Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NƠI LƯU GIỮ KÝ ỨC HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC VÀ QUÂN ĐỘI TA!

     Với cái nhìn thiển cận, các thế lực thù địch, phản động cố tình quy kết các bảo tàng cách mạng, trong đó có Bảo tàng Lịch sử Quân sự (LSQS) Việt Nam, là “công cụ tuyên truyền một chiều của Đảng”, “nơi khơi dậy nỗi đau chiến tranh”... Vạch trần mưu đồ “xóa nhòa lịch sử” thông qua hành vi xuyên tạc việc lưu giữ và trưng bày hiện vật tại Bảo tàng là công việc quan trọng nhằm phát huy giá trị LSQS, bảo vệ thành quả cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhận rõ mưu đồ, thủ đoạn của các thế lực thù địch

Những năm qua, các thế lực thù địch, phản cách mạng và những kẻ cơ hội chính trị ra sức lan truyền thông tin sai lệch, bôi nhọ hình ảnh các bảo tàng cách mạng, nhất là Bảo tàng LSQS Việt Nam, với các luận điệu phổ biến, như: “Bảo tàng chỉ là công cụ tuyên truyền một chiều của Đảng Cộng sản Việt Nam”. 

Chúng cố tình đánh tráo khái niệm khi cho rằng việc trưng bày các hiện vật chiến tranh tại Bảo tàng là biểu hiện của việc “tôn vinh bạo lực”, “khơi dậy nỗi đau chiến tranh”. Mục đích của những luận điệu trên nhằm làm lu mờ bản chất cách mạng, ý nghĩa nhân văn, cao đẹp của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, chúng đồng thời phủ nhận tinh thần yêu chuộng hòa bình-bản chất tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tại sao các bảo tàng cách mạng nói chung và Bảo tàng LSQS Việt Nam nói riêng lại bị xuyên tạc? Câu trả lời nằm ở động cơ chính trị rõ ràng: Các thế lực thù địch không muốn Việt Nam tự hào về chiến thắng của mình, bởi đó là minh chứng sống động cho sự lãnh đạo tài tình của Đảng và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc-điều mà chúng luôn cố tình và trắng trợn phủ nhận.

Thực tế, bảo tàng không chỉ kể câu chuyện chiến thắng mà còn phản ánh những hy sinh, mất mát to lớn của quân và dân Việt Nam trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả. Những hiện vật tại Bảo tàng cho thấy rõ sự thật đằng sau vinh quang: Đó là máu, nước mắt và ý chí kiên cường của cả một dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Bảo tàng chính là nơi hiện thực hóa tư tưởng ấy, là nơi tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về trách nhiệm bảo vệ nền độc lập, tự do mà cha ông đã đánh đổi bằng xương máu, nước mắt, công sức, bằng cả cuộc đời mình.

Vì thế, không thể phủ nhận vai trò, tác dụng của việc trưng bày hiện vật, tuyên truyền tại Bảo tàng LSQS Việt Nam. Tất cả các hiện vật, tài liệu nơi đây đều được xây dựng dựa trên những nguồn sử liệu chính xác, được kiểm chứng khoa học bởi các nhà sử học trong và ngoài nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 chẳng hạn, không chỉ được Việt Nam ghi nhận mà còn được nhà sử học Pháp Bernard Fall ca ngợi trong tác phẩm "Street Without Joy" là “một trong những chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX”. 

Tương tự, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” (tháng 12-1972) đã buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam-một sự thật lịch sử mà ngay cả các học giả phương Tây như Stanley Karnow cũng thừa nhận trong cuốn sách "Vietnam: A History" (xuất bản năm 1983)... Vậy nên, việc các thế lực thù địch cho rằng lịch sử tại đây bị “bóp méo” là sự vu khống trắng trợn, một chiêu trò nhằm làm giảm uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây bất bình trong dư luận.

Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình và điều này đã được chứng minh qua suốt chiều dài lịch sử. Bảo tàng LSQS Việt Nam không ca ngợi chiến tranh mà tôn vinh tinh thần đấu tranh vì độc lập, tự do-những giá trị mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều trân trọng và ủng hộ. Trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia đình, Tổ quốc chúng tôi”. Những hiện vật tại Bảo tàng chính là minh chứng rõ ràng nhất cho khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Hãy nhìn vào Bảo tàng tưởng niệm Hòa bình Hiroshima tại Nhật Bản, nơi trưng bày những hiện vật về hậu quả của bom nguyên tử nhưng không bị xem là “tôn vinh chiến tranh”. Tương tự, Bảo tàng LSQS Việt Nam không nhằm khơi lại hận thù mà để nhắc nhở các thế hệ về giá trị của hòa bình, về những hy sinh to lớn mà dân tộc đã trải qua để có được cuộc sống yên bình hôm nay. Các thế lực thù địch cố tình đánh tráo khái niệm này để bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, nhưng sự thật lịch sử và bản chất yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam là điều không thể phủ nhận.

Để khẳng định thêm giá trị của Bảo tàng LSQS Việt Nam, chúng ta có thể so sánh với các bảo tàng quân sự nổi tiếng trên thế giới. Tại Liên bang Nga, quê hương của Cách mạng Tháng Mười có Bảo tàng Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Nơi đây lưu giữ hiện vật kể về những câu chuyện trong cuộc chiến chống xâm lăng vĩ đại nhất của nước Nga nói riêng và thế giới nói chung...

