Thứ Hai, 28 tháng 7, 2025

QUY ĐỊNH SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MỚI ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN VÀ CƠ QUAN, ĐƠN VỊ!

     Cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân chỉ chia sẻ các thông tin có nguồn gốc chính thống, tin cậy lên mạng xã hội; không được đặt tên tài khoản giống hoặc trùng tên cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan khác trong Bộ Quốc phòng là một trong những quy định đáng chú ý tại Thông tư số 81/2025/TT-BQP ngày 26-7-2025 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, quy định quản lý, cung cấp, sử dụng ứng dụng, dịch vụ và thông tin trên internet trong Bộ Quốc phòng.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15-9-2025 và thay thế Thông tư số 110/2014/TT-BQP ngày 22-8-2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thông tư số 81/2025/TT-BQP áp dụng đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến quản lý, cung cấp, sử dụng ứng dụng, dịch vụ và thông tin trên internet trong Bộ Quốc phòng.

QUY ĐỊNH CUNG CẤP VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Nội dung này được quy định tại Điều 6 Thông tư số 81/2025/TT-BQP. Cụ thể như sau:

1. Cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng khi tham gia cung cấp và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội có trách nhiệm:

a) Tìm hiểu và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội trước khi đăng ký tham gia. Người sử dụng mạng xã hội cho mục đích cá nhân không sử dụng các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị khi đăng ký thiết lập tài khoản mạng xã hội;

b) Chỉ chia sẻ các thông tin có nguồn gốc chính thống, tin cậy; không đăng tải, chia sẻ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, thông tin vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, uy tín, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài Quân đội;

c) Khi phát hiện bị mất, chiếm quyền tài khoản mạng xã hội hoặc phát hiện thông tin vi phạm pháp luật, thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, thông tin bịa đặt làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, Quân đội thì báo ngay cho lực lượng chuyên trách về công nghệ thông tin, lực lượng bảo vệ an ninh Quân đội để phối hợp xử lý theo quy định;

d) Ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, thông tin không đúng sự thật ảnh hưởng xấu đến uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác đăng tải trên tài khoản mạng xã hội của mình chậm nhất là 1 giờ từ khi nhận được yêu cầu bằng điện thoại, văn bản hoặc qua phương thức liên lạc khác từ Bộ Tư lệnh 86, Cục Bảo vệ an ninh Quân đội hoặc cơ quan, người có thẩm quyền.

2. Chỉ huy cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm về việc thiết lập tài khoản mạng xã hội và nội dung cung cấp trên các mạng xã hội đối với hoạt động liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình; việc quản lý, cấp phép như đối với trang thông tin điện tử.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được đặt tên tài khoản giống hoặc trùng tên cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan khác trong Bộ Quốc phòng hoặc có những từ ngữ có thể gây nhầm lẫn là cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan khác trong Bộ Quốc phòng.

CUNG CẤP THÔNG TIN TRÊN MẠNG INTERNET

Việc cung cấp thông tin trên internet được quy định tại Điều 4 Thông tư số 81/2025/TT-BQP. Cụ thể như sau:

1. Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng là kênh cung cấp thông tin chính thống, tập trung, đầu mối kết nối thông tin, công khai thông tin của Bộ Quốc phòng trên mạng internet, có địa chỉ truy cập tại https://mod.gov.vn hoặc https://bqp.vn.

2. Trang thông tin điện tử, báo điện tử của cơ quan, đơn vị trong Bộ Quốc phòng phải là thành phần của Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng; kết nối, tích hợp, đặt banner, đường dẫn liên kết với Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng.

3. Thông tin cung cấp trên mạng internet thực hiện theo quy định tại điểm a, c, d khoản 1 Điều 4 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24-6-2022 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng, chấp hành nghiêm quy định về thực hiện cung cấp thông tin trong Bộ Quốc phòng; bảo đảm không lộ lọt bí mật./.

Yêu nước ST.

Trân trọng và lan tỏa giá trị đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

 Suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, với tinh thần yêu nước nồng nàn, khát vọng cháy bỏng độc lập, tự chủ, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng, kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do, sự thống nhất, toàn vẹn của Tổ quốc.

Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7) hằng năm là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân và kiều bào ta tưởng nhớ, tri ân công lao của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh... những người đã hy sinh xương máu để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đó là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc.

1. Đã không còn xuất hiện nhiều nhận thức sai lệch, cách hiểu không đúng về bản chất của Ngày Thương binh-Liệt sĩ, về những người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống, hy sinh xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, vì hòa bình, hạnh phúc của nhân dân. Trên bất cứ phương diện nào, sự hy sinh vĩ đại của các anh hùng liệt sĩ, của các thương binh, bệnh binh là không thể phủ nhận, không thể đánh đồng với bất cứ luận điệu xuyên tạc nào về các cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta. Nhưng điều đó không có nghĩa là những nhận thức không đúng, lệch lạc không còn.

Biểu hiện rõ nhất là sự xuyên tạc bản chất, ý nghĩa của Ngày Thương binh-Liệt sĩ, xuyên tạc sự hy sinh, cống hiến của các anh hùng liệt sĩ; là luận điệu cho rằng do cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn”; là suy nghĩ thiển cận, biểu hiện sự vô ơn, phủ nhận các hoạt động đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; là so bì, tị nạnh, nhận thức không đúng về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công; là “đánh tráo khái niệm”, đồng nhất nghĩa vụ thiêng liêng, sự hy sinh cao cả của lực lượng cách mạng với những kẻ phản cách mạng, theo thực dân, đế quốc; là cố tình xuyên tạc rằng “Đảng, Nhà nước ta không quan tâm đến người có công với cách mạng”. Thậm chí có những kẻ đã xúc phạm sự hy sinh xương máu của các anh hùng liệt sĩ...

