Thứ Hai, 31 tháng 3, 2025

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Dành đến 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục

 Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, Việt Nam cam kết dành mức chi đến 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển con người cả về đức, trí, thể, mỹ.

Ngày 31.3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có cuộc tiếp, làm việc với Đoàn đại biểu 21 trường đại học danh tiếng hàng đầu của Hoa Kỳ đang tham dự chương trình trao đổi học thuật quốc tế (IAPP) 2025 tại Việt Nam.

Dự cuộc làm việc có Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Kim Sơn; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng; Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E. Knapper; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan và các trường đại học Việt Nam.

img0402-1743400369738587019009.jpg
Thủ tướng Phạm Minh Chính làm việc với Đoàn đại biểu 21 trường đại học danh tiếng hàng đầu của Hoa Kỳ. Ảnh: VGP

Đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, Việt Nam đang xây dựng đất nước với 3 trụ cột chính là: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Việt Nam tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược về thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; phấn đấu tạo đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, Việt Nam đã ban hành một số văn bản, chủ trương quan trọng về phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học, công nghệ để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Việt Nam cam kết dành mức chi đến 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển con người cả về đức, trí, thể, mỹ; rất mong sự chia sẻ, hợp tác với Hoa Kỳ trong phát triển giáo dục và đào tạo.

Thông tin về tình hình Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ chia sẻ, Việt Nam đang phấn đấu đạt tăng trưởng từ 8% trong năm 2025, tạo đà, tạo lực, nền tảng, khí thế cho thời kỳ tăng trưởng 2 con số trong những năm tiếp theo. Do đó, phải có những chiến lược mang tính "xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái".

Việt Nam tập trung sắp xếp tổ chức bộ máy; cải cách hành chính, chuyển trạng thái từ thụ động sang chủ động phục vụ nhân dân, doanh nghiệp; xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là đột phá, động lực mới cho phát triển; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế… Trong đó, giáo dục, đào tạo có vai trò hết sức quan trọng.

img0400-17434003697421978098401.jpg
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính. Ảnh: VGP

Đề nghị các trường đại học của hai nước phối hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch hợp tác mang tính dài hạn, bền vững

Cho rằng hợp tác giữa các trường đại học của Việt Nam và Hoa Kỳ đã được triển khai trong nhiều năm qua, đạt nhiều kết quả, song chưa thực sự sâu rộng và hiệu quả như mong đợi, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các trường đại học của hai nước phối hợp chặt chẽ xây dựng những kế hoạch hợp tác mang tính dài hạn, bền vững, thiết thực và hiệu quả với các hình thức đa dạng, sáng tạo, linh hoạt.

Cụ thể như trao đổi sinh viên, giảng viên, liên kết đào tạo, các chương trình nghiên cứu chung, đi vào các lĩnh vực mới để giúp Việt Nam khai thác không gian biển, không gian vũ trụ, không gian ngầm. Thủ tướng kêu gọi Hoa Kỳ xem xét mở rộng chương trình học bổng, ưu đãi học phí dành cho sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam.

Nhấn mạnh việc thời gian qua các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ như Intel, NVIDIA, Apple… đã đến Việt Nam tìm hiểu và đầu tư, mở rộng hệ sinh thái, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các trường đại học của hai bên chủ động trao đổi để có các chương trình hợp tác cụ thể, đặc biệt trong các ngành kỹ thuật cao, AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, sức khỏe, nông nghiệp, ngoại ngữ.

Tại buổi làm việc, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E. Knapper và đại diện các trường đại học Hoa Kỳ đánh giá cao chiến lược phát triển của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

Đồng thời, cho biết sẵn sàng hợp tác, sát cánh cùng Việt Nam thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.

img0417-17434003696761629622607.jpg
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E. Knapper. Ảnh: VGP

Được biết, hiện có khoảng 30.000 sinh viên, học sinh Việt Nam học tập tại Hoa Kỳ, đứng thứ 5 về số lượng sinh viên quốc tế tại Hoa Kỳ. Có khoảng hơn 50 chương trình liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam và của Hoa Kỳ, chủ yếu là chương trình đào tạo trình độ đại học và trình độ thạc sĩ.

Sau đào tạo, nhiều người làm việc rất thành công trong các cơ quan, doanh nghiệp của cả Việt Nam và Hoa Kỳ.

Hà Nội quyết tạo đột phá về khoa học, công nghệ

 Thời gian qua, công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số luôn được thành phố Hà Nội coi trọng, triển khai và đã có những bước đi nhanh chóng, mạnh mẽ.

Để tạo đột phá cho lĩnh vực này theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, Hà Nội đang đứng trước nhiều yêu cầu mới.

Nền tảng thuận lợi

nghien-cuu.jpg

Thực hành nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm ở Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: Kim Ngọc

Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, Đảng bộ, chính quyền thành phố Hà Nội đặc biệt coi trọng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thành phố đã chủ động tham mưu đưa các nội dung này vào Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 5-5-2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và Luật Thủ đô năm 2024 nhằm thể chế hóa nhiệm vụ này.

Thành ủy Hà Nội cũng đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 30-12-2022 về “Chuyển đổi số, xây dựng thành phố thông minh đến năm 2023, định hướng đến năm 2030” để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cụ thể hóa.

Trong hai năm liên tiếp (2023 và 2024), Hà Nội là địa phương đứng đầu về bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII). Thành phố đã xác định 3 trụ cột để tập trung triển khai đó là, Chính quyền số - Kinh tế số - Xã hội số. Trên cơ sở hợp nhất 3 ban chỉ đạo (Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính, Chuyển đổi số và Ban Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6-1-2022 của Thủ tướng Chính phủ), công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số và thực hiện Đề án 06 đã được thành phố chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất trong hệ thống chính trị và các ngành, lĩnh vực, địa phương. Hà Nội đã cho thấy vai trò gương mẫu, đi đầu khi xung phong triển khai nhiều nhiệm vụ mới, khó, như: Triển khai Hồ sơ sức khỏe điện tử, Cấp phiếu lý lịch tư pháp qua VNeID...

Ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TƯ về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Triển khai thực hiện Nghị quyết, Ban Thường vụ Thành ủy đã chủ động thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy Hà Nội). Ngày 7-3 vừa qua, Ban Chỉ đạo đã tiến hành họp phiên đầu tiên, thông qua phân công nhiệm vụ các thành viên, quy chế làm việc và thảo luận về chương trình hành động. Thành ủy Hà Nội một lần nữa thể hiện tinh thần tiên phong trong thực hiện Nghị quyết khi công bố 8 ứng dụng chuyển đổi số dùng chung 3 cấp trong cả hệ thống chính trị.

Với năng lực dẫn đầu, Thành ủy Hà Nội vừa được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và tích hợp các dịch vụ công của Đảng lên Cổng dịch vụ công quốc gia; trước mắt, đưa vào sử dụng trong tháng 5-2025 các thủ tục thu nộp đảng phí, thủ tục về giấy xác nhận sinh hoạt Đảng hai chiều, thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng cá nhân, thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng giữa các tổ chức Đảng trong thành phố...

