Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRẬN ĐÁNH HUYỀN THOẠI “ĐẶC CÔNG VIỆT NAM HẠ MÁY BAY MỸ TRÊN ĐẤT THÁI LAN”./.

     Trận đánh sân bay Udon đã gây thiệt hại nặng cho không quân Mỹ: 4 máy bay F-5 trở thành đống sắt vụn, 24 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ đền tội.

Thiếu tướng tình báo Vũ Thắng là Trưởng phòng điệp báo ngoài nước của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng (nay là Tổng cục 2) từ năm 1966 cho đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trong rất nhiều chiến công của những chiến sĩ tình báo ngoài nước, Thiếu tướng Vũ Thắng đã kể lại với phóng viên trận đánh vào căn cứ không quân Udon và U-Tapao, nơi xuất phát những máy bay ném bom của Mỹ đi gây tội ác ở Việt Nam.

Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ thành lập khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) gồm 6 nước, biến một số quốc gia ở khu vực này thành căn cứ quân sự của Mỹ.

Ở Thái Lan, ngoài quân cảng Sattahip, Mỹ xây dựng sân bay quân sự chiến thuật và chiến lược cho máy bay F-4, F-5 ở Udon, Ubon, Korat, Takhli, Chiangmai… đặc biệt là căn cứ không quân chiến lược B-52 ở U-Tapao.

Từ những nơi này, máy bay Mỹ hằng ngày mang bom đạn gieo rắc đau thương cho đồng bào ta ở hai miền Nam, Bắc, Lào và Campuchia.

B-52 tại sân bay U-Tapao.
Phải trừng trị kẻ gây tội ác, phải đánh thẳng vào nơi xuất phát của những tên “giặc trời”. Đó là mệnh lệnh của Tổ quốc giao cho Phòng điệp báo ngoài nước.

Một buổi sáng đầu năm 1968, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gọi Cục trưởng Cục tình báo quân sự Phan Bình và Trưởng phòng Vũ Thắng lên, nói:
- Quân và dân ta đang Tổng tiến công và nổi dậy đánh Mỹ-ngụy ở khắp miền Nam. Để phối hợp với chiến trường này, Bộ Tổng tham mưu giao cho các đồng chí nghiên cứu đánh sân bay U-Tapao. Liệu các đồng chí có thực hiện được không?

Cục trưởng Phan Bình trả lời:
- Báo cáo Tổng tham mưu trưởng, chúng tôi đã có các cơ sở ở các sân bay, sơ đồ bố trí của địch chúng tôi nắm vững. Đề nghị cho Cục thời gian để gọi các đồng chí ấy về huấn luyện cách đánh.

Đồng chí Văn Tiến Dũng căn dặn:
- Tôi đồng ý! Nhưng phải giải thích cho các đồng chí ấy hiểu rằng, đánh U-Tapao là đánh đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam. Tuyệt đối bảo vệ tính mạng và tài sản cho nhân dân Thái Lan.

Ngay lập tức, Cục trưởng Phan Bình cử thêm Thiếu tá Phó trưởng phòng điệp báo ngoài nước Nguyễn Trọng Tể và Đại úy Bùi Nghi, cán bộ tham mưu của phòng hỗ trợ cho Trưởng phòng Vũ Thắng lập phương án tác chiến. Được sự chuẩn y của Tổng Tham mưu trưởng, Phòng điệp báo ngoài nước rút hai tổ của hai đồng chí Phùng Hồng Lâm và Lê Văn Đình đang hoạt động ở Thái Lan về nước, hình thành tổ đánh U-Tapao do Phùng Hồng Lâm chỉ huy.

Phùng Hồng Lâm vốn là nhân viên đường sắt, được ta đào tạo trở thành tổ trưởng tổ tình báo ở Băng Cốc dưới bình phong một nhà buôn. Nhiệm vụ của tổ anh là móc nối các cơ sở để nắm tình hình các căn cứ không quân Mỹ trên đất Thái Lan.

Còn Lê Văn Đình cũng là tổ trưởng tình báo, giỏi sử dụng điện đài, lại nguyên là sĩ quan lục quân nên có kiến thức quân sự. Đó là sự bổ sung rất tốt cho Phùng Hồng Lâm.

Nhưng muốn đánh U-Tapao, trước hết phải đánh Udon. Căn cứ quân sự Udon nằm ở đông bắc Thái Lan, giáp với nước Lào, nơi xuất phát những máy bay F-4 đi oanh tạc ở thượng Lào và Bắc Việt Nam. Đây là đòn thử phản ứng với Mỹ, đồng thời đánh lạc hướng chúng để tổ của Phùng Hồng Lâm đánh U-Tapao được thuận lợi.

Tổ đánh sân bay Udon được thành lập gồm 5 người, do Đại úy Trần Viết Tính, Tổ trưởng tình báo tại Udon làm chỉ huy. Các tổ viên gồm có: Thượng úy Bùi Thế Sách, Trung úy Lê Đức Mục, Trung úy Võ Tá Kiều và Thượng sĩ Nguyễn Văn Triêm. Ngoài ra, Phòng điệp báo nước ngoài còn chọn một số đồng chí khác, vốn là cán bộ giao thông và điệp báo ta tại Lào làm nhiệm vụ hỗ trợ khi cần thiết. 5 tình báo viên được triệu tập về nước, nhờ Binh chủng Đặc công huấn luyện chiến thuật vượt rào, đặt mìn…

Phòng điệp báo ngoài nước cử Đại úy Lê Thoong, người thông thạo địa hình hai nước Lào và Thái, làm nhiệm vụ đưa đón 2 tổ đánh sân bay Udon và U-Tapao, đồng thời vận chuyển vũ khí, thuốc nổ đến nơi tập kết.

Tháng 5-1968, tổ đánh sân bay Udon lên đường.
Từ Hà Nội, các chiến sĩ tình báo đi ô tô vào Quảng Bình, lên đường 12 qua nước Lào, vượt qua vùng địch tạm chiếm, rồi đến trạm 12, một cơ sở của Phòng điệp báo nước ngoài ở Thà Khẹc. Từ đây, có một con đường bí mật để cả tổ vượt sông qua Thái Lan.

Trong tổ, có tình báo viên Bùi Thế Sách từng sống nhiều năm ở Thái Lan, nên từ hình thức, cử chỉ đến giọng nói rất giống người Thái. Hằng ngày, anh trà trộn vào toán lao công ở sân bay rồi sau đó về báo cáo với chỉ huy sơ đồ sân bay và các quy luật hoạt động của địch.

Sau khi đã nghiên cứu kỹ, cả tổ quyết định tập kích…
Giờ đây ngồi kể chuyện với tôi, Thiếu tướng Vũ Thắng còn nhớ nội dung bức điện của Tổ trưởng Trần Viết Tính gửi về trước giờ ra trận: “Mấy ngày qua, chúng tôi theo dõi qua đài được biết đế quốc Mỹ đã cho máy bay ném bom ác liệt, giết hại nhiều đồng bào vô tội ở miền Bắc nước ta. Toàn tổ chúng tôi kiên quyết hành động để trả thù, dù có phải hy sinh trên đường băng Udon”.

Một đêm cuối tháng 5-1968, sau khi dùng chiến thuật đặc công đột nhập và đặt mìn vào 4 máy bay, trên đường rút ra, 5 chiến sĩ tình báo bị địch phát hiện. Thượng úy Bùi Thế Sách và Trung úy Lê Đức Mục tình nguyện ở lại kìm chân địch để 3 người còn lại rút lui an toàn. Sau một hồi quần nhau với địch, chưa kịp rút cùng đồng đội thì 4 quả mìn phát nổ, Bùi Thế Sách và Lê Đức Mục anh dũng hy sinh.

Trận đánh sân bay Udon đã gây thiệt hại nặng cho không quân Mỹ: 4 máy bay F-5 trở thành đống sắt vụn, 24 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ đền tội./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌC VẤN “KHỦNG” CỦA DÀN BTV THỜI SỰ 19H KHIẾN AI CŨNG PHẢI NGƯỠNG MỘ!

     Đã bao lần chúng ta ngồi trước màn hình lúc 19h, lắng nghe từng câu chữ xuất hiện đều đặn trên sóng VTV, nhưng ít ai biết rằng đằng sau sự điềm tĩnh, chỉn chu ấy là cả một nền tảng học vấn đồ sộ và hành trình rèn luyện nghiêm túc của những BTV Thời sự. Họ không chỉ là người truyền tải thông tin, mà còn là biểu tượng của tri thức, sự kỷ luật và tinh thần cống hiến cho nghề.

Nhìn vào hồ sơ của họ, nhiều người phải thốt lên: “Đây đúng là những gương mặt hội tụ cả sắc vóc lẫn trí tuệ!”. Từ giải học sinh giỏi quốc gia, thủ khoa đại học, hai bằng cử nhân, thạc sĩ, đến vai trò giảng viên… mỗi người đều có một hành trình riêng nhưng điểm chung là sự nỗ lực phi thường.

BTV Tuấn Dương – một trong những gương mặt trụ cột của Thời sự 19h, sở hữu hai bằng đại học (Văn hóa Hà Nội và Luật Hà Nội). Phong thái đĩnh đạc, giọng đọc ấm và sự thông minh đã giúp anh ghi dấu mạnh mẽ, thậm chí chiến thắng hạng mục “Người dẫn chương trình ấn tượng” tại VTV Awards. Ít ai biết anh còn chơi piano và hát rất hay – một sự đa tài đầy bất ngờ.

