Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

Bộ đội biên phòng Tây Ninh phá loạt vụ án, giữ vững an ninh biên cương

Với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 240 km đường biên giới, BĐBP Tây Ninh luôn xác định công tác quản lý, đảm bảo an ninh chính trị khu vực biên giới là nhiệm vụ hàng đầu.

Tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh có vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế - xã hội đối với khu vực Đông Nam Bộ.

Với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ khoảng 240km đường biên giới quốc gia, địa bàn hoạt động thuộc 20 xã, phường, thị trấn của 5 huyện biên giới, trên tuyến biên giới của tỉnh có 2 cửa khẩu quốc tế (Mộc Bài và Xa Mát) và nhiều cửa khẩu phụ, nhiều đường tiểu mạch, đường mòn…

Nhiều năm qua, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Tây Ninh luôn xác định công tác quản lý bảo vệ, đảm bảo an ninh chính trị khu vực biên giới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu. Cũng nhờ đó, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn luôn ổn định, mối quan hệ giữa lực lượng BĐBP và người dân luôn được duy trì tốt đẹp.

Để hoàn thành nhiệm vụ, BĐBP tỉnh phải có quyết tâm cao, vận dụng triệt để các biện pháp công tác trong việc phòng ngừa, ngăn chặn các loại tội phạm, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới.

Đại tá Phạm Đình Triệu, Chính uỷ Bộ đội Biên Phòng tỉnh Tây Ninh cho biết, công tác quản lý bảo vệ, đảm bảo an ninh chính trị khu vực biên giới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của BĐBP nói chung cũng như lực lượng biên phòng Tây Ninh nói riêng.

Theo đó, Ban Thường vụ Đảng ủy BĐBP tỉnh đã chỉ đạo các chuyên ngành chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp với các lực lượng đứng chân trên địa bàn biên giới thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới và giữ gìn an ninh chính trị khu vực biên giới.

Bên cạnh việc phối hợp thực hiện tốt các nghị định, quy chế phối hợp, kế hoạch… BĐBP tỉnh thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng của Campuchia trong tuần tra, kiểm soát biên giới.

Phối hợp giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh trên tuyến biên giới, tuyên truyền vận động nhân dân hai bên biên giới thực hiện nghiêm Luật Biên giới quốc gia, tiến trình phân giới cắm mốc, làm đường tuần tra biên giới, chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta, góp phần thúc đấy, củng cố mối quan hệ láng giềng hữu nghị, đoàn kết, họp tác cùng phát triển.


KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.
Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. 
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm. 
Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ. 
Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.
Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. 
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. 
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.

 THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH


Khi những anh hùng ngẩng cao đầu ngã xuống
Miệng hô vang Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh
Lịch sự như một con tài cất tiếng còi cháy bỏng
Báo ga này ga Hồ Chí Minh
Khi đoán cháu con lại nối tiếp cha anh
Tiến trên đường Hồ Chí Minh đuổi giặc
Lịch sử sẽ khởi hành trên con đường ngắn nhất
Vào tương lai thơi đại Hồ Chí Minh
Khi những em bé đến trường trong tình thương bè bạn
Những dân tộc vùng cao viết chữ cụ Hồ trong núi bắng
Lịch sử sẽ lật từng trang nhanh
Trong ánh sáng thời đại Hồ chí Minh
Từ đau thương ta đứng dạy quên mình
Lẽ sống là con đường diệt Mỹ
Dáng vóc lớn khi ta cầm vũ khí
Việt Nam hùng vĩ nước non này
Trên đất nước nghìn năm những nông dân lại tập cấy cày
Nhà bác học phải nghĩ suy từ ba sào chua mặn
Năm tấn thóc để làm thép gang mặt trận
Cũng là bài ca theo suốt những đoàn quân
Ta lại có tình yêu sáng ngời hơn trăm nét hoa văn
Có nỗi vui một câu ca dao, một trang Kiều mơ ước
Có trời xanh Ba Đình ai cũng nhìn ngắm được
Có đời ta trọn vẹn giữa đời dân
Ta thêm yêu tin mỗi thước đất ta nằm
Đường ra trận ta thương từng bóng lá
Ngủ hầm sâu ta quý từng lớp gió
Đất nước này ta yêu ta thân
Ôi đất nước Hồ Chí Minh....

Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng

Thời gian qua, Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1 (Tổng cục Kỹ thuật) đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng”, giúp nhiều quần chúng tiến bộ, được đứng vào hàng ngũ của Đảng.


Chu đáo, tận tình, trách nhiệm là sự quan tâm của các đảng viên dành cho quần chúng được giúp đỡ theo mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng” ở Đảng bộ Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1. Đại úy Đỗ Thị Út Lộc, giảng viên Bộ môn Văn hóa cơ bản, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở, kể lại: "Năm 2021, tôi về trường nhận công tác với không ít bỡ ngỡ ban đầu. Khi ấy, Thiếu tá Nguyễn Thị Hiền, Phó bí thư Chi bộ 1, Trưởng bộ môn Văn hóa cơ bản, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở được tổ chức phân công giúp đỡ, kèm cặp tôi. Đồng chí đã thường xuyên trò chuyện, động viên, giúp tôi sớm khắc phục tâm lý tự ti, ngại hòa đồng ban đầu, dần tích cực tham gia các hoạt động tập thể. Cũng từ đó, tôi dần tự tin, nỗ lực thực hiện và đạt một số thành tích trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Tháng 6-2022, tôi vinh dự được kết nạp Đảng".

Thực hiện mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng” đã giúp nhiều quần chúng khắc phục được hạn chế cố hữu; hình thành động cơ, động lực phấn đấu học tập, rèn luyện tốt; lạc quan, phấn khởi đón nhận và hoàn thành nhiệm vụ. Cũng qua đó, nhiều quần chúng được lựa chọn tạo nguồn phát triển đảng và được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Tiêu biểu như: Thiếu úy QNCN Ngô Minh Tuấn, giáo viên Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở được Đại úy QNCN Đinh Văn Huy, giáo viên Bộ môn Ngoại ngữ-Tin học, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở kèm cặp, giúp đỡ, được kết nạp Đảng tháng 6-2020; Thiếu úy QNCN Vũ Thị Vân Anh, nhân viên Phòng Chính trị, sau khi được Trung tá Đặng Văn Nam, Phó chủ nhiệm Chính trị giúp đỡ, kèm cặp đã tiến bộ nhiều mặt, nhất là về tác phong công tác, chất lượng thực hiện nhiệm vụ và được kết nạp Đảng vào tháng 7-2023.

Vận hành hiệu quả mô hình, từ tháng 7-2021 đến tháng 11-2023, toàn Đảng bộ Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1 đã phân công 85 cán bộ, đảng viên kèm cặp giúp đỡ 972 quần chúng. Các cấp ủy, chi bộ đã kèm cặp, giúp đỡ, đề nghị cấp ủy cấp trên xem xét, kết nạp 108 quần chúng vào Đảng.

Theo Đại tá Nguyễn Đình Phượng, Phó chính ủy Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1, đứng trước thực tiễn về đối tượng đào tạo, quản lý tương đối đa dạng, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị khảo sát, thống kê về tình hình đội ngũ, chủ động lựa chọn, phân công đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng một cách phù hợp, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả. Cùng với đó, cơ quan chức năng đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, giám sát, kịp thời rút kinh nghiệm, chấn chỉnh các biểu hiện hình thức, chiếu lệ trong thực hiện mô hình “Đảng viên kèm cặp, giúp đỡ quần chúng”.

Trên thực tế, triển khai mô hình, cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ Nhà trường triển khai phân công cho cán bộ, đảng viên kèm cặp, giúp đỡ với toàn bộ quần chúng trong cơ quan, đơn vị. Quá trình kèm cặp, đảng viên có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ, động viên quần chúng nâng cao nhận thức, tự giác tu dưỡng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; rèn luyện các chuẩn mực hành vi đạo đức, cách ứng xử với cấp trên, cấp dưới, với đồng chí, đồng đội và khi tiếp xúc với nhân dân... 