Cứ có sản phẩm tốt, mạnh là đầu tư

cong-nghe-cao.jpg

Sản xuất và lắp ráp linh kiện điện tử tại Công ty cổ phần Công nghệ công nghiệp Bưu chính viễn thông Việt Nam (Khu công nghệ cao Hòa Lạc). Ảnh: Trần An

Mặc dù tình hình, kết quả phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Hà Nội rất tích cực, song yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đòi hỏi thành phố phải có bước đột phá mới trong lĩnh vực này. Ngay trong năm nay, Hà Nội phải phấn đấu tăng trưởng GRDP từ 8% trở lên để tạo đà từ năm 2026 tăng trưởng đạt hai con số.

Để làm được điều này, Hà Nội phải xây dựng được một chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TƯ thực chất, khả thi; vừa bao quát đầy đủ, thúc đẩy toàn diện các lĩnh vực, vừa có trọng tâm, trọng điểm và phân công rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, thời hạn hoàn thành.

Giáo sư Lê Xuân Tùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội khẳng định, Hà Nội muốn tiên phong trong kỷ nguyên mới thì trước hết phải trở thành trung tâm khoa học, công nghệ; mà để trở thành trung tâm khoa học công nghệ, nhất định phải khai thác được “mỏ vàng” là đội ngũ trí thức đông đảo nhất cả nước... Trong khi đó, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội Nguyễn Lan Hương đề nghị nên xác định rõ chỉ tiêu về “công dân số” để các cấp, các ngành triển khai thực hiện.

Đặc biệt, Hà Nội có lợi thế lớn khi sở hữu Khu công nghệ cao Hòa Lạc với diện tích đất rộng lớn, hạ tầng khung khá tốt, hiện có nhiều dự án, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước đầu tư và sản xuất hiệu quả. Nhưng vấn đề là phải đầu tư bao nhiêu và theo hướng nào để nâng tầm Khu công nghệ cao Hòa Lạc lên, thực sự trở thành “tổ đại bàng”, một “cực tăng trưởng”. Bí thư Đảng ủy Khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội Nguyễn Thanh Sơn cho rằng, Khu công nghệ cao Hòa Lạc phải được xây dựng theo hướng trở thành một “hệ sinh thái” đầy đủ có sức hút to lớn cả nhân tài và nguồn lực đầu tư.

Theo Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ Vũ Ngọc Thiềm, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ đơn giản là triển khai các phần mềm, ứng dụng, mà còn là một cuộc cách mạng trong tư duy, phương thức làm việc và cải cách hành chính; phải thay đổi từ bên trong, bắt đầu từ chính các cơ quan, tổ chức, từ mỗi cán bộ, đảng viên.

Những kiến giải nêu trên đều được lãnh đạo thành phố mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy Hà Nội hết sức quan tâm, tiếp thu và đang chỉ đạo thực hiện. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Bùi Thị Minh Hoài khẳng định, thành phố sẽ xác định rõ lĩnh vực mũi nhọn và phát huy tiềm năng, lợi thế của Hà Nội, tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cụ thể hóa bằng sản phẩm, có trọng tâm, trọng điểm gắn với lộ trình, tiến độ và phân công nhiệm vụ phụ trách.Thời gian qua, công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số luôn được thành phố Hà Nội coi trọng, triển khai và đã có những bước đi nhanh chóng, mạnh mẽ.

Để tạo đột phá cho lĩnh vực này theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, Hà Nội đang đứng trước nhiều yêu cầu mới.

Nền tảng thuận lợi

nghien-cuu.jpg

Thực hành nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm ở Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: Kim Ngọc

Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, Đảng bộ, chính quyền thành phố Hà Nội đặc biệt coi trọng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thành phố đã chủ động tham mưu đưa các nội dung này vào Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 5-5-2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và Luật Thủ đô năm 2024 nhằm thể chế hóa nhiệm vụ này.

Thành ủy Hà Nội cũng đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 30-12-2022 về “Chuyển đổi số, xây dựng thành phố thông minh đến năm 2023, định hướng đến năm 2030” để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cụ thể hóa.

Trong hai năm liên tiếp (2023 và 2024), Hà Nội là địa phương đứng đầu về bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII). Thành phố đã xác định 3 trụ cột để tập trung triển khai đó là, Chính quyền số - Kinh tế số - Xã hội số. Trên cơ sở hợp nhất 3 ban chỉ đạo (Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính, Chuyển đổi số và Ban Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6-1-2022 của Thủ tướng Chính phủ), công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số và thực hiện Đề án 06 đã được thành phố chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất trong hệ thống chính trị và các ngành, lĩnh vực, địa phương. Hà Nội đã cho thấy vai trò gương mẫu, đi đầu khi xung phong triển khai nhiều nhiệm vụ mới, khó, như: Triển khai Hồ sơ sức khỏe điện tử, Cấp phiếu lý lịch tư pháp qua VNeID...

Ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TƯ về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Triển khai thực hiện Nghị quyết, Ban Thường vụ Thành ủy đã chủ động thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy Hà Nội). Ngày 7-3 vừa qua, Ban Chỉ đạo đã tiến hành họp phiên đầu tiên, thông qua phân công nhiệm vụ các thành viên, quy chế làm việc và thảo luận về chương trình hành động. Thành ủy Hà Nội một lần nữa thể hiện tinh thần tiên phong trong thực hiện Nghị quyết khi công bố 8 ứng dụng chuyển đổi số dùng chung 3 cấp trong cả hệ thống chính trị.

Với năng lực dẫn đầu, Thành ủy Hà Nội vừa được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và tích hợp các dịch vụ công của Đảng lên Cổng dịch vụ công quốc gia; trước mắt, đưa vào sử dụng trong tháng 5-2025 các thủ tục thu nộp đảng phí, thủ tục về giấy xác nhận sinh hoạt Đảng hai chiều, thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng cá nhân, thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng giữa các tổ chức Đảng trong thành phố...

Cứ có sản phẩm tốt, mạnh là đầu tư

cong-nghe-cao.jpg

Sản xuất và lắp ráp linh kiện điện tử tại Công ty cổ phần Công nghệ công nghiệp Bưu chính viễn thông Việt Nam (Khu công nghệ cao Hòa Lạc). Ảnh: Trần An

Mặc dù tình hình, kết quả phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Hà Nội rất tích cực, song yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đòi hỏi thành phố phải có bước đột phá mới trong lĩnh vực này. Ngay trong năm nay, Hà Nội phải phấn đấu tăng trưởng GRDP từ 8% trở lên để tạo đà từ năm 2026 tăng trưởng đạt hai con số.

Để làm được điều này, Hà Nội phải xây dựng được một chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TƯ thực chất, khả thi; vừa bao quát đầy đủ, thúc đẩy toàn diện các lĩnh vực, vừa có trọng tâm, trọng điểm và phân công rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, thời hạn hoàn thành.