BTV Thu Hà, cựu học sinh trường Hà Nội – Amsterdam, từng đoạt Miss Duyên dáng, đỗ cùng lúc hai trường đại học và còn là thủ khoa Diễn viên Sân khấu Điện ảnh. Nhưng cô chọn Ngoại thương và tốt nghiệp loại giỏi. Mới 23 tuổi đã dẫn Thời sự 19h – điều mà đến hôm nay nhiều người vẫn không khỏi ngưỡng mộ. Lối dẫn duyên dáng, tinh tế nhưng sắc sảo đã giúp Thu Hà giữ trọn tình cảm khán giả suốt nhiều năm.

BTV Minh Trang, điềm tĩnh, hiện đại và giàu năng lượng, xuất thân từ ngành Biên kịch rồi rẽ sang báo chí bằng đam mê. Với 18 năm gắn bó VTV, hơn 10 năm dẫn Thời sự, cô còn hoàn thành thạc sĩ và giảng dạy tại trường đại học. Minh Trang từng là tác giả của một vở kịch gây tiếng vang – cho thấy sự sáng tạo và chiều sâu tri thức hiếm có.

BTV Linh Thủy, gương mặt trẻ nhất nhưng học vấn lại khiến nhiều người “ngả mũ”. Từ giải Nhì Văn quốc gia, tốt nghiệp Ngoại thương chương trình Chất lượng cao đến việc trở thành thủ khoa thạc sĩ EMBA, cô ghi dấu bằng sự hồ hởi, bản lĩnh và lựa chọn đầy quyết đoán khi bước vào Ban Thời sự năm 2014. Từ đó, cô gắn bó đến hôm nay và ngày càng trưởng thành trong nghề.

BTV Khánh Trang – gương mặt thanh lịch, nhẹ nhàng nhưng kiên trì đáng nể. Vượt qua gần 1.000 thí sinh để vào Đài Hà Nội, rồi trải qua 8 năm làm phóng viên – biên tập viên – tổ chức sản xuất, cô chuyển sang VTV, dẫn Chào buổi sáng và đến năm 2017 chính thức xuất hiện trên Thời sự 19h. Không dùng tên thật nhưng lại trở thành một trong những BTV được yêu mến bởi tác phong chuyên nghiệp và giọng đọc cuốn hút.

BTV Quốc Anh, người được mệnh danh là “quý ông ngoại ngữ” của VTV, với hai bằng cử nhân Ngôn ngữ Anh và Ngôn ngữ Trung. Sự mạch lạc, rõ ràng và khả năng chuyển đổi ngôn ngữ nhanh – chính xác giúp anh đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng từ dẫn bản tin đến phiên dịch các sự kiện quốc tế. Ngoài truyền hình, anh còn giảng dạy và đào tạo kỹ năng mềm – một hình ảnh đầy tri thức và nhiệt huyết.

BTV HỮU BẰNG, sinh năm 1979. Trước khi vào VTV, anh từng làm trong PR và giáo dục, nhờ đó có nền tảng giao tiếp – xử lý thông tin rất chắc. Anh gia nhập VTV vào cuối 2006, từng công tác tại VTV6, rồi trở thành một trong những gương mặt Thời sự 19h được yêu mến nhờ phong thái chững chạc, giọng trầm ấm và cách dẫn mạch lạc, điềm tĩnh. Hữu Bằng được đánh giá là người có nền tảng chuyên môn tốt. Anh từng lọt Top 5 Dẫn chương trình ấn tượng – VTV Awards 2018. Ngoài đời, Hữu Bằng khá giản dị, thậm chí từng gây chú ý khi để lộ cảnh dẫn chương trình… đi chân trần trong trường quay – một khoảnh khắc đời thường khiến khán giả càng thêm yêu mến.

Càng đọc, càng thấy dàn BTV Thời sự 19h không chỉ có một ngoại hình chỉn chu trên sóng. Họ là những người dành nhiều năm để học, để rèn luyện, để trau dồi và để xứng đáng với từng giây mình xuất hiện trước hàng triệu khán giả.

Và có lẽ, chính vì vậy mà mỗi bản tin Thời sự 19h không chỉ là câu chuyện thông tin – mà còn là sự tin tưởng, sự ngưỡng mộ dành cho những con người tận tụy và trí tuệ sau màn hình.

Còn bạn, trong số những gương mặt tài năng này, bạn ấn tượng và yêu thích nhất BTV nào?






Môi trường ST.

CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ: SỰ SO SÁNH, ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

     “Hồi chiến tranh Việt Nam cũng nhờ viện trợ TQ, Liên Xô, Cuba. Nguyễn Ánh cũng nhờ viện trợ phương Tây. 
Sao cái này thì gọi là ‘giao lưu’, cái kia thì bảo là ‘cõng rắn cắn gà nhà’? Tiêu chuẩn kép à?”

Nghe qua thì có vẻ “logic”, nhưng thật ra là một cú đánh tráo khái niệm rất tinh vi.
Muốn hiểu cho đúng, phải hỏi lại một câu duy nhất:

Anh nhờ viện trợ để làm gì? Để giữ nước hay để giành ghế?


1. Viện trợ cho một quốc gia độc lập, khác hẳn việc rước quân xâm lược vào nhà

Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Việt Nam đã là một chủ thể độc lập, có chính quyền, lãnh thổ, mục tiêu rõ ràng: Độc Lập – Thống Nhất – Chủ Quyền Dân Tộc.

Viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc, Cuba… là:

- Giúp một dân tộc đang chống xâm lược.
- Không ký hiệp ước nhượng đất, không cho lập thuộc địa, không đặt ách thống trị lên đầu dân Việt.
- Chiến tranh kết thúc, họ rút về nước họ, Việt Nam vẫn là Việt Nam, không biến thành “tỉnh lỵ” của ai.

Còn Nguyễn Ánh thì sao?

- Thông qua Bá Đa Lộc, mở cửa cho thế lực Pháp can dự sâu vào nội bộ Đại Việt.
- Đánh đổi lợi ích dân tộc để đổi lấy quyền lực cho riêng mình.
- Tạo điều kiện cho thực dân sau này bám rễ, nắm kinh tế – quân sự – chính trị, mở đường cho việc xâm lược và đô hộ.

Một bên là nhận viện trợ để bảo vệ một quốc gia độc lập khỏi kẻ xâm lược.

Một bên là rước ngoại bang vào đánh đồng bào mình để giành lại ngai vàng.

Hai chuyện đó mà bảo “giống nhau” thì hoặc là không hiểu lịch sử, hoặc là đang làm trò ngụy biện chính trị.


2. Mục tiêu: Giải phóng dân tộc hay cướp lại chính quyền?

Lực lượng cách mạng hiện đại:

- Mục tiêu gốc: Độc Lập – Thống Nhất – Tự Chủ Dân Tộc.
- Viện trợ chỉ là phương tiện, không phải chủ đích.
- Dù có hay không, nhân dân Việt Nam vẫn tự đứng lên trên đất của mình để chiến đấu.

Còn Nguyễn Ánh:

- Mục tiêu không phải “giải phóng dân tộc khỏi ngoại xâm”.
- Mục tiêu là: giành lại quyền lực, bằng mọi giá.
- “Bằng mọi giá” ở đây bao gồm cả việc kéo ngoại bang vào cuộc chiến trong nước, chấp nhận để họ có chỗ đứng, có lợi ích, có cái cớ can thiệp ngày càng sâu.

Vậy nên câu hỏi cốt lõi phải là:

Anh xin giúp đỡ để giữ nước, hay xin giúp đỡ để giành lại cái ghế cho riêng anh?

Nếu vì Nước, đó là chuyện khác.
Nếu vì Ngai Vàng, đó là chuyện khác.


3. Giao lưu, liên minh, hay lệ thuộc – đừng trộn làm một

Có ba cấp độ rất cần phân biệt:

   1. Giao lưu – hợp tác
 • Buôn bán, trao đổi, giao lưu văn hóa, quân sự, nhưng không đánh mất chủ quyền.
 2. Liên minh – viện trợ
 • Cùng chung lợi ích ở một giai đoạn, hỗ trợ nhau trước kẻ thù chung.
 • Mỗi nước vẫn là một quốc gia độc lập.
 3. Lệ thuộc – bán nước
 • Đổi đất, đổi quyền kiểm soát, chấp nhận ngoại bang chi phối nội trị, quân sự, kinh tế.
 • Mở đường cho kẻ khác đặt ách thống trị lên dân tộc mình.

Việt Nam nhận viện trợ thời kháng chiến là ở mức liên minh – hỗ trợ, không phải ký giao kèo dâng nước, không biến mình thành thuộc địa của Liên Xô, Trung Quốc hay Cuba.

Còn con đường mà Nguyễn Ánh mở ra là từ cầu viện trượt dần sang lệ thuộc, và lịch sử cho thấy sau đó thực dân Pháp đã bám vào đúng những “cửa” ấy để tiến vào.


4. “Cõng rắn cắn gà nhà” là ở chỗ quay súng vào đồng bào mình

Đừng quên:

- Nghĩa quân Tây Sơn là người Việt Nam.
- Nguyễn Ánh cũng là người Việt Nam.

Khi Nguyễn Ánh nhờ ngoại bang can thiệp, quân ngoại bang không hề sang để “giải phóng dân tộc Việt Nam” khỏi kẻ xâm lược bên ngoài.

Họ sang để giúp một phe trong nội chiến đánh lại một phe khác, rồi đổi lại lợi ích, đặc quyền, ảnh hưởng.

Nói thẳng cho dễ hiểu:

Anh rước quân ngoài vào đánh dân và quân trong nước, để lấy lại quyền lực cho mình.

Đó mới chính là nghĩa đen của câu “cõng rắn cắn gà nhà”.

Còn viện trợ cho Việt Nam thời kháng chiến là:

- Ngoại bang không sang đánh dân Việt để lập thuộc địa.

- Họ hỗ trợ nhân dân Việt Nam đánh lại quân xâm lược ngoại quốc.