Có nhiều lý do để giải thích cho những nhận thức không đúng ấy, nhưng tựu trung lại, những người đó đã không có đủ thông tin, không được tiếp cận những thông tin chính thống về các cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc ta và không loại trừ có những người cố tình không hiểu; cố tình xuyên tạc bản chất của các cuộc chiến đấu ấy vì những lợi ích cá nhân, mưu đồ vị kỷ.

2. Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, “sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa”, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu và đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, đức hy sinh vì Tổ quốc luôn được hun đúc, nuôi dưỡng và phát huy, trở thành truyền thống văn hóa, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc ta. Tiếp nối truyền thống quý báu đó, trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh, hiến dâng máu xương của mình cho đất nước.

Họ là những người đã để lại gia đình, người thân, từ bỏ ước mơ, hoài bão cá nhân để cầm súng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Sự hy sinh cao cả ấy không thể đo đếm và chính nhờ những hy sinh ấy, thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình, tự do. Trong "Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” (ngày 17-7-1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy...”(1). Đối với liệt sĩ, Bác nhắn nhủ: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ...”.(2)

Phát huy truyền thống, đạo lý tốt đẹp từ nghìn đời của dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã và đang có nhiều hoạt động thiết thực tri ân các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Mỗi người dân nước Việt luôn cảm thấy tự hào và biết ơn những giá trị quý báu mà các anh hùng liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh đã dâng hiến, hy sinh cho dân tộc.

Chúng ta luôn khắc ghi trong tim rằng, mỗi phút giây đang sống trong bình yên, hạnh phúc đều phải đánh đổi bằng sự hy sinh xương máu của các thế hệ cha anh. Chỉ riêng trong hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, 1,2 triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống. Đến nay vẫn còn gần 200.000 liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt, để lại cho người thân, gia đình niềm tiếc thương và sự mong chờ được đón các anh chị trở về; gần 300.000 ngôi mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính; hàng triệu thương binh, bệnh binh đã mất đi một phần máu thịt, sức khỏe và tuổi thanh xuân. Ngay trong thời khắc không còn tiếng súng, vẫn có không ít người đã hy sinh thầm lặng nơi biên cương, đảo xa hay trên những nhà giàn, bãi đá giữa trùng khơi... để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, gìn giữ sự bình yên cho cuộc sống của nhân dân. Lịch sử và dân tộc Việt Nam mãi mãi ghi nhớ, tự hào về ý chí quật cường của thế hệ cha anh với những “thiên anh hùng ca” bất diệt để giành lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho non sông, đất nước.

3. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán trong tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách với người có công. Nhiều chương trình, hành động thiết thực như: Quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây nhà tình nghĩa, Quỹ nghĩa tình đồng đội, nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng... đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trở thành phong trào, hoạt động tự nguyện, tự tâm trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất, tinh thần của các đối tượng chính sách, người có công ngày càng được nâng lên. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn và Phong trào “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng” ngày càng được lan tỏa sâu rộng, mạnh mẽ, được cộng đồng xã hội đồng tình hưởng ứng, trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc. Chỉ tính trong hơn 10 năm (từ 2013 đến 2024), cả nước đã vận động gần 7.900 tỷ đồng hỗ trợ gia đình người có công; xây mới 67.700 căn nhà và sửa chữa gần 45.900 nhà tình nghĩa với tổng kinh phí hỗ trợ hơn 12.700 tỷ đồng; trao hơn 110.000 sổ tiết kiệm tặng gia đình chính sách với số tiền hơn 403 tỷ đồng. Hiện nay, cả nước còn hơn 2.400 Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các tổ chức nhận chăm sóc, phụng dưỡng. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực vươn lên của các gia đình, đến nay, trên 99% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng. Công tác xem xét, giải quyết những tồn đọng trong việc thực hiện chính sách ưu đãi với người có công với cách mạng được chú trọng và đạt nhiều kết quả.

Cùng với đó, thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, gia đình người có công với cách mạng còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế, trang bị dụng cụ chỉnh hình, hỗ trợ cải thiện nhà ở, miễn giảm tiền sử dụng đất ở, hỗ trợ đất ở và thực hiện chính sách ưu đãi về giáo dục-đào tạo đối với con em họ. Cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cộng đồng, bằng ý chí tự lực, tự cường, các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, gia đình người có công với cách mạng luôn nỗ lực, cố gắng vươn lên trong lao động sản xuất, kinh doanh, làm ăn có hiệu quả, trở thành những tấm gương sáng trong cộng đồng, góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển đất nước.

Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ cần tiếp tục khẳng định ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội và giá trị nhân văn của đạo lý "Uống nước nhớ nguồn"; nhấn mạnh truyền thống tốt đẹp, lòng biết ơn của toàn xã hội đối với các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng; khẳng định và tôn vinh sự cống hiến, hy sinh của các thế hệ đi trước là vô giá; việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, người có công là vinh dự, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, của thế hệ hôm nay và mai sau. Đảng, Nhà nước ta luôn trân trọng những cống hiến, sự hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc; đồng thời luôn tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công, huy động mọi nguồn lực xã hội để công tác này ngày càng được thực hiện tốt nhất.

Hậu phương vững chắc cho "tiền tuyến" vững vàng

 Ngày 1-7, hai tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên chính thức hợp nhất thành tỉnh Đắk Lắk. Theo sự phân công, điều động của tổ chức, gần 40 cán bộ, nhân viên Bộ CHQS tỉnh Phú Yên (cũ) đã chia tay người thân, hăng hái khoác ba lô, vượt đường xa từ “biển” lên “rừng” thực hiện nhiệm vụ tại Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk (mới).