Giáo sư Lê Xuân Tùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội khẳng định, Hà Nội muốn tiên phong trong kỷ nguyên mới thì trước hết phải trở thành trung tâm khoa học, công nghệ; mà để trở thành trung tâm khoa học công nghệ, nhất định phải khai thác được “mỏ vàng” là đội ngũ trí thức đông đảo nhất cả nước... Trong khi đó, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội Nguyễn Lan Hương đề nghị nên xác định rõ chỉ tiêu về “công dân số” để các cấp, các ngành triển khai thực hiện.

Đặc biệt, Hà Nội có lợi thế lớn khi sở hữu Khu công nghệ cao Hòa Lạc với diện tích đất rộng lớn, hạ tầng khung khá tốt, hiện có nhiều dự án, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước đầu tư và sản xuất hiệu quả. Nhưng vấn đề là phải đầu tư bao nhiêu và theo hướng nào để nâng tầm Khu công nghệ cao Hòa Lạc lên, thực sự trở thành “tổ đại bàng”, một “cực tăng trưởng”. Bí thư Đảng ủy Khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội Nguyễn Thanh Sơn cho rằng, Khu công nghệ cao Hòa Lạc phải được xây dựng theo hướng trở thành một “hệ sinh thái” đầy đủ có sức hút to lớn cả nhân tài và nguồn lực đầu tư.

Theo Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ Vũ Ngọc Thiềm, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ đơn giản là triển khai các phần mềm, ứng dụng, mà còn là một cuộc cách mạng trong tư duy, phương thức làm việc và cải cách hành chính; phải thay đổi từ bên trong, bắt đầu từ chính các cơ quan, tổ chức, từ mỗi cán bộ, đảng viên.

Những kiến giải nêu trên đều được lãnh đạo thành phố mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy Hà Nội hết sức quan tâm, tiếp thu và đang chỉ đạo thực hiện. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Bùi Thị Minh Hoài khẳng định, thành phố sẽ xác định rõ lĩnh vực mũi nhọn và phát huy tiềm năng, lợi thế của Hà Nội, tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cụ thể hóa bằng sản phẩm, có trọng tâm, trọng điểm gắn với lộ trình, tiến độ và phân công nhiệm vụ phụ trách.Thời gian qua, công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số luôn được thành phố Hà Nội coi trọng, triển khai và đã có những bước đi nhanh chóng, mạnh mẽ.

Để tạo đột phá cho lĩnh vực này theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, Hà Nội đang đứng trước nhiều yêu cầu mới.

Nền tảng thuận lợi

nghien-cuu.jpg

Thực hành nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm ở Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: Kim Ngọc

Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, Đảng bộ, chính quyền thành phố Hà Nội đặc biệt coi trọng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thành phố đã chủ động tham mưu đưa các nội dung này vào Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 5-5-2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và Luật Thủ đô năm 2024 nhằm thể chế hóa nhiệm vụ này.

Thành ủy Hà Nội cũng đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 30-12-2022 về “Chuyển đổi số, xây dựng thành phố thông minh đến năm 2023, định hướng đến năm 2030” để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cụ thể hóa.

Trong hai năm liên tiếp (2023 và 2024), Hà Nội là địa phương đứng đầu về bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII). Thành phố đã xác định 3 trụ cột để tập trung triển khai đó là, Chính quyền số - Kinh tế số - Xã hội số. Trên cơ sở hợp nhất 3 ban chỉ đạo (Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính, Chuyển đổi số và Ban Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6-1-2022 của Thủ tướng Chính phủ), công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số và thực hiện Đề án 06 đã được thành phố chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất trong hệ thống chính trị và các ngành, lĩnh vực, địa phương. Hà Nội đã cho thấy vai trò gương mẫu, đi đầu khi xung phong triển khai nhiều nhiệm vụ mới, khó, như: Triển khai Hồ sơ sức khỏe điện tử, Cấp phiếu lý lịch tư pháp qua VNeID...

Ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TƯ về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Triển khai thực hiện Nghị quyết, Ban Thường vụ Thành ủy đã chủ động thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy Hà Nội). Ngày 7-3 vừa qua, Ban Chỉ đạo đã tiến hành họp phiên đầu tiên, thông qua phân công nhiệm vụ các thành viên, quy chế làm việc và thảo luận về chương trình hành động. Thành ủy Hà Nội một lần nữa thể hiện tinh thần tiên phong trong thực hiện Nghị quyết khi công bố 8 ứng dụng chuyển đổi số dùng chung 3 cấp trong cả hệ thống chính trị.

Với năng lực dẫn đầu, Thành ủy Hà Nội vừa được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và tích hợp các dịch vụ công của Đảng lên Cổng dịch vụ công quốc gia; trước mắt, đưa vào sử dụng trong tháng 5-2025 các thủ tục thu nộp đảng phí, thủ tục về giấy xác nhận sinh hoạt Đảng hai chiều, thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng cá nhân, thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng giữa các tổ chức Đảng trong thành phố...

Cứ có sản phẩm tốt, mạnh là đầu tư

cong-nghe-cao.jpg

Sản xuất và lắp ráp linh kiện điện tử tại Công ty cổ phần Công nghệ công nghiệp Bưu chính viễn thông Việt Nam (Khu công nghệ cao Hòa Lạc). Ảnh: Trần An

Mặc dù tình hình, kết quả phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Hà Nội rất tích cực, song yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đòi hỏi thành phố phải có bước đột phá mới trong lĩnh vực này. Ngay trong năm nay, Hà Nội phải phấn đấu tăng trưởng GRDP từ 8% trở lên để tạo đà từ năm 2026 tăng trưởng đạt hai con số.

Để làm được điều này, Hà Nội phải xây dựng được một chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TƯ thực chất, khả thi; vừa bao quát đầy đủ, thúc đẩy toàn diện các lĩnh vực, vừa có trọng tâm, trọng điểm và phân công rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, thời hạn hoàn thành.

Giáo sư Lê Xuân Tùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội khẳng định, Hà Nội muốn tiên phong trong kỷ nguyên mới thì trước hết phải trở thành trung tâm khoa học, công nghệ; mà để trở thành trung tâm khoa học công nghệ, nhất định phải khai thác được “mỏ vàng” là đội ngũ trí thức đông đảo nhất cả nước... Trong khi đó, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội Nguyễn Lan Hương đề nghị nên xác định rõ chỉ tiêu về “công dân số” để các cấp, các ngành triển khai thực hiện.

Đặc biệt, Hà Nội có lợi thế lớn khi sở hữu Khu công nghệ cao Hòa Lạc với diện tích đất rộng lớn, hạ tầng khung khá tốt, hiện có nhiều dự án, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước đầu tư và sản xuất hiệu quả. Nhưng vấn đề là phải đầu tư bao nhiêu và theo hướng nào để nâng tầm Khu công nghệ cao Hòa Lạc lên, thực sự trở thành “tổ đại bàng”, một “cực tăng trưởng”. Bí thư Đảng ủy Khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội Nguyễn Thanh Sơn cho rằng, Khu công nghệ cao Hòa Lạc phải được xây dựng theo hướng trở thành một “hệ sinh thái” đầy đủ có sức hút to lớn cả nhân tài và nguồn lực đầu tư.