Bản chất khác nhau hoàn toàn.


5. Không có “tiêu chuẩn kép”, chỉ có một tiêu chuẩn rất rõ: Độc Lập và Chính Nghĩa

Tiêu chuẩn để phân biệt rất đơn giản:

- Có bảo vệ Độc Lập Dân Tộc hay không?
- Có giữ được Chủ Quyền hay không?
- Có quay súng vào đồng bào mình để đổi lấy ngai vàng hay không?

Nếu nhờ viện trợ mà:

- Đất nước vẫn là của dân tộc mình.
- Chủ quyền vẫn nằm trong tay người Việt.
- Không biến thành thuộc địa của bất kỳ ai.

Thì đó là liên minh, hợp tác, viện trợ.

Nhưng nếu nhờ viện trợ mà:

- Mở đường cho ngoại bang can thiệp sâu,
- Đem quân ngoài về đánh quân trong nước,
- Và sau đó đất nước rơi vào ách thống trị của chính thế lực đó,

Thì gọi đúng tên nó là: bán nước - cõng rắn cắn gà nhà, chứ không phải “giao lưu quốc tế”./.
Khuyết danh ST.

HỌ ĐẾM MẠNG ĐỒNG BÀO!

     Trong khi lực lượng cứu hộ đang vật vã kéo từng người khỏi dòng nước xiết, chuyển từng thùng mì, từng chai nước đến vùng cô lập… thì trên mạng, có những người ngồi khô ráo và đòi:
“Sao chưa công bố số người thiệt mạng?”
“Sao không minh bạch thương vong?”...

Cứ như công bố sớm 6 tiếng thì nước rút nhanh hơn. Hay công bố chậm 1 ngày thì người thiệt mạng sẽ sống lại.

Ưu tiên giữa bão rất rõ ràng:
– Cứu người đang còn sống
– Giữ người đang mắc kẹt
– Tiếp tế lương thực thuốc men
– Đảm bảo nơi trú an toàn
Nhưng họ nào quan tâm!

Nước vừa rút, người dân còn đang nhặt lại từng mảnh đồ đạc sót lại… thì bỗng xuất hiện con số lạnh người: 2.257 người qua đời/mất tích. Chỉ gắn cái mác “tin nội bộ” từ cuộc họp Quân uỷ Trung ương hôm qua và thế là đủ để gây hỗn loạn.

Đáng nói hơn: cái nguồn “nội bộ” ấy lại đang vướng kiện vì tung tin giả từ Đức. Nhưng lại tự khoác vai “người nhìn thấu tất cả”, như thể xã hội này đang mê ngủ còn họ là kẻ duy nhất tỉnh táo.
Tuy nhiên, điều nực cười nhất là: cả cái “họp Quân uỷ Trung ương hôm qua” mà họ viện dẫn… không hề tồn tại.

Ngày 25/11, Quân uỷ Trung ương không họp. Lần gần nhất họp là ngày 19/6. Còn 24/11 chỉ là phiên của Thường vụ Quân uỷ, thuộc Bộ Quốc phòng.

Một cuộc họp Quân uỷ thì Tổng bí thư phải chủ trì. Trong khi đó toàn bộ nhân sự chủ chốt đều có lịch công tác kín suốt cả ngày: Tổng bí thư Tô Lâm làm việc ở Quốc hội; Bộ trưởng Phan Văn Giang làm việc với đoàn ĐBQH Thái Nguyên; Chủ tịch nước Lương Cường tiếp Thống đốc Nga rồi họp về bão lũ; Thủ tướng Phạm Minh Chính sáng ở Quảng Ninh, chiều ở TP.HCM.

2.257 người qua đời/mất tích là tin giả độc ác nhưng không bất ngờ. 
Bởi việc đầu tiên họ làm, mỗi khi thiên tai ập đến, là lục tìm một ai đó để đổ lỗi. Lỗi của chính quyền, lỗi của khí tượng, lỗi của bất kỳ ai miễn sao họ được đứng trên cao mà chỉ tay xuống.
Và họ chọn đúng thời điểm: bão tiếp theo sắp vào, tinh thần người dân thấp nhất, tin đồn lan nhanh nhất, mạng xã hội khát bi kịch nhất.

Tung đúng lúc = bùng nổ.
Con số càng lớn = càng lan xa.
Mác “nội bộ” = càng dễ tin.

Đó là thao túng được tính toán. Bão lũ, dưới tay họ, không phải thiên tai. Nó là sân khấu.

Và khi một ai đó xem sinh mạng đồng bào như đạo cụ để dựng kịch bản, thì từ khoảnh khắc đó, họ đã đứng ngoài nhân tính.

Thiên tai không phân biệt ai. Nỗi đau không chừa ai. Không cần tranh luận thiện ác. Sự vô cảm của họ đã trả lời thay. Việc của chúng ta chỉ có một: giữ trái tim biết thương người và cái đầu đủ tỉnh táo để không bị thao túng./.

Khuyết danh ST.

VẠCH TRẦN BỘ MẶT KẺ PHẢN ĐỘNG Y CHUÂN MLÔ!

     Sau khi mãn hạn tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, Y Chuân Mlô không chịu tu chí làm ăn mà tiếp tục tìm cách phá hoại buôn làng. Năm 2019, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan để theo những đối tượng phản động chống phá lại đất nước.

Theo tài liệu của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Y Chuân Mlô (SN 1985, trú tại buôn Kõ Đung, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk) với bản tính lười lao động, thích ăn chơi lêu lổng nên từ nhỏ, y đã thường xuyên tụ tập nhóm đối tượng xấu, tổ chức ăn nhậu, quậy phá buôn làng. Do đó, vào năm 2008, Y Chuân Mlô bị bắt, xử phạt hơn 4 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Với bản án phạt tù, tưởng rằng Y Chuân Mlô sẽ lấy đó là bài học thì y lại “chứng nào tật nấy”. Sau khi mãn hạn tù, Y Chuân Mlô tiếp tục tìm cách quậy phá, gây mất an ninh trật tự trong buôn. Sau khi lấy vợ, sinh con, Y Chuân Mlô không những không chịu tu chí làm ăn mà thường xuyên tìm cách phá hoại, gây mất đoàn kết người dân trong buôn. Đến năm 2019, tin theo lời dụ dỗ, lừa phỉnh của nhóm phản động nước ngoài, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan.

Tại Thái Lan, Y Chuân Mlô cùng với các đối tượng phản động như: Y Quynh Bdap, Y Arôn Êban, Y Pher Hdruễ, Y Bihông Hdruễ, Y Phướk Niê… tham gia vào tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” để chống phá Việt Nam. Tháng 6/2023, đối tượng cầm đầu tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” là Y Quynh Bdap bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ vì “Cư trú quá hạn” và liên quan đến vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk; đối tượng Nguyễn Đình Thắng, kẻ cầm đầu tổ chức phản động “Ủy ban cứu người vượt biển – BPSOS” đã giao nhiệm vụ lại cho Y Chuân Mlô quản lý tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ”.

Dưới sự chỉ đạo, giật dây của đối tượng Nguyễn Đình Thắng, Y Chuân Mlô đã có nhiều hoạt động chống phá nhằm phô trương thanh thế như: Tuyên truyền, lừa phỉnh trên không gian mạng (chủ yếu sử dụng công nghệ AI cắt ghép hình ảnh, bài viết ) nhằm lôi kéo, phát triển lực lượng trong nội địa, kích động vượt biên, dụ dỗ người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tham gia các tổ chức phản động dưới “vỏ bọc” tôn giáo như: “Hội thánh Tin Lành đấng Christ Tây Nguyên – CHPC”, “Tin Lành tư gia độc lập”… để gây mất an ninh trật tự tại các buôn làng, hòng đòi thành lập nhà nước ảo vọng “Đề ga”.

Qua đây cho thấy, Y Chuân Mlô và tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý- MSFJ” luôn có âm mưu lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của bà con nhân dân để kích động chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc anh em. Vì thế, khuyến cáo người dân hãy chăm lo lao động sản xuất, nêu cao tinh thần cảnh giác trước “bóng ma” của tổ chức này cũng như những lời dụ dỗ, lôi kéo của đối tượng Y Chuân Mlô, tránh vi phạm pháp luật không đáng có./.
Khuyết danh ST.

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: STALIN HÓM RA PHẾT!

    Một trong những điều mình đánh giá cao ở bất kỳ ai, đó là óc hài hước. Cũng là bởi tính mình nó nhí nhố sẵn từ bé.

Stalin ngoài là một lãnh tụ nghiêm khắc, nhiều khi khắc nghiệt, lại là một con người khá hóm hỉnh. Nhiều bút phê của ông đã khiến nhiều người phải...bật ngửa vì bất ngờ.

Bức ảnh đăng kèm cho thấy phòng làm việc của Stalin tại nhà nghỉ ở Sochi. Ông có chiếc bàn nhỏ, thường làm việc muộn và ngủ luôn tại chiếc giường khá đơn sơ bên cạnh. Ít ai tưởng tượng được vị lãnh đạo một cường quốc lại có thể giản dị như vậy.

******

Lần nọ, Stalin được Anh hùng LX, nhà thám hiểm Bắc Cực Ivan Papanin mời đến chơi, thăm nhà nghỉ cuối tuần mà ông này mới xây. Trước đó Ivan đã mời nhiều lãnh đạo khách quý đến, ai nấy đều trầm trồ khen ngợi, viết những lời có cánh vào sổ lưu niệm của chủ nhà.

Sau khi được Ivan Papanin giới thiệu nào là chỗ này lát đá cẩm thạch Italia, chỗ kia lát đá cẩm thạch Hy Lạp.. Stalin được chủ nhà đưa cho cuốn sổ để ghi lưu niệm. 