Nền tảng vật chất đập tan luận điệu chống phá

Bảo tàng LSQS Việt Nam không chỉ là không gian trưng bày hiện vật mà còn là biểu tượng sống động của tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường và bản lĩnh sáng tạo của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với hàng trăm nghìn hiện vật, Bảo tàng là “kho báu” lịch sử vô giá, đồng thời là “trường học” đặc biệt, nơi giáo dục tư tưởng cách mạng, khơi dậy lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Thăm và làm việc tại Bảo tàng LSQS Việt Nam ngày 3-12-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương, nhấn mạnh: “Bảo tàng LSQS Việt Nam là một biên niên sự kiện bằng tài liệu, hình ảnh, hiện vật xuyên suốt chiều dài lịch sử ra đời, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và sự bùng nổ của không gian mạng đang làm thay đổi cách tiếp cận thông tin, việc bảo vệ và phát huy giá trị của Bảo tàng LSQS Việt Nam không chỉ đơn thuần là một nhiệm vụ văn hóa hay lịch sử mà còn là một mặt trận quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc giữ gìn và lan tỏa những giá trị LSQS thông qua Bảo tàng chính là phương thức thiết thực trong củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phản bác mạnh mẽ các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về lĩnh vực văn hóa năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, hiện nay, nước ta có 166 bảo tàng với hơn 3 triệu hiện vật và yêu cầu: “Chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy. Nếu không là chúng ta có tội với lịch sử, là vong ân bội nghĩa với tổ tiên, cha ông chúng ta”. Đây vừa là định hướng chiến lược, vừa là mệnh lệnh chính trị sâu sắc, kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cùng chung tay gìn giữ và phát triển di sản LSQS của dân tộc. Mỗi hiện vật ở Bảo tàng là một minh chứng hùng hồn không thể chối cãi về sức mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về sự lãnh đạo tài tình của Đảng trong việc biến ý chí của nhân dân thành hiện thực.

Không chỉ vậy, Bảo tàng LSQS Việt Nam còn là “tấm gương” để mỗi cán bộ, chiến sĩ và người dân nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đến thăm, kiểm tra Bảo tàng LSQS Việt Nam, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh, cần phát huy vai trò, thế mạnh của Bảo tàng trong giáo dục lịch sử, lý tưởng cách mạng, làm cho Bảo tàng “không chỉ là điểm tham quan mà còn là nơi giáo dục, học tập lịch sử, là điểm đến lý tưởng của mọi tầng lớp, đối tượng trong cộng đồng xã hội”.

Điều này không chỉ khẳng định vai trò của Bảo tàng trong việc giáo dục truyền thống mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới để Bảo tàng trở thành một thiết chế văn hóa sống động, phục vụ trực tiếp cho công tác giáo chính trị của Đảng trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Bảo tàng không chỉ là nơi trưng bày hiện vật mà còn là không gian giáo dục đa chiều, nơi thế hệ trẻ học hỏi, cảm thụ về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam. Qua đó, Bảo tàng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đồng thời phản bác những luận điệu cho rằng lịch sử Việt Nam chỉ là “tuyên truyền của Đảng”.

Trên thế giới, vai trò của các bảo tàng trong việc bảo vệ tư tưởng và giáo dục ý thức quốc gia được các nhà lãnh đạo, học giả tiến bộ đánh giá rất cao. Nelson Mandela, nhà lãnh đạo cách mạng Nam Phi, cho rằng: “Giáo dục là vũ khí tối thượng nhất bạn có thể dùng để thay đổi thế giới”. Quan điểm này đồng điệu với sứ mệnh của Bảo tàng LSQS Việt Nam: Dùng lịch sử để khẳng định bản sắc dân tộc, qua đó giáo dục, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn và kiên định theo đuổi.

Tại Liên bang Nga, Bảo tàng Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại ở Moscow cũng đóng vai trò tương tự, là nơi lưu giữ ký ức về cuộc chiến chống phát xít Đức, đồng thời khẳng định sức mạnh tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô trong việc lãnh đạo nhân dân vượt qua thử thách khốc liệt. Sự tương đồng giữa hai bảo tàng này cho thấy, ở bất kỳ quốc gia nào, bảo tàng không chỉ là một tài sản văn hóa của dân tộc mà còn là vũ khí tư tưởng sắc bén, góp phần bảo vệ lý tưởng cách mạng trước những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác giáo dục tư tưởng, giáo dục lịch sử thông qua các bảo tàng cách mạng. Nói chuyện với cán bộ, bộ đội, công nhân, nhân viên tham gia xây dựng Viện Bảo tàng Cách mạng Trung ương ngày 5-1-1959, Người nhấn mạnh, mỗi bảo tàng cách mạng là một “cuốn sử”, “Nó cho ta thấy rõ ông cha ta đã khó nhọc như thế nào mới xây dựng nên đất nước tươi đẹp ngày nay; Đảng và các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh như thế nào, nay mới có tự do, có độc lập, có công nghiệp, có nông nghiệp phát triển”. Người cũng từng nhấn mạnh: “Nếu mọi người học tập thấm nhuần tinh thần anh dũng và chí khí kiên cường, học được ở Viện bảo tàng, có quyết tâm làm đúng chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, thì chúng ta nhất định thắng lợi trong mọi việc”. Bảo tàng LSQS Việt Nam chính là nơi thể hiện rõ nét tư tưởng của Người, đường lối của Đảng. Những giá trị ấy là thành trì lịch sử vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những thách thức mới của thời đại./.
Ảnh: Người dân tham quan các hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CẢM NGHĨ VỀ CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ SAU NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9!