Thiếu tá Ngụy Ngọc Sáng, Chính trị viên Đại đội 6, Tiểu đoàn 2 cho biết: "Để giúp đỡ quần chúng, tôi chủ động tìm hiểu kỹ lý lịch trích ngang của quần chúng; thường xuyên nắm bắt kết quả học-rèn; tìm hiểu những khó khăn của quần chúng thông qua nhiều biện pháp". Còn theo Thiếu tá Nguyễn Thị Hiền, Trưởng bộ môn Văn hóa cơ bản, Khoa cơ bản Kỹ thuật cơ sở thì để thực hiện tốt nhiệm vụ kèm cặp, giúp đỡ quần chúng, trước hết mỗi đảng viên phải đề cao tình yêu thương, trách nhiệm. Trong quá trình công tác, đảng viên cần chủ động gặp gỡ, trò chuyện, bám nắm quần chúng qua hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ, lễ tiết, tác phong; qua giao nhiệm vụ để thử thách từ hoạt động thực tiễn; hay nắm gián tiếp qua hoàn cảnh gia đình và các yếu tố tâm lý của quân nhân thông qua nghiên cứu hồ sơ...

Trong quá trình thực hiện mô hình, Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường đồng thời chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; chế độ báo cáo của các cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt hằng tháng về tình hình và kết quả theo dõi, kèm cặp, giúp đỡ quần chúng. Qua đó, từng cán bộ, đảng viên luôn xác định rõ việc thực hiện phân công theo dõi, kèm cặp, giúp đỡ quần chúng là nhiệm vụ, trách nhiệm chính trị của bản thân; thường xuyên phát huy vai trò nêu gương, thực hiện tốt phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực noi theo”; “nói đi đôi với làm”, giải quyết hài hòa các mối quan hệ trong thực hiện nhiệm vụ. Nhờ vậy, chất lượng xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của Nhà trường từng bước được nâng lên. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đã phát huy được vai trò tiền phong, gương mẫu, thực sự là những tấm gương cho quần chúng noi theo.


 BÔNG HUỆ TRẮNG TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN

Bông Huệ ấy là liệt sĩ nhà báo Phạm Thị Ngọc Huệ. Khi công tác trên rừng Trường Sơn, để tự nhủ mình và đồng đội và cho vơi đi nỗi nhớ mẹ và chị em ở quê Ninh Bình, cô thường hay nhâm nha câu hát:
"Mẹ ơi! Lúc con về là ngày vui chiến thắng.
Nếu con không về là con đã trả nợ non sông".
Trước ngày hy sinh, Huệ đã viết thư về cho gia đình báo tin cho mẹ là vài ngày nữa chị sẽ ra quân và được cử đi học ở Liên Xô. Nhưng ngày đó đã mãi mãi không đến với Huệ, chị đã trở thành "bông Huệ trắng" của núi rừng Trường Sơn bất tử …
Khoảng 6 giờ sáng ngày 20.12.1968 Huệ đã anh dũng hy sinh khi cùng đơn vị vượt trọng điểm Ka Tốc, dưới đỉnh Pu Khao, cách cửa khẩu Lùm Bùm không xa.
Người nữ chiến sĩ nhà báo, bình thường nhưng lại sống rất oai phong thời chiến.

 VÌ SAO GỌI LÀ CHIẾN THẮNG “ HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG? ”

Cách đây 51 năm, đế quốc Mỹ điên cuồng mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 oanh tạc, hủy diệt vào Thủ đô Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng, Thái Nguyên với dã tâm biến Miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”, nhưng đã bị quân và dân ta trừng trị phải nhận thất bại thảm hại. Trận chiến này được coi là chiến thắng Điện Biên Phủ thứ 2 của quân dân Việt Nam.
Năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực dân kiểu cũ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội về nước.
Còn chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã khởi nguồn cho sự sụp đổ chế độ thực dân kiểu mới, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri và ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (ngày 27/01/1973).
Hai sự kiện giống nhau về tầm vóc và ý nghĩa, đều giành thắng lợi và buộc kẻ thù phải ngồi đàm phán, ký kết hiệp định công nhận độc lập chủ quyền của Dân Tộc ta; đều là đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân miền Bắc và Thủ đô Hà Nội có giá trị lịch sử, ý nghĩa sâu sắc trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao,… như trận toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” nên gọi đó là chiến thắng “HÀ NỘI – ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”.

kẻ có tội phải trả giá trước nhân dân

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ (TB-LS), người có công và đẩy mạnh Phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa". Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc chính sách này. Nguy hiểm hơn, chúng đã đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người phản bội Tổ quốc.


