Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

ƯU ĐÃI NGÀNH MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CHIẾN LƯỢC, KHÔNG PHẢI “THIÊN VỊ” HAY “CHÀO MỜI”!

     Thời gian gần đây, một số trang mạng thiếu thiện chí đã tung ra những luận điệu sai trái, cho rằng việc Nhà nước miễn học phí cho sinh viên theo học ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là biểu hiện của sự “thiên vị”, là một cách “chào mời” sinh viên vào một ngành học mà họ gọi là “khô khan, ít người lựa chọn”. Thực chất, đây là sự quy chụp, bóp méo, nhằm phủ nhận tính chính đáng và nhân văn của một chính sách quan trọng, đồng thời hạ thấp vai trò nền tảng tư tưởng của Đảng và công tác đào tạo cán bộ lý luận chính trị ở nước ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, chính sách miễn, giảm học phí hoặc hỗ trợ chi phí học tập không phải là điều xa lạ hay bất thường trong nền giáo dục Việt Nam. Nhiều năm qua, Nhà nước ta đã có các chính sách ưu đãi đối với sinh viên ngành sư phạm, y khoa, nông – lâm nghiệp, an ninh, quốc phòng… Lý do rất rõ ràng: đây là những ngành đặc thù, gắn với nhu cầu chiến lược của xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Vậy thì, tại sao việc miễn học phí cho ngành Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh lại bị gán ghép là “thiên vị”? Sự thật là, cũng như các ngành sư phạm hay y tế, đây là lĩnh vực cần được Nhà nước bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng, bởi nó trực tiếp phục vụ lợi ích chính trị - xã hội lâu dài.

Chính sách miễn học phí với sinh viên ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ yêu cầu khách quan. Đây là ngành khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu, giảng dạy, phát triển lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự thống nhất trong ý chí và hành động. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các thế lực thù địch không ngừng chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận chính trị lại càng trở nên cấp thiết. Đầu tư cho ngành học này chính là đầu tư cho sự vững mạnh của hệ thống chính trị, cho sự ổn định và phát triển của đất nước.

Luận điệu cho rằng ưu đãi học phí là “chào mời” sinh viên càng bộc lộ rõ sự ngụy biện. Học phí có thể là một yếu tố giảm bớt gánh nặng tài chính, nhưng không thể quyết định toàn bộ lựa chọn nghề nghiệp, con đường tương lai của một sinh viên. Nhiều bạn trẻ theo học ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải vì miễn phí, mà bởi đam mê nghiên cứu khoa học xã hội, bởi khát vọng cống hiến trong lĩnh vực giảng dạy, tuyên truyền, nghiên cứu lý luận chính trị. Chính sách miễn học phí ở đây chỉ đóng vai trò khuyến khích, động viên, tạo điều kiện thuận lợi, chứ tuyệt nhiên không phải là một “chiêu trò lôi kéo” như những luận điệu xuyên tạc rêu rao.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, ngành Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh không hề “khô khan” như những gì các thế lực thù địch cố tình gán ghép. Đây là ngành học nghiên cứu trực tiếp các quy luật phát triển của xã hội, của cách mạng Việt Nam, là cơ sở lý luận cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Sinh viên, giảng viên ngành này không chỉ tiếp cận tri thức lý luận mà còn gắn bó chặt chẽ với thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Sau khi tốt nghiệp, họ trở thành giảng viên, nhà nghiên cứu, cán bộ lãnh đạo, quản lý trong nhiều cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội. Đây là lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, có vai trò quan trọng trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, bảo vệ độc lập dân tộc, củng cố niềm tin xã hội, định hướng dư luận.

Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng có chính sách tương tự để bảo đảm nguồn nhân lực cho những ngành học đặc thù. Ở một số nước phát triển, Nhà nước miễn hoặc giảm học phí đối với sinh viên ngành sư phạm, y khoa, khoa học cơ bản là những lĩnh vực ít người theo học nhưng có vai trò nền tảng với xã hội. Việt Nam cũng đang thực hiện theo logic này, phù hợp với điều kiện thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước. Chính sách miễn học phí cho ngành Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh không có gì gọi là “thiên vị”, mà là một lựa chọn đúng đắn, khoa học, có tính chiến lược.

Việc cố tình xuyên tạc rằng ưu đãi này là “thiên vị”, “chào mời” sinh viên đã phơi bày rõ âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Họ không thực sự quan tâm đến công bằng trong chính sách học phí, mà chỉ muốn lợi dụng để công kích, hạ thấp nền tảng tư tưởng của Đảng, gieo rắc hoài nghi, làm lung lạc niềm tin của một bộ phận sinh viên và xã hội. Đây là chiêu bài quen thuộc: biến những chính sách đúng đắn thành “vấn đề gây tranh cãi”, từ đó kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Thực tế đã chứng minh, chính sách miễn học phí cho sinh viên ngành Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa kép: vừa nhân văn, vừa chiến lược. Nó giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho sinh viên, đồng thời bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cho mặt trận tư tưởng - lý luận. Chính sách này không hề thiên vị, mà tương tự như ưu đãi đối với các ngành sư phạm, y khoa, an ninh, quốc phòng. Đó là những chính sách cần thiết để bảo đảm cân đối nguồn nhân lực, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc./.
Khuyết danh ST.

ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY!

     Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội luôn giữ vai trò trung tâm trong thể chế hóa đường lối của Đảng, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và kiến tạo nền tảng pháp lý cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội là nhiệm vụ cấp thiết, yếu tố quyết định để phát huy trí tuệ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

1. Đổi mới và phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ trương chiến lược của Đảng, đòi hỏi tất yếu của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, như Nghị quyết số 27NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đã khẳng định(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quốc hội ta là Quốc hội của toàn dân, được bầu ra theo luật tuyển cử rất dân chủ: tự do, phổ thông, bỏ phiếu kín ... Vì vậy, Quốc hội ta là tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết của toàn dân, cho chí khí quật cường của dân tộc, cho quyết tâm độc lập, thống nhất của toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam”(2). Ngày nay với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, dân chủ và pháp quyền; kiến tạo nền tảng pháp lý cho toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị và xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của hệ thống pháp luật; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội không chỉ là yêu cầu khách quan của tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, mà còn là yếu tố then chốt bảo đảm cho sự phát triển bền vững, thực hiện tốt mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2- Trong thành tựu chung của đất nước ta qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, có sự đóng góp rất quan trọng của Quốc hội. Quốc hội phát huy rõ vai trò cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Kết quả cụ thể như sau:

Thứ nhất, về hoạt động lập pháp: Hoạt động lập pháp của Quốc hội không ngừng được đổi mới, nâng cao chất lượng, chủ động, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, bám sát yêu cầu của thực tiễn, phản ánh chân thực ý chí, nguyện vọng của cử tri và nhân dân; đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật, ban hành nhiều luật, pháp lệnh, nghị quyết quan trọng, tạo hành lang pháp lý đồng bộ và vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Các luật được ban hành ngày càng chất lượng, phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển chung. Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện ở hầu hết lĩnh vực trọng yếu, như về kinh tế có Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Luật Đất đai..., về xã hội có Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội..., về quốc phòng - an ninh có Luật Quốc phòng, Luật An ninh mạng..., về tư pháp có Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân..., về hành chính, đối ngoại có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Các dự án luật, pháp lệnh được chuẩn bị công phu, tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của chuyên gia, nhà khoa học, cử tri và nhân dân. Quy trình xây dựng pháp luật được thực hiện ngày càng chặt chẽ, khoa học, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, khả thi. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội chú trọng, bảo đảm đồng bộ, thống nhất và minh bạch, qua đó giúp cử tri dễ dàng tiếp cận và giám sát. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được xây dựng, sửa đổi phù hợp thực tiễn Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. 