Theo Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ Vũ Ngọc Thiềm, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ đơn giản là triển khai các phần mềm, ứng dụng, mà còn là một cuộc cách mạng trong tư duy, phương thức làm việc và cải cách hành chính; phải thay đổi từ bên trong, bắt đầu từ chính các cơ quan, tổ chức, từ mỗi cán bộ, đảng viên.

Những kiến giải nêu trên đều được lãnh đạo thành phố mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy Hà Nội hết sức quan tâm, tiếp thu và đang chỉ đạo thực hiện. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Bùi Thị Minh Hoài khẳng định, thành phố sẽ xác định rõ lĩnh vực mũi nhọn và phát huy tiềm năng, lợi thế của Hà Nội, tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cụ thể hóa bằng sản phẩm, có trọng tâm, trọng điểm gắn với lộ trình, tiến độ và phân công nhiệm vụ phụ trách.

Không tự ý đăng tải, chia sẻ các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị, hình ảnh quân nhân trên mạng xã hội

 

Dự thảo quy định: Không sử dụng các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị khi đăng ký thiết lập tài khoản mạng xã hội; không được đặt tên tài khoản giống hoặc trùng với tên cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan trong Bộ Quốc phòng.

Bộ Quốc phòng đang lấy ý kiến góp ý Dự thảo Thông tư quy định quản lý, cung cấp, sử dụng ứng dụng, dịch vụ và thông tin trên mạng Internet trong Bộ Quốc phòng.
Không tự ý đăng tải, chia sẻ các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị, hình ảnh quân nhân - Ảnh 1.

Dự thảo Thông tư nêu: Không tự ý đăng tải, chia sẻ các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị, hình ảnh quân nhân, trừ trường hợp được sự cho phép của chỉ huy cơ quan, đơn vị. Ảnh: qdnd.vn

Dự thảo Thông tư gồm 06 chương, 26 điều, 04 Phụ lục kèm theo, quy định về: Cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Internet; quản lý thiết lập trang thông tin điện tử, báo điện tử trên mạng Internet; quản lý ứng dụng, dịch vụ trên mạng Internet phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Dự thảo Thông tư đang được lấy ý kiến có quy định về việc cung cấp và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội

Về cung cấp thông tin trên mạng Internet, dự thảo quy định: Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng là kênh cung cấp thông tin chính thống, tập trung; đầu mối kết nối thông tin, công khai thông tin của Bộ Quốc phòng trên mạng Internet, có địa chỉ truy cập tại https://mod.gov.vn hoặc https://bqp.vn.

Trang, cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị trong Bộ Quốc phòng phải kết nối, tích hợp với Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng.

Cơ quan, đơn vị cung cấp thông tin trên cơ sở quy định tại Điều 4 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 của Chính phủ, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Công nghệ thông tin; chấp hành nghiêm quy định về thực hiện cung cấp thông tin trong Bộ Quốc phòng; căn cứ vào điều kiện thực tế để công khai thông tin bảo đảm không lộ lọt bí mật. Thông tin cung cấp phải được cập nhật kịp thời; bao gồm:

a) Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý hành chính thuộc thẩm quyền ban hành hoặc được giao chủ trì soạn thảo được phép công khai trên Internet, trong đó nêu rõ: hình thức văn bản, thẩm quyền ban hành, số ký hiệu, ngày ban hành, ngày hiệu lực, trích yếu, tệp văn bản cho phép tải về, cung cấp công cụ tìm kiếm văn bản.

b) Thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến bảo đảm thống nhất, tích hợp từ Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng.

c) Thông tin phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách đối với những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước.

d) Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và của đơn vị trực thuộc; tóm lược quá trình hình thành và phát triển của cơ quan; địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử của cơ quan nhà nước; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của cán bộ, công chức làm đầu mối liên hệ;

đ) Các thông tin khác mà pháp luật quy định phải công bố công khai.

Về cung cấp và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội, dự thảo Thông tư yêu cầu phải tìm hiểu và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội trước khi đăng ký, tham gia mạng xã hội. Không sử dụng các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị khi đăng ký thiết lập tài khoản mạng xã hội; không được đặt tên tài khoản giống hoặc trùng với tên cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan trong Bộ Quốc phòng.

Đồng thời, phải chia sẻ các thông tin có nguồn gốc chính thống, đáng tin cậy; không đăng tải, chia sẻ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, thông tin vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, uy tín, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Không tự ý đăng tải, chia sẻ các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị, hình ảnh quân nhân, trừ trường hợp được sự cho phép của chỉ huy cơ quan, đơn vị.

Kịp thời phát hiện, thông báo tới lực lượng chuyên trách về công nghệ thông tin, cơ quan bảo vệ an ninh quân đội khi bị mất, chiếm quyền tài khoản mạng xã hội hoặc phát hiện các thông tin trái chiều, thông tin vi phạm pháp luật, thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, thông tin ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam để phối hợp xử lý.

Có trách nhiệm ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, thông tin ảnh hưởng đến uy tín tổ chức, cá nhân trong Quân đội, thông tin ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác đăng tải trên tài khoản của mình chậm nhất là 01 giờ từ khi có yêu cầu bằng điện thoại, văn bản hoặc qua phương thức liên lạc khác từ Bộ Tư lệnh 86, Cục Bảo vệ an ninh Quân đội.

Dự thảo Thông tư nêu: Bộ Tư lệnh 86 chịu trách nhiệm trước Bộ Quốc phòng việc quy hoạch phát triển, quản lý, vận hành, sử dụng Trung tâm dữ liệu Bộ Quốc phòng trên mạng Internet; đảm bảo đầy đủ tài nguyên, nền tảng kỹ thuật, giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng để đáp ứng yêu cầu hoạt động của các ứng dụng, dịch vụ dùng chung của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

Các ứng dụng, dịch vụ, cơ sở dữ liệu cấp Bộ, ngành phải được cài đặt tại Trung tâm dữ liệu của Bộ Quốc phòng trên mạng Internet. Các ứng dụng, dịch vụ, cơ sở dữ liệu nội bộ có thể cài đặt tại Trung tâm dữ liệu của Bộ Quốc phòng hoặc Phòng máy chủ của các cơ quan, đơn vị.

Các trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị trên mạng Internet phải được cài đặt tại Trung tâm dữ liệu Bộ Quốc phòng trên mạng Internet. Trong thời hạn 02 năm kể từ thời điểm Thông tư này có hiệu lực, các cơ quan, đơn vị phải hoàn thành việc chuyển các ứng dụng, dịch vụ dùng chung trên Internet về Trung tâm dữ liệu Bộ Quốc phòng trên mạng Internet.

Trường hợp các ứng dụng, dịch vụ phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng không cài đặt tại Trung tâm dữ liệu Bộ Quốc phòng trên mạng Internet mà cài đặt tại Trung tâm dữ liệu của cơ quan mình thì phải đảm bảo quy định về nhân lực, hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng cho phép.

Nội dung nêu trên cùng các nội dung khác đang được Bộ Quốc phòng lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng.

