Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: “CÁC ANH ƠI, CÒN VÀI TIẾNG NỮA THÔI LÀ TOÀN THẮNG RỒI MÀ”!!!

     Là những hình ảnh do nhiếp ảnh gia Pháp Jacques Pavlovsky ghi lại vào ngày 30/4/1975, nhưng không phải khoảnh khắc xe tăng 843, 390 húc cổng Dinh, mà là ba chiếc T-54 của Quân Giải Phóng cháy rực giữa phố, khói đen cuồn cuộn, bi tráng đến nghẹn lòng.

Sáng 30/4/1975, khi Sài Gòn chỉ còn cách vài giờ là hoàn toàn giải phóng, tại cửa ngõ Ngã tư Bảy Hiền - Lăng Cha Cả, một trận đánh ác liệt nổ ra giữa Trung đoàn xe tăng 273 và tàn quân Biệt Cách Dù 81 của Việt Nam Cộng hòa. Đây là tuyến phòng thủ cuối cùng bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy - “cánh cửa thép” chốt giữ sinh mệnh chế độ cũ. Biết rõ thời khắc định mệnh đã cận kề, các kíp xe vẫn anh dũng lao lên, quyết mở đường cho đại quân tiến vào trung tâm.

Trong cuộc đột phá ấy, 8 xe tăng T-54 và 1 xe bọc thép đã bị hạ cháy. 25 cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống khi toàn thắng chỉ còn cách vài giờ ngắn ngủi…

Chiều 30/4, các đơn vị tổ chức thu dọn chiến trường, làm công tác thương binh, liệt sĩ. Nhưng riêng những chiếc xe tăng cháy phải đợi đến 4 ngày sau, khi đã nguội bớt, mới có thể tiếp cận. Khi mở được nắp xe, hầu hết hình hài các anh chỉ còn lại một nhúm tro...
Các anh được đưa về an táng tại Nghĩa trang Tân Xuân gần đó. Trong 476 phần mộ liệt sĩ nơi đây, có tới 108 người đã hy sinh ngay trong ngày lịch sử 30/4/1975.

Thân thể và lòng quả cảm của các anh đã đổ xuống vào đúng thời khắc sinh tử của dân tộc, tô thắm thêm trang sử cuối cùng của cuộc chiến giành độc lập, thống nhất đã ngót nghét 30 năm ròng. Họ đã nằm lại, lặng lẽ mà oai hùng, giữa tiếng súng cuối cùng, để Tổ quốc bước vào kỷ nguyên đất nước liền dải.

Những người lính ấy, những kíp xe ấy, những “nấm mồ thép đỏ lửa” giữa lòng phố thị… mãi mãi là khúc tráng ca bất tử trong tim dân tộc./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGƯỜI PHỤ NỮ BÍ ẨN CỨU ĐẠI TƯỚNG PHẠM VĂN TRÀ THOÁT CHẾT GIỮA VÒNG VÂY KẺ ĐỊCH!

     Năm 1966, địch tung Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 ngụy xuống bình định Long Mỹ, dựng căn cứ dã ngoại kéo dài dọc kênh xáng, sát chi khu quận lỵ. Hàng rào kẽm gai dày đặc siết chặt quanh căn cứ, hỏa điểm ken kín như lưới thép. Tiểu đoàn 309 nhận nhiệm vụ đánh vào căn cứ này và nhanh chóng thành công.

Trời vừa hửng, Tiểu đoàn trưởng giao Tiểu đoàn phó Phạm Văn Trà ở lại xử lý thương vong, tử sĩ rồi trở về đơn vị sau. Khi lực lượng đã rời đi, địch cho phi pháo bắn chặn các tuyến rút quân. Một mảnh pháo khiến ông bị thương nặng. Chỉ còn cậu liên lạc ở lại dìu ông vào cánh đồng. Biết mình không thể đi xa, ông ra lệnh cho cậu liên lạc quay về đơn vị, tránh hy sinh vô ích.

Giữa cánh đồng vắng, Phạm Văn Trà nằm lại một mình, vừa đau vừa lo, đầu óc xoay vòng tìm cách thoát nạn. Bỗng ông thấy một cậu bé khoảng mười tuổi xuất hiện trên bờ ruộng. Ông cố gọi. Cậu bé sững lại, nhìn ông thật lâu rồi quay đầu chạy biến về phía ấp.

“Rắc rối rồi,” ông nghĩ, tay siết chặt khẩu súng ngắn để phòng trường hợp cậu bé báo địch. Thời gian ngưng đọng, từng phút trôi dài như cả giờ. Nhưng đến xế trưa, chính cậu bé quay lại. Lặng lẽ đặt một chiếc thúng xuống bờ cỏ rồi bỏ chạy. Khi mở ra, ông thấy xôi, nửa con gà và nước uống. 

Nhá nhem tối, cậu bé trở lại cùng mẹ. Người phụ nữ dáng mảnh, mặt hiền, dìu ông về nhà trong ánh đèn dầu hắt đỏ. Chị nói nhỏ, đầy áy náy: “Ban ngày lính quốc gia nhan nhản ngoài ấp, má con tui không dám ra đón”.

Biết ông bị thương, chị giấu ông vào hầm tránh pháo ngay trong buồng, nơi lính đồn vẫn ra vào mua rượu. Nhờ sự nhanh trí của chị, ông được che chở an toàn suốt nhiều ngày. Chị chăm sóc cơm nước, rửa vết thương chu đáo. Nhưng rồi thật sự lo lắng khi thấy thương tích trở nặng, mưng mủ. 

Cuối cùng, trước quyết tâm của ông muốn trở lại đơn vị, chị tìm cách đưa ông rời ấp. Sáng sớm, chị giả vờ đưa người nhà đi bệnh, dẫn ông xuống xuồng, lợi dụng sự quen biết với lính gác để vượt qua nhiều trạm kiểm soát. Đi được vài cây số, gặp du kích, chị gửi ông lại rồi lặng lẽ quay về.

Phạm Văn Trà được cứu chữa kịp thời. Một tháng sau, khi trở lại Tiểu đoàn, đồng đội vỡ òa ôm lấy ông. Ai cũng nghĩ ông đã nằm lại nơi trận địa hôm ấy.

Mãi đến khi hòa bình lập lại, ông trở về Long Mỹ, lặng tìm lại căn nhà nhỏ nơi hai mẹ con đã che chở mình. Con kênh ngày nào vẫn chảy, bờ ruộng vẫn trải dài, nhưng người xưa thì chẳng thấy. Chiến tranh đã mang theo dấu vết của họ đi mất. 

Ông đã nhờ khắp các nơi, đăng cả tin tìm người trên báo, truyền hình để hy vọng có thể tìm lại hai mẹ con. Phải đến năm 2006, tức tròn 40 năm sau, ông mới tìm được chị và gia đình qua tin tức của anh em ở tỉnh đội Sóc Trăng./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NƯỚC ĐI RẤT HAY CỦA AN NINH VIỆT NAM!

     Mới cách đây vài ngày, các tổ chức, cá nhân chống phá Việt Nam vẫn còn chưa rõ Y Quynh Bdap đang ở đâu. Hầu hết đám này đều cho rằng Y Quynh Bdap vẫn còn đang ở Thái Lan và ở một trại giam nào đó. Đám này vẫn khá tự tin khi nhiều bên, trong đó có cả Ủy ban nhân quyền Liên Hợp Quốc và Nhân quyền EU lên tiếng “bảo kê” cho Y Quynh Bdap.

Nhưng, Việt Nam đã có một nước đi cực kỳ hay khiến đám này không thể biết được thông tin và gào mồm phản đối. Việt Nam đã thuê chuyên cơ riêng, với yêu cầu bảo mật đặc biệt từ Thái Lan, qua Lào về Việt Nam, để đưa Y Quynh Bdap về nước. 

Việt Nam đã thuê máy bay riêng từ hãng MJETS - Thái Lan. Theo quan sát, dòng máy bay có thể là Cessna Citation Bravo. Giá thuê trung bình dòng này vào khoảng 100 - 130 triệu/giờ bay, với các yêu cầu đặc biệt như bảo mật, lộ trình giữ kín, đội ngũ phi hành đoàn cam kết che giấu thông tin… có thể lên đến 200 - 250 triệu/giờ bay. Tức là nếu tính sơ qua, chuyến bay đưa Y Quynh Bdap về nước có thể tốn hơn 700 triệu đồng. 