Thứ hai, chất lượng hoạt động giám sát tối cao, chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực chất, thẳng thắn, tính xây dựng cao, nhiều vấn đề “nóng”, cử tri quan tâm được đưa ra nghị trường để các thành viên của Chính phủ, trưởng ngành giải trình và kịp thời đề ra giải pháp thực hiện. Sau giám sát, các nghị quyết được ban hành với yêu cầu cụ thể, có tính ràng buộc trách nhiệm cao. Chất lượng các kỳ họp Quốc hội được nâng cao; quy trình làm luật, thảo luận và biểu quyết dân chủ. Việc tổ chức và điều hành kỳ họp Quốc hội được tổ chức khoa học, linh hoạt. Các phiên thảo luận tổ và hội trường diễn ra sôi nổi, thẳng thắn, phát huy cao trí tuệ tập thể. Đại biểu Quốc hội không né tránh các vấn đề khó, phức tạp, thể hiện chính kiến rõ ràng và tranh luận để làm rõ các vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số là nguyên tắc hoạt động của Quốc hội, nhưng những ý kiến khác vẫn được lắng nghe, ghi nhận và cân nhắc thấu đáo trong quá trình hoàn thiện dự án luật, nghị quyết. Việc biểu quyết bằng hệ thống điện tử bảo đảm tính chính xác, minh bạch, công bố công khai, giúp cử tri giám sát được hoạt động của đại biểu Quốc hội.

Thứ ba, về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước: Quốc hội xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng, tạo tiền đề để đất nước vươn mình trong thời gian tới. Nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, tạo đột phá để hoàn thiện hạ tầng, phát huy tối đa nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới, Quốc hội đã thảo luận và thông qua với tỷ lệ tán thành cao các nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam và các dự án trọng điểm của quốc gia; điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, bỏ cấp huyện, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp... Quốc hội đã thảo luận, thông qua nhiều cơ chế, chính sách khơi thông các “điểm nghẽn”, giải quyết kịp thời các vấn đề quốc kế dân sinh, tháo gỡ nhanh nhất khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, giải phóng nguồn lực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Thứ tư, về ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số: Thay đổi lớn trong phương thức hoạt động của Quốc hội là đẩy mạnh chuyển đổi số, thực hiện vai trò đại diện của nhân dân trên nền tảng số; đổi mới quy trình nghiệp vụ dựa trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Hạ tầng công nghệ thông tin của Văn phòng Quốc hội đã phát huy hiệu quả phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội. Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã đi vào nền nếp. Các kho thông tin dữ liệu được xây dựng, thường xuyên cập nhật, bổ sung thông tin, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật. Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin được khai thác, sử dụng rộng rãi, hiệu quả, như phần mềm quản lý hồ sơ đại biểu Quốc hội; phần mềm quản lý hồ sơ cán bộ, công chức; hệ thống quản lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo; hệ thống quản lý công văn; cổng thông tin điện tử Quốc hội; hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến; trang thông tin trung tâm báo chí; trang thông tin bồi dưỡng đại biểu dân cử; trang bầu cử đại biểu Quốc hội; trang thông tin điện tử lấy ý kiến nhân dân; hệ thống thư viện số; ứng dụng cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội trên thiết bị di động... 

Thứ năm, việc lấy ý kiến nhân dân, đối tượng chịu sự tác động của luật ngày càng được coi trọng và thực hiện với nhiều hình thức thiết thực. Các dự án luật quan trọng được đưa ra thảo luận rộng rãi, tiếp thu ý kiến từ chuyên gia, nhà khoa học và các tầng lớp nhân dân. Dự thảo luật, báo cáo thẩm tra, ý kiến của đại biểu Quốc hội và tài liệu liên quan được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và Cổng thông tin điện tử của Quốc hội, tạo điều kiện cho người dân và các tổ chức quan tâm theo dõi, giám sát. 

Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai hoạt động của Quốc hội vẫn còn một số khó khăn, hạn chế: 1- Trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật có mặt chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; một số quy định chưa thực sự đồng bộ, còn chồng chéo, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực; 2- Một số điều luật còn chung chung, dẫn đến cách diễn giải khác nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng và thi hành; 3- Tính dự báo chưa cao, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội dẫn đến có quy định trong một số văn bản luật vừa ban hành đã không còn phù hợp; 4- Việc tham vấn ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp, nhất là ý kiến của đối tượng chịu tác động trực tiếp có khi còn hình thức. Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, cơ quan liên quan chưa có sự phối hợp chặt chẽ, dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo hoặc gây khoảng trống pháp lý; 5- Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu; tỷ lệ đại biểu chuyên trách chưa bảo đảm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của công tác lập pháp, như tính chủ động trong việc nêu ý kiến tại phiên họp, thời gian dành cho tiếp xúc cử tri; 6- Cơ sở vật chất, kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu để triển khai quy định mới, đặc biệt liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin; 7- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự hiệu quả, người dân, doanh nghiệp và ngay cả một bộ phận cán bộ thi hành công vụ chưa nắm vững, áp dụng nhuần nhuyễn quy định của luật mới. Điều này dẫn đến việc e ngại khi áp dụng, thậm chí thực hiện không đầy đủ; 8- Một số cơ quan, địa phương chưa chủ động, sáng tạo, thiếu quyết liệt trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thi hành luật; 9- Công tác kiểm tra, giám sát thi hành chưa thường xuyên, chưa đủ mạnh, việc phát hiện và xử lý vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành luật còn chậm. Hành vi vi phạm pháp luật chưa được xử lý kịp thời... Ngoài ra, sự thay đổi nhanh chóng của thực tiễn, nhất là trong những năm gần đây là một áp lực đối với quá trình điều chỉnh của pháp luật.

Những hạn chế nêu trên cần đề ra các giải pháp, không để cản trở phát triển, gây lãng phí, lỡ thời cơ phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng trọng trách rất lớn thuộc Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và của Chính phủ(3). Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần đề ra các giải pháp đồng bộ từ khâu xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, ban hành luật đến tổ chức thi hành, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật.

3- Đất nước ta đang chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới, với tinh thần mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước đòi hỏi cấp thiết, Quốc hội cần chú trọng thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Một là, tiếp tục quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; phát biểu định hướng của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên Khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV về đổi mới công tác lập pháp, thực hiện tốt hơn nữa đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội.

Hai là, đổi mới tư duy và cách tiếp cận trong hoạt động lập pháp. Cần chuyển từ tư duy ban hành pháp luật theo nhiệm kỳ sang tư duy lập pháp dài hạn, ổn định, gắn với chiến lược phát triển đất nước, hoàn thiện quy trình lập pháp đa chiều, mở rộng đối tượng tham vấn, lấy ý kiến từ nhiều tầng lớp xã hội trước khi thông qua; đồng thời nâng cao vai trò phản biện xã hội và góp ý của chuyên gia đối với dự thảo luật.

Ba là, đổi mới phương thức giám sát tối cao, thiết lập cơ chế giám sát liên tục, chuyên sâu, gia tăng hậu kiểm, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về kết quả giám sát và thực hiện nghị quyết của Quốc hội; tăng cường giám sát đối với việc thực thi pháp luật và trách nhiệm người đứng đầu; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định, hiện đại; đổi mới quy trình xây dựng pháp luật thông qua quá trình tăng cường tham vấn chuyên gia, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và quần chúng nhân dân; tăng cường tính phản biện và tranh luận tại nghị trường; xây dựng cơ chế giám sát có tính ràng buộc và hậu kiểm rõ ràng, bảo đảm sau giám sát phải có kiến nghị cụ thể, phân công trách nhiệm, kiểm tra kết quả thực hiện, tăng cường hình thức giám sát chuyên đề, giám sát trực tiếp tại địa phương, cơ sở, sử dụng hệ thống dữ liệu điện tử để kiểm tra hiệu quả việc thực hiện luật và chính sách; phát huy rõ hơn vai trò đại biểu chuyên trách, tham vấn chuyên gia, nhà khoa học.