Từ ngày Thiếu tá Nguyễn Duy Nhất, Trưởng ban Tuyên huấn (Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk) chuyển công tác xa nhà, vợ anh vừa phải quán xuyến việc cơ quan, đoàn thể, vừa phải chăm sóc, đưa đón con đến lớp nên hầu như chẳng có thời gian để nghỉ ngơi. Thương vợ bụng mang dạ chửa, lại một mình quán xuyến công việc gia đình nên mỗi khi rảnh rỗi, anh Nhất lại tranh thủ gọi điện về chuyện trò, tâm sự, động viên vợ.

Những ngày đầu về đơn vị mới, do áp lực công việc, lại nhớ vợ, thương con và chưa quen khí hậu, thời tiết vùng cao, anh Nhất thường xuyên bị mất ngủ. Cảm thông với công việc của chồng, mỗi lần nhắn tin, gọi điện, vợ con chỉ kể những chuyện vui để động viên anh. Anh Nhất chia sẻ: “Tuy xa mà gần, tình cảm gia đình, hậu phương luôn là điểm tựa vững vàng để tôi yên tâm công tác”.

Đối với Thượng úy Kiều Tấn Huy, Trợ lý Ban Quân y (Phòng Hậu cần-Kỹ thuật, Bộ CHQS tỉnh Phú Yên cũ) thì gia đình anh vừa có thêm thành viên mới được gần một tháng. Trước ngày lên đơn vị mới thực hiện nhiệm vụ, vợ chồng anh quyết định tổ chức đầy tháng sớm cho con để họ hàng nội, ngoại có dịp đoàn viên. Một mình với hai con nhỏ, chồng lại công tác xa nhà, nhưng vợ anh chưa một lần ca thán, trách giận. Trái lại, chị luôn đồng hành, hỗ trợ, động viên để anh yên tâm công tác. Mô hình gia đình lý tưởng “bộ đội-giáo viên”, “pháo đài vững chắc” của gia đình anh Huy được anh em, đồng đội thường xuyên nhắc đến với sự ngưỡng mộ.

Đêm muộn, bên chồng hồ sơ, tài liệu xếp chật mặt bàn, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Tuấn, Trợ lý Ban Dân quân (Phòng Tham mưu, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk) vừa nghiên cứu, tổng hợp số liệu, vừa tranh thủ hướng dẫn cậu con trai cả giải những bài toán khó. Trong khu nhà tập thể của Văn phòng Tỉnh ủy Đắk Lắk cách đó vài cây số, vợ anh cũng gọi điện về trò chuyện với hai con nhỏ đang gửi ông bà ở quê trông giúp. Do đơn vị chưa bố trí được nhà công vụ cho gia đình nên hiện tại, anh chị vẫn phải ở hai nơi.

Anh Tuấn chia sẻ: “Cháu lớn năm nay lên lớp 11, từ tháng 9 này phải học nội trú, ăn nghỉ luôn ở trường. Hai cháu nhỏ sinh đôi thì vợ chồng tôi gửi về quê, nhờ ông bà nội, ngoại chăm sóc. Tuy 5 người ăn 4 bếp song ngày nào gia đình tôi cũng “giao ban” qua Facebook, Zalo. Thấy các con chăm ngoan, tự giác, tự lập, vợ chồng tôi cũng phấn khởi, yên tâm công tác”. Theo anh Tuấn, gia đình anh dự định khi công việc dần ổn định thì sẽ thu xếp, đón các con lên để cả nhà được ở gần nhau, thuận lợi sinh hoạt và công việc.

Đại tá Ksor Lành, Phó chính ủy Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk cho biết: “Thời gian qua, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh thường xuyên quan tâm, động viên, nắm chắc tình hình tư tưởng đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ sau khi sáp nhập, giải thể các cơ quan, đơn vị, nhất là những đồng chí chuyển công tác từ Phú Yên (cũ) lên Đắk Lắk (mới). Ngoài việc bố trí xe tuyến đưa đón cán bộ công tác xa nhà về thăm gia đình, hậu phương những ngày nghỉ cuối tuần, đơn vị chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương ưu tiên, bảo đảm nhà công vụ, nhà ở xã hội và các chế độ đãi ngộ để anh em từng bước ổn định cuộc sống. Tuy còn nhiều khó khăn, vất vả song anh em luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ”.

Chăm lo người có công với cách mạng - Nền tảng vững chắc để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vững bước trong kỷ nguyên mới

 Tri ân, chăm lo người có công với cách mạng không chỉ là đạo lý nghìn đời của dân tộc Việt Nam, mà còn là biểu hiện tập trung sinh động bản chất nhân văn, tiến bộ, vì nhân dân phục vụ của Đảng, Nhà nước ta. Trong kỷ nguyên phát triển mới, chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” cần tiếp tục được cụ thể hóa bằng các giải pháp thiết thực, đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia hùng cường, thịnh vượng.

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng về chăm lo người có công với cách mạng

Ngay từ những ngày đầu sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng công tác thương binh, liệt sĩ và chăm lo chu đáo gia đình có công với cách mạng. Trong “Thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”” năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào/ Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Lời căn dặn giàu giá trị nhân văn ấy đã trở thành tư tưởng xuyên suốt trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, thể hiện sâu sắc bản chất cách mạng vì nhân dân phục vụ của một Đảng cách mạng chân chính.