Thực tế, Việt Nam hoàn toàn có thể điều các máy bay thương mại đưa Y Quynh Bdap về nước, bao trọn khoang thương gia hoặc điều máy bay thương mại rỗng khách. Tuy nhiên, việc này dễ bị lộ thông tin lịch trình, bảo mật, số hiệu máy bay và chuyến bay. 

Nói chung, an ninh Việt Nam đã tính toán rất kỹ càng, bảo mật thông tin rất tốt, chọn cách thức vận chuyển đối tượng không để lộ thông tin gì. Chỉ đến khi Y Quynh Bdap xuất hiện trên VTV1, đám phản động bất mãn với á khẩu vì không biết Y Quynh Bdap đi về Việt Nam bằng cách nào và lúc nào./.
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM ĐỊNH HƯỚNG CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO TRONG TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA!

     Hôm qua nay, một số bạn đặt một số vấn đề khi mình chia sẻ status về tình trạng "báo chí vả nhau". Không phải vô cớ mình dùng từ mạnh vậy; bởi đằng sau những bài viết, phóng sự trái chiều là một căn bệnh sâu hơn, đó là sự thiếu thống nhất trong định hướng tuyên truyền của một số cơ quan truyền thông - những người lẽ ra phải đứng mũi chịu sào trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ. Để thấy rõ gốc rễ, chúng ta cần nhìn lại bản chất của xã hội chủ nghĩa, vai trò của báo chí cách mạng, và những quy định pháp luật, văn kiện của Đảng đã đặt ra đường ranh rõ ràng nhưng lại đang bị xô lệch.

Một số người biện hộ cho hiện tượng báo chí đối lập nhau bằng lập luận “tự do báo chí” và tự do ngôn luận. Họ quên rằng xã hội chủ nghĩa không phải là trạng thái hỗn mang, mà là một xã hội được định hướng cụ thể. Hiến pháp 2013 quy định quyền con người, quyền công dân, nhưng nhấn mạnh những quyền này có thể bị hạn chế bằng luật vì quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Điều 15 nhấn mạnh việc thực hiện quyền tự do của mỗi người không được xâm hại lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và quyền của người khác. Điều 25 bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng yêu cầu việc thực hiện phải theo quy định của pháp luật.

Luật Báo chí cũng chỉ rõ là báo chí Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu của đời sống xã hội, là diễn đàn của nhân dân và tiếng nói của tổ chức Đảng, Nhà nước, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Đồng thời, luật nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí để xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nói cách khác, tự do báo chí trong xã hội ta là tự do trong khuôn khổ định hướng, chứ không phải tự do vô tổ chức.

Ngược dòng thời gian, Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 cũng khẳng định ba nguyên tắc là... văn hóa là một mặt trận, Đảng lãnh đạo văn hóa, và phải gắn văn hóa với kháng chiến – kiến quốc. Nghị quyết 33-NQ/TW (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam nhấn mạnh mục tiêu xây dựng con người toàn diện trên nền tảng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, hình thành lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Nghị quyết 35-NQ/TW (2018) xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; đồng thời kêu gọi chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và ngăn chặn tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hoá”. Đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tuyên truyền, giáo dục và truyền thông.

Thế nhưng trên thực tế hiện nay, những nguyên tắc này đang bị xem nhẹ hoặc bị diễn giải tùy tiện. Việc một số địa phương vẫn đặt tên đường, trường học theo những nhân vật lịch sử còn tranh cãi như Gia Long, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký,... bất chấp chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương rằng không đặt tên đường với các nhân vật lịch sử còn nhiều ý kiến trái chiều cho thấy sự bất nhất giữa chủ trương và thực thi. Khi báo chí, đài truyền hình ở một nơi kịch liệt phê phán nhân vật bán nước, nơi khác lại làm phóng sự ca ngợi vị ấy “được dân thờ cúng”, người dân sẽ hỏi... rốt cuộc đâu là định hướng chính thức của Đảng?

Trường hợp Hoàng Duy Hùng mới lên VTV1 – một nhân vật lưu vong từng tham gia Mặt trận Việt Nam Tự Do, kêu gọi lật đổ chế độ, bị bắt tại Việt Nam vì liên quan âm mưu đặt bom – là ví dụ sống động cho sự bất nhất định hướng. Trong sách Cách mạng trắng, Hùng kêu gọi vận động theo kịch bản “cách mạng màu” để thay đổi chế độ. Báo chí chính thống từng xác định ông ta là đối tượng phản động, khủng bố. Vậy mà sau đó lại cũng có những chương trình, bài báo chính thống ca ngợi ông, một số quan chức cấp cao lại gọi ông ta là “đảng viên chân chính ngoài Đảng”. Kết quả là dân chúng không biết dựa vào đâu để nhận định, Hoàng Duy Hùng là kẻ phá hoại hay một “bậc trí thức hải ngoại” như một số bài viết tâng bốc? Sự bất nhất này không chỉ làm rối loạn nhận thức mà còn vô tình tiếp tay cho những kẻ từng gieo rắc bạo lực, chống phá nay có cơ hội “tẩy trắng”.

Cũng trong tháng qua, dư luận dậy sóng về việc tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh được đưa vào danh sách 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật tiêu biểu sau 1975 và đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa. Nhiều bài báo ngợi ca, xem đây là “niềm tự hào văn học”, trong khi Hội Cựu chiến binh và các cựu chiến binh lại gửi công văn phản đối, coi tác phẩm này là xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ người lính Bộ đội Cụ Hồ, mô tả cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ như một bi kịch vô nghĩa. Lập luận “văn chương có quyền hư cấu” được lặp lại đi lặp lại để biện minh, nhưng như bài trước tôi đã phân tích, hư cấu không thể trở thành chiếc ô che đậy việc biến một biểu tượng cao quý thành hình ảnh u ám, suy đồi. Khi báo chí ca ngợi một tác phẩm bị xem là xúc phạm danh dự người lính, còn tạp chí của Đảng và Hội CCB lại cảnh báo ngược lại, thì người đọc không chỉ hoang mang mà còn nghi ngờ chủ đích của việc vinh danh này.

Vấn đề mình trăn trở nhất không chỉ nằm ở một cuốn tiểu thuyết, mà nằm ở chỗ... khi đưa tác phẩm vào nhà trường, chúng ta giới thiệu tác giả với học sinh bằng “chuẩn đạo đức” nào? Với những thông tin của GS Nguyễn Cảnh Toàn rằng Bảo Ninh từng dính tới vụ việc phá hoại mẫu thí nghiệm của đồng nghiệp ở Viện Sinh học, khiến cơ quan chức năng phải vào cuộc, và sau đó bị kỷ luật, bị khai trừ khỏi Đảng, buộc rời cơ quan… thì câu hỏi đặt ra là... một nhân cách đang bị đặt dấu hỏi như vậy sẽ được “đóng khung” ra sao trong bài học? Học sinh sẽ học được điều gì? rằng cứ viết “hay” là được tôn vinh bất chấp chuẩn mực? rằng sai phạm rồi cũng có thể “rửa” bằng hào quang văn chương? Hay tệ hơn, có em sẽ ngộ nhận rằng chống đối, phá hoại cũng có thể được cổ vũ nếu biết khoác áo “nghệ thuật”?

Sự nghi ngại ấy càng sâu sắc khi ta nhìn vào bối cảnh chính trị của những người thúc đẩy tác phẩm. Nhóm Kiến nghị 72 đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp đã được báo chí liệt kê, gồm các tên tuổi như Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc. Đây lại chính là những người giữ vai trò quan trọng trong việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa, ông Nguyễn Minh Thuyết là tổng chủ biên chương trình GDPT 2018 và chủ biên bộ sách Cánh Diều; GS Trần Đình Sử là tổng chủ biên SGK Ngữ văn nâng cao. Báo chí chính thống và tạp chí nghiên cứu chỉ ra nguy cơ “tự diễn biến – tự chuyển hoá” khi những người ký kiến nghị đòi đa đảng đồng thời nắm giữ vị trí quyết định nội dung giáo dục. Khi họ cổ vũ việc đưa một tác phẩm gây tranh cãi chính trị vào sách giáo khoa, người dân có quyền đặt câu hỏi về động cơ chính trị của hành động này.