Cách đây 76 năm, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL đặt ra “chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ”. Để chỉ đạo công tác thương binh, tử sĩ trong cả nước, ngày 26-2-1947, Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập. Tháng 7-1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị được tổ chức tại xã Hùng Sơn (nay là thị trấn Hùng Sơn), huyện Đại Từ (Thái Nguyên) về công tác TB-LS đã chọn ngày 27-7 làm Ngày Thương binh. Đến năm 1955, Ngày Thương binh đổi thành Ngày TB-LS.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác TB-LS và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản quy phạm pháp luật cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.

Ngày TB-LS (27-7) có ý nghĩa quan trọng với toàn dân Việt Nam, đó là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 27-7 cũng là ngày phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vậy mà, thay vì đồng lòng ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vào dịp kỷ niệm Ngày TB-LS hằng năm vẫn có tiếng nói xuyên tạc về chính sách với TB-LS và người có công. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người chết trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc, phản bội Tổ quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh... lên mạng xã hội, trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công. Chúng “phân tích” rằng kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho TB-LS, người có công. Mục đích là nhằm kích động, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, hủy hoại truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến của những người tự xưng là “người yêu nước chân chính” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với những người được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Họ cho rằng “Quân lực Việt Nam cộng hòa” cũng “có công bảo vệ Tổ quốc”, vì thế cần phải “tôn vinh những người đã hy sinh vì Tổ quốc”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng chính thể “Việt Nam cộng hòa” năm 1955 mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam, đóng vai trò như một thực thể chính trị của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phục vụ lợi ích riêng của họ.  

Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngay trong năm 1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm hai miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm-do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại-đã tuyên bố: “Không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

Thực tế lúc đó, Mỹ và phe cánh của Ngô Đình Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận và Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tin rằng nếu tiến hành bầu cử tự do, chắc chắn Đảng Lao động Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thắng lớn. Do vậy, Ngô Đình Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều thủ đoạn để củng cố quyền lực của mình. Ngô Đình Diệm đã áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến và người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.

Chính thể “Việt Nam cộng hòa” là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân, hại nước, làm tay sai cho các thế lực ngoại bang. Quân đội của chính thể “Việt Nam cộng hòa” được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa” thường khoe là “chiến đấu cho tự do”, thế nhưng thực chất, họ đã tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ để làm hại chính đồng bào mình. Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), “Quân lực Việt Nam cộng hòa” hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể “Việt Nam cộng hòa”) đã suy sụp nhanh chóng...

Với quan điểm nhân đạo và hòa bình, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã có những chính sách tri ân đối với TB-LS và người có công, đối xử nhân đạo với tù hàng binh, thương xót những người lính Pháp, lính Mỹ tử vong trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2011, tập 4, tr.510).

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã giúp người Mỹ tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Mới đây, lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) lần thứ 160 đã diễn ra tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Rất nhiều người đã từng phục vụ trong “Quân lực Việt Nam cộng hòa” trước kia nay trở thành những nhà khoa học, doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam. Nếu những gia đình này gặp khó khăn, họ đều được hưởng chính sách an sinh xã hội, không hề có sự phân biệt đối xử. Thế nhưng không thể và không bao giờ được đánh đồng sự hy sinh, cống hiến vì cách mạng của đồng bào, chiến sĩ với những người làm tay sai cho ngoại bang.

Xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công là thủ đoạn thể hiện tính chất, bản chất vô ơn bạc nghĩa của những kẻ phản động, thù địch. Họ xuyên tạc nhằm phục vụ mục tiêu chống phá, hòng tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là tội ác mới, cần phải bị vạch trần và lên án.

76 năm qua kể từ năm 1947, vào mỗi dịp 27-7, nhiều hoạt động tri ân và tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng đã diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội và của quần chúng nhân dân; của thế hệ hôm nay và cả mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc. Không thể xuyên tạc được chính sách đối với người có công hợp lý, hợp tình, hợp pháp và hợp lòng dân của chúng ta.

"Chiến sĩ đỏ tình nguyện" hiến máu cứu sống bệnh nhân nguy kịch

 Ngày 29.6 lãnh đạo Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã nhận được thư cảm ơn của người dân liên quan sự việc Đại úy Đinh Văn Giáp (cán bộ Công an xã Đắk Drô) đã không quản ngại khó khăn, kịp thời hiến máu cứu người vượt qua cơn nguy kịch do bị tai biến. 