Stalin lật mấy trang chăm chú đọc. Rồi ông cầm bút viết: “ Gửi đồng chí Vlasik (giám đốc cơ quan cảnh vệ Chính phủ). Đây là một nhà trẻ khá tốt. I. Stalin”

***

Một lần Stalin được báo cáo là nguyên soái Rokossovsky mới có bồ là nữ diễn viên nổi tiếng xinh đẹp Valentina Serova. Phải làm gì bây giờ?

Stalin nghe xong liền rút tẩu ra khỏi miệng, nghĩ chút rồi nói:

-Chúng ta sẽ làm gì...làm gì...nhỉ? À, chúng ta sẽ ghen tỵ...🙂

***

Lần nọ, Stalin được mời xem phim”Đoàn tàu về hướng Đông”. Phim khá nhàm chán, tàu đi, rồi dừng, rồi đi, lại dừng...

Sốt ruột quá, Stalin hỏi:

- Cái ga này tên là gì thế?

- Thưa, ga Demyanovka ạ.

- Đúng đây là ga tôi phải xuống.

Nói rồi ông bước ra khỏi phòng chiếu phim.

***

Một vị thượng tướng đến báo cáo công việc với Stalin. Tổng tư lệnh tối cao có vẻ hài lòng, gật đầu mấy lần.

Thấy vị tướng báo cáo xong vẫn có vẻ chần chừ, Stalin hỏi: “Anh định nói thêm gì nữa không?”.

“Thưa, tôi có chút việc riêng. Ở bên Đức tôi có nhặt nhạnh được một số chiến lợi phẩm, nhưng bên kiểm soát họ giữ lại. Tôi có thể lấy lại những thứ đó được không?”

“Được chứ. Anh cứ viết đơn, tôi sẽ có ý kiến”.

Viên thượng tướng móc túi lấy ra cái đơn đã soạn sẵn, Stalin cầm bút viết luôn mấy chữ.

Viên tướng liền cảm ơn rối rít. Stalin đáp:” Có gì đâu mà phải cảm ơn”.

Khi đọc thấy dòng chữ “Trả lại cho đại tá đồ đạc. I.Stalin”, vị tướng nói: ”Thưa, tôi không phải là đại tá, mà là thượng tướng”.

“Không, tôi viết đúng đấy, đồng chí đại tá ạ”.

(Stalin đã bỏ từ генерал (tướng) trong từ генерал полковник (thượng tướng) thành mỗi полковник ( đại tá) )

Qua các câu chuyện có thật mà mình chọn dịch ở trên, có thể thấy rằng Tổng tư lệnh tối cao Stalin rất ghét thói phô trương hình thức, xa hoa, tư lợi cá nhân...Cũng cần nói thêm, khi mất, vị lãnh đạo LX này chỉ để lại mấy bộ quần áo và một sổ tiết kiệm 900 rúp./.

Môi trường ST.

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: MỘT SUY NGHĨ “NÔNG CẠN”, THƯA ÔNG ĐẠI BIỂU?

     Nhìn nhận thực tế, cho dù thế nào thì trên mỗi năm, học sinh của chúng ta cũng chỉ học duy nhất một bộ sách Giáo Khoa trên lớp học mà thôi!

Sáng tạo không phải là cần ở nhiều bộ sách Giáo Khoa với những thứ kiến thức trà trộn, sạn lỗi và đi trên những trục kiến thức khác nhau... giữa các bộ sách Giáo Khoa khác biệt như bao lâu nay. 

Sự sáng tạo của học trò không phải nhìn nhận trên mặt bằng chung, truyền thụ kiến thức trên nhiều SGK như vậy ? 

Mỗi năm học, các em dù thế nào cũng chỉ mới tiếp thu được kiến thức tầm phổ thông ở duy nhất một bộ sách. 

Không có khái niệm sáng tạo nhìn chung một cách thiếu phân định, và đánh giá kiểu tù mù như vậy.

Sự thiếu thống nhất, đồng bộ về nội dung trong giảng dạy (do nhiều bộ SGK) mới là nguy hiểm. 

Nhiều vùng miền học sinh học các bộ sách khác nhau, sẽ hình thành một hệ quả tiến triển theo những chiều hướng mâu thuẫn về mặt nhận thức, các trục tư tưởng nền tảng về tri thức, nhất là về kiến thức khoa học xã hội. Ta có thể nói đại khái là trên các phạm trù nội dung, hình thái diễn dịch, tư duy cảm xúc, ý nghĩa lớn lao...vì bài học trên sách là hoàn toàn khác nhau.

Điều quan trọng lớn hơn là sự hấp thu kiến thức trên các nhìn nhận về tính cốt lõi giá trị của các loại hình văn học, tính cách văn học tiêu biểu, óc tiếp cận, cảm thụ về nghệ thuật văn chương..., hoặc tiếp thu kiến thức về góc nhìn và lĩnh hội của các em về văn hóa - lịch sử, do nội dung lịch sử được học khác nhau về bài học tiêu biểu..., hoặc nội dung thiết kế riêng của mỗi bộ sách, có tính chủ định về mặt lôgic phát triển tư duy - tính liên thông dựa trên tư duy lứa tuổi và sự lĩnh hội có dụng ý khác nhau (cả KHTN và KHXH)

Do đó, với kiến trúc sư phạm "nhiều bộ SGK" thì ta kết luận rằng, tất yếu sẽ là dẫn đến sự chia rẽ tư tưởng các em từ lúc còn đi học phổ thông, nguyên nhân với những nội dung bài học khác nhau.

 Đôi khi những hạt mầm sơ khởi này có sự khác biệt sâu sắc, sau này các em có "kiến thức đủ lớn" vẫn sẽ mang theo, sẽ tạo nên những mô típ - mảng xã hội con người xung đột và bất đồng quan điểm. "Kiến thức đủ lớn" đôi khi cũng không thể hóa giải sự khác biệt do các trục tư duy được thụ hưởng, thấm nhuần tạo ra tính ưu thế từ thuở học trò này.

Chính vì vậy, tập trung học duy nhất một bộ sách Giáo Khoa là tốt nhất. Các em cần phải có chung những kiến thức nền tảng thật tốt, những thiết kế nội dung khai mở trí tuệ như nhau. 

Nói nôm na rằng học giáo khoa là học câu chữ thánh hiền học những bài học tiêu biểu của những nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ lớn.v.v, tri thức căn bản dựa trên chính những khuôn vàng thước ngọc của chính nền học vấn nước nhà và kho tàng tri thức của nhân loại nói chung.

Khi ấy Khoa học sư phạm sẽ xây dựng một lộ trình phát triển để tạo ra những tri thức lớn, tài giỏi có ích cho sự nghiệp phát triển thịnh vượng và kiến thiết hùng mạnh nước nhà.

Nền tảng kiến thức trên mỗi con người phải kiện toàn vững chắc, thì lúc này mới mở ra tầm tri thức đủ uyên rộng và mới có thể tự tin đi vào những phương hướng giáo dục và đào tạo khác... Từ đó không gian cho Tự do sáng tạo sẽ mở ra vô bờ bến, mang lại những giá trị và bổ ích cho đời sống văn hóa, tri thức cũng như phát minh nhiều khoa học ứng dụng, để phát triển không ngừng, góp phần cho nhân loại từng ngày./.
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐẢNG, TÔN GIÁO VÀ “ĐỨC TIN CHÍNH TRỊ”!

     Nhân chuyện có vị đại biểu Quốc hội lên tiếng “phản pháo” Nghị quyết 71 của Đảng về một bộ sách giáo khoa, tôi lại suy ngẫm thêm về Đảng Cộng sản, về bản chất của một người cộng sản - và rộng hơn, về cái gọi là “đức tin chính trị”!

Có lần tôi ví von rằng Đảng Cộng sản cũng giống như một tôn giáo. Nói vậy có người phản đối liền: “tôn giáo là mê tín, còn Đảng là đường hướng chính trị, sao ví được?”. Tôi không phản đối họ, vì nếu đem định nghĩa ra đối chiếu thì họ đúng. Nhưng cái tôi nói là "ví von", không phải định nghĩa lại.

Và nếu chịu khó nhìn sâu thêm một chút, ta sẽ thấy có những điểm tương đồng rất thú vị.

Tôn giáo có kinh, có luật, thì Đảng có Cương lĩnh – Điều lệ. Tôn giáo có đấng tối thượng thì Đảng có Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôn giáo coi trọng giác ngộ thì Đảng đặt nặng lý tưởng, niềm tin, sự kiên định. Tôn giáo lo tín đồ hiểu sai giáo lý thì Đảng lo đảng viên suy thoái, lệch lạc, xa rời đường lối.

Đạo nào cũng nhắc “đức tin không có thực hành là đức tin chết”. Đảng cũng nói “Đảng viên mà không còn lý tưởng thì còn lại gì ngoài cái danh xưng?”

Cho nên, khi tôi nói Đảng có nét giống một tôn giáo, tôi muốn nói đến chuyện này: Cái giữ người ta lại không phải cái thẻ đảng, mà là cái gốc bên trong - niềm tin, sự giác ngộ và "sự sống của lý tưởng".

Một dân tộc mất văn hóa là dân tộc chết. Một tôn giáo mất giáo lý là tín đồ hoang mang. Một đảng viên xa rời đường lối Đảng thì, dù còn tên trong danh sách, bản chất đã không còn là đảng viên.

Tôi vẫn tin rằng, một xã hội vận hành theo nguyên tắc công bằng, nhân văn, lấy dân làm gốc - thì dù mang tên gì - nó vẫn mang tinh thần cộng sản dù có thừa nhận hay không. Cũng như một người sống tử tế - dù theo Phật, theo Chúa hay không theo ai - thì họ vẫn chung một thứ đạo: đạo làm người.