Hậu trường lịch sử an ninh Việt Nam từng ghi nhận những âm mưu cài cắm. Trong kế hoạch CM‑12 những năm 1980, tổ chức Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh tuyển mộ biệt kích, cung cấp vũ khí và tiền giả nhằm phối hợp trong–ngoài lật đổ chính quyền. Lực lượng an ninh đã dùng chính điện đài của địch để điều khiển, bắt trọn ổ. Trong bộ máy, cũng từng có cán bộ cấp cao như Nguyễn Hà Phan bị khai trừ vì phản bội. Những bài học ấy cho thấy, kẻ thù luôn tìm cách leo cao, chui sâu; chúng khai thác sự lỏng lẻo trong tổ chức để cài người, “bật lửa” từ bên trong.

Chính vì vậy, khi thấy truyền thông bất nhất – lúc tôn vinh, lúc đả kích – chúng ta không nên coi đó chỉ là chuyện “khác biệt góc nhìn”. Đằng sau có thể là hệ quả của sự suy thoái tư tưởng, sự thâm nhập của quan điểm lệch lạc vào các cơ quan ngôn luận, hoặc ít nhất là sự buông lỏng trách nhiệm định hướng. Nếu không chấn chỉnh, chẳng những người dân hoang mang mà còn tạo kẽ hở cho chiến tranh thông tin len lỏi, nuôi dưỡng những mầm mống “cách mạng màu” mà ta đã thấy ở Đông Âu, Liên Xô.

Để giải quyết căn bệnh “báo chí vả nhau”, trước hết phải khẳng định lại vai trò trung tâm của Ban Tuyên giáo trong việc định hướng, thẩm định và uốn nắn nội dung truyền thông. Tôi xin đề xuất một số kiến nghị cụ thể sau: 

Cần thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về báo chí. Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo cần kiên quyết xử lý các cơ quan truyền thông đưa tin trái quan điểm, phủ nhận chính nghĩa cách mạng, ca ngợi nhân vật phản diện. Song song, cần khuyến khích những sản phẩm báo chí sâu sắc, bám sát đường lối, góp phần củng cố niềm tin nhân dân.

Hai là, phải tăng cường phổ biến văn kiện của Đảng, pháp luật về văn hóa – tư tưởng. Các đài, báo phải thường xuyên tuyên truyền Đề cương văn hóa 1943, Nghị quyết 33 và Nghị quyết 35, để người làm báo hiểu rõ phương châm “văn hóa là mặt trận” và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Nữa là, cần rà soát lại việc đặt tên đường, xây dựng biểu tượng. Thực hiện nghiêm hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về không đặt tên đường với nhân vật lịch sử còn tranh cãi. Việc “vinh danh” một con người hay tác phẩm phải dựa trên tiêu chí phù hợp với đường lối, không chiều theo phong trào hoặc áp lực dư luận.

Cần phải minh bạch quy trình chọn tổng chủ biên, chủ biên sách giáo khoa. Ngăn chặn nguy cơ cài cắm quan điểm lệch lạc trong chương trình giáo dục. Những người tham gia soạn sách cần được kiểm tra lập trường chính trị, tránh tình trạng ký kiến nghị đòi đa đảng nhưng vẫn nắm trọng trách quản lý nhà nước về giáo dục.

Cuối cùng là cần phải đẩy mạnh giáo dục lịch sử và tuyên truyền phòng chống “tự diễn biến, tự chuyển hoá”. Nghị quyết Trung ương 4 đã coi đây là một trong những nguy cơ lớn, cần được nhận diện và xử lý sớm. Đưa nội dung này vào đào tạo bồi dưỡng cán bộ, phóng viên và phổ biến tới quần chúng nhân dân nắm vững, nắm rõ.

Là người từng làm công tác Đoàn và làm dư luận viên ở cơ sở, mình hiểu người dân rất nhạy với sự bất nhất. Khi báo chí, truyền hình của Đảng và Nhà nước lúc phê phán, lúc ca ngợi cùng một đối tượng; khi định hướng văn hóa – giáo dục mơ hồ hoặc bị chi phối bởi những người có quan điểm lệch lạc, thì niềm tin xã hội bị xói mòn. Đến lúc ấy, những luận điệu “cách mạng màu”, “đa nguyên đa đảng” sẽ dễ dàng len lỏi vào tâm trí nhân dân.

Có người mỉa mai như vậy là hạn chế tự do của nhân dân. Nhưng xin thưa, Tuyên giáo là tuyên truyền và định hướng chứ không phải là cấm đoán hay “bịt miệng”; Tuyên giáo là định hướng, dẫn dắt và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Làm tốt công tác này nghĩa là đưa nhân dân đến cái đẹp – cái đúng của văn hóa cách mạng, đồng thời kiên quyết vạch mặt những âm mưu lợi dụng văn chương, lịch sử, truyền thông để phủ nhận chính nghĩa. Đó vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là bổn phận của mỗi người làm báo, mỗi cán bộ, mỗi công dân yêu nước./.
Khuyết danh ST.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH SÁCH “CHIÊU HIỀN ĐÃI SĨ” CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CHẾ ĐỘ MỚI SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM!

     Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng, tài năng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sức hút, sức tác động lạ kỳ. Nếu coi bản chất của cuộc cách mạng chân chính là văn hóa, thì việc thực hành văn hóa, nâng tầm văn hóa của cả dân tộc cũng là thực hành một cuộc cách mạng to lớn và sâu sắc.
 
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng ta lãnh đạo, nhân dân ta đồng sức đồng lòng, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, làm nên một sự kiện long trời, lở đất, thay đổi căn bản số phận của cả dân tộc và mỗi người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
 
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo bước ngoặt sâu sắc, mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao; xây đắp một chế độ xã hội mới mẻ, tốt tươi, đẹp đẽ ở Việt Nam; thể hiện đầy đủ, sâu sắc và sinh động bản chất dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thắng lợi vẻ vang đó là động lực, là mục tiêu cao cả, là niềm cảm hứng to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta viết tiếp trang sử mới của một thời đại mới vì niềm tự hào, tự tôn dân tộc, vì phẩm giá con người. Nhà thơ Tố Hữu đã viết những câu thơ hào sảng, lay động: “Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh / Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời” (Huế tháng Tám); Nhà thơ Nguyễn Đình Thi reo vui: “Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha” (Đất nước). Trong âm nhạc, Nhạc sĩ Bùi Công Kỳ với ca khúc “Ba Đình Nắng”, phổ thơ Vũ Hoàng Địch, đã cất lên những giai điệu tự hào, kiêu hãnh: “Gió vút lên ngọn cờ trên kỳ đài phơi phới/ Gió vút lên đây bao nguồn sống mới dạt dào/ Tôi về đây lắng nghe bao tiếng gọi/ Của mùa thu cách mạng, mùa vàng sao… ”.
 
Ngay từ những ngày đầu và nhiều năm tháng sau đó, Cách mạng Tháng Tám và nguồn sáng tin yêu từ lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trở thành niềm kiêu hãnh, sức kết nối và lan tỏa của triệu triệu con tim, thành niềm cảm hứng lớn lao, trong trẻo, ào ạt của cả dân tộc đang tự tin vươn về phía trước. Với tầm nhìn thời đại, tầm vóc văn hóa, bản lĩnh chính trị, cùng với việc đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã rất yêu quý, tôn trọng nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ. Và như một sự đáp đền, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ tỏ rõ sự yêu kính, ngưỡng mộ và biết ơn cách mạng, biết ơn Chủ tịch Hồ CHí Minh - hiện thân cao cả của Đảng, của Chính phủ và chế độ mới, nhất tâm đi theo con đường sáng mà Cách mạng Tháng Tám đã khai mở.
 