Trong mọi hoàn cảnh, thời kỳ, kể cả khi đất nước gặp khó khăn, thách thức, công tác người có công với cách mạng luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ ưu tiên. Điều đó không chỉ thể hiện tình cảm cách mạng và tinh thần trách nhiệm sâu sắc, mà còn là biểu hiện rõ nét của tầm nhìn chiến lược về xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nguồn lực nội sinh quan trọng bảo đảm sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú”. Quan điểm nhất quán của Đảng ta về chăm lo người có công với cách mạng được xây dựng và phát triển trên nền tảng đạo lý truyền thống của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, là trách nhiệm thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng thời là một trong những nội dung cốt lõi thể hiện bản chất ưu việt, nhân văn và tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một tiêu chí quan trọng phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và tinh thần phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện theo hướng ngày càng toàn diện, bền vững, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Những năm qua, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ dừng lại ở biện pháp hỗ trợ mang tính an sinh xã hội thuần túy, mà được đặt đúng vị trí là một cấu phần thiết yếu trong chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - nơi giá trị của con người và sự hy sinh vì cộng đồng, vì đất nước được trân trọng, ghi nhận và chăm lo xứng đáng. Tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII, yêu cầu “bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân... Chăm lo đời sống người có công với cách mạng” được nhấn mạnh. Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới” nhấn mạnh: Chú trọng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần người có công, nhất là người ở vùng sâu, vùng xa, người gặp khó khăn trong cuộc sống. Tiếp tục nâng mức chuẩn trợ cấp, phụ cấp ưu đãi theo hướng phải là mức cao nhất trong các chính sách xã hội.

Quan điểm của Đảng về chăm lo người có công với cách mạng còn gắn liền với định hướng chiến lược về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một Nhà nước lấy con người làm trung tâm, phục vụ nhân dân là tôn chỉ, nguyên lý xuyên suốt. Trong bối cảnh kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số, phát triển nhanh và bền vững, việc tri ân người có công với cách mạng không chỉ là biểu hiện đạo lý truyền thống, mà còn là thước đo, là chỉ dấu giá trị nhân văn của chế độ, đồng thời là nền tảng tinh thần vững chắc để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Kết quả nổi bật trong công tác chăm lo người có công với cách mạng

Những năm qua, công tác chăm lo người có công với cách mạng được triển khai bài bản, đồng bộ, ngày càng đi vào chiều sâu, đạt kết quả toàn diện, thiết thực. Hiện nay, cả nước có khoảng 9,2 triệu người có công với cách mạng, bao gồm 1,2 triệu liệt sĩ, gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 600.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, gần 185.000 bệnh binh, trên 312.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, cùng hàng triệu người có công với cách mạng khác, như thanh niên xung phong, người bị địch bắt tù đày, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế và thân nhân của họ. Con số ấy phản ánh tầm vóc vĩ đại của sự nghiệp cách mạng, thể hiện quy mô sâu rộng và chiều sâu nhân văn của hệ thống chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Đây cũng là biểu hiện sinh động, cụ thể của bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tính đến năm 2024, đã có trên 98,5% hộ gia đình người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình tại khu dân cư nơi cư trú. Đây là kết quả quan trọng, thể hiện hiệu quả của việc lồng ghép chính sách ưu đãi người có công với cách mạng với chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, đồng thời khẳng định vai trò điều tiết, lan tỏa chính sách an sinh xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Song song với việc hoàn thiện thể chế, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ công tác điều dưỡng, chăm sóc thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại, đồng bộ và nhân văn. Nhiều trung tâm điều dưỡng, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng được mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu cả về thể chất lẫn tinh thần của đối tượng chính sách. Đây là sự cụ thể hóa nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về “xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, hiện đại và hội nhập quốc tế” gắn với chăm sóc nhóm đối tượng chính sách đặc biệt.

Hoạt động tri ân người có công với cách mạng tiếp tục được tổ chức thường xuyên, với hình thức phong phú, nội dung thiết thực, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Hàng chục nghìn căn nhà tình nghĩa được xây mới hoặc sửa chữa; hàng vạn sổ tiết kiệm tình nghĩa, học bổng, gói hỗ trợ khởi nghiệp, chương trình phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được triển khai hiệu quả. Nhiều mô hình hỗ trợ sinh kế cho người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng tiếp tục được nhân rộng tại các địa phương, góp phần khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường và ý chí hòa nhập cộng đồng. Đây là biểu hiện cụ thể của quan điểm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã nhấn mạnh trong nhiều nhiệm kỳ.

Đặc biệt, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng đã đánh dấu bước tiến lớn trong hoàn thiện chính sách, pháp luật về người có công với cách mạng. Pháp lệnh xác định rõ đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn hưởng ưu đãi; quy định cụ thể trách nhiệm của các cấp, các ngành; thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch. Đây là bước thể chế hóa quan trọng định hướng của Đảng về xây dựng chính sách “đồng bộ, khả thi, công bằng, minh bạch, hiệu quả” đối với người có công với cách mạng trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác chăm lo người có công với cách mạng của nước ta còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, như một số chính sách cụ thể còn thiếu linh hoạt, chưa thật sự phù hợp với đặc điểm, điều kiện và nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng thụ hưởng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc giải quyết hồ sơ tồn đọng, xác nhận người có công với cách mạng trong một số trường hợp đặc thù còn kéo dài, ảnh hưởng đến sự công bằng, tính nhân văn của chính sách...

Bất cập đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo hướng bao trùm, công bằng, đúng đối tượng, đúng bản chất cách mạng, phù hợp với thực tiễn. Đây cũng là yêu cầu được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện chính sách nhiều lúc chưa thật sự đồng bộ, thống nhất; nguồn lực đầu tư, nhất là ở cấp cơ sở, còn dàn trải, thiếu trọng tâm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế về năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện. Ngoài ra, việc triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và tri ân người có công với cách mạng chưa thật sự sâu rộng, thường xuyên, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Điều này đòi hỏi “tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa” trong thế hệ trẻ như Đảng đã xác định trong các nghị quyết về công tác văn hóa, con người.

Yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này là tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây là tiền đề quan trọng để chủ trương, chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào chiều sâu, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho sự nghiệp phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, công tác chăm lo người có công với cách mạng cần tiếp tục được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan nhằm cụ thể hóa đường lối phát triển con người Việt Nam toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, mà còn là nền tảng chính trị - xã hội quan trọng, góp phần bảo đảm an sinh bền vững, giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu và yêu cầu ngày càng cao về quản trị xã hội hiện đại, chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng toàn diện, linh hoạt, nhân văn, thích ứng, thể hiện rõ cam kết chính trị của Đảng và Nhà nước trong kế thừa và phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Trong bối cảnh tác động của các thách thức phi truyền thống, như già hóa dân số, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chính sách đối với người có công với cách mạng cần được đặt trong tổng thể chính sách phát triển con người, bảo vệ nhóm yếu thế và nâng cao năng lực chống chịu của xã hội. Điều đó đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy và phương thức thực hiện chính sách, từ hỗ trợ thụ động sang chủ động trao quyền, từ can thiệp đơn lẻ sang lồng ghép tổng thể, từ hành chính hóa sang xã hội hóa, phát huy vai trò toàn xã hội trong chăm lo người có công với cách mạng. Việc đặt công tác này trong tầm nhìn chiến lược, gắn với các chính sách lớn về con người, an sinh xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, là yêu cầu tất yếu để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Một trong những nhiệm vụ then chốt hiện nay là thể chế hóa kịp thời, đồng bộ và hiệu quả chủ trương của Đảng về chính sách người có công với cách mạng thành quy định pháp luật khả thi, phù hợp thực tiễn, bảo đảm công bằng trong tiếp cận, linh hoạt trong triển khai và hiệu quả trong thực thi. Chính sách này cần được cụ thể hóa trong chiến lược phát triển con người toàn diện, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.

Một yêu cầu có tính đột phá hiện nay là đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo hướng phục vụ, hiện đại, hiệu quả và nhân văn. Giai đoạn hiện nay, ứng dụng chuyển đổi số và cải cách hành chính trong thực hiện chính sách là yêu cầu cấp thiết. Đây là công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí xã hội và tăng mức độ hài lòng của người dân. Đồng thời, góp phần chuyển đổi cách tiếp cận từ “quản lý hành chính” sang “quản trị xã hội”, thể hiện rõ tinh thần vì nhân dân phục vụ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việc chuyển hóa chính sách ưu đãi người có công với cách mạng từ “trách nhiệm, nghĩa vụ” sang “động lực phát triển” không chỉ góp phần làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn của chế độ, mà còn lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội, ý chí tự lực và khát vọng vươn lên của những người đã cống hiến cho cách mạng. Đây là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau, nơi mọi người dân, đặc biệt là người có công với cách mạng đều có cơ hội phát triển công bằng, toàn diện trong môi trường chính trị ổn định, xã hội nhân văn và văn minh.

Phát huy đạo lý tri ân không chỉ giúp tăng cường niềm tin xã hội vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, mà còn là cơ sở tinh thần bền vững để bồi đắp khát vọng phát triển, khơi dậy nội lực, hun đúc bản lĩnh chính trị, đạo đức công dân và phẩm chất cách mạng trong mỗi con người Việt Nam thời đại mới. Vì thế, một yêu cầu mang tính chiến lược hiện nay là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị - tư tưởng về truyền thống yêu nước, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần tri ân và trách nhiệm công dân đối với người có công với cách mạng. Đây không chỉ là giải pháp bổ trợ cho chính sách “Đền ơn đáp nghĩa”, mà còn là phương thức quan trọng để bồi đắp giá trị văn hóa, tinh thần dân tộc trong quá trình phát triển và hội nhập. Đại hội XIII của Đảng xác định, phải “tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”(5). Thông qua hệ thống giáo dục quốc dân, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ..., cùng vai trò dẫn dắt của báo chí, văn học - nghệ thuật, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của giáo dục truyền thống và khơi dậy tinh thần yêu nước trong toàn xã hội, đặc biệt trong thanh thiếu niên. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được xây dựng bài bản, hiện đại, gắn với thực tiễn đất nước và nhu cầu tiếp nhận của thế hệ trẻ. Việc xây dựng chương trình giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước trong nhà trường, tổ chức diễn đàn tri ân, cuộc thi tìm hiểu tấm gương người có công với cách mạng, cũng như lồng ghép chủ đề “Đền ơn đáp nghĩa” vào sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, phim ảnh và nền tảng số sẽ góp phần lan tỏa giá trị nhân văn sâu rộng trong cộng đồng. Trong kỷ nguyên số, cần ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, như trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, thư viện số..., để đổi mới phương pháp giáo dục truyền thống cách mạng. Điều này giúp tăng tính tương tác, trải nghiệm, khơi dậy cảm xúc và nâng cao hiệu quả tiếp nhận, nhất là đối với thế
hệ trẻ.

Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng trở nên cấp thiết, việc phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với chính sách ưu đãi người có công với cách mạng cần được đặc biệt coi trọng, thể hiện rõ tính dân chủ, công khai, minh bạch của chế độ ta - yếu tố cốt lõi trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên với cơ quan nhà nước, báo chí, truyền thông và cộng đồng dân cư để hoạt động giám sát, phản biện xã hội thực chất, hiệu lực và hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, việc huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” cần được nâng lên tầm chiến lược. Đây là sự tiếp nối truyền thống “toàn dân chăm sóc người có công”, thể hiện sâu sắc đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và là biểu hiện sinh động của tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cộng đồng trong điều kiện mới với sự vào cuộc của tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội, nhóm thiện nguyện và toàn xã hội. Sự tham gia của toàn xã hội không chỉ tăng thêm nguồn lực, mà còn tạo sức lan tỏa, khơi dậy ý thức trách nhiệm và củng cố mối liên kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc lan tỏa giá trị tri ân còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam, một quốc gia - dân tộc nhân văn, nghĩa tình, trách nhiệm trong mắt bạn bè quốc tế.  Xã hội hóa công tác chăm lo người có công trên nền tảng giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, điều hành của Nhà nước, không chỉ mở rộng không gian thực thi chính sách, mà còn tạo lập một hệ sinh thái tri ân đa chiều, bền vững. Qua đó, giá trị truyền thống cốt lõi tốt đẹp được tiếp nối và phát huy mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên độc lập, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, hội nhập toàn diện và phát triển bền vững. Tri ân người có công với cách mạng không chỉ mang ý nghĩa đạo lý, mà còn góp phần củng cố niềm tin chiến lược, xây dựng nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tri ân không chỉ là nghĩa vụ lịch sử, mà còn là nguồn lực tinh thần quý giá, hun đúc niềm tin, bồi đắp khát vọng và khơi dậy nội lực dân tộc. Tinh thần ấy tiếp tục là nền tảng vững chắc để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vững bước đi lên trên con đường độc lập, tự cường, hiện thực hóa mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vì hạnh phúc của nhân dân, vì tương lai phồn vinh của đất nước, vì sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.

 

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
TRƯỚC NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐẤT NƯỚC

Các vấn đề xã hội ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Việt Nam.  Đặc biệt, trước sự chuyển đổi về mô hình quản lý mới của đất nước và đại hội các cấp tổ chức Đảng cơ sở đang diễn ra và trươc thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.

Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều đề cập khá rõ nhiều vấn đề xã hội nổi cộm như: tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; suy giảm niềm tin, tệ nạn xã hội như ma túy và mại dâm; tai nạn giao thông và thương tích; chất lượng nền giáo dục và đào tạo; chất lượng hệ thống khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước phát triển mới: Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ việc giải quyết vấn đề xã hội sang nhấn mạnh việc phát huy quá trình xã hội hóa trong giải quyết vấn đề xã hội. Từ chỗ không chấp nhận vấn đề xã hội trong quá trình xây dựng đất nước sang chấp nhận các vấn đề xã hội như là hệ quả không mong muốn, song hành với sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ chỗ coi việc giải quyết vấn đề xã hội là vấn đề thuần túy có tính chất chi phí nguồn lực sang vấn đề đầu tư cho phát triển bền vững. Từ chỗ giải quyết vấn đề xã hội mang tính bị động đối phó sang phương châm: dự báo, chủ động, tích cực hơn. Đặc biệt, trong việc giải quyết vấn đề xã hội đã từng bước lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực trong hoạch định và thực thi hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm giải quyết tốt/hiệu quả vấn đề xã hội".

Vấn đề xã hội là những hiện tượng xã hội này sinh từ điều kiện và hệ quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cộng đồng, giai tầng xã hội hoặc toàn bộ xã hội. Nó được công luận hay một số bộ phận của công luận đòi hỏi như là một tất yếu cần được thay đổi giải quyết thông qua hệ không chính sách kinh tế - xã hội . Như vậy, các vấn đề xuất hiện từ các quan hệ xã hội có tác động, ảnh hưởng hoặc đe dọa đến sự phát triển bình thường của xã hội, đòi hỏi xã hội phải có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết kịp thời, hiệu quả.

Một xã hội lành mạnh sẽ có sức đề kháng tốt đối với các “vấn đề xã hội”. Kinh nghiệm thực tiễn và khoa học đã chứng minh, khi kinh tế đi xuống, có thể chỉ cần vài năm để hồi phục, song khi những vấn đề xã hội gia tăng đến mức không thể kiểm soát, hệ quả xã hội rất khôn lường và sẽ mất nhiều thập niên để khôi phục. Về mặt lý thuyết có thể đưa ra 8 tiêu chí/đặc điểm để nhận diện vấn đề xã hội (phân biệt với vấn đề cá nhân), bao gồm: 1) Có liên quan và tác động tới nhiều nhóm trong xã hội; 2) Có liên quan và ảnh hướng đến nhiều thiết chế, lĩnh vực xã hội khác nhau; 3) Mang tính chất quốc tế, quốc gia; 4) Trở thành một chủ đề bàn bạc nhiều trong các chương trình nghị sự; 5) Nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội; 6) Khó tiên lượng và đạt kết quả giải quyết tận gốc, triệt để; 7) Song hành với quá trình phát triển kinh tế - xã hội; 8) Phụ thuộc vào bối cảnh không gian và thời gian….

Ngày nay, trong bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, để nâng cao hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả lãnh đạo, quản lý đất nước, nhận diện được các vấn đề xã hội đang diễn ra là quan trọng và cần thiết./.

 

 

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2025

 

