cấp thấp; từ một số ít cán bộ, đảng viên đến số đông, cán bộ, đảng viên; từ cá nhân mỗi cán bộ, đảng viên đến tổ chức mà cá nhân cán bộ, đảng viên đó công tác, sinh hoạt.

    Tác hại của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên cũng rất lớn. Tác hại đó không chỉ đối với vai trò của cán bộ, đảng viên mà còn đối với vai trò và sự lãnh đạo của Đảng; vai trò và sự quản lý, điều hành của bộ máy Nhà nước, của chính quyền các cấp; vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.

    Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong con người cán bộ được biểu hiện ở chỗ: Cán bộ sẽ dần dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là “gốc của mọi công việc”, cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của cán bộ. Đảng viên sẽ dần dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là chiến sĩ tiên phong của Đảng, cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của đảng viên. làm cho nhân dân suy giảm và mất dần niềm tin vào cán bộ, đảng viên, từ đó mà dẫn đến suy giảm và mất dần niềm tin vào vai trò và sự lãnh đạo của Đảng, vai trò và sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xã hội, vào tính ưu việt của chế độ XHCN. Từ đó, nhân dân sẽ không tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không quyết tâm phấn đấu để thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều đó sẽ hạn chế việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

    Một số giải pháp phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

    Một là, thường xuyên tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển.

    Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên.

    Ba là, phải từng bước thông qua đường lối, chủ trương, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực tiễn để từng bước hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

    Bốn là, chăm lo xây dựng nhân tố con người cán bộ, đảng viên, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng “diến biến hòa bình”.

    Năm là, cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

 

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ “THAM NHŨNG” ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

 Trong phát biểu kết luận tại Hội nghị tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng, tiêu

cực năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “ Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu

cực đã góp phần rất quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị,

đặc biệt là đã từng bước lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân. Chúng ta cần thống nhất

quan điểm: Mục tiêu của công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch

Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”,

không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu

hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”.

Đúng như vậy, các thế lực thù địch đã lợi dụng, xoáy sâu vào vấn đề tham nhũng, tiêu cực vì,

đây luôn là vấn đề “rất nóng”, được dư luận hết sức quan tâm; đó còn là biểu hiện tập trung nhất,

rõ ràng nhất của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; là “cái cớ” để các thế lực

thù địch, cơ hội, những kẻ “trở cờ”, bất mãn với chế độ sử dụng tối đa nhằm thổi phồng khuyết

điểm, bôi nhọ, xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng tiếp tục rêu rao “Việt Nam

không thể phòng, chống tham nhũng thành công; Việt Nam càng chống, tham nhũng càng nặng,

bởi vì đó là căn bệnh kinh niên của chế độ một đảng cầm quyền”. Những luận điệu trên là hết

sức thâm độc, xảo trá, phản động, cố ý phủ nhận những nỗ lực phòng, chống tham nhũng, tiêu

cực, hòng chia rẽ nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý

chí, lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.

QUYỀN ĐƯỢC “PHẢN BIỆN XÃ HỘI” ĐƯỢC TÔN TRỌNG Ở VIỆT NAM

 Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của phản biện xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn trân

trọng lắng nghe và tiếp thu những ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính

trị - xã hội. Điều đó được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam.

Theo đó, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị

của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân;

tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận

xã hội; giám sát, phản biện xã hội”.

Đối tượng phản biện xã hội là tất cả những hoạt động có liên quan đến tổ chức và thực hiện

quyền lực nhân dân, liên quan đến công quyền. Tất cả các hoạt động của các thiết chế trong hệ

thống chính trị từ bộ máy Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đều thuộc đối tượng phản


biện xã hội. Đối tượng phản biện xã hội còn là các chính sách do cơ quan công quyền đề xuất

ban hành trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học -

công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, quốc phòng - an ninh…

Mọi công dân, tổ chức xã hội ở Việt Nam là những chủ thể phản biện xã hội. Ở nước ta hiện nay,

các tổ chức xã hội tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và cũng có những nét đặc thù nhất định

bao gồm: tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề

nghiệp và tổ chức xã hội. Các hình thức phản biện xã hội hết sức đa dạng, phong phú phụ thuộc

vào chủ thể và đối tượng cũng như nội dung phản biện xã hội.

Đối với chủ thể là các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì thông qua các hình thức đối

thoại, hội nghị, tư vấn … Chẳng hạn, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì có thể có những

hình thức như: Tổ chức cuộc họp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch, Ban

Thường trực; Ban Chấp hành, Ban thường vụ các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức các hội nghị

chuyên đề của các hội đồng tư vấn, ban tư vấn, các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà hoạt động

thực tiễn; các hoạt động chuyên môn có liên quan của các tổ chức thành viên; tổ chức để nhân

dân góp ý kiến phản biện xã hội vào các dự thảo của cơ quan, tổ chức Đảng, nhà nước.

Đối với người dân, thực hiện quyền phản biện bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua lấy ý

kiến cử tri của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; thông qua sinh hoạt thôn, bản, tổ dân phố;

qua các tổ chức chính trị - xã hội mà người dân là một thành viên của tổ chức đó… Ngoài ra,

nhân dân vẫn có thể tự mình phản biện bằng con đường gửi thư, gửi ý kiến đến các cấp có thẩm

quyền, thông qua báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải ý kiến của mình.

Hoạt động phản biện xã hội ở Việt Nam diễn ra sôi nổi, sinh động, đã phát huy vai trò của Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam, sự tham gia của nhân dân. Ngay sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013,

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức phản biện xã hội đối với các dự án

luật như: Bộ luật Lao động (sửa đổi); Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục

và Đào tạo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015; Luật Phòng, chống

tham nhũng (sửa đổi)… Đối với dự án luật quan trọng, thu hút nhiều ý kiến, phản biện của nhân

dân như dự án Luật Đất đai, chỉ trong vòng 2 tháng rưỡi (từ 3/1/2023 đến 15/3/2023), Bộ Tài

nguyên và Môi trường đã nhận được hơn 12 triệu lượt phản biện, góp ý thể hiện sự quan tâm đặc

biệt của nhân dân.

Đặc biệt, trong tham gia xây dựng dự thảo các văn kiện trình Ðại hội XIII của Ðảng có những

con số hết sức ấn tượng về phản biện xã hội thực hiện trong nhiệm kỳ Ðại hội XII. Trong đó, Ủy

ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức 10 chương trình giám sát về các vấn đề,

lĩnh vực có ý nghĩa cấp bách đối với toàn xã hội; phản biện một số văn bản quan trọng của Ðảng,

Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành. Thông qua việc lấy ý kiến cho thấy Đảng, Nhà nước ta luôn

tôn trọng, bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Như vậy, ở Việt Nam, phản biện xã hội là một trong những quyền của công dân, mọi ý kiến đóng

góp xây dựng tập thể, đất nước đều được tôn trọng, ghi nhận, song pháp luật Việt Nam cũng

nghiêm trị hành vi lợi dụng phản biện xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân. Phản biện

xã hội để tìm ra điểm bất hợp lý của chính sách nhằm giải quyết vấn đề phát sinh, từ đó có thể

kiến nghị điều chỉnh hay thậm chí là hủy bỏ chính sách đó, đề xuất chính sách mới, phù hợp hơn

một cách thiết thực, hiệu quả nhất, vì lợi ích chung, sự tiến bộ khác xa bản chất, thủ đoạn phá

bĩnh xã hội mà các thế lực thù địch đã và đang làm.

"Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên và giải pháp phòng, chống

 

        Vấn đề “tự diễn biến” xét từ góc độ là sự suy thoái về mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự chuyến hóa” trong tổ chức, con người, trước hết là trong tổ chức đảng, tổ chức bộ máy Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Điều này đã từng diễn ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu trước đây.

       Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do tác động của “diễn biến hòa bình” đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ XHCN, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy Nhà nước… Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”.

    Một số giải pháp phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

    Một là, thường xuyên tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển.

    Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên.

    Ba là, phải từng bước thông qua đường lối, chủ trương, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực tiễn để từng bước hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

    Bốn là, chăm lo xây dựng nhân tố con người cán bộ, đảng viên, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng “diến biến hòa bình”.

    Năm là, cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

LỢI DỤNG “PHẢN BIỆN XÃ HỘI” ĐỂ CHỐNG PHÁ

 Phản biện xã hội là sự nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến khẳng định những nội dung đúng đắn

của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, dự

án, đề án, đồng thời phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa phù hợp với đời sống xã hội và

lợi ích chính đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét sửa đổi,

bổ sung cho chính xác và phù hợp. Khác với đả kích, nói xấu, bôi nhọ mang tính chống đối, lật

đổ, xuyên tạc sự thật, phản biện xã hội mang tính xây dựng, hỗ trợ, vì mục tiêu chung.

Thực tế cho thấy, cùng với nhiều đóng góp chân thành có ý thức xây dựng của nhân dân thì một

số kẻ đã lợi dụng phản biện xã hội để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước. Các thế lực

thù địch lợi dụng phản biện xã hội để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối

kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập. Từ “phản biện” đến phản đối và chống đối, mục

đích sâu xa là bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh

đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam.

Trước đây, một số hội, đoàn tự xưng như “Hội Nhà báo độc lập”, “Văn đoàn độc lập Việt Nam”

(thành lập trái pháp luật) đã rêu rao, tự cho mình là tổ chức nghề nghiệp nhưng thực chất là tổ


chức đối lập, mở ra các diễn đàn để thu hút các nhà báo, nhà văn tham gia nhưng thực chất là lợi

dụng phản biện xã hội đã đăng tải những bài viết xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng,

chính sách pháp luật của Nhà nước.

Thời gian gần đây, lợi dụng chủ trương lấy ý kiến góp ý của nhân dân về dự thảo Luật Đất đai

(sửa đổi), đã xuất hiện một số trang mạng xã hội, blogger tham gia với động cơ xấu, cố tình đánh

tráo bản chất, làm cho người dân hiểu sai từ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện

chủ sở hữu” thành “đất đai là độc quyền sở hữu của Nhà nước”. Thậm chí, số đối tượng xấu còn

xuyên tạc rằng việc sửa luật nhằm tạo “lợi ích nhóm” cho quan chức, từ đó cố tình kích động

hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bên cạnh đó, một số đối tượng giả danh phản biện thông qua các “thư ngỏ”, “thư kiến nghị” gửi

các cấp, ngành, gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đăng tải trên các mạng xã hội, trả

lời phỏng vấn của các báo, đài nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam để trình bày ý kiến cá

nhân về những chủ trương, chính sách. Họ cố tình miệt thị, công kích, bóp méo sự thật, xuyên

tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Mặt khác, họ thổi phồng những tồn

tại, hạn chế của đời sống xã hội, quy chụp cực đoan rằng mọi hạn chế và tiêu cực ở nước ta là do

sự trì trệ về chính trị và “do độc Đảng”.

Một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, cực đoan còn núp bóng “nhà phản biện” có hành vi

làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước như

Phạm Đoan Trang, Nguyễn Lân Thắng… Sau khi các đối tượng bị cơ quan chức năng khởi tố,

bắt giam, xét xử theo quy định của pháp luật thì một số tổ chức, hội nhóm phản động kêu oan, bẻ

lái, tẩy trắng tội danh rồi vu cáo chính quyền Việt Nam “bịt miệng người bất đồng chính kiến”,

“ở Việt Nam có quyền tự do phản biện nhưng chỉ phản biện theo hướng của đảng”…

Những âm mưu, thủ đoạn trên đối lập hoàn toàn với phản biện xã hội mà chính là phá bĩnh xã

hội. Thực chất phá bĩnh xã hội là công cụ được các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, số

tổ chức, hội nhóm cơ hội chính trị, cực đoan, các hãng truyền thông hải ngoại thiếu thiện chí với

Việt Nam thường xuyên sử dụng.

Thông qua các trang mạng xã hội, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động luôn tìm mọi cách

tán phát những thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống và chụp mũ, đả kích, nói xấu; tùy

tiện đưa ra luận điệu sai trái, xuyên tạc đánh lừa nhận thức dư luận, phản đối chế độ và chính

sách hiện hành; phủ nhận thành tựu và sự phát triển của đất nước, gây nghi ngờ, tạo tâm lý hoang

mang trong nhân dân, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại lòng tin, sự đồng thuận xã

hội trong nước, hạ thấp vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO

 Trong bối cảnh mới, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn hiện nay đang diễn ra phức tạp,

gay gắt trên nhiều lĩnh vực. Trước thực tế đó, quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của

Việt Nam vẫn rất rõ ràng, kiên định. Việt Nam luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các

nước, đa phương hóa, đa dạng hóa trên cơ sở độc lập, tự chủ và nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

Mục đích của Việt Nam là tạo được lợi ích chung với các nước – đó là duy trì hòa bình, ổn định.

Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Việt Nam dứt khoát


không “chọn bên”; không chịu “chi phối” bởi bất cứ quốc gia nào; không liên minh, liên kết hay

“tiếp tay” cho nước này để chống nước kia; không bị “lôi kéo” theo nước này để chống nước

khác. Việt Nam luôn xác định bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng, phát triển đất nước là do

mình, trên cơ sở tranh thủ sự ủng hộ tối đa của các nước, chứ không thể trông chờ vào bất cứ

nước nào. Trong giải quyết những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đặc biệt là giải quyết các tranh

chấp Biển Đông, quan điểm của Việt Nam là phải bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp

quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Chủ trương và cách giải quyết

đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn

xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ.

Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, tại Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán

đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa

phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các

nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác,

cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập

quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách

nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Như vậy có thể thấy, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, phù

hợp với xu thế chung của thế giới. Những gì đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập trong Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thêm một lần nữa khẳng định tính đúng đắn, sáng

tạo, linh hoạt và hiệu quả trong đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Nếu ai đó nói

rằng Việt Nam “tiếp tay” hay bị “lôi kéo”; chịu “chi phối”… bởi nước này nước kia thì đó là

hành động cố tình suy diễn, xuyên tạc, bịa đặt nhằm mưu đồ xấu, can thiệp thô bạo vào công

việc nội bộ của Việt Nam, kích động làm cho tình hình thêm phức tạp, gây hoài nghi, bất ổn, ảnh

hưởng đến niềm tin của nhân dân vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Việt Nam. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân Việt Nam luôn đề cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ

xấu và kiên quyết đấu tranh phản bác, loại bỏ những luận điệu sai trái ấy ra khỏi đời sống trong

nước và quan hệ hợp tác quốc tế.

NHỮNG THÀNH TỰU VỀ MẶT NGOẠI GIAO MÀ VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC

 Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát

triển; đa phương hóa, đa dạng hóa; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các

nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác,

cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc

tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách

nhiệm trong cộng đồng quốc tế… những năm qua, đặc biệt trong gần 40 năm đổi mới, Việt Nam

đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng, đáng tự hào trong công tác đối ngoại, được bạn

bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên

toàn thế giới ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu. Đối ngoại song phương và đa phương

từng bước điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao

nhà nước với 193 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có 5 nước đối tác chiến

lược toàn diện và 12 nước đối tác toàn diện; có quan hệ với hơn 220 thị trường nước ngoài. Việt

Nam là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế… Những thành quả của công

tác đối ngoại đã góp phần rất quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho

công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng

cao vị thế của đất nước. Việt Nam đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất

đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh – “Ngoại giao cây tre”. Đúng như Tổng Bí thư

Nguyễn Phú Trọng đã phân tích: “Đây là nền ngoại giao đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa

hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa”.

MỤC ĐÍCH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH KHI BÔI NHỌ, XUYÊN TÁC CÔNG TÁC NGOẠI GIAO

 Chúng ta chẳng lạ rằng trong âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch,

chính sách đối ngoại là một trong những mục tiêu mà họ xoáy vào. Sự xuyên tạc, bịa đặt một

cách vô lối, nhất là trên không gian mạng, không nhằm mục đích gì khác là phá hoại đường lối

đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam; kích động, chia rẽ, gây ảnh hưởng tiêu cực

đến mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, nhất là với Mỹ, Trung Quốc và Nga hòng làm cho

dư luận quốc tế và người dân trong nước hiểu sai bản chất đường lối đường lối đối ngoại độc lập,

tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích

cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia – dân tộc, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng và

Nhà nước Việt Nam. Nhưng họ cũng không thể

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

 Thời gian gần đây, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam tiếp tục có nhiều

hoạt động ngoại giao với các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng. Đây

là những hoạt động bình thường tiếp tục triển khai toàn diện, đồng bộ công tác đối ngoại của

Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm mở rộng quan hệ quốc tế, tiếp tục duy trì và nâng cao các

quan hệ đã có, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ

vững môi trường hòa bình, ổn định, đẩy mạnh hội nhập, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tiếp

tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thế nhưng bên cạnh những cái nhìn thiện cảm, những nhận định, đánh giá khách quan về

vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng, thành công từ những chuyến thăm và các hoạt động ngoại giao

nổi bật ấy, đâu đó vẫn còn những cái nhìn thiển cận, những ý kiến phiến diện, suy diễn chủ quan

của một số người thiếu thiện chí, những phần tử bất mãn, phản động chuyên tìm cách chống phá

Việt Nam. Đặc biệt từ sau chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tới Việt Nam và việc

hai nước nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện; hay mới đây nhất là chuyến công

tác tham dự Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế “Vành đai và Con đường” lần thứ ba của Chủ tịch

nước Võ Văn Thưởng theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản

Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và việc bên lề Diễn

đàn, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã gặp và mời Tổng thống Nga Vladiminr Putin thăm Việt

Nam…, thông qua một vài trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội thiếu thiện chí với Việt Nam ở

nước ngoài, họ cố tình xuyên tạc về mục đích, ý nghĩa và kết quả của các hoạt động ngoại giao

này. Đáng lưu ý có người hồ đồ suy diễn rằng, Mỹ đang muốn “lôi kéo” Việt Nam để chống

Trung Quốc. Bình luận về sự kiện Việt Nam – Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược

toàn diện, có luận điệu cho rằng, Hoa Kỳ đã xây dựng được “một căn cứ tiền tiêu quan trọng

ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc”. Họ cho rằng Việt Nam đang chịu sự “chi phối” của

Trung Quốc; đả kích, xuyên tạc việc Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự Diễn đàn “Vành đai và

Con đường” là “tiếp tay” cho Trung Quốc; phản đối việc Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mời

Tổng thống Putin thăm Việt Nam… Họ cho rằng lập trường của Việt Nam “không kiên định” lúc

đi theo nước này, lúc ngả theo nước kia…

MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRONG PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

 Để giữ gìn, bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, đồng thời đấu

tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động văn hóa-

nghệ thuật để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, cần quan tâm

thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau.

Một là, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa.

Bảo đảm các hoạt động văn hóa phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, khắc phục tình

trạng buông lỏng sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trên lĩnh vực văn hóa. Các cấp, các

ngành, địa phương cần quan tâm chỉ đạo, giám sát nội dung tư tưởng chính trị trong các hoạt

động văn hóa, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động

văn hóa hòng làm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam.

Cùng với đó, cần quản lý chặt chẽ lĩnh vực hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; chủ động

ngăn chặn, thanh lọc, không để các loại ấn phẩm, văn hóa phẩm độc hại từ nước ngoài, thông tin

xấu độc, xuyên tạc thẩm lậu vào Việt Nam.

Hai là, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của văn hóa và mối nguy “xâm

lăng văn hóa”.

Đã có lúc lĩnh vực văn hóa chỉ được nhận thức đơn giản, phiến diện là bề nổi, là “cờ đèn kèn

trống”, mà không phải là nhu cầu thiết yếu của con người và là sức mạnh nội sinh của sự phát

triển bền vững. Do vậy, cần đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức đúng đắn về lĩnh vực văn hóa,

coi đó vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội. Văn hóa phải được đặt

ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội trong chiến lược phát triển đất nước. Đó là cơ sở để các

cấp, các ngành, các địa phương chú trọng quan tâm chăm lo phát triển lĩnh vực văn hóa một cách

thiết thực, hiệu quả.