Để xây dựng chế độ mới, chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến kiến quốc nhiều hy sinh, gian khổ ở phía trước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực thi nhiều biện pháp nhằm phát hiện, tập hợp, sử dụng, trọng dụng nhân tài; giúp đỡ thế hệ trí thức mới tiến bộ, đào tạo họ thành những những trí thức “chính tâm và thân dân”. Trong bộ máy của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông Vĩnh Thuỵ (vua Bảo Đại của chế độ cũ) làm cố vấn Chính phủ, khá nhiều bộ trưởng, thứ trưởng là nhân sĩ, trí thức đã tham chính. Cụ Hồ xác định, cùng với chống “giặc đói”, “giặc dốt”, giặc ngoại xâm, thì phải kiên quyết, nhanh chóng củng cố và tăng cường bộ máy chính quyền, thực thi quyền dân chủ của nhân dân “xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”. Chính phủ lâm thời tổ chức chu đáo, khẩn trương việc soạn thảo Hiến pháp cùng các công việc cho Tổng tuyển cử. Bản dự án Hiến pháp được Hội đồng Chính Phủ thảo luận, sửa đổi, bổ sung, công bố trên báo chí và gửi văn bản đến tận các làng, xã, thôn, bản xin ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời, tiếp tục mở rộng thành phần là những người có tên tuổi, có uy tín, là nhân sĩ, trí thức tiêu biểu như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Tố, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng, Vũ Đình Hoè, Cù Huy Cận… và một số thành viên khác của Việt Quốc, Việt Cách.
 
Trước ngày diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu: “Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình…”, “Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, Kiên quyết chống bọn thực dân, Kiên quyết tranh quyền độc lập”.
 
Qua những lần bổ sung và thông qua Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội, trong thành phần Quốc hội, Chính phủ có thêm sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Bùi Bằng Đoàn… Trong bài viết “Nhân tài và Kiến quốc”, đăng báo Cứu quốc, số ra ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài... E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân”.
 
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ mới, nhiều trí thức, văn nghệ sĩ là người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài đã tự nguyện rời bỏ cuộc sống nơi phồn hoa, trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến kiến quốc đầy gian khổ, thiếu thốn, như Hoàng Minh Giám, Vũ Ðình Tụng, Tạ Quang Bửu, Phan Anh, Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Lương Ðịnh Của, Nguyễn Văn Huyên, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch, Ðặng Văn Ngữ, Trịnh Ðình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon Tum... và nhiều người khác.

Câu chuyện nhà khoa học trẻ Phạm Quang Lễ du học ở Pháp từ năm 1935, tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân tại 5 trường đại học danh tiếng của Pháp, từng làm việc tại Trường Quốc gia Hàng không và Vũ trụ Pháp, sau đó sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí của Đức. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến thăm nước Pháp vào ngày 18/9/1946, Phạm Quang Lễ cùng với ba trí thức trẻ khác là Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước, Vũ Đình Quỳnh theo Người về nước. Trong điều kiện rất khó khăn, thiếu thốn ở chiến khu Việt Bắc, ông đã triển khai nghiên cứu, chế tạo vũ khí cho quân đội non trẻ của ta. Tên mới Trần Đại Nghĩa là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho ông. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã chủ trì nghiên cứu, tổ chức chế tạo thành công nhiều loại vũ khí đang rất cần cho bộ đội ta, phù hợp với thực tế chiến trường và cách đánh của ta. Điển hình là súng và đạn Bazôka để đánh xe tăng, xe bọc thép và lô cốt địch; súng không giật (SKZ) cỡ 60mm gây cho kẻ địch nhiều thất bại và nỗi kinh hoàng.
 
Bác sĩ Đặng Văn Ngữ đang sống và làm việc tại Nhật Bản đã nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, trở về nước với tài sản quý nhất là các giống nấm kháng sinh để chế tạo thuốc penicillin và streptomycin đang rất cần cho bộ đội và nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Năm 1955, ông sáng lập và làm Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng Việt Nam, tập trung nghiên cứu phòng chống và điều trị căn bệnh sốt rét tại Việt Nam. Năm 1967, ông hy sinh ở chiến trường miền Nam khi đang tập trung nghiên cứu việc phòng chống căn bệnh sốt rét.
 
Nhà nông học Lương Định Của sinh ra ở Sóc Trăng, lên Sài Gòn học xong tú tài, năm 1937, ông sang Hồng Kông học Đại học Y Khoa sau đó sang Thượng Hải, Trung Quốc học Đại học Kinh tế. Đến 1940, trường này đóng cửa do chiến tranh, Lương Định Của sang Nhật, thi vào Đại học Quốc lập Kyushu, khoa Sinh vật thực nghiệm. Năm 1946, ông lên Kyoto tiếp tục theo học ngành nông nghiệp, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ nông học chuyên ngành di truyền chọn giống. Ông còn được nhận Bằng khen của Viện Nghiên cứu sinh học Kihata cho công trình “Sự sinh sản của giống lúa lai tạo từ hai giống lúa Japonica và Indica”. Những nghiên cứu và sáng tạo khoa học của ông được giới chuyên môn quốc tế đánh giá rất cao, coi ông là một trong những nhà nông học hàng đầu của thế giới lúc đó. Đang ở đỉnh cao vinh quang, Lương Định Của quyết định đưa gia đình về nước, vợ ông là bà Nubuko Nakamura, người Nhật Bản. Ông làm việc ở Viện Khảo cứu Bộ Canh nông (Sài Gòn) mấy năm, đến năm 1954, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc, làm việc tại Viện Khảo cứu Nông lâm, trường Đại học Nông nghiệp, Viện Cây lương thực và thực phẩm, còn vợ ông - bà Nubuko Nakamura làm phát thanh viên tiếng Nhật tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Lương Định Của đã lai tạo thành công nhiều giống lúa, giống cây, giống rau cho năng suất cao, chất lượng tốt, đào tạo nhiều cán bộ khoa học hàng đầu cho ngành nông nghiệp nước nhà.
 
Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng, tài năng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sức hút, sức tác động lạ kỳ. Nếu coi bản chất của cuộc cách mạng chân chính là văn hóa, thì việc thực hành văn hóa, nâng tầm văn hóa của cả dân tộc cũng là thực hành một cuộc cách mạng to lớn và sâu sắc. Đường lối văn hoá kháng chiến “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa” của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện đầy đủ trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ra ngày 25/11/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; được sáng tỏ, nhấn mạnh trong bức thư “Nhiệm vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay” của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”. Người chỉ rõ “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”. Người nhấn mạnh: “Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”… “Số phận dân ta là ở trong tay ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.
 
“Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ…”. (Hồ Chí Minh) 
 
Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (năm 1951) ở chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người đề cao vai trò xung kích của văn hóa trong sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “chính trị, kinh tế, văn hóa đều “phải coi là quan trọng ngang nhau”.
 