     Kỷ niệm 80 năm Dân Chủ Cộng Hoà và Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam ta, vào dịp bước vào năm học mới (2025 2026), mỗ bất chợt nghĩ về lịch sử đất nước từ thuở khai sơn, phá thạch, xây dựng cơ đồ mấy nghìn năm của một đất nước đã phải đối mặt và gánh chịu 14 cuộc chiến tranh tàn khốc chống ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc. Trải qua 1000 năm Bắc thuộc, 100 năm Pháp thuộc, 21 năm Mỹ thuộc cùng các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc oanh liệt để có đất nước hoa gấm hôm nay.
Nhân dịp này, mỗ thấy cần thiết phải khẳng định lại lần nữa, rằng bộ môn LỊCH SỬ mà bấy lâu nay có những quan điểm trái chiều.
Riêng mỗ, rất đồng quan điểm và cách đánh giá trong bài viết của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn TCCT- BQP sau đây:
  
        “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam “. 
    Đó là hai câu mở đầu trong bài Lịch sử Việt Nam của Bác Hồ sau khi từ nước ngoài về nước năm 1941 để cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của Thực dân Pháp xâm lược .
        Vậy vì sao trong bối cảnh vừa mới về nước Chủ tịch Hồ Chí Minh phải viết và cho lưu hành tuyên truyền bài thơ như một bài Diễn ca Lịch sử nước nhà? Bởi vì Người biết rằng muốn tập hợp quần chúng nhân dân , muốn giác ngộ họ điều đầu tiên là phải khơi dậy lòng yêu nước , mà muốn có lòng yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc phải làm cho người dân đang bị bần cùng hóa , ngu dốt hóa hiểu biết lịch sử nước nhà, phải tường gốc tích nước nhà Việt Nam và nhờ đó đã tập hợp được quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để làm nên sự tích thần kỳ, tiến hành Cách mạng tháng Tám thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào ngày 2/9/1945 , tiến hành cuộc trường chinh cứu nước, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược (1945-1975), giành lại độc lập , tự do, thống nhất, phát triển như ngày nay. Đó là chuyện của Việt Nam giữa thế kỷ XX cho đến nay.
Còn với nước Nga, Putin được Enxin từ chức bàn giao chức Tổng thống cho ông vào cuối năm 1999, một trong những việc làm đầu tiên để giữ cho nước Nga không sụp đổ, ông đã ban hành Kế hoạch giáo dục lòng yêu nước cho nhân dân Nga và xác định môn lịch sử là môn học quan trọng nhất trong giáo dục phổ thông và sau đó cao hơn, nước Nga đã ban hành Luật cấm xét lại lịch sử, nhờ đó nước Nga đã không tan rã, đứng vững và phát triển, đưa nước Nga từ nền kinh tế bên bờ vực sụp đổ đã trở thành một trong mười nền kinh tế đứng đầu thế giới (tính theo PPP nước Nga đứng đầu châu Âu và thứ 5 thế giới). Còn với Mỹ tôi cũng được biết Mỹ đặc biệt quan tâm đến Lịch sử không chỉ cho người Mỹ mà còn cả người nhập cư, ai chưa hiểu lịch sử nước Mỹ thì chưa đủ điều kiện để nhập quốc tịch Mỹ.

    Tôi nêu các sự kiện trên để khẳng định: Giáo dục lịch sử là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia dân tộc , nêu anh muốn độc lập thật sự và phát huy sức mạnh nội sinh để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Một vấn đề không cần bàn cãi và không ai được phép hạ thấp việc học lịch sử, học nó là học cả đời để không bao giờ được tự nhục, tự ty, đớn hèn trước nước khác; học lịch sử là để tập họp quần chúng nhân dân cùng chung sức đồng lòng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, học lịch sử để thế hệ nối tiếp nỗ lực đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu bốn biển như Bác Hồ hằng mong ước.

Thế mà hơn chục năm trở lại đây, môn lịch sử trong giáo dục đào tạo, Bộ GD&ĐT đã liên tục tìm mọi cách hạ thấp và cố tình xóa bỏ môn lịch sử, trong bài viết trước, khi phê phán việc đưa môn lịch sử là môn tự chọn trong cấp phổ thông trung học, và ngay khi gặp Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ vào ngày 8/5/2022 tôi đã nói rõ: Nếu tôi làm Thủ tướng tôi sẽ cách chức Bộ trưởng Bộ GD&ĐT khi đề xuất chủ trương bỏ môn sử để buộc Quốc hội phải ngồi lại bàn và đưa vào NQ của QH là không được bỏ môn sử, và phải giữ môn lịch sử là môn độc lập trong Chương trình giáo dục phổ thông.

Thế mà nay Bộ này từ chỗ tìm cách bỏ môn lịch sử không được lại ngang nhiên làm trái NQ của QH, bỏ môn sử là môn độc lập từ lớp 1-9 và lên 10-12 thì tự chọn, có nghĩa rằng sẽ có rất nhiều em học sinh không học môn lịch sử độc lập trong suốt Chương trình phổ thông, đó là chưa kể ngay sách giáo khoa phổ thông cũng sẽ có nhiều bộ sách lịch sử khác nhau và sẽ có cách viết khác nhau thậm chí đã có biểu hiện xuyên tạc lịch sử trong sách giáo khoa thì thử hỏi làm sao xây dựng tinh thần dân tộc, làm sao chúng sức chung lòng vì mục tiêu phát triển đất nước?