Thông qua hệ thống giáo dục quốc gia, các kênh thông tin để tuyên truyền, nâng cao ý thức trách

nhiệm của mọi công dân đối với mối nguy xâm lăng văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện

nay, từ đó nêu cao cảnh giác, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên

truyền xuyên tạc, hành vi phản cảm, trái thuần phong mỹ tục, đi ngược lại truyền thống văn hóa

tốt đẹp của dân tộc.

Ba là, huy động sức mạnh của hệ thống chính trị để bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp và

bản sắc văn hóa dân tộc.

Muốn giữ được gốc gác cội nguồn dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam, ngoài trách nhiệm của

ngành văn hóa và những người làm công tác văn hóa, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của

các cấp, các ngành và cả cộng đồng, xã hội. Vì văn hóa gắn liền với mỗi con người, mỗi cộng

đồng dân tộc, mỗi địa phương và gắn liền với các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, do đó cả hệ

thống chính trị phải cùng nêu cao trách nhiệm trong việc tham gia giữ gìn, bảo tồn và phát huy

các di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Bốn là, tăng cường sức mạnh nội sinh, tạo “sức đề kháng” để phòng, chống xâm lăng văn hóa..

Một trong những giải pháp căn cơ trong phòng, chống xâm lăng văn hóa hiện nay là chúng ta

phải quan tâm xây dựng nền công nghiệp văn hóa, coi đây là một trong những lĩnh vực ưu tiên

trong quá trình hội nhập quốc tế. Việc chú trọng xây dựng công nghiệp văn hóa không những

góp phần mang lại nhiều sản phẩm văn hóa tốt đẹp, lành mạnh để phục vụ, nâng cao đời sống

văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trong nước, mà thông qua xuất khẩu những sản

phẩm văn hóa đặc trưng của dân tộc ra thế giới, chúng ta còn thu được nhiều lợi ích kinh tế to

lớn. Hơn thế, việc mở rộng thị trường xuất khẩu văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh về văn

hóa ra nước ngoài còn góp phần khẳng định, nâng cao vị thế quốc gia, hình ảnh dân tộc trên

trường quốc tế.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ “XÂY – CHỐNG” TRONG VĂN HÓA

 Đề cập đến hậu quả của các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai xâm nhập vào nước ta, Chỉ thị

số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Chống sự xâm nhập của

các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội” đã cảnh báo: “Nhiều sản phẩm văn

hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư

tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu

niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc”.

Không thờ ơ với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc từ gốc rễ

Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về

“Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc phải đi đôi với việc kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm

nhập các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai và thông tin độc hại”.

Điều đó thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng về vấn đề văn hóa là phải kết hợp giữa “xây” và

“chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp


bách nhằm giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập

quốc tế, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Đại hội XIII

nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo cốt lõi và xuyên suốt là: “Phát huy sức mạnh

tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam”; đồng thời “bảo vệ

nền văn hóa, lợi ích quốc gia-dân tộc; kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin xấu

độc, các văn hóa phẩm ngoại lai, độc hại, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần

phong mỹ tục”.

ÂM MƯU VỀ “XÂM LĂNG VĂN HÓA”

 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện trên mọi

lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Mở cửa, hội nhập, giao lưu và hợp tác nhằm tiếp thu có chọn lọc

các giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại, đồng thời phải bảo vệ, bảo toàn các giá trị tốt đẹp,

cao quý của nền văn hóa Việt Nam.

Văn hóa là cội nguồn, là gốc rễ làm nên sức mạnh nội sinh của dân tộc. Với âm mưu thâm độc

làm suy yếu sức mạnh nội sinh, thời gian qua, các thế lực thù địch tiến hành nhiều hoạt động

xâm lăng văn hóa vào nước ta. Đây là thủ đoạn tinh vi nhằm triệt tiêu tận gốc những giá trị cốt

lõi, nền tảng của dân tộc Việt Nam, từ đó truyền bá, tiêm nhiễm những sản phẩm văn hóa xấu

độc, lai căng, làm chuyển biến nhận thức, thay đổi hành vi, lối sống của con người. Từ sự chuyển

biến về văn hóa dần lan sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, phá

hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Sự xâm lăng văn hóa tuy âm thầm

nhưng có thể phá hủy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Các thế lực thù địch tiến hành xâm lăng văn hóa hướng đến các tầng lớp nhân dân, trước hết là

giới trẻ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách, dễ bị tác động bởi các yếu tố

mới lạ, khác biệt.

Trong thời đại thông tin bùng nổ, các loại thông tin “bẩn” tràn lan cổ vũ, hô hào, kích động bạo

lực, đồi trụy, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, phẩm

chất tốt đẹp của con người. Các kênh xâm lăng văn hóa rất đa dạng, thông qua phát thanh, truyền

hình, phim ảnh, xuất bản, quảng cáo... nhằm chiếm thị trường văn hóa của Việt Nam. Bên cạnh

các sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập, văn hóa ngoại lai cũng đang tràn vào nước ta một cách

ồ ạt, khó kiểm soát.

Trong hoạt động giải trí, nhiều người bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ

nước ngoài như chụp ảnh quái đản, hút bóng cười, nuôi thú độc, hát cùng dao kéo... Lĩnh vực

điện ảnh, truyền hình có tình trạng phim nước ngoài chiếm thời lượng phát sóng lớn, nhạc ngoại

tràn lan ảnh hưởng đến thị hiếu của công chúng, sách dịch lậu trôi nổi trên thị trường trái với

thuần phong mỹ tục dân tộc, dễ làm cho công chúng, nhất là người trẻ ngộ nhận, mất phương

hướng thẩm mỹ tích cực, thậm chí bị tiêm nhiễm những “virus văn hóa” độc hại mà không hay

biết.