Cũng như giới nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học, đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn nghệ thế hệ Cách mạng Tháng Tám cũng ngập tràn niềm vui và hạnh phúc trước sự đổi vận, đổi đời của dân tộc, của nhân dân mình. “Nước cũ bốn nghìn năm / Theo cờ mới, trẻ như hai mươi tuổi” (Ngọn quốc kì - Xuân Diệu), “Có mối tình nào hơn thế nữa? / Ăn sâu lòng đất thấm lòng người/ Đượm lều tranh, thơm dậy ngàn khơi/ Khi vui non nước cùng cười/ Khi căm non nước với người đứng lên!” (Tình sông núi - Trần Mai Ninh…). Từ đây, đội ngũ văn nghệ sĩ thuộc nhiều loại hình văn học, nghệ thuật cùng dân tộc đi vào cuộc kháng chiến thần thánh chống xâm lược Pháp. Họ đồng cam cộng khổ, gắn bó bền chặt với đời sống công, nông, binh; khám phá, ngợi ca và góp phần nhân lên niềm tin, sức mạnh, ý chí quyết chiến và quyết thắng của cả dân tộc. Những tên tuổi tiêu biểu được khẳng định và tiếp tục có những sáng tạo mới, thành công mới. Về văn học là các nhà văn, nhà thơ Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hoài Thanh, Thôi Hữu, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Hồng Nguyên, Võ Huy Tâm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nông Quốc Chấn, Hồ Phương, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nguyễn Xuân Sanh, Trần Huyền Trân, Lưu Trọng Lư, Anh Thơ, Vũ Tú Nam, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Bổng, Kim Lân, Trần Hữu Thung, Tế Hanh, Nguyễn Khải, Giang Nam, Hữu Loan, Bàn Tài Đoàn, Tú Mỡ… Về sân khấu có các nhà biên kịch, đạo diễn như Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Quang Thuận, Ngô Tất Tố, Vũ Lăng ... Về âm nhạc, có các nhạc sỹ Văn Cao, Đinh Nhu, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Xuân Oanh, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Đình Thi, Lương Ngọc Trác, Hoàng Việt, Lê Yên, Phan Huỳnh Điểu… Về mỹ thuật có các họa sỹ Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sĩ Ngọc, Trần Lưu Hậu, Diệp Minh Châu, Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Lê Lam, Nguyễn Thị Kim, Lương Xuân Nhị…Về điện ảnh, nhiếp ảnh, trong hoàn cảnh rất thiếu thốn về máy móc, phương tiện, vật liệu, các nghệ sỹ của ta như Nguyễn Bá Khoản, Võ An Ninh, Mai Lộc, Phan Nghiêm, Vũ Năng An, Nguyễn Hồng Nghi, Nguyễn Thế Đoàn, Khương Mễ, Pham Văn Khoa đã chụp và quay được những bức ảnh, những đoạn phim tài liệu rất quý về Ngày Độc lập 2/9/1945, về nạn đói năm Ất Dậu 1945, sự kiện lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp trở về (1946), Pháp tấn công phố Hàng Than và Trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946), Trận đánh đồn Mộc Hóa của Tiểu đoàn 307 (1948), Chiến dịch Biên giới ở Đông Khê (1950)… Trong số các nhà văn, nghệ sỹ thời kháng chiến chống Pháp, có những người đã hy sinh anh dũng như Nam Cao, Trần Đăng, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Tô Ngọc Vân.
 
Đồng hành cùng dân tộc, cùng nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng, nhiều thế hệ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ tiếp tục trở thành người chiến sĩ trong các cuộc trường chinh đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đánh thắng bè lúc bành trướng xâm lược và diệt chủng ở hai đầu đất nước, đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng nhiều hội đoàn, tổ chức làm công tác văn hóa, văn nghệ, khoa học, kỹ thuật; các trí thức, văn nghệ sỹ Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, danh hiệu Nghệ sỹ Nhân dân, Nghệ sỹ Ưu tú và nhiều phần thưởng cao quý khác.
 
Đảng, Nhà ước khẳng định quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn sức mạnh nội sinh, là động lực to lớn để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển đất nước; khâu đột phá đầu tiên và rất quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao, trong đó, tầng lớp trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ là đội ngũ tài năng của dân tộc, từ đó góp phần nâng tầm trí tuệ, tầm văn hóa của dân tộc, sức mạnh nổi trội của đất nước./.
Yêu nước ST.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BỒI DƯỠNG THẾ HỆ CÁCH MẠNG CHO ĐỜI SAU!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã dành cho thanh niên những tình cảm và sự quan tâm đặc biệt sâu sắc.
 
Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng, toàn dân và thế hệ trẻ những điều hệ trọng, những việc cần phải làm vì sự nghiệp cách mạng “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng.
 
Người không chỉ quan tâm đến những lực lượng đang trực tiếp gánh vác công việc trong hiện tại mà rất chăm lo đến đội ngũ kế cận. Hồ Chí Minh là người đã rất sớm nhận ra vị trí, vai trò của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Người coi việc thức tỉnh thanh niên, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên để cùng nhân dân đánh đuổi quân xâm lược là việc làm quan trọng và cấp thiết.
 
Tổ chức yêu nước cách mạng đầu tiên do Người sáng lập và rèn luyện đa phần là những người trẻ tuổi, đó là “Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên cũng là Báo Thanh niên. Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng thế hệ trẻ không chỉ là lớp người kế tục thế hệ già mà thế hệ trẻ phải là tương lai, là tiền đồ tươi sáng của dân tộc.
 
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, trong thư gửi cho học sinh, sinh viên nhân ngày khai trường đầu tiên tháng 9 năm 1945, Người đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
 
Hồ Chí Minh luôn khuyên nhủ thanh thiếu niên phải ra sức học tập, rèn luyện để tự mình có đủ sức mạnh để tham gia kháng chiến, kiến quốc, gìn giữ hoà bình, xây dựng đất nước giàu mạnh. Đối với thiếu niên, Người dạy: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ; tuỳ theo sức của mình; để tham gia kháng chiến; và gìn giữ hoà bình.
 
Trong “Thư gửi thanh niên” vào năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà... Thanh niên muốn làm chủ tương lai một cách xứng đáng thì ngay từ bây giờ phải tự giác rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải tích cực làm việc để chuẩn bị cho tương lai.
 
Việc giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội, nhằm giúp họ tránh những cái độc hại, tiêu cực và tiếp thu, học hỏi những cái hay, tiến bộ trong cuộc sống.
 
Thanh niên phải có tinh thần sẵn sàng: “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm”; phải đoàn kết chặt chẽ, kiên trì phấn đấu, vượt mọi khó khăn, thi đua học tập và lao động sản xuất, góp sức vào sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
 
Có thể thấy, kể từ khi viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927) cho tới khi viết bản “Di chúc” thiêng liêng (1969); cả cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn đau đáu và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ.
 
Có lẽ vì vậy mà Người luôn yêu cầu cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng phải thực sự quan tâm, chăm lo đến thanh thiếu niên; dành mọi ưu tiên và những gì là tốt đẹp nhất, có thể làm được để chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh thiếu niên, coi đó là “cái vốn quý nhất” của cách mạng.
 
Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng vĩ đại, Người còn là nhà thực hành vĩ đại. Hiện nay cũng có những ý kiến cho rằng ở nhiều nước có rất nhiều người trẻ đã là những lãnh đạo cấp cao và ao ước điều này ở Việt Nam. Nếu đọc lại lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy rằng thời Bác Hồ, Việt Nam không chỉ có một bộ trưởng trẻ tuổi mà có rất nhiều.
 
Trong Chính phủ Lâm thời 1945, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp 34 tuổi; Bộ trưởng Quốc phòng Chu Văn Tấn 32 tuổi; Bộ trưởng Thanh niên Dương Đức Hiền 29 tuổi; Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Nguyễn Mạnh Hà 32 tuổi; Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch 36 tuổi; Uỷ viên Chính phủ Cù Huy Cận 26 tuổi.
 
Trong Chính phủ do quốc dân bầu ra sau ngày bầu cử Quốc hội khoá I (ngày 6.1.1946) chúng ta có thể thấy có những người rất già như cụ Huỳnh Thúc Kháng 70 tuổi nhưng cũng có rất nhiều người trẻ. Các vị Bộ trưởng trẻ tuổi như Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh 34 tuổi.
 
Có một điều thú vị là ông Phan Anh là cử nhân luật Việt Nam và cử nhân văn chương Pháp, từng là Bộ trưởng Thanh niên trong Chính phủ Trần Trọng Kim trước đó một năm đã được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cử nhân văn chương trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng); Huỳnh Thiện Lộc- Bộ trưởng Bộ Canh nông 36 tuổi; Vũ Đình Hoè- Bộ trưởng Bộ Tư pháp 34 tuổi.
 
Trong kỳ họp lần thứ nhất của Quốc hội khoá I ngày 2.3.1946, hai vị Chủ tịch phiên khai mạc là một cụ già- Ngô Tử Hạ và một đại biểu Quốc hội 22 tuổi- nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Sau này, Hồ Chí Minh phong đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp khi 36 tuổi và phong đại tướng cho ông Nguyễn Chí Thanh ở tuổi 37. Và, còn rất nhiều các ví dụ khác để chúng ta thấy rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận luôn song hành với thực tiễn, trong đó có tư tưởng về bồi dưỡng thế hệ trẻ.
 