Theo Bộ Quốc phòng, thực tiễn hoạt động, hệ thống mạng Internet đóng vai trò quan trọng trong triển khai các nhiệm vụ quân sự quốc phòng, phòng thủ dân sự. Thực tiễn đã cho thấy việc vận dụng hệ thống mạng Internet trong triển khai chống dịch COVID-19, trong cứu hộ cứu nạn và phòng chống thiên tai thời gian qua đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng các tiêu chí về thuận lợi trong triển khai, dễ sử dụng, hiệu quả cao. Nhằm phát huy các kết quả đã đạt được, việc sử dụng hệ thống mạng Internet trong công tác chỉ huy, chỉ đạo, điều hành nhằm thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng sẽ góp phần thúc đẩy phát triển chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng.

Để đảm bảo ứng dụng hiệu quả trong triển khai, vận hành, sử dụng các ứng dụng, dịch vụ phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng cũng như nâng cao hiệu quả quản lý Trung tâm dữ liệu của Bộ Quốc phòng trên mạng Internet, cần có những giải pháp, biện pháp quản lý.

Từ thực tiễn như vậy, việc quy định các nội dung quản lý, sử dụng ứng dụng, dịch vụ phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng cũng như Trung tâm dữ liệu trên mạng Internet vào dự thảo Thông tư là hết sức cần thiết.

 

NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG ĐƯA ĐẤT NƯỚC HỘI NHẬP TOÀN DIỆN VÀ SÂU RỘNG TRONG THỜI ĐẠI MỚI

 

          Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhất là từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, cùng với sự nổi lên của các vấn đề khu vực và toàn cầu mà không quốc gia nào có thể tự giải quyết, chủ nghĩa đa phương đã và đang trở thành yếu tố quan trọng trong quan hệ quốc tế đương đại, để xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Đối với Việt Nam, ngoại giao đa phương được Đảng và Nhà nước nhận định là một bộ phận quan trọng của đối ngoại Việt Nam, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển Tổ quốc.

          Tổng quan về chủ nghĩa đa phương và ngoại giao đa phương

 

Tư tưởng về hợp tác đa phương, hiểu theo nghĩa các quốc gia cùng phối hợp về một vấn đề cụ thể, đã sớm xuất hiện từ thế kỷ XVII, gắn liền với sự hình thành của hệ thống quốc tế mà chủ thể là quốc gia - dân tộc (Hệ thống Westphalia) nhằm điều hòa quan hệ, duy trì cân bằng quyền lực giữa các quốc gia và ngăn ngừa chiến tranh. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ XIX, các hình thái hợp tác đa phương giữa các quốc gia mới bắt đầu xuất hiện và có sự phát triển mang tính bước ngoặt trong thế kỷ XX.

Sự ra đời của Hội Quốc Liên sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất thể hiện một bước tiến trong tư duy về hợp tác đa phương, ước vọng hướng tới xây dựng cộng đồng quốc gia dựa trên một nền hòa bình chung, có trật tự. Đến năm 1945, sau khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên hợp quốc ra đời, đánh dấu sự hình thành và phát triển của hệ thống đa phương quốc tế và luật pháp quốc tế ngày nay. Sự chấm dứt của cuộc Chiến tranh lạnh đã kéo theo sự vận động của đời sống quốc tế dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, cũng như sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu. Từ đó, chủ nghĩa đa phương ngày càng phát triển, trở thành một xu thế nổi bật, góp phần định hình quan hệ quốc tế đương đại.

Hiểu một cách khái quát, chủ nghĩa đa phương là hành động mang tính tập thể để giải quyết một vấn đề thuộc quan tâm chung và ngoại giao đa phương là phương thức triển khai hoạt động đó. Trải qua nhiều thập niên, ngoại giao đa phương có nội hàm ngày càng sâu rộng, đa ngành, đa lĩnh vực và trở thành là một bộ phận quan trọng trong đường lối đối ngoại của các quốc gia.

Thành tựu nổi bật nhất của nỗ lực ngoại giao đa phương đến nay là đã góp phần duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, ngăn ngừa cuộc chiến tranh hủy diệt nhân loại thông qua việc xây dựng, phát triển hệ thống luật pháp quốc tế và cơ chế quốc tế để giải quyết tranh chấp; việc xây dựng và triển khai khuôn khổ hợp tác về giải trừ quân bị, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các loại vũ khí này, cũng như việc thúc đẩy biện pháp xây dựng lòng tin, trung gian hòa giải, gìn giữ hòa bình. Bên cạnh đó, ngoại giao đa phương còn ghi dấu ấn trong việc xây dựng và triển khai các chương trình nghị sự quốc tế nhằm giải quyết thách thức toàn cầu, đạt được nhiều kết quả quan trọng; thúc đẩy liên kết kinh tế và sự hình thành các khuôn khổ tự do hóa thương mại và đầu tư, như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CTPPP)…, qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và gia tăng đan xen lợi ích nhiều mặt giữa các quốc gia.

Ngoại giao đa phương Việt Nam: hành trình cùng đất nước hội nhập toàn diện và sâu rộng

Cùng với việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngoại giao đa phương Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng, xác định là ưu tiên của nền ngoại giao mới. Trong thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc năm 1946, Người viết:“Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”. Tư tưởng coi trọng hợp tác đa phương đã được Đảng ta kế thừa và phát triển thể hiện qua chủ trương, định hướng về đối ngoại đa phương trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

Đặc biệt, kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, ngoại giao đa phương đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tư duy và thực tiễn triển khai đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Khái niệm “đa dạng hóa quan hệ” trên cơ sở “thêm bạn, bớt thù” lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện của Đảng tại Nghị quyết số 13/NQ-TW, ngày 20-5-1988, của Bộ Chính trị, thể hiện bước chuyển mang tính bước ngoặt trong tư duy đối ngoại và đặt nền móng cho chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa” của Đảng và Nhà nước Việt Nam sau này. Trên cơ sở đó, tư duy và nội hàm đối ngoại đa phương của Đảng ta đã được kế thừa, liên tục bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với tình hình quốc tế và phục vụ tốt nhất yêu cầu đặt ra của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Tại Đại hội XII của Đảng (năm 2016) và Đại hội XIII của Đảng (năm 2021), đối ngoại đa phương của Việt Nam đã được xác định là một định hướng chiến lược của đất nước. Nội hàm đối ngoại đa phương đã được Đảng và Nhà nước bổ sung, nâng tầm, làm sâu sắc, thể hiện bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy “tham gia” (Đại hội của Đảng X năm 2006, Đại hội XI của Đảng năm 2011) sang “chủ động, tích cực tham gia, phát huy vai trò, đóng góp xây dựng định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế” (Đại hội XII của Đảng năm 2016 và Đại hội XIII của Đảng năm 2021. Đồng thời, Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030” đã bổ sung định hướng “nỗ lực vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt hoặc hòa giải tại các diễn đàn, tổ chức đa phương có tầm quan trọng chiến lược”.