Bốn là, đổi mới hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; nâng cao năng lực phân tích, đánh giá, dự báo của các cơ quan giúp việc của Quốc hội; thiết lập cơ chế đánh giá tác động chính sách trước và sau khi quyết định chủ trương lớn của đất nước; tăng cường tính minh bạch trong thảo luận, biểu quyết các vấn đề lớn như ngân sách, đầu tư công, điều ước quốc tế; phát huy vai trò các Ủy ban của Quốc hội, bảo đảm mỗi vấn đề đưa ra Quốc hội đều được thảo luận, tranh luận và thẩm tra kỹ lưỡng từ nhiều chiều.

Năm là, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách để bảo đảm chuyên môn hóa cao. Bên cạnh đó cần đào tạo bài bản, cập nhật kiến thức pháp lý, đối ngoại của Quốc hội, tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghị trường; đặc biệt với đại biểu lần đầu trúng cử, cần có chương trình tập huấn chuyên sâu; đổi mới công tác tiếp xúc cử tri, tiếp nhận và phản ánh ý kiến cử tri... nâng cao tính chuyên nghiệp, sâu sắc trong nghiên cứu, xây dựng pháp luật và giám sát.

Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động Quốc hội, như xây dựng và phát triển Quốc hội số, số hóa quy trình lập pháp, giám sát tối cao, tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong xây dựng, giám sát chính sách, tăng cường tương tác với người dân, cử tri thông qua nền tảng trực tuyến, mạng xã hội, diễn đàn nghị trường mở, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong điều hành, lập pháp, giám sát, xây dựng kỳ họp chuyên đề, có cơ chế thông tin để cử tri giám sát./.
-------------------------
(1) Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết số 27NQ/TW, ngày 9-11-2022 là: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045”
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 464
(3) Xem: “Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên Khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV”, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-taiphien-khai-mac-ky-hop-thu-8-quoc-hoi-khoa-xv119241021113227895.htm./.
Ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thăm Trung tâm phục vụ hành chính công xã Vị Thuỷ, thành phố Cần Thơ sau khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NỮ ANH HÙNG TUỔI 40!

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳 Nữ anh hùng tuổi 40 cùng đồng đội chinh phục công nghệ lõi, đưa Việt Nam bước vào bản đồ công nghệ tên lửa thế giới

Tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ 11 diễn ra hôm qua, các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đã có báo cáo về công tác thi đua.

Trong các cá nhân điển hình tiên tiến có Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Trung tá Lê Thị Hằng - Giám đốc C4, Viện Hàng không vũ trụ Viettel.

Thượng tướng Võ Minh Lương - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng - cho biết những năm qua, Trung tá Lê Thị Hằng (sinh năm 1985) đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong nghiên cứu, phát triển vũ khí, trang bị, góp phần hiện đại hóa Quân đội. Trong vòng 5 năm, Trung tá Lê Thị Hằng đã được nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, các bằng khen của Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng, danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quân và nhiều phần thưởng khác.

Đặc biệt, tháng 8 vừa qua, Trung tá Lê Thị Hằng đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới.

Theo Trung tá Lê Thị Hằng, công nghệ tên lửa là một lĩnh vực có tính đặc thù cao, quốc gia nào làm chủ được thì sẽ góp phần nâng cao sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu, chiến thắng của Quân đội. Bởi vậy, công nghệ sản xuất tên lửa luôn được giữ bí mật ở mức cao nhất tại các quốc gia.

"Khi được giao nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi, tôi và nhóm kỹ sư đã phải đối mặt với rất nhiều thách thức tưởng chừng không thể vượt qua.

Đặc biệt, là phụ nữ nên với tôi, thách thức càng lớn hơn khi vẫn phải làm tròn vai trò người mẹ của 2 con nhỏ và với cả gia đình. Đã có những khi tất cả áp lực đó đến cùng một lúc, khiến tôi tự hỏi 'Liệu mình có đủ sức đi tiếp'. Nhưng rồi tôi lại tự nhủ 'Mình lùi bước, ai sẽ tiến lên? Nếu mình bỏ cuộc, khó khăn này sẽ chuyển cho ai?'" - Trung tá Hằng chia sẻ.

Chính trách nhiệm với Tổ quốc đã thôi thúc chị và đồng đội kiên định vượt qua. Từ đó, chị cùng nhóm nghiên cứu xác định “để làm chủ công nghệ tên lửa thì không thể từ bỏ, chỉ có làm lại và làm cho đến khi thành công”.

Trong thực tế, để phát triển một dòng tên lửa, các nước phát triển thường mất không dưới 10 năm, nhưng chỉ trong 8 năm, các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã nghiên cứu thành công 3 dòng sản phẩm đầu tự dẫn, radar đo cao cho 3 dòng tên lửa đối hạm, giúp tên lửa có thể bay hành trình bám biển ở độ cao rất thấp, chống tác chiến điện tử.

Cùng với đó, những cán bộ, chiến sĩ xây dựng được cơ sở vật chất, hạ tầng nghiên cứu làm nền tảng để phát triển dòng sản phẩm mới, hiện đại hơn trong tương lai.

"Chúng tôi rất tự hào vì chỉ trong một thời gian không dài đã nghiên cứu, phát triển được những dòng sản phẩm mới, hiện đại đóng góp vào thành tích chung của Viện Hàng không Vũ trụ Viettel và được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Thành công hôm nay chỉ là bước khởi đầu, phía trước chúng tôi còn rất nhiều thử thách khi các quốc gia phát triển đã đi trước chúng ta hàng chục năm" - Trung tá Lê Thị Hằng khẳng định./.
Yêu nước ST.

“TẬP THỂ LÃNH ĐẠO VÀ CÁ NHÂN PHỤ TRÁCH CẦN PHẢI LUÔN LUÔN ĐI ĐÔI VỚI NHAU”!

     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Cách làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách” (ký tên X.Y.Z), đăng trên Báo Sự Thật, số 100, ra ngày 23 tháng 9 năm 1948. Đây là một trong những nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hơn 95 năm qua, nhờ thực hiện nguyên tắc này, Đảng ta đã phát huy trí tuệ của cán bộ, đảng viên trong Đảng đề ra đường lối cách mạng đúng đắn trong mỗi thời kỳ, phát huy vai trò, trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên trong hoạt động thực tiễn, đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên giành được những thắng lợi có ý nghĩa to lớn.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tập trung dân chủ. Cũng có thể nhìn nhận, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách vừa là một nguyên tắc trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, vừa là một nội dung, một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách góp phần xây dựng Đảng vững mạnh trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Do đó, phải hiểu và làm đúng, đầy đủ toàn diện nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mọi cấp ủy đảng, nhất là trong bối cảnh hiện nay.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội luôn quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, thống nhất nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, góp phần xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Mọi công việc trong cơ quan, đơn vị đều phải được bàn bạc tập thể trong cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhằm phát huy dân chủ, tạo sự thống nhất cao trong cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Mỗi lĩnh vực công tác do một cấp ủy viên hoặc người chỉ huy phụ trách chỉ đạo, tham mưu, đề xuất với tập thể cấp ủy, chỉ huy cho ý kiến, từ đó trở thành chủ trương của cấp ủy, chỉ huy đơn vị mới triển khai thực hiện. Mặt khác, mỗi cá nhân phải làm tốt trách nhiệm được phân công để lĩnh vực họ phụ trách được tốt, nên vai trò cá nhân phụ trách cũng vô cùng quan trọng sau khi có nghị quyết về lĩnh vực họ phụ trách. Đồng thời mỗi cá nhân phải báo cáo kết quả công tác lĩnh vực mình phụ trách cho tập thể để mọi người tham gia ý kiến góp trí tuệ cho mình. Đây cũng là thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh, dựa dẫm vào tập thể./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, ỨNG DỤNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG CÔNG TÁC ĐẢNG!