XÂY DỰNG "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Trong bối cảnh các thế lực thù địch lợi dụng môi trường internet để chống phá Đảng ta bằng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc nhằm phản bác nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.
Việc làm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ để chống lại những âm mưu, thủ đoạn đó, mà còn góp phần xây dựng, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Cấp thiết xây dựng “Thế trận lòng dân”
Theo Sách trắng Thương mại điện tử của Cục Thương mại điện tử và kinh tế số (Bộ Công Thương), khoảng 75% triệu người Việt đã tiếp cận với internet (năm 2022). Người Việt ở độ tuổi 16-64 dành 6 giờ 38 phút mỗi ngày để sử dụng internet. Với số lượng người dùng đông đảo như trên, có thể thấy việc truyền tải thông tin qua internet có vai trò rất lớn đến hoạt động tuyên truyền, góp phần bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Thông qua các công cụ lưu trữ, những tài liệu, ấn phẩm, nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được phổ biến trên mạng với tốc độ cao, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian.
Song, cũng trên không gian mạng các thế lực thù địch, phản động sử dụng các nội dung và thủ đoạn chống phá rất đa dạng; lợi dụng những vấn đề phức tạp, nổi cộm trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường để suy diễn, quy chụp, khuyếch đại. Để đấu tranh chống lại những thông tin xấu độc đó, việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động.
Việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng còn góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của đảng viên
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng nỗ lực xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt, Luật An ninh mạng đã quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch không ngừng sử dụng nhiều chiêu thức để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng, với việc đăng tải hàng nghìn bài viết tấn công, bôi nhọ, chống phá. Bên cạnh các trang mạng công khai, chúng còn tạo lập các nhóm kín trên mạng xã hội theo vùng, khu vực nhằm thu hút và tập hợp lực lượng tham gia chống phá với nhiều hình thức như đưa tin, viết bài, phỏng vấn, livestream để chống phá sự nghiệp cách mạng và phủ nhận những thành tựu đổi mới của dân tộc ta. Những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị tìm mọi cách lôi kéo cộng đồng mạng tham gia vu khống, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực thi chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập; đối lập kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa; khoét sâu các mâu thuẫn, bất công trong xã hội nhằm phá vỡ sự đoàn kết toàn dân; li gián Đảng với nhân dân…
Để xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần thấm nhuần quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt quan điểm “dân là gốc”, các cơ quan Đảng và Nhà nước cần giữ được tinh thần đoàn kết, sự đồng thuận, đồng lòng, ý chí quyết tâm… của toàn thể "cư dân mạng". Để "cư dân mạng" tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng, cần tập trung vào công tác tuyên truyền xây dựng cách ứng xử trên không gian mạng. “Dân là gốc” trên không gian mạng chính là nói lên tiếng nói của người dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của nhân dân. Khi lợi ích của "cư dân mạng" thống nhất với lợi ích của dân tộc thì "cư dân mạng" sẽ có thêm niềm tin và sức mạnh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hơn ai hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc vai trò, trách nhiệm của mình trong việc đấu tranh một cách quyết liệt, không khoan nhượng với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay.
Mỗi đảng viên cần ra sức học tập, tu dưỡng để nhận thức sâu sắc về nền tảng tư tưởng của Đảng và nâng cao hơn nữa bản lĩnh cách mạng trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch trên không gian mạng.
Cùng với đó là đổi mới nội dung, phương pháp truyền thông, tập trung giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, phát huy tính tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, tinh thần đại đoàn kết toàn dân; giáo dục nhận thức, niềm tin về bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế. Xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ chủ quyền biển đảo; bồi đắp nền tảng tinh thần, lý tưởng cách mạng cao đẹp; lan tỏa những tấm gương tập thể, cá nhân điển hình để nhân lên sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng lành mạnh.
Xây dựng nội dung cần bảo đảm phù hợp với độ tuổi, vùng, miền; tránh tuyên truyền bằng bài viết dài dòng khiến người đọc cảm thấy nhàm chán; thiết kế những nội dung kết hợp hài hòa kênh chữ và kênh hình… Đồng thời, cần xây dựng nội dung sao cho có sự tương tác, phản hồi để qua đó các cơ quan nhà nước nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của nhân dân, từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn của đất nước, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Nội dung tuyên truyền cũng cần phải đổi mới, thời sự, cập nhật, chính xác, phù hợp với đối tượng tiếp nhận.
Đáng lưu ý, đối tượng tuyên truyền cần được mở rộng. Hiện nay, việc tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn còn hạn chế ở đối tượng tiếp nhận. Do đó, thời gian tới, chúng ta cần thu hút được toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung và "cư dân mạng" nói riêng. Việc tuyên truyền, giáo dục nền tảng tư tưởng của Đảng cần nhất quán, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, vùng miền, tuổi tác, không phân biệt người sống trong nước hay nước ngoài.
Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng cường sự đoàn kết quốc tế, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”, đẩy mạnh thu hút cả những "cư dân mạng" yêu chuộng hòa bình trên thế giới tham gia vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Đặc biệt, nhiệm vụ quan trọng là tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, các cơ quan quản lý nhằm nhận diện và đấu tranh với các luận điệu sai trái trên không gian mạng.
Quá trình xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng cần gắn kết giữa “xây” và “chống”. Các cơ quan nhà nước cần làm tốt vai trò “gác cổng” không gian mạng bằng việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, cơ sở vật chất, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin; bổ sung nguồn nhân lực chuyên trách đảm nhận xử lý các thông tin xấu, độc, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng; sử dụng các công cụ hiện đại để thiết lập hàng rào kỹ thuật nhằm sàng lọc, xét duyệt, ngăn chặn các thông tin phản cách mạng. Để không bị động trước những thông tin chống phá của các thế lực thù địch, còn cần xây dựng dữ liệu đấu tranh, tập hợp lực lượng nhân dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy nhạy bén, có khả năng lập luận, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.
Công cuộc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng là nhiệm vụ lâu dài và nhiều thách thức. Vì vậy, để công tác này thực sự mang lại hiệu quả thiết thực cần phối hợp thực hiện nhiều biện pháp. Trong quá trình triển khai, chúng ta cần chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận trên không gian mạng để kịp thời định hướng, củng cố niềm tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tích cực phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.
Báo Nhân dân
Có thể là hình ảnh về 4 người, mọi người đang học, bàn và văn bản

TỪ MỘT LỜI CĂN DẶN CỦA BÁC HỒ

 