TRỤC LỢI TỪ QUYỀN LỰC – MỘT DẠNG BIỂU HIỆN
CỦA THA HÓA QUYỀN LỰC

Người giữ vai trò là chủ thể nắm giữ quyền lực có một ý nghĩa rất đặc biệt vì họ thường là người đứng đầu của một thế lực, một cộng đồng… Trong đấu tranh sinh tồn, sự thiết lập quyền lực nhằm tạo ra vị thế cho người chỉ huy trong tổ chức lao động sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt. Sự cạnh tranh ở đây lại diễn ra giữa cộng đồng này với cộng đồng khác mà nếu như cộng đồng nào yếu thế thì có thể trở thành tù binh hay nô lệ cho cộng đồng kia và bị cộng đồng đó áp đặt ý chí. Chính vì lẽ đó mà người đứng đầu cộng đồng phải là người giành được sự tín nhiệm tuyệt đối của cộng đồng. Khi đó, quyền lực gắn liền với uy tín và trách nhiệm của người đứng đầu và sự tiếp nhận ý chí của cộng đồng cũng mang tính tự nguyện mà bảo đảm cho quyền lực chính là bổn phận của mỗi thành viên được ý thức một cách tự giác cùng với sự cưỡng chế của cả cộng đồng. Mệnh lệnh của người đứng đầu được phát ra nhân danh cả cộng đồng và việc tuân theo mệnh lệnh ấy không chỉ vì lợi ích của cộng đồng mà vì lợi ích của chính bản thân của mỗi thành viên thực hiện mệnh lệnh ấy. Vì vậy, đối với người đứng đầu một tổ chức, một cơ quan, đơn vị dù ở cấp độ nào thì nhận thức được vị trí, vai trò của mình trên cương vị đứng đầu là quan trọng, cần thiết. ngược lại, không nhận thức được là biểu hiện trục lợi từ quyền lực. Trục lợi từ quyền lực dựa trên chức trách, nhiệm vụ được giao thì hậu quả để lại hết sức nặng nề cho cơ quan, đơn vị thậm chí toàn xã hội….Nhiều vụ việc tham nhũng, vi phạm nguyên tắc của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước hiện hành gần đây đã minh chứng cho những nội dung đã đề cập ở trên. Dưới góc độ nghiên cứu, chúng ta có thể chỉ ra quá trình trục lợi từ quyền lực đối với vị trí lãnh đạo của mình được Đảng, nhân dân giao cho là một dạng tha hóa quyền lực.

 Trục lợi từ quyền lực (Sự lợi dụng quyền lực). Sự tha hóa này hình thành dần trong quá trình thực thi quyền lực. Gần như trong tất cả các chế độ xã hội, người nắm quyền lực đều sử dụng quyền lực để phục vụ cho lợi ích các nhân hoặc bộ phận. Từ ảnh hưởng của quyền lực, các chủ thể nắm giữ quyền lực có thể “tranh thủ” chi phối đối tượng, đặt ra những đòi hỏi cho họ và buộc phải đáp ứng các yêu cầu quá đáng của họ. Trong trường hợp này, người ta không thể có được lợi ích nếu họ không phải là người nắm giữ quyền lực hoặc lợi dụng được người nắm quyền lực. Sự tha hóa này là diễn biến tự thân của quyền lực nhưng cũng có thể do sự tác động từ những người xung quanh mà đặc biệt là những người thân thích như vợ, con… của họ và đây lại là nguyên nhân quan trọng làm cho sự tha hóa diễn ra nhanh hơn. Sự lợi dụng quyền lực cũng là một biểu hiện của sự lạm quyền. Nói chung thì những lợi ích mà chủ thể có được là những lợi ích không chính đáng. Nó kéo theo sự mất niềm tin của xã hội, của những đối tượng của quyền lực và hệ quả của nó là “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Đối với nhà nước thì đây là một nguy cơ rất lớn mà chúng ta đã xác định trong thời gian gần đây là tình trạng tham nhũng của các quan chức trong các cấp chính quyền trong bộ máy quản lý Nhà nước ta hiện nay..

Để nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng toàn xã hội cần nhận diện một cách chính xác sự tha hóa này của quyền lực ./.

 

SỰ TIẾM QUYỀN – MỘT DẠNG BIỂU HIỆN
CỦA THA HÓA QUYỀN LỰC

 Sự tiếm quyền là biểu hiện nghiêm trọng của sự tha hóa quyền lực. Nói như Khổng tử thì ở đây người nắm quyền lực là người “không chính danh”. Người thực hiện quyền lực không phải là người nhận được quyền lực một cách hợp pháp mà là sự thoán đoạt địa vị của người có quyền lực hợp pháp nhưng lại tỏ ra bất lực và bị cưỡng bức chuyển giao quyền lực do họ còn quá nhỏ tuổi hay bị ốm yếu, già cả. Người tiếm quyền thường là người gần gũi với người có quyền mà chủ yếu là từ quan hệ hôn nhân như chú tiếm quyền của cháu, mẹ tiếm quyền của con… Đặc biệt ở những nước ở phương Đông, nạn hoạn quan và ngoại thích đã phá hoại rất nhiều vương triều hùng mạnh mà mọi hậu quả thì nhân dân là người phải hứng chịu.

Vì vậy, đối với người đứng đầu một tổ chức, một cơ quan, đơn vị dù ở cấp độ nào cũng cần phải nhận thức được vị trí, vai trò của mình trên cương vị đứng đầu là quan trọng, cần thiết. Ngược lại, không nhận thức được vị trí, vai trò của mình được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao cho sẽ bị lợi dụng, từ đó dễ dẫn đến vô trách nhiệm với quyền lực của mình, trở thành con rối trong tay kẻ khác, nhất là để cho các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng, sai khiến… thì hậu quả để lại hết sức nặng nề không chỉ cho cơ quan, đơn vị mà toàn dân, toàn xã hội…cả quốc gia dân tộc….

Nhiều vụ việc tham nhũng, vi phạm nguyên tắc của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước hiện hành gần đây đã minh chứng cho những nội dung đã đề cập ở trên. Dưới góc độ nghiên cứu, chúng ta có thể chỉ ra Sự tiếm quyền đối với các vị trí lãnh đạo được Đảng, nhân dân giao cho là một dạng tha hóa quyền lực. Trong thực tiễn tha hóa quyền lực dưới dạng này biểu hiện hết sức tinh vi, vỏ bọc rất kín kẽ./.

 

 

VAI TRÒ CỦA NHẬN THỨC VÀ PHÁT HUY LÝ LUẬN
TRONG THỜI KỲ MỚI

Ngày nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Các điểm nóng về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng, tác động đến hòa bình, an ninh và phát triển trên thế giới. Xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới.