Gần 80 năm qua, sự trưởng thành của ngoại giao đa phương luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đất nước. Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước (1945 - 1975), ngoại giao đa phương đã mở ra mặt trận quan trọng, góp phần tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc. Thắng lợi mang ý nghĩa lịch sử của ngoại giao đa phương, với Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Hiệp định Pa-ri năm 1973, đã góp phần khẳng định vị thế một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, với các quyền dân tộc cơ bản trên trường quốc tế.

Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới (năm 1975 đến nay), ngoại giao đa phương đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng phá thế bao vây, cấm vận, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế đất nước, thu hút nguồn lực phục vụ phát triển. Mỗi dấu ấn của ngoại giao đa phương đều góp phần mở đường đưa đất nước từng bước hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Việc Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc vào năm 1977 có ý nghĩa chính trị và pháp lý quan trọng, khẳng định vị trí đầy đủ của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất trên trường quốc tế(12). Nỗ lực đa phương của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, từ năm 1985) và Hội nghị quốc tế Pa-ri (năm 1991) để giải quyết vấn đề Cam-pu-chia đã tạo đột phá, góp phần khai thông quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, như Trung Quốc, Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế, khu vực. Nếu việc gia nhập ASEAN (năm 1995) đánh dấu tiến trình hội nhập khu vực của đất nước thì việc gia nhập WTO sau gần 12 năm đàm phán là dấu mốc của nền kinh tế Việt Nam chính thức hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới ở quy mô toàn cầu. Đến nay, từ một quốc gia bị bao vây, cô lập, Việt Nam đã là thành viên của hầu hết cơ chế hợp tác, liên kết đa phương từ cấp độ toàn cầu (Liên hợp quốc, WTO, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế), liên khu vực (Diễn đàn Hợp tác Á - Âu, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương…) đến khu vực (ASEAN, Ngân hàng Phát triển châu Á…), sở hữu một mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) với hầu hết trung tâm kinh tế - thương mại hàng đầu thế giới. Cùng với quá trình đó, từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chỉ sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã trở thành một “đầu tàu” tăng trưởng của khu vực châu Á, quốc gia đang phát triển năng động, đứng thứ 35 trong số các nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Phát huy thành tựu trong hội nhập kinh tế quốc tế, ngoại giao đa phương đã đồng hành cùng đất nước trong nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế toàn diện trên mọi lĩnh vực. Việt Nam tích cực tham gia nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, nhất là Liên hợp quốc, trong giải quyết vấn đề hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, thúc đẩy quyền con người, thể hiện năng lực trên nhiều trọng trách quốc tế, nổi bật là đóng góp tích cực của Việt Nam khi đảm nhiệm các cương vị và nghĩa vụ quốc tế, như Chủ tịch ASEAN (năm 1998, 2010, 2020), Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009, nhiệm kỳ 2020 - 2021), thành viên Hội đồng Thống đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA, nhiệm kỳ 1991 - 1993, 1997 - 1999, 2003 - 2005, 2021 - 2023), Chủ nhà APEC (năm 2006, 2017), thành viên Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025)(13)… Việt Nam cũng bước đầu tham gia hình thành các cơ chế hợp tác, xây dựng luật lệ, chuẩn mực chung, nhất là việc thúc đẩy triển khai Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC), xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Đóng góp của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam cũng như hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng Việt Nam tung bay tại ngày càng nhiều Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế về quốc phòng - an ninh, hiện thực hóa cam kết với vai trò là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong duy trì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển chung của nhân loại.

Bên cạnh đó, ngoại giao đa phương cũng đồng hành cùng quá trình hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực khác, như văn hóa, an sinh xã hội, lao động, thông tin - truyền thông, môi trường, du lịch..., qua đó góp phần hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế, đồng thời thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển thị trường lao động, hệ thống an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo và thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc; gìn giữ và quảng bá hiệu quả giá trị văn hóa, lịch sử, truyền tải thông điệp về một đất nước Việt Nam văn hiến, yêu chuộng hòa bình,… Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, việc tham gia các cơ chế hợp tác đa phương khu vực và quốc tế đã góp phần phát triển nền khoa học, giáo dục tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, y tế, đáp ứng nhu cầu của người dân, đặc biệt giúp huy động sự hỗ trợ thiết thực, hiệu quả của các thể chế đa phương trong phòng, chống dịch bệnh, trong đó có việc viện trợ hơn 70 triệu liều vắc-xin ngừa dịch bệnh COVID 19. Thành tựu đạt được đã góp phần quan trọng, khẳng định vai trò của đối ngoại đa phương và mối quan hệ biện chứng gắn kết giữa đối ngoại đa phương và hội nhập quốc tế trong trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Ngoại giao đa phương Việt Nam: hướng tới kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đang vững bước tiến vào kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên vươn mình và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện hơn. Nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới, ngoại giao đa phương cần nỗ lực góp sức tranh thủ tối đa điều kiện, nguồn lực và cơ hội mới từ cục diện quốc tế và chủ nghĩa đa phương cho công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Cơ hội và thách thức đối với chủ nghĩa đa phương và ngoại giao đa phương trong thời đại mới

Trong thời gian tới, cục diện thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục có diễn biến phức tạp, khó lường, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế, chủ nghĩa đa phương, cũng như vai trò và hoạt động các thể chế đa phương khu vực và quốc tế với một số đặc điểm nổi bật.

Thứ nhất, hòa bình, hợp tác và phát triển là nguyện vọng chung của các dân tộc trên thế giới, nhưng tiếp tục đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, đặc biệt là dưới tác động của chiến tranh, xung đột, tranh chấp biên giới lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên và vấn đề an ninh phi truyền thống, như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thách thức về an ninh năng lượng, lương thực, nguồn nước, an ninh mạng, khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia... Đồng thời, xu hướng hành xử đơn phương, chính trị cường quyền, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân tộc vị kỷ tiếp tục là thách thức đối với chủ nghĩa đa phương. Nhưng về tổng thể, đa số các nước vẫn coi trọng việc tham gia các thiết chế hợp tác đa phương khu vực và quốc tế do nhu cầu bức thiết xử lý vấn đề toàn cầu vượt ngoài khả năng của một quốc gia đơn lẻ.

Thứ hai, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, lan rộng, thể chế hóa; tuy nhiên, dù cạnh tranh quyết liệt, các nước lớn vẫn tìm cách tránh làm đổ vỡ quan hệ và tê liệt hợp tác đa phương. Bên cạnh đó, tập hợp lực lượng tại các diễn đàn đa phương ngày càng đa dạng về hình thức, quy mô, tính chất; ngày càng có nhiều sáng kiến, đề xuất, tập hợp mới, nhất là liên kết tiểu đa phương, có thể ít gắn hơn với các thể chế hợp tác đa phương khu vực và quốc tế truyền thống. Trong bối cảnh đó, các nước vừa và nhỏ đứng trước sức ép “chọn bên” lớn hơn, nhưng cũng có thêm cơ hội phát huy vai trò do các nước lớn cần tranh thủ bạn bè, đối tác và cân nhắc tham gia các tập hợp lực lượng mới một cách linh hoạt, phù hợp.