Chân lý dù cao siêu đến đâu thì cũng bắt đầu từ những điều đơn giản, những việc bình thường trong cuộc sống được người ta làm theo, làm đi làm lại, được thực tiễn kiểm nghiệm rồi đúc kết lại mà thành và từ đó xuất hiện cái ta vẫn gọi là lý luận. Tất nhiên, không gian càng rộng, thời gian càng dài thì lý luận, chân lý càng được thử thách, càng mang tính phổ quát, trường tồn. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình. Trong bài viết nhỏ này chúng tôi chỉ xin nêu một số thu nhận của mình về Bác Hồ, một nhà văn hoá kiệt xuất, một văn nghệ sĩ lớn trong quan hệ với văn nghệ và văn nghệ sĩ.
1. Sau Lễ Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945), việc nước đang bộn bề, thù trong giặc ngoài đang âm mưu chống phá chính quyền non trẻ của ta, thế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sắp xếp thời gian thực hiện những cuộc tiếp xúc với các nhà hoạt động văn hoá. Ngày 7-9-1945, trong buổi tiếp thân mật đoàn đại biểu Uỷ ban văn hoá lâm thời Bắc Bộ, thật tự nhiên, giản dị, không một chút hàn lâm hay khẩu khí của một chính khách, Người nói: “Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hoá nhận thấy rõ nhiệm vụ các ngài trong lúc này là: Củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hoá mới… Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng quốc dân, đấu tranh cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hoá mới. Cái văn hoá mới này cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng, thì mới thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại”. Chủ tịch nước lại dành tiếp ông Nguyễn Trường Phượng, Tổng Biên tập Tạp chí Duy Tân (một tạp chí tư nhân), Người nói: “Văn hoá với chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau… xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hoá của ta vì thế không nẩy sinh được. Nay nước ta đã độc lập, tinh thần được giải phóng, cần phải có một nền văn hoá hợp với khoa học và hợp với cả nguyện vọng của người dân”.
2. Tháng 5 năm 1946, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim, cùng các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung được Hội Văn hóa cứu quốc cử vào Phủ Chủ tịch để vẽ và nặn tượng Bác Hồ, chuẩn bị cho Triển lãm Mỹ thuật mùa thu đầu tiên của cách mạng.
Về sự kiện lịch sử thiêng liêng này, bà Kim còn nhớ rất nhiều kỷ niệm. Thoạt tiên, bà kể, vừa mới bước vào phòng Bác làm việc, trong tâm trạng hết sức ngỡ ngàng, khi trên tay còn đang lủng củng đồ nghề, nào giá nặn, nào thùng đất, bà chưa biết đặt vào đâu thì Bác đã gọi người mang ra chiếc chiếu để bà sắp đặt. Đó là cử chỉ đầu tiên thể hiện sự săn sóc chu đáo của Bác khiến bà rất bất ngờ và xúc động. Bắt đầu vào công việc của bà, bà lại một lần nữa bất ngờ khi Bác hỏi: Mẫu phải ngồi thế nào đây? Rồi tiếp đó, Bác còn đùa vui: Hôm nay mẫu ngồi thêm giờ phải có bồi dưỡng đấy nhé! Sau đó, lúc bà còn đang lúng túng, chỉ ngại các dụng cụ điêu khắc động chạm vào người Bác, thì như đoán trước được, Bác đã nói ngay: Cô cần đo, cứ đo đừng ngại. Không đo, làm không được thì hỏng việc. Thì ra Bác không chỉ hiểu yêu cầu của việc nặn tượng đối với đối tượng nguyên mẫu là Bác, mà Bác còn hiểu sâu đến cả nội dung các thao tác trong nghề nặn tượng của bà. Rất thông cảm với nỗi vất vả của nghề nghiệp, Người còn luôn hỏi han và động viên bà: Lúc nào làm việc cũng phải mang đủ thứ thế này à? Thế ra làm công tác văn nghệ cũng nặng nhọc và vất vả nhỉ?
Chưa hết! Hơn hai mươi ngày, mỗi ngày Bác dành ra hai giờ để các họa sĩ vào nhà nặn tượng làm công việc chuyên môn của mình, cuối cùng cũng đã kết thúc. Xem tranh, tượng về mình xong, Bác cám ơn từng người rồi thân mật góp ý: Này, hai tai Bác không đều nhau đâu, bộ râu thế mà khó nhỉ, hãy xem người Ai cập xưa họ thể hiện râu ra sao?
Nhiều nhà nhiếp ảnh trong hồi ức của mình đã kể lại kỷ niệm không thể quên những lần được chụp ảnh Bác. Hiểu biết đặc trưng mỗi nghề nghiệp, tạo điều kiện để các nghệ sĩ hoàn thành công việc của mình, Người còn lắng nghe để hiểu biết thêm và ân cần động viên, giúp đỡ họ hoàn thành công việc. Đó là những phẩm chất mẫu mực của lãnh tụ trong quan hệ với nghệ sĩ.
3. Ngày 28-2-1957, Hồ Chủ tịch đến thăm Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 2. Trong buổi bế mạc Đại hội, Người nói: “Cụ Hoàng Ngọc Phách vừa nói tôi cũng là một nhà văn nghệ, nhưng tôi chỉ nhận mình là một người yêu chuộng văn nghệ chứ không phải một nhà văn nghệ”. Trong khi đó, một nhà thơ lớn của Trung Hoa, ông Quách Mạt Nhược, khi đọc Nhật ký trong tù của Bác đã viết rằng: Nếu không được biết tên tác giả, ông đã nhầm đó là những bài trong Đường thi, Tống thi. Nhà thơ Chế Lan Viên, sau khi tụng vinh thơ Hồ Chí Minh là thơ của một nhà thơ lớn đích thực, còn cho biết, đọc những truyện ký viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc và coi đó là những truyện ngắn mẫu mực về kỹ thuật văn chương hiện đại mà trước Hồ Chí Minh, các nhà văn Việt Nam không ai đạt tới.
Vô cùng khiêm nhường, trong buổi nói chuyện với các văn nghệ sĩ tiêu biểu tại phiên bế mạc Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, Người bảo, chúng ta nói chuyện với nhau phải thật thà, cụ thể là “thành tích tuy có nhiều nhưng thiếu sót cũng không ít”. Và nhấn mạnh: “Đó là ý kiến của tôi, còn đúng hay không các cụ và các anh chị xét lại”. Tiếp đó, chân thành và hết sức giản dị, Người nói: “Bây giờ địa vị một người chính trị, tôi xin hứa rằng Trung uơng Đảng và Chính phủ sẽ cố gắng trong khả năng của mình, giúp đỡ văn nghệ tiến lên”.
4. Tháng 6 năm 1963, Trung ương quyết định cử đồng chí Hà Huy Giáp đang làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục sang đảm nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Văn hóa. Giao nhiệm vụ mới cho đồng chí Hà Huy Giáp, sau khi nói rõ nhiệm vụ của đồng chí Hà Huy Giáp là giúp ông Hoàng Minh Giám bộ trưởng làm công tác văn hóa và phụ trách văn nghệ, Bác Hồ dặn: “Văn hóa văn nghệ thì không tiếp xúc được tập thể. Họ đòi tình cảm là chính. Phê bình họ, lý tình phải đi đôi với nhau. Làm cho họ buồn, họ không sáng tác được. Chú có cái nhược điểm là hay nói thẳng. Chú được cái là không để bụng, không trù dập ai. Nói thẳng là tốt, nhưng phải lựa lời mà nói, lựa lúc mà nói... Gặp văn nghệ sĩ, chú phải gặp riêng từng người một. Nói chung lãnh đạo ai cũng vậy, phải có lý có tình. Đối với văn nghệ sĩ, phải có tình trước rồi mới đưa họ vào lý. Công việc chú bây giờ khó hơn nhiều. Rốt cuộc mình hiểu biết anh em, coi trọng anh em, thì anh em coi trọng mình, nghe mình...”. Một lời căn dặn giản dị mà bao hàm trong đó tất cả các phẩm chất, thái độ, quan niệm cần có của một nhà lãnh đạo đối với văn học nghệ thuật.