Tất nhiên, lý tưởng và khát vọng của thanh niên ở thời kỳ là khác nhau. Đối với những lớp thế hệ cha anh, khát vọng lớn nhất là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc- và họ đã làm tròn. Khát vọng của bao lớp thanh niên hiện nay chính là “sánh vai với các cường quốc năm châu”, đó chính là khát vọng vươn lên tiếp cận những giá trị tri thức của nhân loại, khát vọng không chịu đói nghèo, lạc hậu, vươn lên làm giàu chính đáng; khát vọng “ra biển lớn”…
 
Lúc sinh thời, ông Võ Văn Kiệt có phát biểu một câu nổi tiếng với thanh niên Thành phố: Thành phố nhìn thấy tương lai tươi sáng của mình trên vừng trán của các em. Hiện nay, nếu chúng ta đi vào các trường đại học, các viện nghiên cứu, các nhà máy, xí nghiệp, công trường… sẽ thấy một không khí lao động hăng say đầy sức trẻ.
 
Những chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh, các chương trình do Trung ương Đoàn phát động đã tạo ra những phong trào rộng lớn, thu hút đông đảo những người trẻ tham gia và đem đến những hiệu quả lớn lao cả về tinh thần và vật chất cho xã hội.
 
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, trong một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay đã xuất hiện những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại: Một bộ phận người trẻ phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, lười học tập và tu dưỡng đạo đức, sống gấp, thích hưởng thụ, ngại lao động, cổ xuý cho những sinh hoạt thiếu lành mạnh hoặc phản văn hoá…
 
Đã có một bộ phận người trẻ sống nay không biết ngày mai, lao vào con đường nghiện ngập, vi phạm pháp luật, thậm chí phản bội lại quyền lợi của đất nước và dân tộc... Đặc biệt, một bộ phận người trẻ hiện nay thờ ơ với quyền lợi của đất nước và dân tộc, không quan tâm đến chính trị, không thích vào Đoàn, vào Đảng.
 
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng có lần lên tiếng về tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Tất nhiên, để mổ xẻ các nguyên nhân này đã có rất nhiều các hội thảo, rất nhiều các diễn đàn lên tiếng. Nguyên nhân thì nhiều nhưng những nguyên nhân được nhiều người trẻ thống nhất là tình trạng khô cứng trong sinh hoạt Đoàn hiện nay, là tình trạng một bộ phận cán bộ, nhất là những người giữ các chức vụ cao suy thoái, sa ngã…
 
Những người trẻ bao giờ cũng nhìn những người đi trước và xem đó là tấm gương để noi theo và phấn đấu. Vậy nên, rất nhiều những người cộng sản năm xưa nói rằng lúc ban đầu họ đi theo cách mạng, theo Đảng cũng chưa hiểu Đảng là gì, cách mạng là gì nhưng khi thấy những con người xưng là cộng sản, là người của Đảng sống đẹp và chết hiên ngang vì Tổ quốc và dân tộc nên tin và đi theo.
 
Dù muốn, dù không, những biểu hiện tiêu cực trong một bộ phận thanh niên như đã nói nêu trên là nguy cơ đe doạ tương lai của chính bản thân họ, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay. Lợi dụng các biểu hiện tiêu cực này trong một bộ phận người trẻ, các thế lực thù địch đã và đang khai thác và lợi dụng để chống phá.
 
Bởi vậy, hơn bao giờ hết, các cấp uỷ Đảng cần thấm nhuần và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên. Cần tiếp tục quan tâm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng - sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích… của đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi, mạnh dạn giao những trọng trách để những người trẻ gánh vác… Đó chính là cách chúng ta thực hiện tốt nhất tư tưởng và những chỉ dạy của Bác Hồ./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ TƯỞNG “MỘT TẤM GƯƠNG SỐNG” TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

     Trong toàn bộ di sản tư tưởng và hoạt động thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị, bồi dưỡng đạo đức cách mạng và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Một trong những quan điểm nổi bật, xuyên suốt và có giá trị phương pháp luận sâu sắc của Người là: lấy “một tấm gương sống” để tuyên truyền, giáo dục.

Luận điểm nổi tiếng của Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” không chỉ là một nhận định giản dị mà hàm chứa triết lý giáo dục sâu sắc, thể hiện sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa tuyên truyền bằng lý luận với giáo dục bằng thực tiễn sinh động. Quan điểm này đã và đang trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng trong đường lối công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo của Đảng ta.

* Cơ sở hình thành quan điểm “một tấm gương sống” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Quan điểm của Hồ Chí Minh về nêu gương trong tuyên truyền, giáo dục được hình thành trên cơ sở kế thừa truyền thống đạo đức phương Đông, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và tổng kết sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Người nhiều lần nhấn mạnh vai trò của hành động thực tiễn trong giáo dục con người. Theo Người, tuyên truyền không chỉ là nói cho hay, viết cho đúng, mà quan trọng hơn là làm cho quần chúng “tin” và “làm theo”. Muốn vậy, người làm công tác tuyên truyền, giáo dục trước hết phải gương mẫu trong tư tưởng, đạo đức, lối sống và phong cách công tác.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: cán bộ, đảng viên là người trực tiếp tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì tuyên truyền sẽ mất tác dụng, thậm chí phản tác dụng. Chính vì vậy, Người coi nêu gương là phương pháp tuyên truyền, giáo dục có hiệu quả nhất, bền vững nhất.

* Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong tuyên truyền, giáo dục

Nêu gương là phương pháp tuyên truyền, giáo dục trực quan, sinh động

Theo Hồ Chí Minh, con người tiếp thu giáo dục không chỉ bằng lý trí mà còn bằng cảm xúc và niềm tin. Những tấm gương người thật, việc thật có sức thuyết phục tự nhiên, dễ đi vào lòng người, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội. Do đó, tuyên truyền bằng gương tốt, việc tốt giúp quần chúng “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo”.

Người khẳng định, việc biểu dương gương người tốt, việc tốt không phải để ca ngợi cá nhân, mà nhằm nhân rộng những giá trị tốt đẹp, cổ vũ tinh thần cách mạng, xây dựng môi trường đạo đức lành mạnh trong xã hội.

Cán bộ, đảng viên phải là tấm gương sáng trong tuyên truyền, giáo dục

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nêu gương. Người yêu cầu: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây vừa là yêu cầu về trách nhiệm, vừa là phương thức tuyên truyền hiệu quả.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên không chỉ thể hiện trong những việc lớn mà trước hết là trong sinh hoạt hằng ngày, trong phong cách làm việc, trong mối quan hệ với nhân dân. Chính sự giản dị, trong sạch, tận tụy và trách nhiệm của cán bộ là “bài học sống” có sức giáo dục mạnh mẽ hơn bất kỳ lời tuyên truyền nào.

* Gắn nêu gương với giáo dục đạo đức cách mạng và xây dựng con người mới

Một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sử dụng nêu gương để giáo dục đạo đức cách mạng. Người cho rằng, đạo đức không phải là những chuẩn mực trừu tượng mà được thể hiện cụ thể qua hành vi, việc làm của mỗi con người trong thực tiễn.

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Người nhiều lần khẳng định vai trò của những tấm gương hy sinh, tận tụy, liêm khiết, chí công vô tư trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Việc nêu gương tốt không chỉ để cổ vũ cái đúng, cái tốt mà còn để đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, thói hư, tật xấu trong xã hội.

Quan điểm này được Đảng ta kế thừa và phát triển trong nhiều văn kiện quan trọng của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

* Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong công tác tuyên truyền, giáo dục hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, khi công tác tuyên truyền, giáo dục đứng trước nhiều thách thức do tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của thông tin đa chiều, tư tưởng Hồ Chí Minh về “một tấm gương sống” càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Các văn kiện của Đảng những năm gần đây đều nhấn mạnh yêu cầu đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; coi đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt ở cơ sở, trong từng ngành, từng địa phương cần được tiến hành thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, tránh hình thức, chạy theo phong trào.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “một tấm gương sống” trong công tác tuyên truyền, giáo dục là một quan điểm mang tính khoa học, nhân văn và thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng đó khẳng định vai trò quyết định của hành động gương mẫu trong việc thuyết phục, cảm hóa và giáo dục con người, đồng thời đặt ra yêu cầu cao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên - những người trực tiếp làm công tác tuyên truyền, giáo dục.