 

Trước đó, ngày 25.6 ngay sau khi tiếp nhận thông tin về trường hợp bệnh nhân Trịnh Đình Sỹ (SN 1954, trú tại thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk) bị tai biến đang cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên trong tình trạng tiểu cầu tụt trầm trọng và đang rất cần tiểu cầu B, Đại úy Đinh Văn Giáp, thành viên mô hình dân vận khéo “Chiến sĩ đỏ tình nguyện” của Công an huyện Krông Nô đã nhanh chóng liên hệ đăng ký và tiến hành hiến 2 đơn vị tiểu cầu giúp ông Sỹ qua cơn nguy kịch.

 

“Không quản ngại khó khăn, đường xá xa xôi, anh Đinh Văn Giáp đã tự nguyện đến Bệnh viện hiến liên tiếp 2 đơn vị tiểu cầu, kịp thời giúp bố tôi vượt qua cơn nguy kịch. Tôi và gia đình rất cảm kích trước tình cảm, nghĩa cử cao đẹp của anh Giáp và lực lượng Công an huyện Krông Nô”, anh Trịnh Đình Thành (con trai bệnh nhân Trịnh Đình Sỹ) chia sẻ trong thư.

 

Đại úy Đinh Văn Giáp cho biết, bản thân rất thương cảm những người bệnh cần máu, tiểu cầu để điều trị, nhất là những bệnh nhân nguy kịch. “Việc tham gia hiến máu, hiến tiểu cầu tình nguyện giúp đỡ những người cần máu, cần tiểu cầu làm tôi thấy sống có ích hơn cho cộng đồng, xã hội và trở thành việc làm thường xuyên”. Đại úy Giáp chia sẻ.

 

Trước đó, vào ngày 19.5, sau khi tiếp nhận thông tin về sản phụ Phan Thị Tuyết Minh (SN 1984), trú tại xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đang cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên trong tình trạng bị băng huyết và hôn mê cần tiểu cầu B, nếu không kịp thời truyền tiểu cầu sẽ dẫn đến tử vong, Đại úy Đinh Văn Giáp đã đến Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên để hoàn thiện các thủ tục kiểm tra và tiến hành hiến tiểu cầu.

 

Mặc dù được Đại úy Đinh Văn Giáp hiến 1 đơn vị tiểu cầu nhưng bệnh nhân vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi và phải cần thêm 1 đơn vị tiểu cầu nữa mới vượt qua cơn nguy kịch.

 

Để kịp thời cứu bệnh nhân, Đại úy Giáp tiếp tục hiến thêm 1 đơn vị tiểu cầu nữa giúp sản phụ Phan Thị Tuyết Minh vượt qua cơn nguy kịch và tỉnh lại sau đó. Cảm kích trước nghĩa cử cao đẹp của Đại úy Giáp, gia đình chị Phan Thị Tuyết Minh đã viết thư cảm ơn và chia sẻ, lan tỏa việc làm ý nghĩa, nhân văn và giàu lòng nhân ái của Đại úy Giáp lên mạng xã hội, được cộng đồng mạng ghi nhận và đánh giá cao.

 

Mô hình dân vận khéo “Chiến sĩ đỏ tình nguyện” của Công an huyện Krông Nô ra mắt vào ngày 7.4.2023 với 77 thành viên và nòng cốt là lực lượng Công an. Đến nay, mô hình đã có gần 200 thành viên là cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức và nhân dân, trong đó có 2 thành viên có nhóm máu hiếm.

 

Mỗi khi nhận được cuộc gọi, thông tin cần hỗ trợ từ bệnh viện và gia đình các nạn nhân trong diện nguy kịch, các thành viên mô hình dân vận khéo “Chiến sĩ đỏ tình nguyện” của Công an huyện Krông Nô đã không ngần ngại khó khăn lập tức lên đường hiến máu, hiến tiểu cầu cứu người.

Chẳng có nơi nào quyền được bình yên như Việt Nam

"Ở Úc bạn có thể nói Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhưng điều bạn không thể phủ nhận khi sang Việt Nam là chẳng có nơi nào quyền được bình yên như Việt Nam".

Đó là một góc giá trị nhân quyền thực mà Thủ tướng Úc Anthony Albanese sau khi đến Hà Nội xơi liền mấy cốc bia Trúc Bạch và bún chả Hà Nội đã thốt lên.