5. Có thể nói, giới văn nghệ Việt Nam vô cùng may mắn và hạnh phúc vì được sự quan tâm săn sóc, lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ học viết báo và là một nhà báo lớn hẳn là chuyện mọi người đều đã biết. Nhà văn Nguyễn Công Hoan còn cho biết: Trong khoảng một năm, kể từ ngày Chính quyền cách mạng thành lập đến ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, mỗi tháng một lần anh em nhà báo đều được vào Phủ Chủ tịch để nghe Hồ Chủ tịch chỉ bảo cách làm báo. Nhà văn hóa lớn Đặng Thai Mai viết: “Về bản thân, Người cũng chính là nhà văn nghệ của thời đại. Trong cuộc đời hoạt động chính trị bận rộn, gian khổ, lắm lúc nguy hiểm, với trăm công nghìn việc to lớn, chồng chất như vậy, mà Người vẫn sắp xếp được thì giờ để sáng tác kịch, viết văn, làm thơ và để lại cho chúng ta những hạt ngọc vô giá, những tác phẩm bất hủ”. Văn của người, từ truyện đến chính luận đạt đến trình độ mẫu mực về sự vận dụng thể loại. Tuyên ngôn độc lập của Người là áng thiên cổ hùng văn. Người học nghề ảnh và làm nghề này từ khi mới sang Pháp tìm đường đi cho cách mạng. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người quen biết rất nhiều các nhà văn, nghệ sĩ, nhà văn hóa lớn thế giới. Như thời gian ở Pháp, người đã quen biết 3 nhà văn nổi tiếng, là Henri Barbusse (hơn người 17 tuổi), Romain Rolland (hơn 24 tuổi) và Vaillant Couturier (kém 2 tuổi). Người đã quen biết cả tài tử trứ danh vua hề thế giới Charlot Chaplin. Ở Nga, người đã đọc văn của Liev Tolstoi. Vốn văn hóa dân tộc của Người vô cùng sâu rộng. Người thuộc lòng Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm và lẩy Kiều rất tài tình tinh tế, linh hoạt. Luật sư Phan Anh cho biết: Trong kháng chiến Chống Pháp, ở các kỳ họp Hội đồng chính phủ, dưới sự chủ tọa của chủ tịch Hồ Chí Minh, thường xuyên có sinh hoạt đọc thơ và lẩy Kiều. Trong nhật ký ngày 30-4-1952 tại Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc, nhà văn Vũ Tú Nam viết: “Bác mời một cụ và chị Song Kim hát chèo. Bác chữa cho từng câu hát sai”. Ca sĩ Minh Huệ hát điệu Ru em cho Bác nghe: “à ờ ờ... ru em em ngủ cho muồi”, Bác bảo: “Ru tam tam thộc cho muồi” mới đúng tiếng miền Trung ngày trước. Chuyện Bác sửa cho các ca sĩ trong Đoàn văn công Quân khu 4 từng chữ trong các bài dân ca cho đúng với tiếng gốc xứ Nghệ xưa, hẳn mọi người đã biết. Nhà văn Hồ Phương kể: Tháng 12 năm 1946, đang là nhà báo phụ trách trang Thiếu niên của báo Cứu quốc, được vào Bắc bộ phủ họp, gặp Bác, còn đang lúng túng thì Bác đã bảo: “Báo chí dù lớn hay bé thì cũng phải vào gần thì mới tác nghiệp được chứ!”. Năm 1946, họa sĩ Tô Ngọc Vân được cử vào Phủ Chủ tịch để vẽ chân dung Bác, còn đang loay hoay trong quá trình sáng tác, thấy mấy nhà nhiếp ảnh loáng cái đã hoàn thành công việc chụp ảnh chân dung Bác, rất băn khoăn, họa sĩ liền rụt rè đề nghị với Người cho họa sĩ thời hạn vẽ là ba tuần. Thật không ngờ, vị chủ tịch kính yêu của dân tộc, đáp: Chú cứ yên tâm. Ba tháng cũng thấy là phải, chứ nói gì ba tuần!
Nhà văn Nguyễn Đình Thi kể: Hội nghị các đại gia trong ngành văn học nghệ thuật hôm ấy, Bác Hồ đến dự hơi muộn. Bác nói: Các chú cứ bàn đi, bác nghe. Các cây bút lớn tiếp tục tranh luận sôi nổi quanh chủ đề: Sáng tác là con ngựa. Phê bình là cái roi quất cho con ngựa lồng lên. Có vị cười lớn, kêu to: Phải quất mạnh nữa vào. Và liếc sang Nguyễn Đình Thi. Lúc này ông vừa cho ra mắt kịch bản Con nai đen, tác phẩm đang bị giới lý luận xì xào phê phán. Khiêm nhường, nhà văn im lặng lắng nghe. Và ông thật không ngờ, giữa lúc đó, Bác Hồ đi tới. Và Bác cúi xuống, dịu dàng: Chú Thi đấy, hả? Dạ, thưa Bác, cháu đây ạ. Rồi Bác ngồi xuống bên nhà văn. Bác hỏi han tình hình gia đình, con cái nhà văn. Bác nói, giọng cất cao, cố tình để các bậc đại gia nghe thấy. Lát sau, tổng kết hội nghị, Bác âu yếm nhìn mọi người, nhìn Nguyễn Đình Thi, nói thật ân cần: Thôi! Chín năm kháng chiến, ngựa mệt mỏi rồi, đừng dùng roi quất nó nữa.
6. Các Mác, Ăngghen, V.I. Lênin đều yêu say mê nghệ thuật. Ăngghen đã từng mơ trở thành một nghệ sĩ pianô. Trên đời có gì kỳ diệu hơn âm nhạc! Đó là câu nói của Ăngghen. Nhiều người nói, nếu không là nhà cách mạng, hiển nhiên, Mác và Ăngghen sẽ là những nghệ sĩ lớn. Những bài viết của các vị lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới về văn học nghệ thuật đã trở thành kinh điển về năng lực thẩm định và hiểu biết thấu đáo vai trò, ý nghĩa cùng những giá trị chân chính của những sáng tạo và của nghệ sĩ trong lĩnh vực cao quý, độc đáo này.
Cách mạng và nghệ sĩ - Hai phạm trù không đối lập. Trái lại, gặp gỡ và hài hòa, hai trong một. Nhà cách mạng và người nghệ sĩ, nói một cách khái quát, chung quy cả hai đều chung một phẩm chất nhân văn cao cả, lấy hiến dâng tài năng, trí tuệ cho nhân loại làm mục đích sống. Cả hai đều mang trong mình tâm hồn lãng mạn, hướng tới cái đẹp, tôn thờ, cổ xúy và sáng tạo nên cái đẹp cho con người. Cả hai đều cùng khởi nghiệp từ một nền văn hóa cao, cùng chung một mẫu số văn hóa. Đó cũng là cơ sở để Các Mác, Ăngghen, Lê nin, Hồ Chí Minh gặp nhau, trong mối đồng cảm sâu xa, trong cách thức cảm thụ, đánh giá và ứng xử với văn nghệ và nghệ sĩ.
7. Điểm qua vài chi tiết nhỏ như đã nêu ở trên, ít nhiều chúng ta cũng đã có thể hình dung sự ứng xử của Hồ Chủ tịch với văn nghệ. Lênin cũng có không ít các sự kiện có thể kể lại tương tự. Chẳng hạn, nghe lời căn dặn của Người với đồng chí Hà Huy Giáp trên ta không khỏi liên tưởng tới lời Lênin nói sau đây: “Một nhân tài văn chương nghệ thuật là một của hiếm mà ta cần phải khuyến khích một cách kiên quyết, liên tục và với sự tế nhị”. Ở đây chỉ nói riêng về mặt quan niệm. Về mặt này, vị lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga, cho rằng, so với mọi thứ khác thì văn học là một ngành mà người ta càng không thể áp dụng biện pháp bình quân máy móc, san bằng và đem số đông thống trị số ít. Bộ phận văn học trong công tác của một đảng vô sản không thể rập một cách máy móc cùng một khuôn với những bộ phận khác trong công tác của đảng. Người viết: “Không thể chối cãi được rằng trong lĩnh vực này, cần phải đảm bảo cho một phạm vi rộng rãi hơn cho sáng kiến cá nhân, cho các thiên hướng cá nhân, cho tư duy và cho trí tưởng tượng, cho hình thức và nội dung”.
8. Lênin và Hồ Chí Minh! Những câu viết mang tính chính luận logic chặt chẽ trong một bài báo có tính chất chỉ đạo và những lời dặn dò thân mật thấu lý đạt tình có tính chất chỉ bảo với mọi cán bộ đảng! Khác nhau tí chút về sắc thái biểu cảm, nhưng rõ ràng là cùng từ một cái gốc là sự am hiểu tường tận đặc trưng của văn học nghệ thuật trên cơ tầng một nền văn hóa cao, từ phẩm chất tiên thiên của những nghệ sĩ lớn, sự mẫn cảm, sáng suốt của những bộ óc và tấm lòng của lãnh tụ thiên tài, Bác Hồ và Lê nin, đã nêu cao hình mẫu về sự đối xử với văn nghệ sĩ và lãnh đạo văn nghệ.
Đường lối văn nghệ chính là sự tổng kết từ đời sống thực tiễn sinh động được soi rọi bằng lý luận tiền phong của thời đại. Bác Hồ bằng hành động cử chỉ lời nói của mình đã tạo nên những dữ kiện, những cơ sở thực tiễn quan trọng bậc nhất để chúng ta đúc kết thành đường lối cách mạng của nước ta nói chung và đường lối văn nghệ nói riêng.
Xem thế, thì mọi đối xử cào bằng, thiếu tế nhị, thô lỗ, áp đặt, không coi trọng cá tính sáng tạo của nghệ sĩ, thậm chí dùng quyền lực, mệnh lệnh thô bạo với văn nghệ sĩ và hoạt động nghề nghiệp của họ là trái với đường lối văn nghệ của Đảng, trái với lời dạy của Bác Hồ, trái với lẽ phải thông thường./.
Trần Đình Huỳnh - Ma Văn Kháng
Tạp chí Xây dựng Đảng