Thứ ba, xuất hiện và hình thành xu thế và tiến trình mới, như xu thế chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI), đã và đang mở ra nhiều cơ hội phát triển, song cũng tiềm ẩn mặt trái, yếu tố phức tạp và đặt ra nhu cầu tăng cường quản trị toàn cầu trong các lĩnh vực này. Sự xuất hiện của các vấn đề mới thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế kéo theo việc chương trình nghị sự đa phương ngày càng được mở rộng, đa dạng, đi sâu vào nội dung chuyên ngành và mang tính liên thông.

Định hướng triển khai ngoại giao đa phương Việt Nam trong thời gian tới

Trong cục diện quốc tế như vậy, ngoại giao đa phương cần phối hợp chặt chẽ với các “binh chủng” đối ngoại của đất nước, tiếp tục đẩy mạnh và nâng tầm sự tham gia, đóng góp của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, tương xứng với tầm vóc, vị thế của đất nước.

Về tư duy, tiếp tục quán triệt triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng XIII của Đảng, các văn bản chỉ đạo mang tính định hướng của Đảng và Nhà nước về đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Cùng với đó, cần có sự chuyển biến tư duy mạnh mẽ hơn nữa từ “tham dự” sang “chủ động tham gia” trong triển khai công tác đối ngoại đa phương, vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong xây dựng, định hình thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế; tăng cường đổi mới sáng tạo trong cách thức triển khai và biện pháp đối ngoại đa phương theo hướng thực chất, hiệu quả.

Về biện pháp, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, song song với bảo đảm tính liên thông, đồng bộ trong tham gia diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế khác nhau có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bên cạnh việc “nuôi dưỡng” nội dung, sáng kiến mà Việt Nam đã ưu tiên, thúc đẩy một cách xuyên suốt, Việt Nam cần chủ động nắm bắt cơ hội, sẵn sàng tham gia cũng như đề xuất sáng kiến mới phù hợp với nhu cầu và tình hình hiện tại trong các lĩnh vực, như chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, AI, chuyển đổi năng lượng, ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và thách thức an ninh phi truyền thống khác. Để thực hiện được điều này, cần chú trọng đẩy mạnh, đào sâu nghiên cứu lĩnh vực chuyên ngành tại cơ chế hợp tác đa phương khu vực và quốc tế, nhất là trong vấn đề an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, tác động trực tiếp tới an ninh và phát triển của Việt Nam.

Về tổ chức thực hiện, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa bên trong và bên ngoài, phối hợp liên ngành, nhất là thông qua cơ chế phối hợp, trao đổi thường xuyên giữa các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để bảo đảm sự thống nhất về tư duy và đồng lòng trong hành động. Đây là đòi hỏi tất yếu khi Việt Nam tham gia diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế ngày càng mang tính liên thông và chuyên ngành. Đồng thời, nâng cao chất lượng, tính chủ động, sáng tạo trong công tác nghiên cứu về đa phương, từ đó tham mưu, đề xuất và triển khai hình thức, biện pháp và cách làm mới, sáng kiến đa phương mới.

Ở trong nước, triển khai hiệu quả điều ước, thỏa thuận, cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, thúc đẩy; xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế triển khai phù hợp để đáp ứng việc thực hiện cam kết và nghĩa vụ quốc tế. Bên cạnh đó, đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy triển khai công tác đối ngoại đa phương tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tăng cường đầu tư nguồn lực tài chính và con người cho công tác đối ngoại đa phương tương xứng với tiềm lực và vị thế của Việt Nam; trong đó, có tăng cường xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chuyên gia làm công tác đối ngoại đa phương vững mạnh, chuyên nghiệp, chuyên sâu, giàu bản lĩnh chính trị, đủ trình độ, năng lực, kỹ năng và có tính kế thừa.

Đặc biệt, năm 2025 là năm quan trọng, có nhiều dấu mốc lớn trong đối ngoại đa phương, như 30 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, 80 năm thành lập Liên hợp quốc. Tiếp đà đóng góp của Việt Nam cho các vấn đề chung của thế giới, công tác đối ngoại đa phương sẽ tập trung vào việc chuẩn bị, tổ chức tốt các sự kiện Việt Nam đăng cai, như Diễn đàn Tương lai ASEAN, Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Đối tác vì tăng trưởng xanh và mục tiêu toàn cầu lần thứ 4 (P4G), Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD); tiếp tục đảm nhận thành công trọng trách, nhiệm vụ trong các tổ chức, diễn đàn hợp tác đa phương khu vực và quốc tế, như ASEAN, Tiểu vùng sông Mê Công, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), các cơ chế hợp tác của Liên hợp quốc, trong đó có cơ chế của UNESCO và Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ nhiệm kỳ 2025 - 2027.

Đồng thời, Việt Nam tiếp tục đảm nhiệm vai trò thành viên tích cực và có trách nhiệm tại tổ chức, cơ quan, diễn đàn đa phương và tiếp tục ứng cử vào vị trí phù hợp với ưu tiên, lợi ích của Việt Nam, như ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028, lần đầu tiên có ứng cử viên cho vị trí Thẩm phán Tòa án quốc tế về luật biển (ITLOS) nhiệm kỳ 2026 - 2035… Việt Nam cũng sẽ đóng góp tích cực, trách nhiệm hơn vào các vấn đề chung, nhất là ứng phó với các thách thức toàn cầu, như biến đổi khí hậu, giảm phát thải ròng, thúc đẩy các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs); tham gia sâu hơn vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, cứu hộ, cứu nạn, viện trợ nhân đạo...

Với phương hướng đề ra, ngoại giao đa phương sẽ tiếp tục đồng hành, góp phần tạo đà thuận lợi đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam ./.

 

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG CUỘC CÁCH MẠNG VỀ TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ TIẾN HÀNH ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

 

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ là một bộ phận trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng; là hoạt động nhằm bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đứng trước nhiều yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn, cần có giải pháp trọng tâm để góp phần hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của Đảng trước dân tộc.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các chỉ thị, quy định của Đảng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, thời gian qua công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tăng cường chỉ đạo. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cán bộ, đảng viên về vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được nâng lên. Nội dung, nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ được triển khai, thực hiện khá đồng bộ. Việc rà soát, thẩm định, kết luận tiêu chuẩn chính trị và bố trí, sử dụng cán bộ ở hầu hết cấp ủy có nhiều chuyển biến và đi vào nền nếp, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước có bước chuyển biến quan trọng. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

 

Tuy nhiên, một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nhận thức thật sự đầy đủ, sâu sắc về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới; còn vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Công tác nắm, giải quyết vấn đề chính trị hiện nay, nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một số cấp ủy, tổ chức đảng còn lúng túng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu, độc trên không gian mạng có thời điểm chưa kịp thời, đã tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Việc quản lý hoạt động của tổ chức phi chính phủ, hội, quỹ, doanh nghiệp xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và chương trình, dự án xây dựng chính sách, pháp luật có tài trợ của nước ngoài trong các lĩnh vực năng lượng, môi trường, bình đẳng giới… còn bất cập. Hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài, có quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài còn chưa chặt chẽ. Công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng trong phát hiện, trao đổi thông tin, tình hình về chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, kịp thời và còn thiếu cơ chế cụ thể để phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan phối hợp. Tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước hoặc thông tin chưa được phép công bố chưa được ngăn chặn triệt để.