     Chiều 24/9, Đoàn đại biểu Đảng bộ Ủy ban Dân nguyện và Giám sát tiến hành thảo luận tại Tổ về dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Dương Thanh Bình điều hành phiên thảo luận.

Thảo luận tại Tổ, các đại biểu cơ bản thống nhất với dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Các đại biểu đánh giá, nội dung Báo cáo chính trị đã được chuẩn bị công phu, tỉ mỉ, đề cập toàn diện những kết quả đạt được, nghiêm túc chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và đưa ra phương hướng trong thời gian tới.

Nhiều nội dung Đảng bộ Ủy ban Dân nguyện và Giám sát góp ý trực tiếp, trong đó có các nội dung liên quan đến lĩnh vực dân nguyện và giám sát, đã được tiếp thu, thể hiện thành mục cụ thể ở trong dự thảo Báo cáo chính trị, Dự thảo Nghị quyết Đại hội, dự thảo Chương trình hành động của Đại hội Đảng bộ Quốc hội nhiệm kỳ 2025-2030.

Qua nghiên cứu các phương hướng, mục tiêu cụ thể trong dự thảo Báo cáo chính trị, một số đại biểu cho rằng, đối với nội dung phương hướng, mục tiêu về: “Tiếp tục đổi mới tư duy, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng bộ Quốc hội trong công tác lập hiến, lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, hoạt động đối ngoại của Quốc hội…” cần bổ sung, nhấn mạnh thêm về hoạt động giám sát lại.

Với nội dung “Bảo đảm dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp, khoa học, công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội…”, một số ý kiến đề nghị cần nhấn mạnh, phát huy hơn nữa tính đại diện của các cơ quan Quốc hội, nhất là chủ thể đại biểu Quốc hội; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo theo hướng hiệu lực, hiệu quả hơn.

Về nhóm đột phá phát triển, trong đó có nội dung “đưa thể chế pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh; tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật…”, một số đại biểu đề nghị, cần có giải pháp phát huy vai trò của đại biểu Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Cho ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Hoàng Anh Công đề nghị, cần tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật. Cụ thể, trong phương hướng, mục tiêu của dự thảo Báo cáo chính trị cần làm rõ nét và sâu sắc hơn việc tăng cường chất lượng công tác lập pháp. Đây là một trong những yếu tố then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực các hoạt động của Quốc hội.

Liên quan đến công tác giám sát, trong dự thảo Chương trình hành động của Đảng bộ Quốc hội nhiệm kỳ mới cần nêu rõ yêu cầu tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, trong đó có hoạt động giải trình về những vấn đề đang nổi lên trong đời sống xã hội.
Ngoài ra, trong công tác dân nguyện cũng cần làm rõ hơn trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội trong việc lắng nghe, giải quyết các ý kiến, kiến nghị cử tri và giám sát việc thực hiện.
Một trong những nội dung giám sát được nhiều đại biểu quan tâm hiện nay chính là việc giám sát ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Hoàng Anh Công đề nghị, những nội dung liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội chỉ nên quy định mang tính chất khung trong luật, còn những nội dung liên quan đến bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân thì phải được quy định chi tiết, cụ thể. Đồng thời, cần tăng cường hoạt động giám sát việc xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội. Đây là nội dung rất quan trọng cần làm rõ nét hơn nữa trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội.

Tham gia ý kiến về đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng, đại biểu Hoàng Anh Công cho rằng, thời gian qua, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đang phải đảm nhiệm rất nhiều công tác đảng vụ, tốn nhiều thời gian và công sức trong khi đã có bộ máy tham mưu, giúp việc chuyên trách là các ban của Đảng.

Do đó, đại biểu đề nghị cần đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách hành chính trong Đảng, trong đó có công tác báo cáo, để bộ máy Đảng phải thực sự tinh, gọn, mạnh, nhanh và không mất nhiều thời gian, công sức; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số. Những nội dung này cần được thể hiện sâu sắc hơn trong dự thảo Chương trình hành động để nhiệm kỳ tới sẽ khắc phục được những hạn chế nêu trên./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM ĐÃ CÓ BƯỚC TIẾN ẤN TƯỢNG TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO!

     Chuyển dịch năng lượng đã và đang mở ra thị trường đầu tư khổng lồ cho doanh nghiệp tư nhân. Chỉ trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã có bước tiến ấn tượng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời và điện gió.

Từ chỗ gần như vắng bóng trên bản đồ năng lượng sạch khu vực, Việt Nam đã vươn lên nhóm dẫn đầu Đông Nam Á với tổng công suất lũy kế điện mặt trời đạt khoảng 18,6GW vào năm 2023; tổng công suất gió và mặt trời đã vượt 21GW. Đáng chú ý, phần lớn các dự án này do khu vực tư nhân đầu tư và vận hành, cho thấy năng lực huy động vốn, quản lý dự án và ứng dụng công nghệ ngày càng mạnh mẽ của doanh nghiệp Việt Nam.

Theo World Bank, Việt Nam cần huy động khoảng 135 tỷ USD cho quá trình chuyển dịch năng lượng giai đoạn 2021-2030, tức trung bình 13,5 tỷ USD mỗi năm, trong đó 75% dự kiến đến từ khu vực tư nhân. Theo các chuyên gia, đây là không gian để doanh nghiệp tư nhân tham gia ở nhiều khâu: Từ phát triển dự án, cung ứng thiết bị, dịch vụ kỹ thuật đến các giải pháp quản lý năng lượng thông minh. Sự ra đời của cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp sản xuất ký hợp đồng dài hạn với nhà phát triển năng lượng tái tạo, vừa ổn định chi phí, vừa bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn ESG (môi trường-xã hội-quản trị).

Song song với chuyển dịch năng lượng, cơ chế định giá carbon đang trở thành công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng xanh. Việt Nam đã khởi động lộ trình thiết lập thị trường carbon trong nước từ năm 2025, tiến tới vận hành toàn diện vào 2028-2029, tập trung vào các ngành phát thải lớn như điện, thép, xi-măng.
Cũng theo các chuyên gia, trong giai đoạn đầu, phần lớn hạn ngạch phát thải được phân bổ miễn phí nhằm giảm áp lực cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế này sẽ tạo khuôn khổ pháp lý ban đầu để doanh nghiệp làm quen với việc tính đúng, tính đủ chi phí carbon, từ đó thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng giải pháp sản xuất sạch hơn.
Ở giai đoạn sau, phạm vi ngành nghề được mở rộng, tỷ lệ miễn phí giảm dần, cơ chế đấu giá và giao dịch tín chỉ carbon sẽ trở thành phổ biến, đồng bộ với thông lệ quốc tế. Đây chính là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ quy định trong nước và chứng minh năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Đánh giá về thị trường carbon, các chuyên gia cho rằng, nhìn ở khía cạnh khác, còn là cơ hội kinh doanh mới. Doanh nghiệp đầu tư sớm vào công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái chế phụ phẩm hay trồng rừng hấp thụ carbon có thể tạo ra tín chỉ carbon dư để bán lại trên thị trường. Với sự năng động và linh hoạt, đây chính là lợi thế mà khu vực tư nhân có thể khai thác đầu tiên. Nếu Việt Nam xây dựng được hệ thống tín chỉ carbon minh bạch, đạt chuẩn quốc tế, doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có thể tham gia thị trường khu vực và toàn cầu, từ đó thu hút thêm ngoại tệ và vốn đầu tư xanh.

Tất nhiên, cả chuyển dịch năng lượng và thị trường carbon đều đi kèm thách thức. Công nghệ sạch, thiết bị tiết kiệm năng lượng hay các dự án năng lượng tái tạo đều đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trong khi đa số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là vừa và nhỏ. Việc tiếp cận tín dụng xanh còn hạn chế do thiếu tài sản bảo đảm, chưa đáp ứng tiêu chí ngân hàng. Các tổ chức tài chính trong nước cũng chưa có cơ chế đánh giá rủi ro môi trường đầy đủ.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp thiếu nhân lực am hiểu về tiêu chuẩn ESG (môi trường-xã hội-quản trị), hệ thống MRV (đo lường-báo cáo-thẩm định phát thải) hay các chứng chỉ xanh quốc tế, dẫn đến khó khăn khi tiếp cận những thị trường xuất khẩu áp dụng chuẩn mực khắt khe.