Cái quyết định ở đây không phải chiếc áo thầy tu, hay chiếc thẻ đảng. Mà chính là tư tưởng trong đầu, đạo đức trong lòng, và hành vi trong cuộc sống.

Và tôi nghĩ đến những đảng viên đang… “mất dần tiếng nói” trên mạng xã hội... Giờ xã hội mình có một hiện tượng rất lạ là người ngoài Đảng lại đi bảo vệ Đảng trên mạng xã hội; còn không ít đảng viên - tay cầm thẻ đỏ - thì lại im thin thít.

Facebook của họ toàn ăn uống, du lịch, cà phê… trong khi ngoài kia, xã hội đang tranh luận về xét lại lịch sử, chống xuyên tạc Đại hội 14, phản bác bẻ lái tư tưởng của Đảng.

• Nếu không viết được - thì chia sẻ.

• Nếu không phân tích được - thì like, share báo chí chính thống.

Còn đảng viên mà đứng nhìn mạng xã hội thành chiến trường, mà mình thì đứng ngoài như khách qua đường… thì xin lỗi, đó chính là kiểu đảng viên mà Trung ương gọi là “thờ ơ chính trị”.

Và đảng viên thờ ơ chính trị thì vô ích cho Đảng, vô dụng cho xã hội, và vô tình với nhân dân.

Đảng không cần “đảng viên danh nghĩa”, Đảng cần những người có đức tin chính trị thật sự.

Một người khoe thẻ đảng nhưng không hiểu đường lối Đảng, không bảo vệ quan điểm của Đảng, không sống theo đạo đức của Đảng - thì khác gì một người mặc áo thầy tu mà không biết kinh - không hiểu kinh, không giữ giới?

Cái áo không làm nên thầy tu. Cái thẻ không làm nên đảng viên. Cái làm nên con người là niềm tin, hiểu biết và hành động.

Cũng như thế, cái làm nên người cộng sản không phải là thẻ, mà là tư tưởng Mác - Lênin, đạo đức Hồ Chí Minh, và sự gắn bó với nhân dân.

Khi một đại biểu Quốc hội đứng lên phát biểu trái với Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, tôi không trách họ vì họ nói khác tôi, mà tôi chỉ buồn vì ở đâu đó, cái gốc - cái lý tưởng - cái giác ngộ chính trị của họ có vẻ không còn đứng ở đúng vị trí của người cộng sản nữa.

Một người cộng sản thật sự không đứng lệch hướng. Một người cộng sản thật sự càng không “đối lập” lại chính Đảng của mình. Và một đảng viên thật sự - khi xã hội cần tiếng nói - thì không thể im lặng./.
Yêu nước ST.

SỰ THẬT LỊCH SỬ: HUGH THOMPSON / VỤ THẢM SÁT MỸ LAI

     Ngày 16 tháng 3 năm 1968, Hugh Thompson nâng chiếc trực thăng quan sát nhỏ bé của mình bay qua một ngôi làng Việt Nam trong một chuyến trinh sát thường lệ.

Những gì anh nhìn thấy bên dưới khiến anh thót tim.

Xác chết khắp nơi. Nhưng không phải xác lính địch. Những người đàn ông già nằm la liệt trên ruộng lúa. Phụ nữ gục ngã bên cạnh nhà cửa. Những đứa trẻ sẽ không bao giờ lớn lên.

Và những người lính Mỹ đi lại giữa họ. Vẫn đang bắn.

Thompson mới hai mươi bốn tuổi. Một sĩ quan chuẩn úy với giọng nói miền Nam lè nhè và không có thẩm quyền đối với bộ binh. Anh lượn vòng xuống thấp hơn, cố gắng hiểu những điều vô lý.

Anh gọi điện thoại yêu cầu sơ tán y tế. Đánh dấu những thường dân bị thương bằng khói xanh để y tế có thể tìm thấy họ.

Rồi anh nhìn thấy lính Mỹ đi thẳng đến chỗ đánh dấu khói của anh và giết chết những người mà anh vừa cố gắng cứu.

Xạ thủ Lawrence Colburn của anh nhìn chằm chằm xuống hiện trường. Chỉ huy phi hành đoàn Glenn Andreotta nắm chặt vũ khí hơn. Tất cả họ đều nhận ra cùng một điều bất khả thi cùng một lúc.

Chính binh lính của họ đang sát hại cả gia đình.

Thompson nhìn thấy một nhóm thường dân co cụm trong boongke. Kinh hoàng. Bị mắc kẹt. Lính Mỹ đang tiến về phía họ với súng trường giương cao.

Anh chỉ có vài giây để quyết định.

Hạ cánh và không làm gì cả? Bay đi và giả vờ như không thấy gì? Tuân thủ quy định quân sự và để cuộc thảm sát tiếp diễn?

Hay đưa ra lựa chọn có thể khiến anh bị chính đồng đội bắn chết?

Thompson thả trực thăng xuống giữa những người lính Mỹ và boongke. Bụi bay mù mịt. Cánh quạt quạt cắt ngang không khí. Anh nhảy ra ngoài và tiến về phía Trung úy William Calley, người đang chỉ huy cuộc thảm sát.

"Tôi sẽ đưa những người này ra ngoài," Thompson nói.

Câu trả lời của Calley khiến anh lạnh người. "Chúng tôi sẽ xử lý họ."

Thompson hiểu rõ điều đó nghĩa là gì.

Anh quay lại phía phi hành đoàn và ra một mệnh lệnh làm thay đổi mọi thứ.

Nếu những người lính Mỹ đó cố gắng giết hại thường dân mà anh đang bảo vệ, phi hành đoàn của anh được phép bắn người Mỹ.

Đồng bào của anh. Đồng đội của anh.

Colburn và Andreotta chuyển vũ khí để yểm trợ cho bộ binh. Mọi người đều hiểu rõ khoảnh khắc đó. Thompson vừa chọn phe. Và không phải với quân phục.

Rồi anh ấy làm một điều còn dũng cảm hơn.

Anh ấy đi bộ đến boongke nơi những gia đình Việt Nam co rúm lại vì kinh hoàng. Những người này có đủ lý do để nghĩ rằng anh ấy cũng ở đó để giết họ. Trực thăng Mỹ đồng nghĩa với cái chết ngày hôm đó.

Nhưng Thompson đã quỳ xuống. Bò vào boongke. Dụ dỗ ông bà và trẻ em ra ngoài bằng những lời lẽ nhẹ nhàng mà họ không hiểu nhưng bằng cách nào đó vẫn tin tưởng.

Trực thăng quan sát của anh ấy rất nhỏ. Chỉ được chế tạo cho hai người. Anh ấy đã thực hiện hết chuyến này đến chuyến khác, đưa những thường dân hoảng loạn lên máy bay và đưa họ đến nơi an toàn trong khi lính Mỹ chỉ đứng nhìn mà không làm gì cả.

Bởi vì họ biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ cố gắng.

Sau đó, phi hành đoàn trưởng Andreotta đã tìm thấy điều gì đó khiến tất cả phải suy sụp. Một cậu bé nhỏ đang di chuyển trong một con mương đầy xác chết. Vẫn còn sống giữa một đống xác chết.

Andreotta trèo xuống cơn ác mộng đó và kéo đứa trẻ ra.

Họ cũng đã đưa cậu bé đến nơi an toàn.

Khi Thompson trở về căn cứ, anh ta hành quân thẳng đến gặp sĩ quan chỉ huy. Báo cáo mọi thứ. Nêu đích danh. Mong đợi hành động ngay lập tức.

Nhưng thay vào đó, Quân đội đã chôn vùi báo cáo của anh ta.

Bảo anh ta im lặng. Quên những gì anh ta thấy đi. Những người lính đã giết người ư? Họ được tặng thưởng huân chương cho "hành động chiến đấu" của mình ngày hôm đó.

Trong một năm, không có gì xảy ra. Vụ thảm sát Mỹ Lai vẫn được giữ kín.

Sau đó, nhà báo Seymour Hersh đã đưa tin vào tháng 11 năm 1969. Sự thật bùng nổ trên khắp các tiêu đề báo chí trên toàn thế giới. Các phiên điều trần của Quốc hội. Sự phẫn nộ của quốc tế. Vụ thảm sát Mỹ Lai trở thành biểu tượng cho mọi điều sai trái ở Việt Nam.

Và Hugh Thompson trở thành kiểu anh hùng phức tạp nhất.

Đối với một số người, anh ta đã cứu mạng người và vạch trần cái ác. Đối với những người khác, anh ta là một kẻ phản bội, đã phản bội đồng đội.

Những lời đe dọa giết người bắt đầu ngay lập tức.

Người ta để lại những con vật bị cắt xẻo trước cửa nhà anh ta. Phá hoại nhà anh ta. Tại các sự kiện quân sự, các cựu chiến binh đã bỏ đi khi anh ta cố gắng nói về Mỹ Lai.

Chính phủ của ông đã đối xử với ông với sự nghi ngờ trong nhiều chục năm.

Trung úy Calley bị đưa ra tòa án quân sự vì tội giết hại 22 thường dân. Con số thực tế bị giết hôm đó lên tới gần 500 người. Calley bị quản thúc tại gia ba năm rưỡi trước khi Tổng thống Nixon trả tự do.

Hầu hết những người lính khác không phải chịu bất kỳ hình phạt nào.

Thompson đã trải qua ba mươi năm sống trong những gì ông đã chứng kiến. Những khuôn mặt mà ông không thể cứu. Những âm thanh không ngừng vang vọng. Tội lỗi của những người sống sót và sự tức giận khi chứng kiến công lý bị thất bại.

Nhưng ông chưa bao giờ xin lỗi vì đã hạ cánh chiếc trực thăng đó.