Đến Hà Nội không vội được đâu! Đến cả các vị Obama, António Guterres, Olaf Scholz hay Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anthony Blinken đến Việt Nam còn tấm tắc khen nhân quyền Việt Nam thì đám phản động Việt tân tư cách gì chê bai nhân quyền Việt Nam thế chai thế lọ nhỉ.

Tôi nói thật, bình yên, đoàn kết, độc lập, tự chủ, tôn vinh giá trị gốc của người Việt cũng là một giá trị nhân quyền mà nhiều quốc gia khác vì mất gốc, mất cội nguồn không có được, còn phải nằm mơ. Ví đâu xa, nhiều kẻ cho rằng Mỹ là thiên đường của nhân quyền nhưng đố các bạn tìm được giá trị gốc của người da đỏ trên đất nước Mỹ đấy! Chỉ có Bún chả Việt Nam mới là thiên đường của thế giới, chả phải là vị nguyên thủ quốc gia nào cũng muốn thưởng thức đó sao?

Chỉ là anh chị em Việt tân mất gốc không thấy được điều này chuyên dõ mõm về bỉ bôi đất nước.

 

KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG GIỮA NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI KẺ PHẢN BỘI

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ (TB-LS), người có công và đẩy mạnh Phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa". Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc chính sách này. Nguy hiểm hơn, chúng đã đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người phản bội Tổ quốc.

Cách đây 76 năm, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL đặt ra “chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ”. Để chỉ đạo công tác thương binh, tử sĩ trong cả nước, ngày 26-2-1947, Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập. Tháng 7-1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị được tổ chức tại xã Hùng Sơn (nay là thị trấn Hùng Sơn), huyện Đại Từ (Thái Nguyên) về công tác TB-LS đã chọn ngày 27-7 làm Ngày Thương binh. Đến năm 1955, Ngày Thương binh đổi thành Ngày TB-LS.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác TB-LS và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản quy phạm pháp luật cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.

Ngày TB-LS (27-7) có ý nghĩa quan trọng với toàn dân Việt Nam, đó là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì nền độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 27-7 cũng là ngày phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vậy mà, thay vì đồng lòng ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vào dịp kỷ niệm Ngày TB-LS hằng năm vẫn có tiếng nói xuyên tạc về chính sách với TB-LS và người có công. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người chết trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế quốc, phản bội Tổ quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, lợi dụng những khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số địa phương tăng trưởng kinh tế chậm lại, người lao động thiếu việc làm, các thế lực thù địch đã viết bài, đưa thông tin, hình ảnh... lên mạng xã hội, trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách an sinh xã hội, ưu đãi đối với người có công. Chúng “phân tích” rằng kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho TB-LS, người có công. Mục đích là nhằm kích động, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, hủy hoại truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến của những người tự xưng là “người yêu nước chân chính” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với những người được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa”. Họ cho rằng “Quân lực Việt Nam cộng hòa” cũng “có công bảo vệ Tổ quốc”, vì thế cần phải “tôn vinh những người đã hy sinh vì Tổ quốc”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng chính thể “Việt Nam cộng hòa” năm 1955 mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam, đóng vai trò như một thực thể chính trị của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phục vụ lợi ích riêng của họ.  

Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám. Ngay trong năm 1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm hai miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm-do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại-đã tuyên bố: “Không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

Thực tế lúc đó, Mỹ và phe cánh của Ngô Đình Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận và Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tin rằng nếu tiến hành bầu cử tự do, chắc chắn Đảng Lao động Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ thắng lớn. Do vậy, Ngô Đình Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều thủ đoạn để củng cố quyền lực của mình. Ngô Đình Diệm đã áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến và người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.

Chính thể “Việt Nam cộng hòa” là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân, hại nước, làm tay sai cho các thế lực ngoại bang. Quân đội của chính thể “Việt Nam cộng hòa” được gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hòa” thường khoe là “chiến đấu cho tự do”, thế nhưng thực chất, họ đã tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ để làm hại chính đồng bào mình. Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), “Quân lực Việt Nam cộng hòa” hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể “Việt Nam cộng hòa”) đã suy sụp nhanh chóng...

Với quan điểm nhân đạo và hòa bình, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã có những chính sách tri ân đối với TB-LS và người có công, đối xử nhân đạo với tù hàng binh, thương xót những người lính Pháp, lính Mỹ tử vong trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2011, tập 4, tr.510).