Đây rõ ràng là một sự việc không bình thường khi Bộ này làm trái NQ của QH, lại cố tình hạ thấp vai trò giáo dục lịch sử, làm suy yếu lòng yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc…việc mà đáng lẽ nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục là bồi đắp phát triển lòng yêu nước, tạo nên thế trận lóng dân vững chắc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một công dân không có lòng yêu nước thì việc học các môn khoa học khác dù anh ta có tài giỏi đến đâu, rồi cuối cùng anh ta cũng chỉ đi bán rẻ tài năng của mình cho nước ngoài, thực tiễn ta đã thấy đã và đang có một trào lưu một bộ phận trị thức Việt Nam bỏ ra nước ngoài làm việc, một hiện tượng chảy máu chất xám đáng báo động ! 

      Trước hiện tượng hạ thấp, xét lại lịch sử những người tâm huyết với nước nhà, tâm huyết với lịch sử đã gọi hiện tượng trên là lật sử , xét lại lịch sử ! Còn đối với Bộ GD&ĐT, phải chăng Bộ đang cố tình làm cho dân ta mù sử, dốt sử, và khi đó nhóm xét lại lịch sử sẽ nhân danh là những nhà nghiến cứu lịch sử sẽ vẽ lại lịch sử nước nhà như đã từng diễn ra ở Liên Xô, Đông Âu và Ucraina gần đây?

Từ những phân tích trên, với tư cách là một cháu của Bà mẹ VN anh hùng, là con của hai liệt sĩ, là chiến sĩ giải phóng quân khi mới 14 tuổi, một Đảng viên cán bộ của Đảng tôi đề nghị QH hãy vào cuộc yêu cầu Chỉnh phủ chỉ đạo Bộ phải biên soạn một bộ sách giáo khoa lịch sử thống nhất cho giáo dục phổ thông từ lớp 1-12 và lịch sử phải là một môn thi bắt buộc trong các môn thi.

Xin hãy đặt đúng vị trí để có một nước VN thống nhất không chỉ về chủ quyền lãnh thổ, mà trước hết thống nhất về cội nguồn lịch sử của dân tộc. Xin hãy đừng nâng lên đặt xuống, xin hãy đừng chà xát vào lịch sử, xin hãy đừng bắn vào lịch sử, bởi vì lịch sử là cội nguồn dân tộc. Hãy nhìn sang Ucraina, chính vì họ đã bắn vào lịch sử nên giờ đây đã trả giá cho tội lỗi của mình. 

Xin hãy nhớ lời của Bác Hồ “DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA , PHẢI TƯỜNG GỐC TÍCH NƯỚC NHÀ VIỆT NAM“ làm trái lời Bác là trái ý Đảng, lòng Dân, mong Bộ GDĐT nên nhớ điều đó. Và cũng xin Quốc hội hãy ban hành một đạo luật hoặc một pháp lệnh nghiêm cấm xét lại xuyên tạc, đổi trắng thay đen lịch sử ./.
Yêu nước ST.

NGƯỜI CHIẾN SĨ HÔM NAY: CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾN SĨ LÊ HOÀNG HIỆP - THỂ HIỆN TÁC PHONG "HÀO SẢNG, ĐIỀM TĨNH, HÙNG MẠNH"!

    Tối giữa lòng Thành phố mang tên Bác rực rỡ ánh đèn, trong khung cảnh của buổi tổng hợp luyện diễu binh ngày 22/4, một cái tên được cộng đồng mạng nhắc đến không ngớt: Lê Hoàng Hiệp - người chiến sĩ khoác trên mình quân phục, bước đi hiên ngang với thần thái khó quên.

Người ta gọi anh bằng một cái tên thân thương “chàng trai thứ 5 bước xuống xe”. Chỉ vỏn vẹn vài giây xuất hiện trong đoạn video đang lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội, nhưng chừng đó cũng đủ để Hiệp in sâu trong tâm trí người xem như một biểu tượng “điện ảnh” giữa đời thực. 

Lê Hoàng Hiệp, sinh năm 1996, hiện đang công tác tại Sư đoàn 9 – đơn vị thuộc lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Anh là một trong những sĩ quan góp mặt trong đội hình đại diện "5 cánh quân" – biểu tượng lịch sử sống động tái hiện lại thời khắc trọng đại ngày 30/4/1975.

Đội hình này không chỉ mang tính nghi lễ, mà còn khơi dậy niềm tự hào về bản lĩnh kiên cường và sự hy sinh của những người lính đã làm nên chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 
Không cần lời thoại, không kỹ xảo, đoạn clip ngắn ghi lại cảnh các chiến sĩ bước xuống xe hôm 18/4 đã tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ. 

Và trong khoảnh khắc ấy, Lê Hoàng Hiệp nổi bật nhờ thần thái chững chạc, ánh nhìn sắc sảo và gương mặt góc cạnh - gợi nhớ những nam chính trong điện ảnh Hàn Quốc, nhưng lại mang một sắc thái thuần Việt, đậm chất quân nhân.

Anh cao 1,82m, nặng 75kg, vóc dáng chuẩn, tác phong nghiêm trang. Dù nổi tiếng sau một “cú máy tình cờ”, Hoàng Hiệp ngoài đời lại sống khép kín, ít chia sẻ hình ảnh cá nhân. Điều này càng khiến hình ảnh của anh thêm phần bí ẩn, thu hút.

