Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NƠI LƯU GIỮ KÝ ỨC HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC VÀ QUÂN ĐỘI TA!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CẢM NGHĨ VỀ CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ SAU NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9!
NGƯỜI CHIẾN SĨ HÔM NAY: CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾN SĨ LÊ HOÀNG HIỆP - THỂ HIỆN TÁC PHONG "HÀO SẢNG, ĐIỀM TĨNH, HÙNG MẠNH"!
Quân đội thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta
Quân đội nhân dân Việt Nam là một thành tố
của hệ thống chính trị, là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc. Những năm
qua Quân đội đã phát huy tốt vai trò chức năng đội quân công tác, trong đó có
thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình
mới.
Nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ
toàn quân về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ
trì các cấp được nâng cao. Các đơn vị trong toàn quân đã có nhiều hoạt động
tích cực tham gia hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào các tôn giáo, đặc biệt là ở vùng
sâu, vùng xa phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí,
phòng, chống dịch bệnh, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gia đình văn
hóa, giúp đồng bào phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt.
Công tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo
được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, mang lại hiệu quả thiết
thực như: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, “Gắn kết hộ người Kinh với
hộ đồng bào dân tộc thiểu số”, giúp đồng bào phát triển kinh tế hộ gia đình;
“Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; phong trào “Họ đạo gương mẫu”..., góp phần
động viên tư tưởng, phát huy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo sự đồng
thuận, niềm tin của các chức sắc, tín đồ và nhân dân vùng tôn giáo vào sự lãnh
đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; củng cố tăng cường sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở. Đồng
thời, làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ và nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ
động đấu tranh, ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của
các thế lực thù địch.
Các vấn đề có liên
quan đến quốc phòng - an ninh ở vùng đồng bào tôn giáo như vấn đề về đất đai,
cơ sở vật chất của các tôn giáo được phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền
và các cơ quan chức năng ở địa phương giải quyết đúng pháp luật.
Trong những năm tới, tình hình tôn giáo thế
giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các hiện tượng tôn giáo, tín
ngưỡng được truyền bá nhanh chóng giữa các quốc gia tăng lên; chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực phản động tiếp tục lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống
phá cách mạng nước ta. Do vậy, để thực hiện tốt chức năng là đội quân chiến
đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; trong thực hiện chính
sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, Quân đội cần tập trung vào những nội dung cơ
bản sau:
Tiếp tục quán triệt, học tập nắm
vững các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn
giáo trong tình hình mới. Tập trung tổ
chức quán triệt, phổ biến đến mọi quân nhân Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
XIII; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày
12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công
tác tôn giáo; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; các nghị quyết, chỉ thị,
hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về quân đội
thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới, qua đó, làm cho mọi quân nhân
thống nhất nhận thức, nâng cao trách nhiệm, gương mẫu thực hiện tốt chính sách
tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền
vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, các tôn giáo thực hiện tốt các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết
toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Nội dung tuyên truyền vận động ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với
trình độ dân trí, tập quán và lối sống của từng dân tộc, từng tôn giáo. Phát
huy vai trò của những người có uy tín, nòng cốt trong các dân tộc thiểu số, các
tôn giáo, nhất là các quân nhân người dân tộc thiểu số và quân nhân có tín
ngưỡng tôn giáo để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động ở địa bàn nơi đóng
quân.
Tích cực tham gia xây dựng cơ sở địa phương vùng các tôn
giáo vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong
tình hình mới. Phối hợp chặt
chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tiến hành điều tra, khảo sát, nắm
vững tình hình tín ngưỡng, tôn giáo, nắm diễn biến hoạt động và những thủ đoạn
chống phá của các thế lực thù địch trên từng địa bàn, từ đó đề xuất chủ trương,
biện pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả nhất, sẵn sàng ứng phó với mọi
tình huống xảy ra.
Tích
cực đổi mới nội dung, hình thức công tác dân vận ở các địa phương vùng đồng bào
tôn giáo. Chú trọng cơ sở địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo phù
hợp với nhiệm vụ của đơn vị và đặc điểm từng địa phương. Phối hợp với các lực
lượng chức năng thực hiện có hiệu quả chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng, an ninh gắn với phát huy vai trò các già làng, trưởng bản, chức sắc,
chức việc, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc, tôn giáo, tạo sự đồng
thuận trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước,
nhiệm vụ của địa phương.
Chủ
động tham mưu giúp các địa phương vùng đồng bào tôn giáo xây dựng cơ sở chính
trị, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể
chính trị - xã hội. Tích cực giúp đỡ đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế -
xã hội, phát triển ngành, nghề sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí,
phòng chống thiên tai, dịch bệnh; xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Tham
gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân,
khu vực phòng thủ vững chắc ở vùng tôn giáo.