Việc nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trong công tác tuyên truyền, giáo dục không chỉ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.
Yêu nước ST.

BẠN CÓ BIẾT: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM “VÌ VIỆC MÀ BỐ TRÍ NGƯỜI” TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phương cách “dụng nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sử dụng cán bộ “đúng chỗ, đúng việc”, “tùy tài mà dùng người”... Có thể nhận thấy cốt lõi của phương cách này chính là nguyên tắc “vì việc mà bố trí người”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng, xác định công tác cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là “then chốt của then chốt”, từ đó có nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định... để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tiêu cực. Công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cũng không nằm ngoài dòng chảy đó.

Tại các Hội nghị Trung ương lần thứ 11, 12, 13, 14, 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong quá trình sáp nhập, hợp nhất, tinh gọn bộ máy và chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng khi nhấn mạnh “phải lấy tiêu chuẩn cao nhất là vì yêu cầu công việc, sau đó mới đến các tiêu chí khác”.

Mới đây, ngày 25/5/2025, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Kết luận số 157-KL/TW về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Kết luận nêu rõ phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối tránh khuynh hướng, tư tưởng cục bộ địa phương, "lợi ích nhóm", tiêu cực...; nghiêm cấm việc tác động, can thiệp trong quá trình sắp xếp nhân sự...

Đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như nạn “chạy chức, chạy quyền”, “chia phần” trong công tác cán bộ, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” trong tinh gọn bộ máy là vấn đề quan trọng, cấp thiết. Để làm được điều này, trước hết, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị, địa phương cùng cấp ủy đảng phải là “chốt chặn” đầu tiên.

Bởi thực tế cho thấy, nếu người đứng đầu thực sự gương mẫu, công tâm, không tham nhũng, tiêu cực, không dao động, nể nang trước sức ép, sự “gửi gắm” từ cấp trên; sức chiến đấu của các tổ chức đảng thực sự được phát huy thì tiêu cực sẽ khó có thể tồn tại.

Bên cạnh đó, cần rà soát, hoàn thiện các quy định, quy trình công tác cán bộ theo hướng chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, gắn với những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp, rõ ràng, tránh tình trạng lấy tập thể làm bình phong cho những quyết định mang tính cá nhân.

Mặt khác, cũng rất cần có cơ chế gắn trách nhiệm của các tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu với việc thực hiện công tác cán bộ, đồng thời tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các biểu hiện vi phạm.

Cuối cùng, cần phải khẳng định rằng, phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức là nền tảng vững chắc để công tác cán bộ không bị tha hóa bởi những biểu hiện tiêu cực nói chung, giữ vững nguyên tắc “vì việc mà bố trí người” nói riêng.

Mơ ước, khát vọng phát triển sự nghiệp của mỗi người là hoàn toàn chính đáng, song phải bằng tài năng, phẩm chất chứ không phải thông qua “chạy chức, chạy quyền”. Đây mới là con đường bền vững, đúng đắn mà mỗi cán bộ, công chức cần lựa chọn, góp phần thúc đẩy sự phát triển, đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: THI ĐUA KHÔNG CÔNG TÂM LÀ NUÔI DƯỠNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN!

     Thi đua, khen thưởng (TĐKT) là động lực tinh thần to lớn, góp phần khơi dậy ý chí cống hiến, khát vọng vươn lên trong mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Tuy nhiên, nếu thiếu công tâm, thiếu dân chủ, thi đua rất dễ bị méo mó, trở thành mảnh đất dung dưỡng chủ nghĩa cá nhân, làm xói mòn niềm tin và triệt tiêu động lực phấn đấu; những biểu hiện lệch chuẩn trong lĩnh vực này là dấu hiệu đáng lo ngại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần được nhận diện và kiên quyết khắc phục.

Những “phiên bản” lệch bản chất thi đua

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định thi đua yêu nước là động lực tinh thần to lớn, là cách thức tổ chức con người hành động vì mục tiêu chung của cách mạng. Người nhấn mạnh: Thi đua là yêu nước; yêu nước thì phải thi đua; thi đua phải thiết thực, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bởi vậy, bất kỳ biểu hiện nào làm sai lệch bản chất của thi đua đều không thể xem nhẹ, bởi nó liên quan trực tiếp đến lập trường tư tưởng, đạo đức công vụ và trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn cho thấy, ở nhiều cơ quan, đơn vị, công tác TĐKT được tổ chức nghiêm túc, bài bản, tạo khí thế phấn khởi trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Tuy nhiên, cũng có nơi xuất hiện những “phiên bản” bị bóp méo, làm phai nhạt ý nghĩa cao đẹp của phong trào thi đua yêu nước, dung dưỡng cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

Cách đây không lâu, trong cuộc trao đổi với một cán bộ đang công tác tại địa phương, khi được hỏi về kết quả thi đua năm 2025, anh tỏ ra trăn trở, suy tư. Tập thể nơi anh công tác và bản thân anh đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ đột xuất hoàn thành xuất sắc, được đồng nghiệp và nhân dân ghi nhận; song khi bước vào khâu bình xét, kết quả lại không tương xứng. Anh từ chối nói rõ nguyên nhân. Dù vậy, từ thực tế không hiếm gặp, có thể thấy đằng sau những trường hợp như vậy rất dễ là sự chi phối của những “cân nhắc nội bộ” thiếu minh bạch, nơi “quyền lực” bình xét bị sử dụng không đúng mục đích. Nếu đúng như vậy, đây không chỉ là thiếu sót thông thường, mà là sự tổn hại trực tiếp đến niềm tin và tinh thần đoàn kết trong tập thể.

Qua nghiên cứu tài liệu, theo dõi các phương tiện thông tin đại chúng, dự hội nghị tổng kết thi đua ở một số ngành, địa phương và tiếp thu ý kiến của cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, nhân dân, có thể nhận diện một số biểu hiện đáng lưu ý.

Ở một số nơi, thi đua bị kéo lệch khỏi nhiệm vụ chính trị trung tâm, bị thu hẹp vào những tiêu chí mang tính thủ tục, thậm chí là những lỗi nhỏ không phản ánh bản chất cống hiến. Có trường hợp đảm nhận việc khó, việc mới, mang lại hiệu quả rõ rệt, nhưng chỉ vì một sơ suất không mang tính quyết định mà bị hạ mức đánh giá. Cách làm này đi ngược tinh thần thi đua mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Phải nhìn vào kết quả thực chất, vào hiệu quả đối với nhiệm vụ chung. Việc soi xét tiểu tiết để phủ nhận đóng góp lớn không chỉ thiếu công bằng mà còn thể hiện tư duy hẹp hòi, cần được uốn nắn, giáo dục, giáo dục lại thật nghiêm túc.

Một biểu hiện khác là sự chi phối của tâm lý ganh ghét, đố kỵ trong công tác bình xét. Khi người làm công tác thi đua không vượt qua được cái tôi cá nhân, không đủ bản lĩnh đặt lợi ích tập thể lên trên, thì thành tích của người khác rất dễ trở thành vật cản trong nhận thức và hành động. Thay vì cổ vũ, nhân rộng điển hình, lại tìm cách kìm hãm hoặc phủ nhận. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”; để tâm lý đố kỵ len lỏi vào thi đua chính là tạo điều kiện cho “giặc nội xâm” xâm nhập vào một lĩnh vực hết sức quan trọng.

Không ít nơi còn vin vào lý do “hết chỉ tiêu”, “đúng quy định” để không đề xuất khen thưởng những thành tích thực sự nổi trội. Sâu xa hơn, đó là biểu hiện của sự né tránh trách nhiệm, thiếu dũng khí chính trị. Quy định là khuôn khổ để thực hiện, chứ không phải cái cớ để hợp thức hóa sự thờ ơ.