Sự lan tỏa của hình ảnh Lê Hoàng Hiệp không chỉ là một hiện tượng mạng thoáng qua. Nó phản chiếu niềm yêu mến của công chúng dành cho những con người mang vẻ đẹp bình dị nhưng vững chãi, đại diện cho thế hệ chiến sĩ trẻ hôm nay. 

Hàng nghìn lượt chia sẻ, bình luận tích cực dưới các bài viết liên quan đến anh cho thấy sự đồng cảm, yêu quý từ cộng đồng mạng. Nhiều người thậm chí gọi Hiệp là “nam thần quân phục”, nhưng với anh, mọi ánh hào quang đều xếp sau nhiệm vụ. 

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn, Hoàng Hiệp chia sẻ: “Tôi chỉ đang cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Mọi sự chú ý đều là may mắn và tôi trân trọng điều đó.”

Sự nổi bật của Lê Hoàng Hiệp không đơn thuần đến từ ngoại hình. Đó còn là phong thái, là cái cách mà anh bước đi trong hàng ngũ, cái cách anh giữ vững tư thế quân nhân – vững vàng và đầy tự hào.

Giữa một thế hệ trẻ ưa chuộng mạng xã hội và thời trang, sự xuất hiện của Hoàng Hiệp như một nhắc nhớ về hình tượng người lính Việt Nam – trầm lặng, kiên định và mang trong mình cả một chiều sâu lịch sử.

Dẫu chỉ là vài giây ngắn ngủi trong một video tình cờ, nhưng hình ảnh Lê Hoàng Hiệp đã vượt ra ngoài khuôn khổ “một clip gây bão”. Đó là khoảnh khắc hội tụ giữa lịch sử và hiện tại, giữa sắc vóc và tinh thần, giữa kỷ niệm và hy vọng.

Trong dịp lễ lớn - 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam - hình ảnh ấy đã làm sống dậy trong lòng bao người niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào thế hệ kế thừa. Một khoảnh khắc “tuyệt đối điện ảnh”, nhưng chân thật và cảm động đến từng chi tiết./.
Môi trường ST.

Quân đội thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một thành tố của hệ thống chính trị, là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc. Những năm qua Quân đội đã phát huy tốt vai trò chức năng đội quân công tác, trong đó có thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ trì các cấp được nâng cao. Các đơn vị trong toàn quân đã có nhiều hoạt động tích cực tham gia hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào các tôn giáo, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, phòng, chống dịch bệnh, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gia đình văn hóa, giúp đồng bào phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt.

Công tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, mang lại hiệu quả thiết thực như: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, “Gắn kết hộ người Kinh với hộ đồng bào dân tộc thiểu số”, giúp đồng bào phát triển kinh tế hộ gia đình; “Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; phong trào “Họ đạo gương mẫu”..., góp phần động viên tư tưởng, phát huy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo sự đồng thuận, niềm tin của các chức sắc, tín đồ và nhân dân vùng tôn giáo vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; củng cố tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở. Đồng thời, làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ và nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Các vấn đề có liên quan đến quốc phòng - an ninh ở vùng đồng bào tôn giáo như vấn đề về đất đai, cơ sở vật chất của các tôn giáo được phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng ở địa phương giải quyết đúng pháp luật.

Trong những năm tới, tình hình tôn giáo thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng được truyền bá nhanh chóng giữa các quốc gia tăng lên; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiếp tục lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta. Do vậy, để thực hiện tốt chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, Quân đội cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Tiếp tục quán triệt, học tập nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Tập trung tổ chức quán triệt, phổ biến đến mọi quân nhân Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới, qua đó, làm cho mọi quân nhân thống nhất nhận thức, nâng cao trách nhiệm, gương mẫu thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, các tôn giáo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội dung tuyên truyền vận động ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân trí, tập quán và lối sống của từng dân tộc, từng tôn giáo. Phát huy vai trò của những người có uy tín, nòng cốt trong các dân tộc thiểu số, các tôn giáo, nhất là các quân nhân người dân tộc thiểu số và quân nhân có tín ngưỡng tôn giáo để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động ở địa bàn nơi đóng quân.

Tích cực tham gia xây dựng cơ sở địa phương vùng các tôn giáo vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tiến hành điều tra, khảo sát, nắm vững tình hình tín ngưỡng, tôn giáo, nắm diễn biến hoạt động và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên từng địa bàn, từ đó đề xuất chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả nhất, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống xảy ra.

Tích cực đổi mới nội dung, hình thức công tác dân vận ở các địa phương vùng đồng bào tôn giáo. Chú trọng cơ sở địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo phù hợp với nhiệm vụ của đơn vị và đặc điểm từng địa phương. Phối hợp với các lực lượng chức năng thực hiện có hiệu quả chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh gắn với phát huy vai trò các già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc, tôn giáo, tạo sự đồng thuận trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương.

Chủ động tham mưu giúp các địa phương vùng đồng bào tôn giáo xây dựng cơ sở chính trị, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội. Tích cực giúp đỡ đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, nghề sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, phòng chống thiên tai, dịch bệnh; xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, khu vực phòng thủ vững chắc ở vùng tôn giáo.