Khung pháp lý và hạ tầng hỗ trợ cũng chưa đồng bộ: Thị trường điện cạnh tranh, cơ chế DPPA, quy hoạch lưới truyền tải và hệ thống tiêu chuẩn xanh thống nhất vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Đồng thời, các điều kiện nền tảng cho kinh tế tuần hoàn như phân loại rác tại nguồn, logistics ngược, hệ thống thu hồi-tái chế hay tiêu chuẩn tái chế thống nhất còn thiếu hoặc vận hành chưa hiệu quả, khiến doanh nghiệp khó triển khai mô hình trên diện rộng.

Các chuyên gia khuyến nghị, để khu vực kinh tế tư nhân thực sự phát huy tiềm năng trong tiến trình chuyển đổi xanh, cần sớm tháo gỡ các rào cản về vốn, công nghệ, thể chế và hạ tầng. Đây là điều kiện nền tảng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước đảm nhận vai trò tiên phong trong tăng trưởng xanh, đồng thời đóng góp thiết thực vào việc thực hiện cam kết Net Zero./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BA ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC - TƯ DUY CỐT LÕI TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHUỆ, HIỆN ĐẠI.

     Ba đột phá chiến lược được xác định trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Quân ủy Trung ương trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII không phải là những vấn đề mới được nêu ra lần đầu. Nhưng lần này, việc đặt chúng ở vị trí trung tâm, như 3 trụ cột chính của tư duy chiến lược, đã thể hiện rõ tầm nhìn, quyết tâm và phương pháp lãnh đạo đổi mới mạnh mẽ trong quá trình xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Theo đó, thể chế là điều kiện, con người là trung tâm và công nghệ là phương tiện để từ đó kiến tạo nên sức mạnh tổng hợp, thế và lực mới cho Quân đội trong giai đoạn phát triển mới./.

SƯU TẦM!

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “NƯỚC LẤY DÂN LÀM GỐC” VÀO XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIAI ĐOẠN MỚI.

     Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có vị trí đặc biệt quan trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Tư tưởng đó là sự kế thừa, phát huy truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của nhân dân trong lịch sử; cần tiếp tục được vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về “nước lấy dân làm gốc”

Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trên hai phương diện cơ bản: Một là, Người chỉ rõ, mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; phải tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Bởi lẽ, nhân dân là người chủ thực sự của đất nước, là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, chủ thể sáng tạo lịch sử; là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng; nếu không có quần chúng nhân dân thì không có lịch sử nào cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”. Hai là, phát huy trách nhiệm của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, Người yêu cầu mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân để đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân và tổ chức, lãnh đạo, động viên nhân dân thực hiện. Khi trở thành đảng cầm quyền, tất cả đường lối, chủ trương của Đảng đều phải nhằm nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là làm cho nhân dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành. Cán bộ, đảng viên phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phải lấy việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là mục đích, lẽ sống, niềm vui, hạnh phúc của mình, “tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai”. Có như vậy, “gốc” mới vững, mới bảo đảm cách mạng đi đến thắng lợi.

Trong lĩnh vực quân sự, với tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, lực lượng tham gia hoạt động quân sự là toàn dân; bởi vì, sức mạnh của nhân dân là vô cùng to lớn, có vai trò quyết định đến thắng lợi. Theo Người, mọi người dân đều có thể tham gia hoạt động trên lĩnh vực quân sự, không phân biệt giới tính, độ tuổi; tất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội đều tham gia đánh giặc bằng mọi vũ khí, từ thô sơ đến hiện đại, bằng mọi cách đánh trên các địa bàn chiến lược. Chúng ta tiến hành đánh địch bằng mọi lực lượng, như bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, kết hợp giữa đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ,... Người nói: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”.

Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Đồng thời, tư tưởng đó của Người còn là cơ sở quan trọng để Đảng ta đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, lấy quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, của Tổ quốc làm mục tiêu phấn đấu; tổ chức, giáo dục, rèn luyện Đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Nhờ đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận được sự tin tưởng, đồng tình, ủng hộ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được những thắng lợi vẻ vang trong lịch sử, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy, đất nước thịnh hay suy, mạnh hay yếu, có giữ được giang sơn gấm vóc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc hay không đều phụ thuộc vào “lòng dân”, vào việc xây dựng “thế trận lòng dân”. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã nói, “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”; Nguyễn Trãi khẳng định, “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Người là gốc rễ, là cơ sở, nền tảng hình thành đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, độc đáo, sáng tạo, góp phần quan trọng vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Từ thực tiễn đó, Đảng ta xác định xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng để phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội X của Đảng, lần đầu tiên thuật ngữ “thế trận lòng dân” được ghi trong Văn kiện Đại hội, đó là: “Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc”. Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XI, Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”. 

“Thế trận lòng dân” thực chất là trạng thái chính trị, tinh thần của người dân, được biểu hiện ở tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, sự tin tưởng của nhân dân vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Trạng thái đó được xây dựng vững chắc, trở thành “thế trận”, sẵn sàng để huy động, sử dụng, tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Xây dựng “thế trận lòng dân” là thực hiện đồng bộ các giải pháp về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về “lòng dân”, “nước lấy dân làm gốc”, là quan điểm, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân. Sự phát triển đó đã khơi dậy, tập hợp, quy tụ và phát huy thế mạnh, sức mạnh của từng nhân tố tạo nên “thế trận lòng dân”; là một trong những bí quyết làm nên thành công của cách mạng Việt Nam.

Trong những năm qua, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của “thế trận lòng dân”, Đảng, Nhà nước ta, các cấp, các ngành luôn đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về truyền thống yêu nước Việt Nam, về đường lối, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, ban hành nhiều chủ trương, đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Nhờ đó, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Đảng, Nhà nước luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,... Do vậy, cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển tốt đẹp của đất nước; tin tưởng vào lực lượng vũ trang; lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam được phát huy và nâng cao; thế và lực của đất nước không ngừng được tăng cường, củng cố ngày càng vững chắc.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là nguyên nhân chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân” có mặt còn hạn chế; “một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, nhiều bức xúc chưa được giải quyết; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi bị vi phạm”. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sút sức chiến đấu của Đảng và suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được chú trọng, phát huy đầy đủ,... Những hạn chế đó làm cho “lòng dân”, hay nói cách khác là tư tưởng, tâm trạng của một bộ phận nhân dân có những bức xúc, gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới sự đồng thuận xã hội, làm suy giảm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tiếp tục xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới

Trong những năm tới, tình hình khu vực, thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Biển Đông và vùng biển Tây Nam đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nhân tố gây mất ổn định. Đối với nước ta, sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Song, đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra vẫn tồn tại, thậm chí có mặt còn gay gắt hơn. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tuy đã được ngăn chặn bước đầu, song còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực, bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn, chiến lược “diễn biến hòa bình” rất tinh vi, xảo quyệt; trong đó, chúng tìm mọi cách để chia rẽ quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền cũng như thực hiện mưu đồ ly tán lòng dân, nhất là lòng dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào theo đạo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn và vùng căn cứ cách mạng được coi là trọng điểm chống phá của chúng. Tình hình trên đặt ra nhiều vấn đề mới, với yêu cầu cao hơn, nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhất là tư duy lý luận, có quyết tâm chính trị cao, đề ra chủ trương, giải pháp đúng đắn, hiệu quả để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới; trong đó, yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là cần quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” vào xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; cụ thể như sau:

Thứ nhất, quán triệt, nâng cao nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên từng địa bàn và trong cả nước.

Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân thấm nhuần tư tưởng, quan điểm “nước lấy dân làm gốc” của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nâng cao nhận thức về vai trò đặc biệt quan trọng của quần chúng nhân dân - người làm nên lịch sử, nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước, nhất là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới; hiện thực hóa tư duy mới về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề, gắn với các sự kiện chính trị lớn của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, phương tiện thông tin - truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Thường xuyên củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề cốt lõi nhất để xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Thứ hai, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; có đường lối cách mạng, đường lối quân sự, quốc phòng đúng đắn.

Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tăng cường quán triệt, thực hiện tốt các kết luận, nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương, quy định về những điều đảng viên không được làm; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, khoa học, phù hợp. Đường lối cách mạng đó là sự hội tụ ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, nhất là phải phù hợp với nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Đây là một trong những vấn đề căn cốt nhất để Đảng ta tập hợp, hiệu triệu nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng. Đường lối cách mạng của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước, tôn trọng quy luật khách quan. Mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ; nâng cao năng lực dự báo; biết lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, luôn hành động vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, kết hợp với tiếp thu, học tập những kinh nghiệm trên thế giới để xây dựng chủ trương, đường lối phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đảng đề ra đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, làm cơ sở khơi dậy, động viên và phát huy sức mạnh của toàn dân, khai thác sức mạnh của đoàn kết quốc tế để củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đường lối đó thể hiện rõ tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân; sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của toàn dân; lực lượng bảo vệ Tổ quốc là lực lượng toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Đường lối đó là sự tiếp thu, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam, lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tinh hoa quân sự thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Quán triệt quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, Đảng, Nhà nước cần đổi mới mạnh mẽ và thực hiện có hiệu quả mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước; giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước, nhất là về thể chế, chính sách,... Chú trọng đẩy mạnh phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống trên từng khu vực, địa bàn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Trong quá trình thực hiện, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành cần có chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số bằng những chương trình, dự án kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh. Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Chú trọng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức, pháp luật, truyền thống quê hương, đất nước; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự lực, tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc. Với quan điểm con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển, Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và hiện đại; qua đó, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Đảng, Nhà nước cần đổi mới, đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng nhân dân; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân quán triệt sâu sắc tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về đường lối, chủ trương xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo sự đồng thuận cao về nhận thức và hành động trong toàn xã hội. Thực hiện tốt chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam cùng phát triển; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Bảo đảm công bằng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Chăm lo xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh, đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch tìm cách chia rẽ nội bộ nhân dân, chia rẽ Đảng với nhân dân, chia rẽ nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước khác, mưu toan phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.
Đảng, Nhà nước cần tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức để nhân dân noi theo. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.


Cán bộ, chiến sĩ Vùng 5 Hải quân tuyên truyền pháp luật và tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân vươn khơi, bám biển baohaiquanvietnam.vn

Thứ năm, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 3-5-2007, của Bộ Chính trị khóa X, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng - an ninh trong tình hình mới”. Trong đó, coi trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tình yêu quê hương, đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam,... để làm cho mọi người dân, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và nền quốc phòng toàn dân. Chú trọng phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cơ sở, nhân tố cơ bản làm nên sức mạnh vô địch của nền quốc phòng toàn dân, của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Gắn xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với xây dựng nền an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc với xây dựng thế trận an ninh nhân dân.

Tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thực sự là nòng cốt trong công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân phải có quan điểm quần chúng đúng đắn; thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thực hiện tốt công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt để huy động tối đa “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(11); đồng thời, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” là chân lý, được Người đúc kết từ thực tiễn hoạt động cách mạng; trên cơ sở tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, truyền thống, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại; là cơ sở quan trọng để Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối cách mạng đúng đắn; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân, vì nhân dân phục vụ; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng. Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới, đòi hỏi Đảng ta, toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, cũng như trong các lĩnh vực, nhiệm vụ cách mạng; tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới./.
---------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 501
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 672
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 67
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 534
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 412
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 109
(7), (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 49, 25
(9) Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2013, tr. 38
(10) Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 81.
Yêu nước ST.

TIN AN NINH TRẬT TỰ: BẮT CẶP VỢ CHỒNG LẬP CÔNG TY TỪ NĂM 2018, DÙNG XE BỒN XẢ TRỘM CHẤT THẢI XUỐNG SÔNG TÔ LỊCH!

     Phòng Cảnh sát kinh tế, Công an TP Hà Nội vừa bắt giữ 3 đối tượng liên quan đến ổ nhóm xả trộm gần 50m3 chất thải xuống sông Tô Lịch.

Ngày 24/9, Công an TP Hà Nội cho biết, phòng Cảnh sát kinh tế vừa xác minh, điều tra, bắt giữ 3 đối tượng liên quan đến ổ nhóm xả trộm gần 50m3 chất thải xuống sông Tô Lịch, gây ô nhiễm môi trường và bức xúc dư luận.

Trước đó, khoảng 3h sáng ngày 5/9, tại khu vực bờ kè sông Tô Lịch, đoạn đối diện số 584 đường Láng, phường Láng, Hà Nội, Ban quản lý dự án Hệ thống xử lý nước thải Yên Xá phát hiện vệt chất thải nghi là phân bể phốt được xả trực tiếp vào hố ga, rồi chảy thẳng xuống sông. Ước tính, khối lượng chất thải lên tới khoảng 50m³, gây mùi hôi thối nồng nặc và ô nhiễm nghiêm trọng một khu vực rộng lớn.

Đặc biệt, việc xả thải trái phép còn gây hư hại hạ tầng dự án khi làm tụt đường ống thoát nước. Sự việc nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân mà còn đi ngược lại chủ trương quyết liệt của TP Hà Nội trong việc làm sạch sông Tô Lịch.

Tiếp nhận tin báo, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc Công an thành phố, Đội 3, phòng Cảnh sát kinh tế, Công an TP. Hà Nội đã nhanh chóng vào cuộc. Qua quá trình khẩn trương xác minh, rà soát, cơ quan công an xác định chiếc xe bồn trắng biển kiểm soát 30L-573.96 bị camera an ninh ghi lại thuộc Công ty TNHH vệ sinh môi trường thoát nước đô thị Hà Nội đã có hành vi xả thải trái phép ra sông Tô Lịch thông qua hệ thống hố ga.

Đây là công ty do vợ chồng Nguyễn Khắc Đạo (SN 1982) và Chu Thị Vang (SN 1983) thành lập từ năm 2018. Quá trình đấu tranh, các đối tượng khai nhận công ty của vợ chồng Đạo không có giấy phép hoạt động xử lý chất thải và cũng không ký kết với đơn vị xử lý hợp pháp nào. Do vậy, sau khi hút bể phốt, Đạo chỉ đạo lái xe chở đến các địa điểm không đúng quy định để đổ thải.

Khoảng 3h sáng 5/9, theo chỉ đạo của Đạo, sau khi hút gần 50m³ chất thải lỏng từ bể phốt của một tòa nhà trên đường Nguyễn Chí Thanh, lái xe Nguyễn Duy Cường (SN 1995) đã 2 lần điều khiển xe bồn đến đường Láng, dùng tay mở nắp hố ga, cắm vòi và xả trực tiếp toàn bộ chất thải xuống đây. Hậu quả là đường ống trong hố ga bị vỡ, chất thải chưa qua xử lý tràn trực tiếp ra sông Tô Lịch, gây ô nhiễm nghiêm trọng, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Các đối tượng đều thừa nhận hành vi xả thải trái phép.

Hiện, Công an TP. Hà Nội đang tiếp tục điều tra, củng cố hồ sơ để xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định của pháp luật./.
Ảnh 1: Nhóm đối tượng tại cơ quan công an.
Ảnh 2: Xe bồn đổ trộm chất thải.

SƯU TẦM!