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã giúp người Mỹ tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam. Mới đây, lễ hồi hương hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) lần thứ 160 đã diễn ra tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Rất nhiều người đã từng phục vụ trong “Quân lực Việt Nam cộng hòa” trước kia nay trở thành những nhà khoa học, doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam. Nếu những gia đình này gặp khó khăn, họ đều được hưởng chính sách an sinh xã hội, không hề có sự phân biệt đối xử. Thế nhưng không thể và không bao giờ được đánh đồng sự hy sinh, cống hiến vì cách mạng của đồng bào, chiến sĩ với những người làm tay sai cho ngoại bang.

Xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công là thủ đoạn thể hiện tính chất, bản chất vô ơn bạc nghĩa của những kẻ phản động, thù địch. Họ xuyên tạc nhằm phục vụ mục tiêu chống phá, hòng tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là tội ác mới, cần phải bị vạch trần và lên án.

76 năm qua kể từ năm 1947, vào mỗi dịp 27-7, nhiều hoạt động tri ân và tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng đã diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội và của quần chúng nhân dân; của thế hệ hôm nay và cả mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc. Không thể xuyên tạc được chính sách đối với người có công hợp lý, hợp tình, hợp pháp và hợp lòng dân của chúng ta.

Giải pháp chữa bệnh ngại học lý luận chính trị ở sinh viên

Báo Quân đội nhân dân đã có loạt bài bàn về thực trạng, nguyên nhân và giải pháp chữa “bệnh” ngại học lý luận chính trị (LLCT) ở sinh viên. Bài viết này xin tổng hợp hai giải pháp chính mà loạt bài đã đề cập. 

Để chữa được căn bệnh ngại học lý luận chính trị ở sinh viên hiện nay, trước tiên phải quan tâm, chăm lo đội ngũ giảng viên.Chất lượng của hoạt động giảng dạy trước hết được quyết định bởi người thầy. Để nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT trong các trường đại học hiện nay, đội ngũ giảng viên LLCT cần được tuyển chọn tốt từ khâu đầu vào. Để thu hút những thí sinh giỏi, ngành học này cần được coi là ngành đặc thù, có những chính sách đặc thù, phù hợp và cũng không kém phần khắt khe như tuyển người học trong các ngành quân đội, công an. 

Thứ hai, cần phải đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy. Bản thân các môn LLCT không khô khan nếu được tiếp cận với tư cách là môn khoa học. Việc dạy và học đòi hỏi phải tổ chức thực hiện dưới các yêu cầu, điều kiện phù hợp với đặc điểm của môn khoa học. Do đó đòi hỏi phải đổi mới toàn diện, đồng bộ cả quá trình dạy và học cho học sinh, sinh viên. Trước hết là về hệ thống giáo trình, khi biên soạn phải cập nhật mới những tri thức tinh hoa của nhân loại trên nền tảng những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo đảm tính sinh động của những môn học này.  

Thấm nhuần quan điểm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là một đột phá lý luận của Đảng ta

 

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quan điểm “kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Bài viết đã lột tả đầy đủ được tính bản chất và sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trả lời câu hỏi định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? Đặc biệt tôi rất tâm đắc khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích rất kỹ đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, “một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển... Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Quả thực, chúng ta chưa bao giờ “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Một điển hình hết sức sinh động cho quan điểm này chính là công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam thời gian qua. Ngay từ đợt dịch đầu tiên, mặc dù nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề nhưng để đảm bảo an sinh xã hội, gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng đã được ban hành, triển khai ngay nhằm hỗ trợ khoảng 20 triệu người dân đang gặp khó khăn bởi đại dịch Covid-19. Trong suốt hơn 1 năm ứng phó với dịch bệnh, Việt Nam luôn kiên trì thực hiện mục tiêu kép: “Vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa phát triển kinh tế-xã hội”. Chính nhờ quan điểm “không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”,  trong cuộc chiến với dịch bệnh, Việt Nam đã nổi lên như một điểm sáng, một hình mẫu của thế giới.

Có thể khẳng định, những phân tích, luận giải về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa làm sáng rõ, là kim chỉ nam cho công cuộc Đổi mới của đất nước trong thời gian tới. Tôi tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Nhận diện: Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch

 



        Tây Nguyên của Việt Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004).

        Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau:

        - Vấn đề dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân dân vvới Đảng, Nhà nước.

        - Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội.

        - Kích động hình thành tâm lý kỳ thị, phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số.

        - Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta.

        Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam.

        Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.

        Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

        Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài.

        Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay.

        Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53 dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

        Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết, triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nưởc ta.

        Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá.

        Mặc dù, đã có sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay. Từ đó, ta cần nhận thức sâu sắc và nêu cao cảnh giác, đối phó./.

Ngăn chặn hình thành điểm nóng trên không gian mạng

 


Những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống internet và mạng xã hội, hầu hết người dân đã có điều kiện tiếp cận với không gian mạng tràn ngập thông tin và hình ảnh được cập nhật liên tục. Bên cạnh những mặt tích cực, không gian mạng hiện nay còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về những thông tin giả mạo, trái chiều, thất thiệt từ những tên tội phạm, thế lực thù địch, những phần tử cơ hội… Ðáng chú ý, một bộ phận người dân do thiếu hiểu biết, cả tin cho nên vẫn còn nhầm lẫn, chưa phân biệt được đúng, sai khi tiếp nhận các thông tin xấu độc này. Ðánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm trên không gian mạng, Bộ Công an và công an các địa phương đã triển khai nhiều kế hoạch rà soát, phát hiện sớm để xử lý những điểm nóng trên không gian mạng, không để tình hình diễn biến phức tạp.

Tại địa bàn các tỉnh, thành phố trên cả nước thời gian gần đây, tình hình an ninh chính trị nội bộ, tư tưởng cán bộ và nhân dân cơ bản ổn định, chưa phát hiện các khuynh hướng chính trị cực đoan, công khai chống đối, song vẫn còn tiềm ẩn vấn đề phức tạp như: Công tác giải quyết tranh chấp đất đai, giải phóng mặt bằng, việc thực hiện chế độ chính sách tại một số nơi còn chưa kịp thời, chưa thỏa đáng dẫn đến đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài; tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ còn diễn ra ở một số cơ quan, địa phương; cán bộ, đảng viên, công chức sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ… Thông qua không gian mạng, một số đối tượng xấu lợi dụng để phát tán tài liệu có nội dung xấu, hạ uy tín lãnh đạo và các cơ quan nhà nước; lợi dụng các vấn đề nóng đang được đông đảo nhân dân quan tâm để xuyên tạc, làm sai lệch bản chất hòng lôi kéo, dụ dỗ, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực. Thời gian qua, các đơn vị nghiệp vụ của Công an trên cả nước đã rà soát trên không gian mạng, lập danh sách, thống kê các hội nhóm trên mạng xã hội thường xuyên đưa tin nhạy cảm về chính trị, phức tạp về an ninh trật tự; các trang mạng của các tổ chức xã hội dân sự đối lập; các diễn đàn, hội nhóm đông thành viên có liên quan đến tình hình an ninh chính trị, kịp thời phát hiện các cá nhân thường xuyên hoạt động đăng tải, chia sẻ, bình luận các bài viết có nội dung xấu trên không gian mạng, từ đó kịp thời triển khai công tác xác minh, ngăn chặn các hoạt động phức tạp; những trường hợp có biểu hiện bất mãn, tiêu cực, thường xuyên tham gia bình luận, chia sẻ các bài viết có nội dung trái chiều, tham gia các nhóm, diễn đàn mạng xã hội phức tạp, phản động…

Cùng với công tác đấu tranh, xử lý, cần phối hợp với ngành giáo dục làm tốt công tác tuyên truyền cho nhóm thanh, thiếu niên, vì đây là nhóm tuổi tiếp cận với không gian mạng thường xuyên, liên tục. Ðồng thời, nêu ra một số biện pháp phòng ngừa để các em học sinh chủ động phòng tránh loại tội phạm này, cụ thể như: Giữ bí mật thông tin cá nhân, số điện thoại, địa chỉ nhà ở, thông tin tài khoản ngân hàng, tài khoản các dịch vụ trên in-tơ-nét, không chia sẻ, bình luận những thông tin về lịch sử, chính trị của đất nước không đúng sự thật, cần phải tỉnh táo trước các thông tin bịa đặt sai sự thật. Mọi thông tin liên quan tội phạm đề nghị kịp thời thông báo đến cơ quan công an nơi gần nhất để được xử lý../