Tham mưu và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương xây dựng phương án tác chiến trị an, giữ gìn an ninh, trật tự địa bàn; vận động thanh niên các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ quân sự; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đồng bào nâng cao cảnh giác, tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định chính trị ở cơ sở.

Thực hiện tốt chính sách tôn giáo đối với quân nhân là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, các tôn giáo. Phát huy dân chủ, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, bình đẳng về mọi mặt giữa quân nhân có đạo và không có đạo; tạo điều kiện cho mọi quân nhân là con em dân tộc thiểu số, có đạo tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 

Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.


Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[1]. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo tập trung ở các nội dung sau:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.

Đảng ta khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, là đã thực sự tôn trọng sự tồn tại khách quan của tôn giáo hiện nay. Quan điểm trên của Đảng là cơ sở bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của một bộ phận quần chúng nhân dân; Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tinh thần của bộ phận quần chúng nhân dân có đạo; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật; các tôn giáo được quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.

Hai là, thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Quan điểm của Đảng thể hiện, các tôn giáo được bảo đảm hoạt động bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật cho phép; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống cách mạng của của đồng bào có đạo, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Nghiêm cấm việc đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”[2]

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.

Đại đa số tín đồ, chức sắc là nhân dân lao động, công tác tôn giáo không phải là hạn chế hay xóa bỏ tôn giáo mà thực chất là tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng có đạo nhận rõ nghĩa vụ và quyền lợi của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta khẳng định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[3]

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Giải quyết vấn đề tôn giáo là vấn đề chiến lược liên quan đến mọi mặt đời sống chính trị - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Cho nên công tác tôn giáo đòi hỏi phải có sự tham gia và thực hiện của toàn xã hội, trọng tâm là hệ thống chính trị. Khi giải quyết các vấn đề về tôn giáo phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuân theo luật pháp Nhà nước, là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội; tổ chức và cán bộ trực tiếp làm công tác tôn giáo có vai trò quyết định sự thành công trong công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Năm là, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ, tín đồ các tôn giáo có quyền tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự nếu như các hoạt động đó không trái với chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không được hoạt động mê tín dị đoan.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 50 - 51.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171. 

DÂN CHỦ QUÁ TRỚN, COI THƯỜNG PHÁP LUẬT, GIỚI TRẺ ĐẨY CUỘC BIỂU TÌNH THÀNH BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CHÍNH PHỦ, PHÁ TAN ĐẤT NƯỚC NEPAL.

     Nepal vốn là “cửa ngõ lên Tây Tạng”, nằm ở khu vực Himalaya đầy tranh chấp. Từ tháng 4/2025, Nepal bùng nổ các cuộc biểu tình ủng hộ Hoàng gia và phản đối Trung Quốc sau khi Cựu vua Nepal, Gyanendra Bir Bikram Shah Dev trở về Kathmandu vào ngày 9 tháng 3 năm 2025 từ Pokhara và được hàng trăm nhà hoạt động củng hộ chế độ quân chủ chào đón, kêu gọi khôi phục chế độ quân chủ ở Nepal. 

Cao điểm nhất của biểu tình chống chính phủ biến thành bạo loạn bắt đầu từ 7/9 và chỉ trong vòng chưa đầy 48 giờ, đám đông sinh viên thế hệ Z đã lật đổ toàn bộ Chính phủ Nepal.

Điểm chung các cuộc nổi dậy chống chính quyền do sinh viên gây ra, là đều đập phá tài sản công, công trình kiếm trúc, các khu vui chơi, văn hóa, trung tâm hành chính của chính quyền. Nepal đã trở thành điểm nóng thứ 2 sau Bangladehs do chính lớp trẻ hiếu động, thiếu kinh nghiệm xã hội, bị giật dây bởi các thế lực thù địch chống chính quyền bên ngoài đã đẩy nhà nước Nepal sụp đổ.

Xét tổng thể bản chất cuộc biểu tình thì đây là một cuộc "CÁCH MẠNG MÀU" mang rõ màu sắc như sánh Cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc 1993, Cách mạng Maidan ở Ukraina 2014 hay "mùa xuân Ả Rập" ở Tuinisi 2011 lan ra các nước như Ai Cập, Libya, Yemen, Syria… Nguyên nhân chủ yếu là kích động chống đối chính quyền của các đảng phái đối lập hoặc thế lực thù địch bên ngoài, Đó cũng là nguyên nhân chính ở Nepan hiên nay chứ không phải do chính phủ cấm MXH như đài báo phương Tây đưa tin.

Điểm đáng chú ý là, sinh viên Nepal được tài trợ súng, được thủ lĩnh các nhóm sinh viên nước ngoài huấn luyện, tập dượt từ trước để tấn công các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương. 

✍️Tuy nhiên, những chiêu trò, thủ đoạn này nó có thể thành công ở các nước đa đảng nhưng ở Việt Nam tất cả đều thất bại!

Ai còn nhớ vụ bạo loạn Bình Thuận 2018 sẽ nhớ nhất thằng ranhcon Will Nguyễn quốc tịch Mỹ, từng là một sinh viên được tổ chức C.I.X nuôi cấy, đào tạo "thủ lĩnh sinh viên Cách mạng màu" để thực hiện bạo động lật đổ chính quyền Việt Nam. Will Nguyễn được phân công học tập ở Singapore và giúp đỡ các thành viên phản động ở Việt Nam...