Tham
mưu và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương xây dựng phương án tác
chiến trị an, giữ gìn an ninh, trật tự địa bàn; vận động thanh niên các tôn
giáo thực hiện nghĩa vụ quân sự; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa
bàn đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đồng bào nâng cao cảnh giác, tham gia đấu
tranh làm thất bại âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định chính
trị ở cơ sở.
Thực hiện tốt chính sách tôn
giáo đối với quân nhân là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, các tôn giáo.
Phát huy dân chủ, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, bình đẳng về mọi mặt giữa quân
nhân có đạo và không có đạo; tạo điều kiện cho mọi quân nhân là con em dân tộc
thiểu số, có đạo tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được
giao.
Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định:
“Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn
giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm
minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội
chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân
tộc”[1].
Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo tập trung ở
các nội dung sau:
Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Khoản
1, Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.
Đảng
ta khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần
chúng nhân dân, là đã thực sự tôn trọng sự tồn tại khách quan của tôn giáo hiện
nay. Quan điểm trên của Đảng là cơ sở bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo
của một bộ phận quần chúng nhân dân; Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và bảo đảm
nhu cầu sinh hoạt tinh thần của bộ phận quần chúng nhân dân có đạo; thực hiện
nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp
luật; các tôn giáo được quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng
trước pháp luật.
Hai là, thực hiện nhất quán chính sách
đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn
kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.
Quan điểm của
Đảng thể hiện, các tôn giáo được bảo đảm hoạt động bình đẳng trong khuôn khổ
pháp luật cho phép; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào
theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, không phân biệt đối xử vì lý do
tín ngưỡng, tôn giáo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy
những giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống cách mạng của của
đồng bào có đạo, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Nghiêm
cấm việc đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính
sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối,
xâm phạm an ninh quốc gia, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung hoàn thiện và triển khai
thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù
giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn
giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá
hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”[2]
Ba là, nội dung cốt lõi của công
tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Đại đa số tín đồ,
chức sắc là nhân dân lao động, công tác tôn giáo không phải là hạn chế hay xóa
bỏ tôn giáo mà thực chất là tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng có đạo
nhận rõ nghĩa vụ và quyền lợi của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta
khẳng định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ
sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và
hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa,
đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước.
Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo
chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết
tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[3]
Bốn là, công tác
tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Giải quyết vấn đề
tôn giáo là vấn đề chiến lược liên quan đến mọi mặt đời sống chính trị - xã
hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Cho nên công tác tôn giáo đòi hỏi phải
có sự tham gia và thực hiện của toàn xã hội, trọng tâm là hệ thống chính trị.
Khi giải quyết các vấn đề về tôn giáo phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuân
theo luật pháp Nhà nước, là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức
kinh tế - xã
hội; tổ chức và cán bộ trực tiếp làm công tác tôn giáo có vai trò quyết định sự
thành công trong công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo và đấu tranh chống
lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.
Năm
là, mọi tín
đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy
định của pháp luật.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội -
2021, tr. 171.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 50 - 51.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171.
DÂN CHỦ QUÁ TRỚN, COI THƯỜNG PHÁP LUẬT, GIỚI TRẺ ĐẨY CUỘC BIỂU TÌNH THÀNH BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CHÍNH PHỦ, PHÁ TAN ĐẤT NƯỚC NEPAL.
Chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.
Một
là, thực
hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế
- xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng
bào các tôn giáo.
Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy các nhân tố tích cực, nhân
văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu
cực, mê tín, dị đoan”[1]
Hai
là, tạo điềụ kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo
đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những hành
vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá
hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Khoản 1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
2016 ghi rõ: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi
người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
Ba
là, đẩy mạnh
phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” trong quần
chúng, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn
là, tăng
cường thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát huy
tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo; tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất
bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, chống đối chế độ.
Năm
là, hướng
dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại
của Đảng và Nhà nước.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 144.
Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong bảo vệ Tổ quốc
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
con đường cứu nước và giải phóng dân tộc đã được xác định là con đường cách
mạng vô sản. Nhiệm vụ cách mạng của cả dân tộc Việt Nam là phải tranh đấu,
giành cho được độc lập dân tộc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và
tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hơn 90 năm qua, nắm vững tính tất yếu khách quan bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã thể hiện
rõ tinh thần quý trọng nền hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc, nêu cao tinh
thần cách mạng, thực hành tư tưởng tiến công, phát huy sức mạnh dân tộc và sức
mạnh thời đại, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền độc lập, hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành sự
nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, thu được những thành tựu hết sức to lớn.