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC “TÔN VINH GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH, CHUYỂN ĐỔI MẠNH MẼ ĐỂ KIẾN TẠO TƯƠNG LAI BỀN VỮNG”!

     Ngày 23-9 (giờ địa phương), tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, Hoa Kỳ, Chủ tịch nước Lương Cường đã có bài phát biểu quan trọng tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 80 với thông điệp xuyên suốt: “Tôn vinh giá trị của hòa bình, chuyển đổi mạnh mẽ để kiến tạo tương lai bền vững”.

Trong bài phát biểu, Chủ tịch nước khẳng định 80 năm qua, Liên hợp quốc luôn là hiện thân của khát vọng chung của nhân loại vì hòa bình, hợp tác và phát triển, dựa trên các giá trị phổ quát về quyền con người, độc lập dân tộc, bình đẳng, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tuy vậy, thế giới hiện nay đang đối mặt với những thách thức gay gắt chưa từng có như xung đột, chiến tranh cục bộ, chạy đua vũ trang, sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, cạnh tranh chiến lược nước lớn, chủ nghĩa đơn phương, sự suy giảm mạnh về cam kết chính trị và nguồn lực. Theo đó, Chủ tịch nước kêu gọi cộng đồng quốc tế cùng đề cao chủ nghĩa đa phương và hệ thống quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế, với Liên hợp quốc là trung tâm. 

Khẳng định hòa bình vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện tiên quyết cho xây dựng tương lai ổn định, công bằng, dân chủ và phát triển thịnh vượng, Chủ tịch nước kêu gọi các nước tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Đề cao văn hóa hòa bình thông qua xây dựng lòng tin, đoàn kết quốc tế, đối thoại, tôn trọng khác biệt, Chủ tịch nước kêu gọi ngừng bắn, chấm dứt bạo lực, bảo vệ thường dân, tạo điều kiện cho tiếp cận nhân đạo tại các vùng xung đột, đánh giá cao việc nhiều nước công nhận Nhà nước Palestine, kêu gọi hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp cho người dân Palestine, đề nghị Hoa Kỳ gỡ bỏ các biện pháp cấm vận đối với Cuba và đưa Cuba ra khỏi danh sách tài trợ khủng bố.

Chủ tịch nước đề cao vai trò của các tổ chức khu vực, trong đó ASEAN giữ vị trí trung tâm ở châu Á-Thái Bình Dương, tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN tự cường, bao trùm, bền vững; thúc đẩy Thỏa thuận ngừng bắn giữa Campuchia-Thái Lan, triển khai Đồng thuận năm điểm về Myanmar, và duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Để kiến tạo tương lai bền vững, Chủ tịch nước kêu gọi tiến hành cải tổ các thể chế đa phương quản trị toàn cầu, nhất là Liên hợp quốc và các thể chế tài chính-tiền tệ quốc tế để thích ứng tốt hơn, bảo đảm công bằng, minh bạch, hoạt động đồng bộ, hiệu quả, hiệu lực hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các quốc gia và của mọi người dân.

Nhằm tối ưu hóa mô hình phát triển bền vững dựa trên nền tảng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, Chủ tịch nước nhấn mạnh các quốc gia cần xây dựng chiến lược tổng thể, đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển hạ tầng công nghệ xanh, đặc biệt cần tăng cường hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ và huy động tài chính xanh, các nước phát triển cần chia sẻ, chuyển giao công nghệ cho các nước đang và chậm phát triển, đồng thời cần bảo đảm quá trình chuyển đổi xã hội phải lấy con người làm trung tâm.

Chủ tịch nước Lương Cường chia sẻ câu chuyện của một nước Việt Nam hồi sinh từ đổ nát của chiến tranh, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nỗ lực vượt bậc trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và hội nhập quốc tế sâu rộng. Mặc dù còn nhiều hạn chế cần khắc phục, Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam quyết tâm thực hiện các mục tiêu chiến lược để trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, đến năm 2045 trở thành nước có thu nhập cao; thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững, đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 và trở thành một quốc gia hùng cường, hưng thịnh và hạnh phúc.

Chủ tịch nước Lương Cường khẳng định Việt Nam luôn nỗ lực hết mình và đồng hành cùng tất cả các quốc gia để gánh vác các trọng trách chung, vượt qua thách thức, thúc đẩy chuyển đổi mạnh mẽ để kiến tạo một thế giới hoà bình, ổn định, phát triển thịnh vượng và bền vững, mang lại hạnh phúc, ấm no cho mọi người dân.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Lương Cường trân trọng mời các quốc gia đến Hà Nội dự Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm mạng vào ngày 25-10 sắp tới; cho biết Việt Nam đang tích cực chuẩn bị để đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội nghị Kiểm điểm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân vào năm 2026; đồng thời đề nghị các nước ủng hộ ứng cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026-2028 và làm Thẩm phán Tòa án Luật biển quốc tế nhiệm kỳ 2026-2036./.

Ảnh 1, 2: Chủ tịch nước Lương Cường phát biểu tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 80.
Ảnh 3: Thành viên đoàn Việt Nam tham dự Phiên Thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 80.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI ĐẠI HỘI THI ĐUA QUYẾT THẮNG TOÀN QUÂN LẦN THỨ XI.

     Chiều 24-9, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI. Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo đại hội. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương.

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo các cơ quan Trung ương,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động,

Thưa các đại biểu, các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến.

Hôm nay, tôi rất vui mừng, xúc động dự Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI - ngày hội tôn vinh ý chí, kỷ luật, sức mạnh, trí tuệ và lòng tận hiến của “Bộ đội Cụ Hồ”. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, tôi gửi tới các đồng chí lời thăm hỏi thân thiết, lời chúc mừng nồng ấm trước những thành tích xuất sắc mà các cơ quan, đơn vị, nhà máy, học viện, nhà trường, bệnh viện, doanh nghiệp quốc phòng, các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến của toàn quân đã đạt được trong Phong trào Thi đua Quyết thắng thời gian qua. Những điển hình tiên tiến hôm nay là minh chứng sống động cho sức mạnh của truyền thống, của kỷ luật, của sáng tạo và của tình quân - dân thắm thiết.

Xin chúc mừng 54 Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc, 304 điển hình tiên tiến và hàng trăm ngàn tập thể, cán bộ, chiến sĩ được vinh danh, khen thưởng trong Phong trào Thi đua Quyết thắng 5 năm qua.

Thưa các đồng chí,

Ngay sau khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời, Phong trào Thi đua Quyết thắng cũng hình thành, đó là ý chí quyết chiến, quyết thắng, dám đánh giặc, dám đi trước, dám nhận việc khó, dám hy sinh, quyết làm đến cùng để hoàn thành mệnh lệnh của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân. Khi Bác Hồ phát động Phong trào Thi đua yêu nước, Quân đội tiên phong hưởng ứng và từ thực tiễn chiến đấu - công tác đã hình thành một sắc thái riêng, Phong trào “Thi đua Quyết thắng” - thi đua để chiến đấu giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi; thi đua để ra quân là chiến thắng. Nói cách khác, Thi đua Quyết thắng hòa ngay vào mạch nguồn của Phong trào Thi đua ái quốc do Ban Chấp hành Trung ương và Bác Hồ phát động, đóng góp phần quan trọng trên chặng đường trưởng thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, từ các trận đánh du kích đến chiến dịch quy mô lớn; từ mặt trận bí mật đến ngoại giao quân sự; từ nghiên cứu - thiết kế chế tạo vũ khí; từ nhà trường, phòng thí nghiệm đến thao trường; từ lãnh đạo chỉ huy đến cán bộ chiến sĩ, Thi đua Quyết thắng luôn là chất xúc tác biến quyết tâm thành kết quả, biến mục tiêu thành hiện thực. Nhờ thi đua, đơn vị có mục tiêu chung đo được; mỗi người có việc cụ thể làm đến nơi đến chốn; kỷ luật trở thành sức mạnh; sáng kiến trở thành nguồn lực; để “Thi đua ái quốc là yêu nước. Yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất” trở thành văn hóa. Từ đó hình thành phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có đặc sắc riêng: Khiêm tốn mà kiên cường, kỷ luật mà sáng tạo, quyết đoán mà nhân hậu, quyết chiến và quyết thắng; để mỗi người lính góp sức mình vào xây dựng Quân đội “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Sức lan tỏa của Phong trào Thi đua Quyết thắng không dừng trong doanh trại, đơn vị, trong Quân đội mà còn truyền cảm hứng sang các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng, góp phần làm nên nền nếp thi đua yêu nước rộng khắp của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở đâu có bộ đội, ở đó có phong trào thi đua; ở đâu có cán bộ, chiến sĩ gương mẫu thì ở đó có phong trào, có kỷ cương, có hiệu quả; ở đâu có Thi đua Quyết thắng, ở đó tiêu chí “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” trở nên cụ thể, đo đếm được; để mỗi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng đều có thể “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”.