Năm 1998, ba mươi năm sau, Quân đội cuối cùng đã trao tặng Thompson sự công nhận mà ông xứng đáng. Huân chương Chiến sĩ cho lòng anh hùng phi thường.

Tại buổi lễ, ông nói rằng ông nhận huân chương này thay cho tất cả những ai đã cố gắng làm điều đúng đắn ở Việt Nam. Tất cả những người đã đứng lên khi lẽ ra có thể dễ dàng ngoảnh mặt làm ngơ.

Ông qua đời năm 2006 ở tuổi sáu mươi hai. Khi đó, hầu hết mọi người đều gọi ông là anh hùng.

Nhưng những thập kỷ bị đe dọa giết người và cô lập đó không thể nào xóa bỏ được.

Lựa chọn của Thompson ngày hôm đó đặt ra những câu hỏi mà nước Mỹ vẫn đang vật lộn. Bạn sẽ làm gì khi phe mình trở thành kẻ thù? Khi ngăn chặn tội giết người đồng nghĩa với việc đe dọa những kẻ giết người? Khi làm điều đúng đắn đồng nghĩa với việc bạn trở thành kẻ phản bội?

Anh ấy hai mươi bốn tuổi, không có thẩm quyền và anh ấy đã đưa ra một quyết định cứu sống nhiều người nhưng lại đánh mất sự bình yên trong suốt quãng đời còn lại.

Anh ấy không muốn trở thành một biểu tượng. Anh ấy chỉ thấy điều gì đó sai trái và từ chối bay đi.

Đó không phải là chủ nghĩa anh hùng dễ chịu. Đó là kiểu anh hùng để lại sẹo. Khi bạn cứu được một số người nhưng không thể cứu tất cả. Khi nói sự thật không đảm bảo công lý.

Hugh Thompson hạ cánh trực thăng và nói không. Không phải trong ca trực của tôi. Không phải trong khi tôi có thể làm gì đó.

Và anh ấy đã sống với hậu quả của lòng dũng cảm đó mỗi ngày sau đó./.
Khuyết danh ST.

THEO DÒNG THỜI GIAN: VN OK NÓI GÌ MÀ CHỈ VẬN DỤNG TRÍ THÔNG MINH ĐỂ RÚT NGẮN ĐƯỜNG RA ĐẢO VÀ CẢNG HÀ TIÊN THÔI!

     Cái t.ội ngăn dòng chảy sông MeCong để nước sông ko thể vào được đồng bằng Nam bộ gây ngập mặn…

Kênh phù mỏ (phù Nam bị vô hiệu) chịu khó đi vòng nha anh bạn CAM ăn cháo đá bát. ☆ 

Mấy ngày gần đây mạng xã hội Campuchia bùng nổ, lo lắng, run rẩy, kêu la Trung Quốc cứu, Việt Nam đang chặn đường ra biển của Campuchia rồi, Lục thum ơi! 
Đó là khi họ thấy siêu dự án Việt Nam lấn biển Hà Tiên, làm đường bộ 4 làn xe vượt biển, từ tp Hà Tiên ra Cụm cảng tổng hợp Tiên Hải (4,7 km) và sẽ phát triển ra quần đảo Hải Tặc thêm 7 km , rồi sẽ làm tiếp 27 km cầu vượt ra đảo Ngọc Phú Quốc, đảo lớn 700km2 Chỉ cách đất CPC 14 km, án ngữ trước cảng Rem, thì biển CPC chỉ còn là cái ao tù, mà cây cầu của Việt Nam lại là cánh cửa thép. Khi đó Hòn Khoai là tiền đồn giám sát khu vực 24/7, CPC muốn qua thì phải "đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên " với VN...
Cũng Đồng thời ở phía đông, cầu vượt biển 18km nối đất mũi Cà Mau ra đảo Hòn Khoai, xây dựng thành siêu cảng lưỡng dụng. Công trình do Bộ Quốc phòng VN đảm nhiệm đã hoàn thành hàng trăm cọc móng trụ cầu và đã lắp dầm cầu cả ngàn mét. Mỗi cọc móng là một cột chủ quyền vững chắc của Tổ quốc. 
CĐM CPC tròn mắt: ôi giàng ơi, mới 2/9 khởi công l, sao nhanh dữ zậy(?)
Hôm rồi 20.11, ông Tô xếp công việc bộn bề bay qua miền trung lũ lụt đang gào thét l... ra thăm Công trình, đã cho thấy tầm cỡ chiến lược an ninh Quốc phòng, đang gây chú ý với cả khu vực. Đây là sự kết hợp phát triển kinh tế với QP, là cụm siêu cảng trung tâm Asian, giáp đường vận tải Quốc tế rất hợp lý và vô cùng giá trị về hậu cần biển (maritime logistics), nó là cảng chiến lược quan trọng của Việt Nam. Là chốt chặn, đặt đài radar nhìn vòng cảnh giới quốc gia, là cánh cửa thép giám sát toàn bộ vịnh Thái Lan, đông nam biển Đông, vốn đang bình yên bao nhiêu năm nay bỗng dưng CPC rước ông bạn Trung Quốc vào sau lưng VN, đưa dao vào bụng Asian thì ai mà chịu nổi...
Thế giới cho rằng VN triển khai những dự án chiến lược này là vô cùng cao tay. Làm rất to nhưng nói rất nhỏ. Chả như cha con Hun khởi công cái kênh PhùNam Techo, coi đó là công trình thế kỷ, là "thở bằng lỗ mũi của mình", thoát khỏi cái bóng VN, không lệ thuộc kênh rạch, không qua Việt Nam nữa!", (cho miền tây VN khô hạn chơi). Thế mà Khởi công xong đắp chiếu (?). 
Chúng ta đã hỏi về tác hại của kênh PhùNam với đồng bằng sông Cửu Long, yêu cầu CPC cung cấp tài liệu báo cáo với ủy hội sông Mekong... thì họ nói đó là vấn đề của CPC, chả phải báo cáo ai!
Dự án của Cam mà không có kỹ thuật Cam, tiền không có, khởi công ầm ỹ...rồi im hơi lặng tiếng 1 năm nay (05.8.2024) không đào thêm được mét kênh nào?!
Tốt thôi, VN không hỏi thêm nữa, không phản đối ngoại giao, không nói thêm... mà về triển khai 2 siêu dự án vươn ra biển lớn. OK, biển trời đó là của VN, cũng như cha con chú, việc nhà anh anh làm, có gì không nhỉ?!.
  Oao ! Xem ra dự án hoàn thành, biển CPC chỉ còn là cái ao tù bé xíu, lọt thỏm trong hóc bò tó. CPC có trộm dẫn Anh Ba Tàu mò vô cũng phải qua cánh cửa Hòn Khoai, bốt canh Phú Quốc, Hải Tặc, Nam Du, là đi trước họng pháo đối hải và tầm tên lửa bờ diệt hạm VN mới sản xuất?! 
Ấy là chưa nói biết đâu có con KiLo đen sì đang ở đâu quanh chỗ đó à nha. 
Dân mạng Campuchia la thất thanh, gọi cha nuôi:
- Trung Quốc đâu, Việt Nam bít biển rồi còn đâu, sao không cho làm nhanh cái kênh PhùNam là sao...sao để CPC bơ vơ thế này!
Dân mạng TQ cũng chả vừa:
 - Ô, việc của nhà các ông với hàng xóm thì tự mà lo chứ, cái gì cũng gọi các anh là làm sao, các anh còn phải phát triển, còn đang lo vụ con mẹ Nhật, đang tính thu phục ĐàiLoan? 
Việt Nam họ làm trên đất của họ, mắc mớ gì mà om sòm, ngu thì chết. Hở ra là gọi là kêu, phải tự đứng trên đôi chân của mình chớ, dựa mãi vào ai đó thì đến khi nào mới lớn lên được l.
- Ngợp hơi à, tại bọn tui mải múa lăm thon, uống thốt nốt chu và mừng ảo cái kênh PhùNam Techo... Ủa, dưng mà sao họ làm nhanh thế chứ , chả thấy hô hoán ầm ỹ gì. Họ giỏi thật, chả nhờ kỹ thuật của ai, chả mượn vốn của ai, chả mất quyền khai thác 50 năm như kênh PhùNam?
Thái Lan thì đứng ngó ngang cười:
- Tưởng kênh Phù nam xong sớm thoát cái bóng Việt Nam, ai ngờ lại tới kỳ chui qua háng cầu Việt Nam rồi.  
Mà tới đây, Thái Lan đục thông kênh Kra kết nối Biển Andaman với Vịnh Thái Lan, rút ngắn đường vận tải biển và tránh phải đi vòng qua mũi Malay, đến thẳng siêu cảng Hòn Khoai VN, lúc đó CPC muốn "ra biển nhớn" không qua háng cầu VN thì lại phải xin qua biển Thái Lan, vòng lên Trường Sa... úi , xa lắm đó nha, tốn phí đóng cho TQ qua kênh Phù Nam, tốn thêm tiền dầu, mất thêm thời gian đi vòng Hòn Khoai lên phía bắc...
Giá mà khôn ra đừng nghe dại Tàu đào Phù Nam thì tốt biết mấy. Cứ qua cửa Tiền của VN lên với ông anh Ba Tàu cho lành, gần cả ngàn hải lý chứ bộ! 
Đúng là dân Thái, không bao giờ giữ mồm giữ miệng. Họ khoái VN xây cầu, làm cảng lưỡng dụng, góp phần cùng nhau canh ông bạn đểu mò vào. Ấm lưng, no bụng là tốt rồi. 
Cả đất Kam đang nhốn nháo y như kiến bò miệng chảo, la hét nhau trách nhau, kêu cứu cứ như bị ai bóp cổ . 
Là người có học, chỉ hé ra là phải hiểu tại sao VN cho cảng, mở biển cho Lào, lại rào cửa, đóng biển với Kam, chứ nhỉ(?)
Việt Nam vẫn chả nói gì, vẫn vừa làm vừa huýt sáo, hát vang...
"Ta lại đào... công sự, cho trận chiến đấu ngày mai, nào bên gái với bên trai...ta làm nhanh, ấy ta làm nhanh !..."