Tình hình thế giới, khu vực tác động đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Tình hình chính trị
- an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường,
nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triễn vẫn là xu thế
lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp
tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa
các nước lớn ngày càng tăng. Luật
pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung
tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa
hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân
tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ
quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức mới.
Kinh tế thế giới
lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động
của đại dịch Covid-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến
lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi
cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường,
các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước
ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và
phân phối toàn cầu.
Cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ
và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Cộng đồng quốc tế phải đối phó
ngày càng quyết liệt hơn với các vấn đề toàn cầu, thách thức an ninh truyền
thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và hình thái chiến tranh kiểu
mới. Tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên,
xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ,
chiến tranh mạng diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực.
Khu vực châu Á -
Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng,
là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh
chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp,
quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không
trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. ASEAN có
vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực
nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn. Cộng đồng ASEAN tiếp tục phát huy vai trò
quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế,
nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong và bên ngoài.
Vận dụng đúng đắn quan điếm đối tác, đối tượng.
Đảng ta chỉ rõ:
“Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị,
hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kể thế lực có
âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước Việt Nam trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều là đối tượng của Việt Nam”[1]. Trong tình hình diễn ra nhanh
chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng trong xử lý các tình
huống. Bởi vì, trong đối tác có mặt là đối tượng; trong đối tượng có mặt là đối
tác.
Nâng
cao công tác dự báo, nắm chắc tình hình; chủ động, phòng ngừa, phát hiện sớm và
triệt tiêu các nhân tố, nhất là những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những
đột biến, bất lợi. Đây là quan điểm
chỉ đạo phương châm chủ động giữ nước, quán triệt và thể hiện tư tưởng chủ động
giữ nước của ông cha ta: “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, không để bị động,
bất ngờ, lấy phòng ngừa là chính. Trong tình hình hiện nay, cần đặc biệt chú ý
chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các yếu tố gây bất ổn từ bên trong, như “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại .
Sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm
chắc nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm gắn với giải quyết tốt các vấn;
xây dựng Đảng là then chốt, kết hợp với bảo vệ Đảng, bảo vệ sự lãnh đạo của
Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh; xây dựng và phát triển văn hóa, con
người làm nền tảng tinh thần của xã hội là sức mạnh nội sinh quan trọng. Kết
hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Phát
huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm
nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, không ngừng xây dựng thế
trận quốc phòng gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới.
Đảng ta xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp
an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa
góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”[1].
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 158,159.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "CỞI TRÓI"!
Yêu nước ST.
Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở khẳng
định tư tưởng lớn, cơ bản của Đảng qua các kỳ Đại hội, Nghị quyết Trung ương 8
khóa IX, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới,
mục tiêu bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của
Đảng xác định:
Bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập
chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã
hội là yêu cầu hàng đầu. Đây cũng là
điểm nổi bật trong truyền thống đánh giặc, giữ nước của cha ông ta trong lịch
sử chống xâm lược. Yêu cầu giữ vững độc lập dân tộc không chỉ bao hàm bảo vệ
vùng đất, vùng trời, vùng biển, thềm lục địa, biên giới của Tổ quốc mà còn bao
hàm cả giữ vững độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn,
song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
là yêu cầu bảo vệ sự thống nhất của Tổ quốc ta hiện nay, trước âm mưu chia rẽ
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.
Bảo
vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong
tình hình hiện nay, khi kẻ địch dùng
“diễn biến hòa bình” chống phá ta, mũi nhọn tập trung vào phá hoại Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa thì nội dung này có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng. Bài học từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông
Âu cho thấy, khi mà Đảng Cộng sản không còn giữ được vai trò lãnh đạo, thì Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa cũng không còn.
Bảo vệ Đảng, Nhà
nước bao gồm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường
lối quan điểm của Đảng, bảo vệ uy tín của Đảng và làm cho đường lối của Đảng
thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ hệ
thống tổ chức Đảng, chính quyền các cấp và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Kiên quyết đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ địch. Bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa trước hết là bảo vệ lý tưởng và định hướng xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ chế độ chính trị và chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Đảng, Nhà
nước và chế độ xã hội chủ nghĩa phải đi đôi với bảo vệ cuộc sống lao động hòa
bình của nhân dân.
Bảo
vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ có đường lối đổi mới đất
nước toàn diện, cách mạng nước ta vững bước tiến lên. Thắng lợi của công cuộc
đổi mới đã củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đời sống của
nhân dân và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Điều đó chứng tỏ rằng: Đổi mới là con
đường đúng đắn, hợp quy luật của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phải kiên
quyết bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng, bảo vệ những thành quả của cách mạng
Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, chúng ta thực hiện đa phương hoá, đa dạng
hoá trong quan hệ đối ngoại đòi hỏi phải giữ vững độc lập tự chủ.