Đầu năm 2018, trước khi diễn biến vụ bạo loạn ở Bình Thuận, Will Nguyễn được cho đi "du lịch thực tế" ở Việt Nam, sau đó đầu tháng 6/2018, Will Nguyễn quay lại Việt Nam với tư cách là "Khách du lịch" rồi móc nối với đám phản động trong nước gây ra 1 loạt các cuộc biểu tình bạo loạn ở Bình Thuận, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh... Y được cho là kẻ cầm đầu, kẻ phát tiền cho người biểu tình để cổ vũ, kích động tham gia bạo loạn.

Ngay sau đó, Will Nguyễn bị chính người dân yêu nước gom cổ, xách đi như bắt lợn giữa đường.

Thế nên Cách mạng màu có thể nở hoa ở các quốc gia yếu về bản lĩnh dân tộc, còn ở Việt Nam chỉ có thất bại. Việt Nam có 100 triệu cái camera an ninh chạy bằng cơm, tương đương với hơn 100 triệu khẩu súng bảo vệ an ninh đất nước, đừng nghĩ đó là chuyện đùa nhé./.
Môi trường ST.

Chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.

 


Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan”[1]

Hai là, to điềụ kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, tăng cường thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo; tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống đối chế độ.

Năm là, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 144.

Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong bảo vệ Tổ quốc

 


Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, con đường cứu nước và giải phóng dân tộc đã được xác định là con đường cách mạng vô sản. Nhiệm vụ cách mạng của cả dân tộc Việt Nam là phải tranh đấu, giành cho được độc lập dân tộc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hơn 90 năm qua, nắm vững tính tất yếu khách quan bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã thể hiện rõ tinh thần quý trọng nền hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc, nêu cao tinh thần cách mạng, thực hành tư tưởng tiến công, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền độc lập, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, thu được những thành tựu hết sức to lớn.

Tình hình thế giới, khu vực tác động đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

 


Tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triễn vẫn là xu thế lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các vấn đề toàn cầu, thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và hình thái chiến tranh kiểu mới. Tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn. Cộng đồng ASEAN tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong và bên ngoài.

Vận dụng đúng đắn quan điếm đối tác, đối tượng.

 


Đảng ta chỉ rõ: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kể thế lực có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều là đối tượng của Việt Nam”[1]. Trong tình hình diễn ra nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng trong xử lý các tình huống. Bởi vì, trong đối tác có mặt là đối tượng; trong đối tượng có mặt là đối tác.

Nâng cao công tác dự báo, nắm chắc tình hình; chủ động, phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố, nhất là những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến, bất lợi. Đây là quan điểm chỉ đạo phương châm chủ động giữ nước, quán triệt và thể hiện tư tưởng chủ động giữ nước của ông cha ta: “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, không để bị động, bất ngờ, lấy phòng ngừa là chính. Trong tình hình hiện nay, cần đặc biệt chú ý chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các yếu tố gây bất ổn từ bên trong, như “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.



[1] Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,  Hà Nội - 2019, tr. 25,26.

Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại .


 Sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm chắc nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm gắn với giải quyết tốt các vấn; xây dựng Đảng là then chốt, kết hợp với bảo vệ Đảng, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh; xây dựng và phát triển văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần của xã hội là sức mạnh nội sinh quan trọng. Kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới. Đảng ta xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 158,159. 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "CỞI TRÓI"!

     Câu hỏi của Tổng Bí thư Tô Lâm, “Khi nào xây dựng được bộ sách giáo khoa thống nhất?” thoạt nghe tưởng chỉ là một chất vấn cho ngành giáo dục. Nhưng thực ra, nó xuất hiện đúng vào cao điểm khi Bộ Chính trị vừa đưa ra hai nghị quyết lớn liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân: Nghị quyết 70 về an ninh năng lượng và Nghị quyết 71 về đột phá giáo dục. Đặt trong dòng chảy ấy, câu hỏi trở thành một lát cắt nhỏ phản chiếu tinh thần cải cách đang hình thành rõ nét.

Ở điện lực, Nghị quyết 70 đánh dấu một bước ngoặt: lần đầu tiên Bộ Chính trị yêu cầu xóa bỏ dần độc quyền, cơ cấu lại EVN và mở ra thị trường cạnh tranh để người dân có quyền lựa chọn nhà cung cấp điện. Quyền lựa chọn này nay mới được đưa vào một ngành được coi là “bất khả xâm phạm”. Nó cho thấy sự thay đổi căn bản: thay vì để một tập đoàn gánh cả chuỗi, rồi khi lỗ thì dân chịu, nay chính người dân trở thành trung tâm, dùng sức ép thị trường để buộc ngành điện phải vận hành minh bạch và hiệu quả. 

Ở giáo dục, Nghị quyết 71 nhấn mạnh một điều chưa từng được nói thẳng: giáo dục đào tạo là nhân tố quyết định vận mệnh dân tộc. Mục tiêu cũng rất cụ thể: đến năm 2030, phổ cập mầm non cho trẻ 3–5 tuổi, giáo dục bắt buộc đến hết THCS, sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh; và đến năm 2045, Việt Nam phải có ít nhất 5 trường đại học lọt top 100 thế giới. Trên nền ấy, câu hỏi của Tổng Bí thư về một bộ sách thống nhất không chỉ là chuyện “có làm hay không”, mà là phép thử xem ngành giáo dục có đủ bản lĩnh thực thi cam kết này hay không.