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÔNG TRÌNH CẦU, ĐƯỜNG RA ĐẢO HÒN KHOAI!

     Công trình đường vượt biển dài 4,7 km từ trung tâm Hà Tiên ra xã đảo Tiên Hải, hướng tới cảng tổng hợp có khả năng tiếp nhận tàu 5.000 DWT, đang định hình một cấu trúc hạ tầng chiến lược mới cho khu vực biên giới Tây Nam Việt Nam. Những dãy đá hộc đổ dài giữa biển, tuyến đường đắp nổi vượt mặt nước như các hình ảnh được ghi lại tại thực địa cho thấy dự án này không đơn thuần là một công trình giao thông - mà là một bước đi thể hiện tầm nhìn dài hạn của Việt Nam trong thế trận kinh tế - hàng hải - quốc phòng ở Vịnh Thái Lan.

Các bức ảnh vệ tinh Google Maps cho thấy tuyến đường biển nằm đối diện trực tiếp với vùng biển Kep (Campuchia) và cách cửa ra biển dự kiến của kênh đào Phù Nam Techo chỉ 15-17km. Nếu nối theo trục hướng về phía tây nam, Hà Tiên nằm trên trục giao thương tự nhiên dẫn tới Phú Quốc - hòn đảo có vị trí chiến lược nhất của Việt Nam trên Vịnh Thái Lan. Từ đó hình thành cụm không gian kinh tế - quốc phòng gồm Hà Tiên, Kiên Lương và Phú Quốc, tạo thành tam giác có năng lực kiểm soát, tiếp nhận và cung ứng hàng hóa, thương mại, du lịch và dịch vụ cảng biển.

Theo UBND tỉnh Kiên Giang (2024), cảng Hà Tiên sau khi hoàn thành vào năm 2027 sẽ tiếp nhận tàu hàng đến 5.000 DWT, phục vụ vùng Tứ giác Long Xuyên, Kiên Lương - Hòn Chông (vùng xi măng, clinker lớn nhất Việt Nam) và kết nối trực tiếp ra biển mà không cần đưa hàng lên Cái Mép - Thị Vải hay TP.HCM. Điều này rút ngắn chi phí logistics, giảm áp lực lên các tuyến sông nội địa, nâng cao năng lực xuất khẩu cho cả khu vực Tây Nam Bộ.

Trên bình diện cạnh tranh khu vực, cảng Hà Tiên trở thành một lựa chọn mới cho hàng hóa từ miền Nam Campuchia. Dù báo chí Campuchia thời gian qua tập trung ca ngợi kênh đào Phù Nam như một “biểu tượng độc lập hàng hải” (Phnom Penh Post, Khmer Times), chưa có bình luận gọi Hà Tiên là “mối đe dọa”, nhưng giới phân tích Campuchia thừa nhận rằng tuyến đường bộ sang Việt Nam và dịch vụ cảng biển giá rẻ hơn có thể làm giảm hiệu suất kinh tế của kênh đào mới (Khmer Times, 6/2024). Như vậy, sự cạnh tranh là có thật, nhưng diễn ra trong không gian bình đẳng, không mang tính đối đầu, mà là cạnh tranh hiệu quả dịch vụ logistics.

Từ góc nhìn kinh tế hàng hải, tuyến Hà Tiên - Tiên Hải đang tạo ra một trục tiếp cận biển chủ động hơn cho Việt Nam ở phía Tây Nam. Điều này giảm phụ thuộc vào luồng hàng hải trên sông Đồng Nai - Sài Gòn - Cát Lái vốn thường ùn tắc, đồng thời giúp hàng xuất nhập khẩu cho Campuchia có thêm lựa chọn thay vì chỉ đi qua Việt Nam bằng đường thủy như trước đây. Một khi cạnh tranh dịch vụ diễn ra, hàng hóa từ Campuchia có thể tìm tới Hà Tiên nếu chi phí, thời gian thông quan, bảo quản và kết nối đường bộ hiệu quả hơn.

Nhìn từ thực địa, những dãy trụ sắt lớn cắm trên biển trong ảnh không chỉ phục vụ tuyến đường, mà còn là các kết cấu bảo vệ bờ, giảm sóng, giữ ổn định nền móng cho cảng và tuyến vận tải nặng. Đây là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang tính toán đến việc duy trì hoạt động lâu dài của cảng trong điều kiện thủy văn phức tạp tại Vịnh Thái Lan, nơi sóng xiên và dòng chảy ven bờ mạnh vào mùa gió Tây Nam.

Không thể bỏ qua yếu tố an ninh - quốc phòng. Hà Tiên có biên giới đất liền và biển với Campuchia, nằm cạnh lối ra biển của một tuyến giao thương chiến lược mà Campuchia kỳ vọng sẽ giảm phụ thuộc vào Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam tăng năng lực hạ tầng cảng biển là một cách củng cố chủ quyền kinh tế, đồng thời tạo điểm tựa cho lực lượng cảnh sát biển, hải quân và biên phòng trong bảo vệ vùng biển biên giới.

Cụm cảng Hà Tiên - Kiên Lương - Phú Quốc tạo thành một vành đai hậu cần hỗ trợ tác chiến biển - đảo, tương tự mô hình “cảng dân sự kiêm quân sự” mà nhiều quốc gia áp dụng. Phú Quốc hiện là nơi đóng quân của các lực lượng hải quân và cảnh sát biển chủ lực tại miền Tây Nam. Khi Hà Tiên trở thành cảng lớn, hậu cần quân sự sẽ được cung cấp nhanh hơn, giảm phụ thuộc vận tải từ đất liền xa hơn. Trong chiến lược lâu dài, điều này tạo ra sức răn đe mềm: phát triển kinh tế nhưng đồng thời củng cố khả năng phòng thủ biển đảo mà không cần quân sự hóa quan hệ với nước láng giềng.

Những tuyến đường vượt biển đang hình thành không chỉ nối hai điểm trên bản đồ địa lý, mà kết nối ý chí tự cường kinh tế với khả năng bảo vệ không gian biển của Việt Nam. Trong một khu vực mà cạnh tranh cảng biển đang gia tăng, điều Việt Nam lựa chọn không phải là đối đầu, mà là nâng cao chất lượng hạ tầng, dịch vụ và khả năng kiểm soát tài nguyên biển theo cách chủ động, văn minh.

Chính sự chủ động này mới là lợi thế chiến lược bền vững của Hà Tiên trong tương lai. Một cảng biển hiện đại, một tuyến đường hướng ra thế giới, và một thế trận quốc phòng mềm nằm trong lòng dân - đó chính là tầm nhìn dài hạn mà tuyến đường vượt biển Hà Tiên đang được xây dựng để hiện thực hóa./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 👑 THIÊN THÀNH CÔNG CHÚA - NGƯỜI PHỤ NỮ QUYỀN CỰC Ở HẬU PHƯƠNG CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG!

     Thiên Thành Công chúa (1235 - 1288), được tôn hiệu là Nguyên Từ Quốc Mẫu, là một nhân vật lịch sử quan trọng thời nhà Trần, được biết đến với vai trò là phu nhân của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

Thân thế của Thiên Thành Công chúa được ghi chép trong sử sách với hai luồng ý kiến:
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT), việc bà được gọi là Trưởng công chúa trong đoạn "Gả Thiên Thành Trưởng công chúa cho Trung Thành vương", cho thấy bà là chị em gái của Hoàng đế đương nhiệm (Trần Thái Tông), tức là con gái của Thượng hoàng Trần Thái Tổ (Trần Thừa).

Một số nguồn khác căn cứ vào độ tuổi có thể suy luận bà là con gái Trần Thái Tông, vì Thái Tổ Trần Thừa mất vào năm 1234, trong khi đó Thụy Bà cũng được gọi là trưởng công chúa thì Thiên Thành phải là út công chúa.

Dù ở vai vế nào, bà là người sinh ra và lớn lên với thân thế cao quý, được giáo dục đầy đủ để trở thành một phụ nữ nhân từ, tài hoa, mẫu mực.

Sự kiện kết hôn của Thiên Thành Công chúa là một trong những chi tiết gây chú ý nhất trong sử nhà Trần:
ĐVSKTT ghi rõ: Vào đầu năm Nguyên Phong thứ nhất (1251), Trần Thái Tông ban đầu định gả bà cho Trung Thành vương (con trai Nhân Đạo vương).

Tuy nhiên, hôn nhân này bị thay đổi đột ngột. Trần Quốc Tuấn đã liều lĩnh cướp dâu. Bà cuối cùng đã kết duyên với Trần Quốc Tuấn (sau này là Hưng Đạo Đại vương). Sự việc đã gây ra một sự xáo trộn lớn đến mức triều đình phải đền bù thỏa đáng. Mẹ nuôi của Trần Quốc Tuấn là Thụy Bà Công chúa phải dâng 10 mâm vàng sống để tạ lỗi. Thái Tông cũng phải đem 2000 mẫu ruộng ở phủ Ứng Thiên để đền sính vật cho Trung Thành vương.

Từ đó, bà rời chốn hoàng cung hoa lệ, cùng phu quân lo việc nước, việc nhà.

Vai trò của Thiên Thành Công chúa thực sự tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược (lần 2 năm 1285 và lần 3 năm 1288). Bà được vua Trần tin tưởng giao nhiệm vụ Tổng quản quân lương - một vị trí tối quan trọng, quyết định sức mạnh chiến đấu lâu dài của quân đội.