Bảo
vệ lợi ích quốc gia dân tộc
bao hàm cả lợi ích kinh tế, văn hóa… trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay, bảo vệ lợi ích kinh tế của đất nước trở thành nhiệm vụ hết sức quan
trọng. Đó là lợi ích kinh tế trong đất liền, vùng biển, vùng trời, biên giới,
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của tập thể của cá nhân, lợi
ích của các doanh nghiệp và người Việt Nam định cư ở nước ngoài… Cơ sở pháp lý
của vấn đề này là các văn bản, luật, quy ước quốc tế và của Việt Nam. Do đó
Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh, bổ sung các luật có liên quan, kiên
quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, địa phương, lợi ích
riêng làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc. Đảng ta
xác định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp
tác, cùng có lợi”[1].
Bảo
vệ nền văn hóa dân tộc. Trong tình hình hiện nay kẻ địch đang
ráo riết chống phá ta trên tất cả các mặt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, văn
hóa. Bảo vệ nền văn hóa Việt Nam là bảo vệ truyền thống yêu nước, cốt cách tâm
hồn Việt Nam trong thời đại mới. Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa,
làm cho văn hóa trở thành nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực trong công cuộc đổi mới hiện nay. Ra sức đấu tranh chống những quan
điểm và hành vi văn hóa đồi trụy, phản động, xấu độc của chế độ cũ để lại. Xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Giữ
vững môi trường hòa bình để xây dựng, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an
ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự ổn định về chính trị và môi trường hòa bình là
điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Để giữ vững ổn định chính trị, trước hết phải đấu tranh giữ vững sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kiên
quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của địch, không để xảy ra bạo
loạn về chính trị hoặc “tự diễn biến”. Giữ vững môi trường hòa bình đòi hỏi
Đảng và Nhà nước ta phải có đường lối đối nội và đối ngoại đúng đắn, tăng cường
mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước, nhất là các nước trong khu vực trên
cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, các bên cùng có
lợi.
Bảo vệ an ninh quốc
gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các
vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề
an ninh phi truyền thống. Đây là những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ
những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình hội nhập quốc tế và phát
triển. An ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh
quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng -
văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh kết nối, an ninh mạng, an
ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh
lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh môi
trường, an ninh con người. Đảng ta khẳng định: “Chú trọng an ninh, an toàn là
một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”[2], do vậy bảo vệ an ninh
quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân.
Bảo
vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
Đây là nội dung có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ trọng yếu thường
xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, của
các cấp, các ngành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà
nước, trong đó lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng
cốt. Bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian
mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm an
ninh mạng quốc gia, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia; xây
dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, trở thành nguồn lực quan trọng để xây
dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Góp phần huy động và phát huy sức mạnh tổng
hợp của hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong công tác bảo đảm an ninh
mạng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh mạng; huy động,
phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước đi đôi với tăng cường, mở rộng hợp
tác quốc tế trong bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và an ninh mạng. Tăng
cường năng lực, hiệu quả đấu tranh bảo vệ an toàn, an ninh mạng, phòng, chống
tội phạm và vi phạm pháp luật trên không gian mạng, triển khai các biện pháp kỹ
thuật chuyên biệt vô hiệu hóa nguồn phát động tấn công mạng, chiến dịch tấn
công mạng, hoạt động sử dựng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trọng
tâm là hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình, bạo loạn, phá
hoại, khủng bố, gây rối an ninh, trật tự trên không gian mạng.
Tình hình trong nước tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Về thuận lợi, sự
nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm cho các thế và
lực của nước ta có sự phát triển. Đảng ta dày dặn kinh nghiệm trong lãnh đạo
các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.
Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, thông minh, sáng tạo,
đoàn kết nhân ái. Kinh tế từng bước ra khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà
tăng trưởng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức kinh tế vĩ mô ổn định
chưa vững chắc; nợ công tăng nhanh, nợ xấu đang giảm dần nhưng còn ở mức cao,
năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế thấp. Tình hình chính
trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; quan hệ đối
ngoại không ngừng mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực được tiến hành
chủ động, đạt kết quả tốt.
Về
khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn
gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu
hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng
thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều
kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng
cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta.
Tình hình thế giới
và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra
nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có
quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình,
chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy
mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi
mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt
được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”[1].
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội - 2021, tr. 105-109.