Thi đua Quyết thắng có giá trị bởi tính liên tục và chiều sâu. Không phải là đợt “ra quân” nhất thời mà là “nhịp đập cuộc sống”. Mỗi ngày một tiêu chí, mỗi tuần một việc làm thiết thực, mỗi tháng một sáng kiến, mỗi quý một kết quả bền chắc. Điểm bắt đầu là chiến sĩ; hạt nhân là tổ, tiểu đội; động lực là trung đội, đại đội; quyết định là cấp ủy, chỉ huy các cấp. Thi đua ở đây không phải là “chạy theo thành tích”, mà là “cơm ăn nước uống hằng ngày” trong môi trường đặc thù quân sự: Phải chính xác, đúng quy trình, an toàn, hiệu quả và phù hợp tình huống tác chiến hiện đại.

Trong môi trường quân ngũ, thi đua là trường học của “nhân cách và bản lĩnh”. Mỗi chỉ tiêu hoàn thành không chỉ thêm một “điểm số” mà thêm một nấc trưởng thành. Mỗi chiến sĩ phải biết đặt nhiệm vụ lên trên, biết kỷ luật tự thân, biết tôn trọng quy trình, biết hợp đồng tác chiến, biết xử trí tình huống, biết yêu đồng đội, thương dân. Muốn vậy, tiêu chí thi đua phải “rõ - đúng - trúng - dễ nhớ - dễ làm - dễ so sánh”. Tổ chức phải liền mạch từ cơ sở lên; đánh giá phải công minh, công khai; khen thưởng phải kịp thời, đúng người, đúng việc; phê bình phải chân thành, xây dựng, giúp nhau tiến bộ.

Thưa các đồng chí,

Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, chiến tranh công nghệ cao, tác chiến với hình thái chiến tranh mới, đe dọa an ninh phi truyền thống gia tăng; yêu cầu dựng xây và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Quân đội ta vừa “chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” vừa “cơ động, linh hoạt, thông minh số”. Trong bối cảnh đó, Thi đua Quyết thắng phải trở thành “hệ điều hành” cho ba vai trò: “Đội quân chiến đấu” lấy tiêu chí huấn luyện “gần thực chiến, sát đối tượng tác chiến, sát địa bàn, sát vũ khí trang bị” làm trục; coi làm chủ vũ khí, khí tài, công nghệ cao là chỉ số bắt buộc; coi an toàn, kỷ luật là đường ranh đỏ. Qua nghe báo cáo thành tích tại Đại hội, tôi rất ấn tượng với tinh thần thi đua cũng như kết quả hoạt động, công tác của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Bên cạnh những tấm gương dũng cảm hy sinh, đóng góp của Quân đội đối với đời sống xã hội, 5 năm qua, các đồng chí đã có nhiều bước tiến về vũ khí, khí tài, tác chiến, đây là dấu ấn của Đại hội thi đua lần này - xây dựng Quân đội hiện đại, làm chủ khoa học, công nghệ. Đó chính là việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị trong Quân đội. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện nay, toàn quân cần tiếp tục thi đua trên mặt trận khoa học kỹ thuật để tự chủ về chiến lược, xây dựng Quân đội ngày càng vững mạnh.  

“Đội quân công tác” gắn các mục tiêu thi đua với nhiệm vụ vận động quần chúng, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính trị địa phương; góp phần giữ ổn định xã hội, củng cố niềm tin nhân dân. “Đội quân lao động sản xuất” thúc đẩy nghiên cứu-thiết kế-chế tạo; làm chủ chuỗi sản xuất-bảo đảm kỹ thuật; tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đẩy mạnh chuyển đổi số trong công nghiệp quốc phòng, logistics Quân đội.

Truyền thống của Quân đội ta “ra quân là chiến thắng” đã trở thành “chuẩn mực hành động”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải mang trong mình dòng máu “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” trong học tập, rèn luyện, huấn luyện, thực hành chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất, giúp nhân dân, hợp tác quốc tế và nghĩa vụ quốc tế.

Thi đua chỉ có ý nghĩa khi “thật - hay - đẹp - hữu ích”. Tôi đề nghị toàn quân tiếp tục chấn chỉnh những biểu hiện hình thức; tuyệt đối tránh chạy theo chỉ tiêu bề nổi; đặt chất lượng, hiệu quả, chiều sâu lên hàng đầu. Thi đua phải làm cho con người tốt hơn, đơn vị mạnh hơn, công việc trôi chảy hơn, quan hệ quân-dân bền chặt hơn. Đoàn kết là cội nguồn sức mạnh. Thi đua phải góp phần “siết chặt đội ngũ”, lan tỏa tích cực, khuyến khích tài năng trẻ, tạo không gian cho sáng kiến của chiến sĩ, của phụ nữ Quân đội, của công nhân viên quốc phòng. Mỗi cấp ủy, chỉ huy phải là “nhạc trưởng” biết chọn đúng “bản nhạc”, chọn đúng “nhịp” tiến độ, phối hợp nhịp nhàng “dàn nhạc” các lực lượng.

Tôi đề nghị các cấp ủy, chỉ huy chăm lo nhân rộng điển hình: Có cơ chế ghi nhận kịp thời, khen thưởng xứng đáng; đưa các mô hình hay vào chương trình huấn luyện - công tác để mọi người cùng tiến bộ.

Thi đua là yêu nước. Yêu nước phải thể hiện bằng kết quả cụ thể, trách nhiệm cụ thể. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng, với bề dày truyền thống, với bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, với sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng, với sự phối hợp chặt chẽ của cả hệ thống chính trị và sự đùm bọc của nhân dân, Phong trào Thi đua Quyết thắng của toàn quân sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả; tạo ra đột phá mới trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Một lần nữa, tôi nhiệt liệt biểu dương và gửi lời chúc mừng nồng nhiệt tới các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc, tiếp tục tỏa sáng ở cương vị mới. Tôi mong các đồng chí tiếp tục rèn luyện, phấn đấu trở thành hạt nhân truyền cảm hứng ở đơn vị; giúp đồng đội cùng tiến bộ; biến danh hiệu thành trách nhiệm, biến vinh quang thành cống hiến mới. Chúc Phong trào Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI “bứt phá, lan tỏa, bền vững”, để mỗi đơn vị là một “pháo đài kỷ luật, sáng tạo”, mỗi người lính là một “ngọn lửa tận hiến”, mỗi nhiệm vụ là một “trận đánh thắng lợi”.

Chúc Đại hội thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn các đồng chí!

Nhân dịp Đại hội Thi đua quyết thắng toàn quân, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, tôi xin tặng các đồng chí bức trướng với 16 chữ vàng.

“Trung thành kiên định - Đoàn kết kỷ cương

Đột phá phát triển - Quyết chiến quyết thắng”!
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương phát biểu chỉ đạo đại hội.

Ảnh 2: Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương tặng Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI bức trướng với 16 chữ vàng.
Yêu nước ST.