Vượt qua thân phận "cành vàng lá ngọc," bà trực tiếp phụ trách hậu phương, chỉ huy tổ chức sản xuất, chăn nuôi, trồng cấy (dẫn đến các tên gọi còn lại như Hố Thóc, Hố Lợn ở vùng Kiếp Bạc). Bà cũng là người hướng dẫn, vận động các gia đình quý tộc và nhân dân thực hiện triệt để kế "Thanh dã" (vườn không, nhà trống) để tiêu hao sinh lực địch.

Dưới sự quản lý của bà, khu vực Vạn Kiếp (thuộc Hải Phòng ngày nay) trở thành căn cứ hậu cần chiến lược, nơi tích trữ lương thảo khổng lồ, được phòng bố và vận chuyển theo địa thế núi, rừng, sông ngòi hiểm yếu.

Thời ấy, cả vùng rộng lớn Kiếp Bạc, làng Bến, Thanh Tân, Thanh Tảo, Trung Quê, Đa Cốc, Bãi Thảo, núi Huyền Đinh... đều là căn cứ hậu cần đặc biệt quan trọng của phòng tuyến Vạn Kiếp.

Những đóng góp này đảm bảo cho quân đội nhà Trần có đủ nguồn lực để tiến hành chiến tranh du kích và phản công, góp phần không nhỏ vào đại thắng cuối cùng.

Sau khi đất nước hoàn toàn thái bình, vào mùa thu năm 1288, Thiên Thành Công chúa qua đời. Nhân dân và triều đình vô cùng tiếc thương, vua sắc phong tước hiệu “Nguyên Từ Quốc Mẫu, Thiên Thành Thái trưởng công chúa” và cho phép tạc tượng phụng thờ. Hiện tại, bà được thờ tại đền Kiếp Bạc (Hải Dương) bên cạnh Hưng Đạo Đại vương và tại Đền Dím (xã Lê Lợi, Chí Linh) - vốn là một trong những kho chứa quân lương thời chiến.

Trong lịch sử dân tộc, Nguyên Từ Quốc Mẫu là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam vừa có phẩm hạnh cao quý, vừa có tài năng quản lý xuất sắc, đóng góp trực tiếp vào công cuộc cứu nước, được người đời sau ca tụng:
“Quốc sắc khuynh thành thiên hạ hữu
Anh linh liệt nữ thế gian vô”
Tạm dịch: (Người phụ nữ sắc đẹp nghiêng thành thiên hạ từng có
Nhưng người có công đức như thánh nữ thì không)./.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRẦN BÌNH TRỌNG “THÀ LÀM QUỶ NƯỚC NAM, CHỚ KHÔNG THÈM LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC”!

     Trần Bình Trọng (1259 - 1285) vốn thuộc dòng dõi vua Lê Đại Hành (họ Lê), sau được vua Trần Thánh Tông quý trọng, gả Công chúa Thụy Bảo (con gái vua Trần Thái Tông) và được phong tước Bảo Nghĩa vương, trở thành danh tướng chủ chốt của nhà Trần. Ông nổi tiếng là người dũng cảm, mưu lược và có võ nghệ hơn người.

Sự nghiệp vinh quang nhất của ông gắn liền với cuộc Kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai vào năm 1285. Khi quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy ồ ạt tiến đánh Đại Việt, thế trận ban đầu gặp nhiều khó khăn, triều đình phải rút lui để bảo toàn lực lượng.

Trần Bình Trọng được giao nhiệm vụ vô cùng quan trọng: hộ giá bảo vệ an toàn cho hai vị vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông cùng triều đình rút lui chiến lược. Ông đã dũng cảm chỉ huy quân đội chặn đánh quyết liệt quân Nguyên tại khu vực bãi Thiên Mạc (còn gọi là Đà Mạc, nay thuộc Hải Dương và Hưng Yên).

Trong trận chiến ác liệt tại Thiên Mạc vào tháng 2 năm 1285, dù lực lượng chênh lệch và chiến đấu vô cùng dũng cảm, Trần Bình Trọng chẳng may bị quân Nguyên bắt giữ. Việc ông anh dũng chặn địch đã giúp cho đoàn xe hộ giá rút lui an toàn, bảo toàn được bộ chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến - một thắng lợi chiến lược cực kỳ quan trọng đối với Đại Việt.

Sau khi bắt được ông, tướng giặc tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc với lời hứa phong chức "Vương đất Bắc" (tức làm vua chư hầu ở phương Bắc). Tuy nhiên, với tấm lòng kiên trung, sắt đá, Trần Bình Trọng đã thét lên câu nói bất hủ, thể hiện khí phách anh hùng và tinh thần quật cường của cả dân tộc:
"Ta thà làm quỷ nước Nam, chớ không thèm làm Vương đất Bắc!"
("Ninh vi Nam quỷ, bất vi Bắc vương")

Không thể khuất phục được ông, quân Nguyên đã buộc phải giết Trần Bình Trọng vào ngày 26 tháng 2 năm 1285. Năm đó, ông mới 26 tuổi.

Sau khi kháng chiến thắng lợi, nhà Trần đã truy phong ông tước Đại Vương (phẩm tước cao nhất trong hàng Vương hầu chỉ phong cho người trong hoàng tộc) và tặng hai chữ "Trung Nghĩa" - xứng đáng với sự hy sinh oanh liệt và lòng trung quân ái quốc của ông.

Tên tuổi của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng cùng câu nói bất hủ của ông đã trở thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và ý chí độc lập dân tộc Việt Nam, được ghi nhớ và tôn vinh qua nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, cũng như được đặt tên cho nhiều địa danh, trường học trên khắp đất nước.

PS: Theo sách Những danh tướng chống ngoại xâm thời Trần, Trần Bình Trọng là con của Lê Phụ Trần và Chiêu Thánh công chúa (Lý Chiêu Hoàng). Vì lập nhiều công lớn nên được vua ban quốc Tính họ Trần. Tuy nhiên, điều này chỉ là phỏng đoán của dã sử. Sử sách chỉ ghi Trần Bình Trọng vốn họ Lê, dòng dõi vua Lê Đại Hành./.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA TA GIỮ NƯỚC: 🇻🇳 LÝ BÍ (LÝ NAM ĐẾ) - VỊ HOÀNG ĐẾ ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC VIỆT NAM!

     Lý Bí (hay Lý Bôn), sinh năm 503, là người đã đứng lên khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Lương và lập ra nhà nước Vạn Xuân (544-602), trở thành vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam với danh xưng Lý Nam Đế.

Ông xuất thân là một hào trưởng địa phương, có tài văn võ. Ban đầu, ông từng ra làm quan chức Giám quân ở Đức Châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh ngày nay) cho chính quyền đô hộ nhà Lương, nhưng vì bất bình với sự tàn ác của quan lại đô hộ, ông đã từ bỏ chức vụ và quyết tâm mưu tính việc khởi nghĩa.

Năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa ở Thái Bình (vùng Sơn Tây, Hà Nội ngày nay). Hào kiệt và nhân dân khắp nơi hưởng ứng mạnh mẽ. Chỉ trong vòng gần 3 tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện. Thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư phải hoảng sợ bỏ chạy về Trung Quốc.

Nghĩa quân tiếp tục đánh bại hai lần phản công lớn của nhà Lương.
Mùa Xuân năm 544, sau khi đánh đuổi quân Lương và làm chủ đất nước, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Lý Nam Đế. Ông đặt tên nước là Vạn Xuân, với ý nghĩa mong muốn đất nước độc lập và trường tồn.

Lần đầu tiên sau hơn 500 năm liên tục đấu tranh giành độc lập dân tộc kể từ khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa (40-43), một quốc gia Việt Nam độc lập, tự chủ đã ra đời và đó là sự khởi đầu của một cơ cấu nhà nước dựa theo chế độ phong kiến trung ương tập quyền, tuy còn sơ sài và chủ yếu mô phỏng theo hình ảnh của nhà nước phong kiến Trung Hoa lúc bấy giờ. Triều đình được thành lập, có hai ban văn (đứng đầu là Tính Thiều), và võ (đứng đầu là Phạm Tu), cùng với Triệu Túc (cha Triệu Quang Phục) cai quản mọi việc. Ông đặt niên hiệu là Thiên Đức, dựng kinh đô ở vùng cửa sông Tô Lịch. 

Nhà Lương không cam chịu mất Giao Châu. Tháng 5 năm 545, vua Lương Vũ Đế cử tướng Trần Bá Tiên (một danh tướng sau này lập nên nhà Trần ở Trung Quốc) và Dương Phiêu đem quân lớn sang xâm lược.

Quân Vạn Xuân do Lý Nam Đế trực tiếp chỉ huy đã chiến đấu anh dũng nhưng cuối cùng bị đánh bại ở hồ Điển Triệt (Vĩnh Phúc). Thành Gia Ninh (Phú Thọ) bị thất thủ. Lý Nam Đế phải lui vào động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ).

Trong thời gian rút lui và kháng chiến du kích, Lý Nam Đế lâm bệnh nặng và giao quyền chỉ huy lại cho tướng Triệu Quang Phục. Tháng 4 năm 548, Lý Nam Đế qua đời, hưởng thọ 45 tuổi.

Sau khi Lý Nam Đế mất, cuộc kháng chiến chống quân Lương được Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương) tiếp tục với chiến thuật đánh du kích ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên). Triệu Quang Phục sau đó đã đánh tan quân Lương và duy trì nhà nước Vạn Xuân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Bí cùng với sự ra đời của Nhà nước Vạn Xuân đã góp phần khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vào năng lực quản lí và làm chủ đất nước của tầng lớp quý tộc bản địa, đánh dấu bước phát triển của phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam thời Bắc thuộc./.
Yêu nước ST.