THỰC TẾ BÁC BỎ HOÀN TOÀN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

Gần đây, trên một số đài báo thiếu thiện chí và các trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, các thế thực thù địch, phản động vẫn rêu rao rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”; hạn chế nghiêm trọng tự do báo chí, tự do Internet, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, đóng các trang mạng, “giới hạn” quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của người dân “có tiếng nói đối lập, ôn hòa...”. Cần phải khẳng định ngay rằng đó là một sự xuyên tạc, vu khống trắng trợn.
Chúng ta chẳng lạ gì dân chủ, nhân quyền là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí thường xuyên lợi dụng để chống phá Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì đi chăng nữa, họ cũng không thể phủ nhận được thực tế, không thể xuyên tạc được sự thật.
Đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam, tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do biểu đạt là quan điểm xuyên suốt, nhất quán. Không chỉ là quyền cần phải bảo đảm mà Việt Nam còn xác định đó là một động lực cho sự phát triển của xã hội. Việt Nam tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin, tự do biểu đạt của người dân. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cùng với đó quyền tự do ngôn luận trên báo chí được Luật Báo chí năm 2016 quy định, công dân có quyền: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác... Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền… Không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động... Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”… Có thể khẳng định rằng, hệ thống pháp luật Việt Nam về báo chí, phát thanh, truyền hình ngày càng được hoàn thiện theo hướng bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do biểu đạt của nhân dân.
Thực tế cho thấy báo chí ở Việt Nam đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân; là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong phát hiện, đưa tin nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Chủng loại thông tin trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở Việt Nam ngày càng phong phú và cập nhật hơn do nguồn cung cấp thông tin nhiều và đa dạng hơn. Hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng cởi mở, sôi động. Các phiên họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, nhất là các buổi chất vấn được truyền hình trực tiếp trên truyền hình. Nhiều chương trình đối thoại, tranh luận, trả lời, thăm dò ý kiến… với nội dung phong phú, đa dạng về mọi vấn đề đã được đăng tải, truyền thanh và truyền hình rộng rãi.
Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam là một minh chứng về tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có 808 cơ quan báo chí (bao gồm 138 báo và 670 tạp chí); 72 đài phát thanh, truyền hình; 666 cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện; 9.812 đài truyền thanh cấp xã…
Người dân Việt Nam ngày càng được tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là Internet. Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet… Đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Ngoài ra, số lượng người dùng mạng xã hội để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng… cũng đạt con số hơn 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số… Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội cho thấy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ.
Thế nhưng bất chấp những thành quả ấy, các tổ chức, cá nhân thù địch và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Đáng lưu ý họ ngộ nhận rằng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt là quyền tuyệt đối. Họ cố tình lờ đi trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong quá trình thực thi quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt.
Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt ở Việt Nam không phải là quyền tự do vô hạn định, vô tổ chức mà phải theo khuôn khổ pháp luật. Pháp luật Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do Internet trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn công cộng, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp “có tiếng nói đối lập, ôn hòa…” mà các thế lực thù địch, phản động ra sức tung hô thực chất họ đã lợi dụng, lạm dụng quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; phát tán những luận điệu, tài liệu phản động gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, kích động gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân... nhằm phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Họ bị các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, điều tra và truy tố là do đã vi phạm pháp luật.
Thực tế sự phát triển toàn diện kinh tế - văn hóa - xã hội của Việt Nam thời gian qua đã cho thấy những cáo buộc rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “giới hạn” quyền tự do biểu đạt của người dân mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao là hồ đồ, vô căn cứ. Những giọng điệu lạc lõng bóp méo, xuyên tạc sự thật ấy là nhằm mưu đồ xấu. Thế nhưng họ sẽ không thể làm gì được. Hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, dân chủ, phát triển và là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó./.
Có thể là hình ảnh về văn bản