Nếu Nghị quyết 70 “cởi trói” cho hạ tầng vật chất, thì Nghị quyết 71 “chuẩn hóa” hạ tầng tri thức. Một bên là quyền bật công tắc điện, một bên là quyền lật trang sách của học trò. Cả hai đều được soi chiếu dưới cùng một tinh thần: không thể chậm trễ, không thể trì hoãn, cải cách phải đến tận tay người dân.

Nhìn vào diễn biến ấy, có thể thấy bầu không khí chuẩn bị cho Đại hội XIV đang rất mới: không chỉ bàn về những tầm nhìn xa, mà đi thẳng vào những chỗ nghẽn rất cụ thể trong đời sống. Khi Bộ Chính trị nói “người dân được chọn mua điện”, và Tổng Bí thư hỏi “bao giờ có sách giáo khoa thống nhất”, thì thông điệp không còn là khẩu hiệu, mà là hành động phải được đo bằng những gì người dân cảm nhận hàng ngày./.


Yêu nước ST.

Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Trên cơ sở khẳng định tư tưởng lớn, cơ bản của Đảng qua các kỳ Đại hội, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định:

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội  là yêu cầu hàng đầu. Đây cũng là điểm nổi bật trong truyền thống đánh giặc, giữ nước của cha ông ta trong lịch sử chống xâm lược. Yêu cầu giữ vững độc lập dân tộc không chỉ bao hàm bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển, thềm lục địa, biên giới của Tổ quốc mà còn bao hàm cả giữ vững độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là yêu cầu bảo vệ sự thống nhất của Tổ quốc ta hiện nay, trước âm mưu chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.

Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong tình  hình hiện nay, khi kẻ địch dùng “diễn biến hòa bình” chống phá ta, mũi nhọn tập trung vào phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa thì nội dung này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bài học từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy, khi mà Đảng Cộng sản không còn giữ được vai trò lãnh đạo, thì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng không còn.

Bảo vệ Đảng, Nhà nước bao gồm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, bảo vệ uy tín của Đảng và làm cho đường lối của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền các cấp và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ địch. Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trước hết là bảo vệ lý tưởng và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ chính trị và chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa phải đi đôi với bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân.

Bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ có đường lối đổi mới đất nước toàn diện, cách mạng nước ta vững bước tiến lên. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đời sống của nhân dân và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Điều đó chứng tỏ rằng: Đổi mới là con đường đúng đắn, hợp quy luật của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phải kiên quyết bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng, bảo vệ những thành quả của cách mạng Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, chúng ta thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại đòi hỏi phải giữ vững độc lập tự chủ.

Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc bao hàm cả lợi ích kinh tế, văn hóa… trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bảo vệ lợi ích kinh tế của đất nước trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đó là lợi ích kinh tế trong đất liền, vùng biển, vùng trời, biên giới, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của tập thể của cá nhân, lợi ích của các doanh nghiệp và người Việt Nam định cư ở nước ngoài… Cơ sở pháp lý của vấn đề này là các văn bản, luật, quy ước quốc tế và của Việt Nam. Do đó Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh, bổ sung các luật có liên quan, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, địa phương, lợi ích riêng làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc. Đảng ta xác định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”[1].

Bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Trong tình hình hiện nay kẻ địch đang ráo riết chống phá ta trên tất cả các mặt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Bảo vệ nền văn hóa Việt Nam là bảo vệ truyền thống yêu nước, cốt cách tâm hồn Việt Nam trong thời đại mới. Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong công cuộc đổi mới hiện nay. Ra sức đấu tranh chống những quan điểm và hành vi văn hóa đồi trụy, phản động, xấu độc của chế độ cũ để lại. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự ổn định về chính trị và môi trường hòa bình là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Để giữ vững ổn định chính trị, trước hết phải đấu tranh giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của địch, không để xảy ra bạo loạn về chính trị hoặc “tự diễn biến”. Giữ vững môi trường hòa bình đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có đường lối đối nội và đối ngoại đúng đắn, tăng cường mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước, nhất là các nước trong khu vực trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, các bên cùng có lợi.

Bảo vệ an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống. Đây là những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển. An ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh kết nối, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh môi trường, an ninh con người. Đảng ta khẳng định: “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”[2], do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân.

Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Đây là nội dung có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, của các cấp, các ngành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, trong đó lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm an ninh mạng quốc gia, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia; xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, trở thành nguồn lực quan trọng để xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Góp phần huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong công tác bảo đảm an ninh mạng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh mạng; huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước đi đôi với tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và an ninh mạng. Tăng cường năng lực, hiệu quả đấu tranh bảo vệ an toàn, an ninh mạng, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trên không gian mạng, triển khai các biện pháp kỹ thuật chuyên biệt vô hiệu hóa nguồn phát động tấn công mạng, chiến dịch tấn công mạng, hoạt động sử dựng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trọng tâm là hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại, khủng bố, gây rối an ninh, trật tự trên không gian mạng.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội- 2021, tr. 110.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 156.

Tình hình trong nước tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Về thuận lợi, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm cho các thế và lực của nước ta có sự phát triển. Đảng ta dày dặn kinh nghiệm trong lãnh đạo các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, đoàn kết nhân ái. Kinh tế từng bước ra khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà tăng trưởng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; nợ công tăng nhanh, nợ xấu đang giảm dần nhưng còn ở mức cao, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế thấp. Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực được tiến hành chủ động, đạt kết quả tốt.

Về khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta.

Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 105-109.