 

Hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, xảo quyệt, triệt để lợi dụng sơ hở, thiếu sót của ta để đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, do công tác phổ biến, quán triệt chủ trương, quan điểm và quy định, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa cụ thể, toàn diện; chưa kết hợp chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ với quản lý cán bộ, đảng viên; công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước ở một số nơi chưa được tiến hành thường xuyên; tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác tham mưu ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới.

 

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, nhanh chóng; chịu tác động, ảnh hưởng đa chiều từ sự điều chỉnh chính sách đối ngoại, cạnh tranh giữa các nước lớn. Trong khi đó, ta tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Việc quyết liệt triển khai chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy sẽ có tác động đến tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên... Đây là yếu tố để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để gia tăng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng không gian mạng để truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch, kích động phá hoại tư tưởng; phát tán nhiều thông tin xấu, độc xuyên tạc tình hình nội bộ Đảng và hệ thống chính trị… nhằm làm nảy sinh tâm tư trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, hòng làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Chúng lợi dụng quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế của đất nước ta để đẩy mạnh hoạt động thu thập bí mật nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tác động, hướng lái quá trình tham mưu, hoạch định đường lối, chính sách với ý đồ từng bước chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Trong khi đó, ở trong nước, một số khó khăn, thách thức tiếp tục tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục phát hiện nhiều vụ án, vụ việc vi phạm nghiêm trọng, phức tạp hơn. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xử lý thông tin xấu, độc của một số cơ quan chức năng có lúc chưa đáp ứng yêu cầu.

Quán triệt quan điểm công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng chiến lược của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, liên quan trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ; để chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; trong thời gian tới, nhất là trong bối cảnh các cấp, các ngành, các địa phương vừa thực hiện tổng kết, sắp xếp tổ chức bộ máy theo định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của đồng chí Tổng Bí thư Tô  Lâm, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, vừa tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung tăng cường chủ trương, giải pháp sau:

 

Một là, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên về yêu cầu, nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới; thống nhất nhận thức công tác bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu; xác định nguy cơ, thách thức lớn nhất hiện nay về chính trị nội bộ là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để triển khai chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động nắm chắc tình hình nội bộ, đặc biệt là diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và dư luận quần chúng nhân dân; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Tập trung phát hiện và ngăn chặn sớm những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” ngay từ cơ sở; xử lý kịp thời trường hợp cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.

 

Hai là, tập trung tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Quá trình thực hiện phải bám sát các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam, gắn với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương. Việc tổng kết phải được tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cầu thị, cụ thể, sâu sắc, khẩn trương; xác định rõ yếu kém, bất cập, nguyên nhân; đề xuất sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông. Đồng thời, chú trọng làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền phản ánh đậm nét việc triển khai, thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong tình hình mới nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong nhân dân; khẳng định việc tinh gọn tổ chức bộ máy là điều kiện rất quan trọng để đất nước phát triển. Nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy là công việc rất khó khăn, nhạy cảm, phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi con người trong từng tổ chức, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận, quyết tâm cao, dũng cảm và hy sinh lợi ích cá nhân, vì lợi ích chung của từng đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

 

Ba là, tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; trong đó, chú trọng công tác chỉ đạo, định hướng thông tin, tạo dòng thông tin tích cực, lành mạnh là chủ lưu, lấn át thông tin tiêu cực, sai sự thật trên không gian truyền thông; chủ động nắm bắt, kịp thời phát hiện, xử lý sớm bức xúc nổi lên ở từng địa bàn, lĩnh vực tác động đến tư tưởng, tâm trạng xã hội; kịp thời đấu tranh phản bác sắc bén các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc trên không gian mạng và ngay từ cơ sở về chủ trương, đường lối, công tác nhân sự, việc sắp xếp tinh, gọn tổ chức bộ máy và hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gia tăng, kích động hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc huy động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 

Bốn là, chủ động rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình và nội dung khác liên quan đến nhân sự dự kiến tham gia cấp ủy các cấp và đối với cán bộ, đảng viên được quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; làm việc ở cơ quan, bộ phận, vị trí trọng yếu, cơ mật; thường xuyên làm việc với cá nhân, tổ chức nước ngoài. Chú ý bám sát quan điểm chỉ đạo “nắm chắc lịch sử chính trị và chú trọng vấn đề chính trị hiện nay”; coi trọng năng lực, uy tín và sự tin cậy về chính trị; không bỏ “sót” người thật sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân; đồng thời, không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm tiêu chuẩn chính trị và trách nhiệm nêu gương. Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài. Quản lý chặt hoạt động hợp tác quốc tế, tiếp nhận tài trợ từ nước ngoài. Thực hiện nghiêm quy định bảo mật và bố trí, quản lý cán bộ, đảng viên làm việc tại cơ quan, bộ phận, vị trí trọng yếu, cơ mật, tham mưu chiến lược. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

 

Năm là, tăng cường công tác quản lý báo chí, truyền thông, bảo đảm an toàn, an ninh mạng; thực hiện tốt công tác quy hoạch, sắp xếp cơ quan báo, đài, tạp chí; chỉ đạo, định hướng thông tin báo chí theo phương châm chủ động, kịp thời, hiệu quả; phát huy vai trò của cơ quan báo chí trong định hướng dư luận; giữ nghiêm kỷ luật thông tin đối với vấn đề chính trị, đối ngoại, chủ trương, đường lối và công tác nhân sự của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, quy định về việc thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên internet, mạng xã hội, quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng, trách nhiệm nêu gương; nghiêm cấm để lộ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ, lan truyền, tán phát thông tin sai lệch hoặc đơn, thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh mà nội dung xấu, mang tính xuyên tạc, vu khống, kích động hoặc gây mất đoàn kết nội bộ.

 

Sáu là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự phục vụ đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng; tập trung làm tốt công tác nắm tình hình; nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nghiêm trách nhiệm tiếp công dân, tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời, đúng quy định vụ việc khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân ngay từ cơ sở; quan tâm xem xét, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; kịp thời có hướng chỉ đạo giải quyết, xử lý vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài, không để phát sinh thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự; chỉ đạo cơ quan chức năng xử lý nghiêm hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối, kích động, xúi giục, tổ chức công dân khiếu kiện, chống phá trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp.

 

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự trong sạch, vững mạnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, nhất là trách nhiệm của cấp ủy cơ sở. Trong tình hình hiện nay, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần được tiến hành theo phương châm chủ động phòng ngừa, lấy tự bảo vệ và giữ vững bên trong là chính; lấy xây dựng, chỉnh đốn Đảng làm cơ sở, nền tảng và phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cơ bản, thường xuyên; đồng thời, đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện nội dung, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo Kết luận số 108-KL/TW, ngày 26-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới”, nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ./.