Đối với nước ta, sau gần 40 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, những nguy cơ, thách thức đã dự báo, không những chưa được khắc phục mà còn phức tạp hơn…đặt ra những yêu cầu cao về nhận thức lý luận và phát huy vai trò của lý luận trong thời kỳ mới cho hệ thống chinh trị hiện nay.

Nhận diện những luận điệu xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 Trong thời qua, các thế lực thù địch phản động, phần tử xấu triệt để khai thác tình hình trong nước; chúng vin vào kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, công tác tổ chức nhân sự lãnh đạo Đảng, Nhà nước để ráo riết, các chiến dịch tuyên truyền phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, để phát tán các tin giả, tin sai sự thật, dư luận xã hội nhằm công kích vào tư tưởng nội bộ, gây hoang mang dư luận về tư tưởng chính trị đối với cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng, Nhà nước ta; với nhiều phương thức tuyên chuyền chống phá công khai trắng trợn, sử dụng trên không gian mạng, mạng xã hội, trang Facebook, Youtube, TicTok; biên tập, suy diễn nhiều tin tức tài liệu đồn đoán không có thật để bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhằm lôi kéo các trung tâm phá hoại từ bên ngoài tập trung khai thác bình luận khoét sâu xuyên tạc, thuyết âm mưu thâm độc của chúng. Số đối tượng phản động cơ hội chính trị, các tổ chức phản động lưu vong cấu kết kích động xuyên tạc vu cáo Việt Nam về dân chủ nhân quyền, vấn đề dân tộc, tôn giáo, để tạo dựng ngọn cờ lôi kéo tụ tập đông người trở thành điểm nóng gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, thuận cho việc kích động tuyên truyền lôi kéo quần chúng chống Đảng, Nhà nước; gửi đi các “thông điệp” tuyên truyền xuyên tạc tình hình dân tộc, tôn giáo, an sinh xã hội trong nước, vu cáo chính quyền “đàn áp tôn giáo” kêu gọi các phần tử cơ hội chính trị, số bất mãn, cực đoan đưa ra các luận điệu học thuyết trái với hiến pháp,  pháp luật Việt Nam; kêu gọi các tổ chức quốc tế, gây sức ép yêu cầu các cơ quan chức năng, giải quyết quyền lợi theo yêu cầu của chúng đưa ra, các hội nhóm phản động, chống đối đăng tải nhiều bài viết thúc đẩy “truyền thông độc lập” kêu gọi “xóa bỏ độc tài đấu tranh bạo động có tổ chức, trọng tâm của các thế lực thù địch là xuyên tạc, thổi phồng các vấn đề vụ việc, điểm nóng phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực, chính trị, đối ngoại, kinh tế, văn hóa xã hội, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo” làm ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, tâm trạng của nhân dân, các tầng lớp trong xã hội nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc của nhân dân ta; Đảng ta luôn phải đối mặt với các hoạt động  âm mưu, thủ đoạn chống phá, công kích, của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, chúng  không từ một thủ đoạn nào, ra sức gây nhiễu, tạo khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên, kích động thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” hòng làm mất niềm tin của nhân dân với Đảng, và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Quan điểm kiên định của Đảng ta “ Hồ Chí Minh” đã khẳng định phải “giữ chủ nghĩa cho vững”, “ Đảng có muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”. Nghị quyết 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới”. Tuy nhiên, các thế lực thù địch phản động cơ hội chính trị thường tập trung phủ nhận xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như các giá trị khoa học thời đại, cách mạng nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để chống phá xuyên tạc quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trên tất cả lĩnh vực trong xã hội đặc biệt xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo lợi dụng hạn chế yếu kém trong quản lý xã hội sơ hở thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế xã hội ở miền núi, chính sách dân tộc tôn giáo của Đảng, Nhà nước ở địa phương hoặc những vấn đề bức xúc khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo kích động người dân tham gia các hoạt động biểu tìnhđình công, lãn công, gây mất trật tự công cộng gây chia rẽ cấp ủy chính quyền với nhân dân giữa các dân tộc, tôn giáo với nhau trở thành các điểm nóng.
Tính nhất quán của Đảng và nhân dân ta khẳng định con đường đi lên CNXH của nhà nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, và xu thế phát triển của thời đại, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi cuộc cách mạng Việt Nam, trong đó phải kể đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị.
Để đấu tranh có hiệu quả mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch phản động, là nhiêm vụ  quan trọng, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân ta, chúng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ giải pháp sau.
 Cấp ủy chính quyền các cấp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, cấp ủy chính quyền các cấp và đội ngũ cán bộ chủ chốt, nắm vững đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Phát huy vai trò nòng cốt của cấp ủy chính quyền các cấp, xác định rõ việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vạch trần phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc đường lối, chính sách pháp luật cảu Đảng, Nhà nước ta.
Đấu tranh với mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” suy thoái trong nội bộ, phòng chống tham nhũng tiêu cực, làm cho Đảng, thực sự trong sạch vững mạnh, trên các mặt về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của tất cả các chi Đảng bộ, mỗi đảng viên, cán bộ công nhân viên chức luôn là vai trò tiên phong gương mẫu đi đầu  trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, động viên, khích lệ nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, được nhân dân đặt niềm tin tuyệt đối hưởng ứng noi theo.
Chú trọng xây dựng nâng cao hiệu quả “thế trận lòng dân”. Gắn với phong trào toàn dân BVANTQ, bảo đảm ANCT-TTATXH trên địa bàn từ cơ sở.
Thường xuyên chăm lo cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, và đặc biệt bồi dưỡng chuyên sâu số cán bộ làm công tác tuyên truyền, công tác dân vận, để truyền tải nội dung về đương lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đến với mỗi người dân mang lại sự đồng thuận, tuyệt đối tin tưởng vào con đường sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước ta đã lựa chọn.