Thậm chí, có ý kiến phản ánh rằng, chỉ những thành tích “an toàn”, những gương mặt quen thuộc mới dễ được khen thưởng, trong khi các nhân tố mới, cách làm đột phá lại bị dè dặt, né tránh. Thi đua như vậy không khuyến khích sáng tạo, mà vô hình trung nuôi dưỡng tâm lý làm cầm chừng.

Xét đến cùng, những biểu hiện trên đều bắt nguồn từ sự suy giảm bản lĩnh chính trị, sự buông lỏng nguyên tắc dân chủ và là mảnh đất thuận lợi để chủ nghĩa cá nhân nảy sinh và phát triển. Nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời, TĐKT sẽ từ động lực trở thành lực cản đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Bản lĩnh người đứng đầu

Bên cạnh những tồn tại cần phê phán, thực tiễn cũng cho thấy ở nhiều nơi, cấp ủy, người đứng đầu và hội đồng TĐKT vẫn giữ được sự công tâm, khách quan, thực sự trân trọng nỗ lực của tập thể và từng cá nhân. Ở đó, người đứng đầu không né tránh trách nhiệm, chủ động phát hiện nhân tố mới, cách làm hay, những đóng góp thầm lặng nhưng hiệu quả; mạnh dạn đề xuất khen thưởng kịp thời, đúng mức.

Từ những điểm sáng ấy có thể khẳng định: Chất lượng công tác TĐKT phụ thuộc trực tiếp vào bản lĩnh, trách nhiệm của người đứng đầu. Thi đua không chỉ là hoạt động nghiệp vụ mang tính tổng kết, mà là quá trình lựa chọn và khẳng định các giá trị đúng đắn trong tổ chức. Mỗi quyết định khen thưởng đều gửi đi một thông điệp lãnh đạo rõ ràng về điều gì được trân trọng, được cổ vũ và cần nhân rộng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Cán bộ là gốc của mọi công việc. Trong công tác TĐKT, lời dạy ấy càng cho thấy ý nghĩa sâu sắc. Người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ dám nhìn thẳng vào sự thật, dám bảo vệ thành tích thực chất, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên. Chính sự dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ấy tạo nên niềm tin và khơi dậy tinh thần cống hiến trong toàn cơ quan. Ngược lại, khi người đứng đầu thỏa hiệp với những biểu hiện “lệch chuẩn”, công tác thi đua dễ bị chi phối bởi tâm lý né tránh, chuộng sự “an toàn”. Khen thưởng theo quán tính, theo tiền lệ bề ngoài có thể giữ được yên ổn nhất thời, nhưng lại làm suy giảm động lực phấn đấu, tích tụ những bức xúc âm thầm và lâu dài.

TĐKT cũng là phép thử đối với tinh thần dân chủ của người đứng đầu. Dân chủ không phải là hình thức lấy ý kiến cho đủ thủ tục, mà là quá trình lắng nghe, đối thoại, tôn trọng sự thật khách quan và tiếng nói của tập thể dựa trên cơ sở mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm. Khi hội đồng TĐKT bị biến thành công cụ hợp thức hóa quyết định cá nhân, thì thi đua bị bóp méo ngay từ khâu lãnh đạo.

Từ góc độ xây dựng Đảng, có thể thấy rõ mối liên hệ giữa chất lượng TĐKT với phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Ở những nơi thi đua được tổ chức nghiêm túc, công tâm, minh bạch, thường gắn liền với đội ngũ cán bộ liêm chính, có uy tín; ngược lại, nơi nào thi đua gây bức xúc, nơi đó sớm hay muộn cũng nảy sinh vấn đề về đoàn kết nội bộ và suy giảm niềm tin đối với cấp ủy.

Để TĐKT thực sự trở thành động lực phát triển, các cấp, các ngành cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước về TĐKT. Thi đua phải hướng vào nhiệm vụ chính trị trung tâm, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo cao nhất. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường lãnh đạo, coi việc chấn chỉnh công tác TĐKT là nhiệm vụ thường xuyên. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, quy trình đánh giá, bình xét theo hướng khoa học, minh bạch, có kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kịp thời phát hiện, điều chỉnh và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng thi đua để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Thi đua yêu nước là phong trào lớn, xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng ta. Phong trào thi đua chỉ thực sự có sức sống khi được đặt trên nền tảng dân chủ, công tâm, tính kỷ luật nghiêm minh và cao hơn nữa là phẩm chất đạo đức cách mạng. Đó chính là điều kiện căn bản để TĐKT trở về đúng bản chất cao đẹp, là động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị được giao./.
Môi trường ST.

VẠCH TRẦN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VÀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA VIỆT NAM!

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với sự bùng nổ của không gian mạng và truyền thông xã hội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam.

Một trong những thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm hiện nay là xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và thể chế chính trị của Việt Nam; lợi dụng các khái niệm như “nhà nước pháp quyền”, “cải cách thể chế”, “dân chủ”, “nhân quyền” để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ súy cho mô hình “đa nguyên, đa đảng”, hạ thấp vị thế, uy tín và những thành tựu đối ngoại đa phương của đất nước.

Việc nhận diện đúng bản chất, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các quan điểm sai trái; đồng thời khẳng định tính nhất quán, đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và sự tất yếu lịch sử của vai trò lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển bền vững ở Việt Nam. Trước hết chúng ta cần nhận diện một số luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại và thể chế chính trị của Việt Nam:

Một là, hạ thấp và phủ nhận các thành tựu đối ngoại đa phương của Việt Nam. Một số luận điệu cho rằng Việt Nam “chỉ tham gia hình thức”, “vai trò mờ nhạt” trong các cơ chế khu vực và quốc tế, hoặc cho rằng các thành tựu đối ngoại chỉ là “ăn theo” bối cảnh chung. Đây là cách nhìn phiến diện, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng thực tế vị thế ngày càng được nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hai là, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam theo hướng phủ nhận tính độc lập, tự chủ. Các thế lực thù địch thường rêu rao rằng Việt Nam “lệ thuộc”, “theo phe”, “đánh đổi chủ quyền để hội nhập”, từ đó quy kết đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước là thiếu bản lĩnh, không nhất quán. Thực chất, đây là sự đánh tráo khái niệm, cố tình không thừa nhận nguyên tắc xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết.

Ba là, lợi dụng xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách thể chế để công kích vai trò lãnh đạo của Đảng. Dưới danh nghĩa “nhà nước pháp quyền đúng nghĩa”, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự độc lập”, các đối tượng chống phá cố tình tách rời hoặc đối lập giữa Đảng với Nhà nước, cho rằng Đảng đứng ngoài hoặc đứng trên Hiến pháp và pháp luật, từ đó kêu gọi “phi chính trị hóa”, “đa nguyên, đa đảng”.

Thực tiễn cho thấy, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một chủ trương đúng đắn, xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới và hội nhập. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã cố tình bóp méo bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nó với mô hình nhà nước pháp quyền tư sản, coi đó là “chuẩn mực phổ quát” duy nhất. Âm mưu cốt lõi của chúng là từng bước làm suy giảm, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thông qua việc gieo rắc nghi ngờ, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội, họ tìm cách làm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từ đó gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo tiền đề cho sự can thiệp từ bên ngoài. Lịch sử và thực tiễn thế giới đã chỉ rõ: không có mô hình chính trị nào là khuôn mẫu chung cho mọi quốc gia. Việc áp đặt mô hình đa đảng một cách máy móc, bất chấp điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và đặc thù chính trị của từng nước, đã và đang dẫn tới xung đột, chia rẽ, thậm chí là nội chiến ở nhiều quốc gia.

Đường lối đối ngoại của Việt Nam là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, được Đảng ta kiên định và nhất quán qua các kỳ Đại hội. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với khép kín, biệt lập; ngược lại, đó là nền tảng để Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế giúp Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Những thành tựu nổi bật trong đối ngoại đa phương – từ việc tham gia, đóng góp tích cực trong ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, đến việc đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách quốc tế - đã khẳng định vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Thực tiễn đó là minh chứng sinh động, thuyết phục bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò và thành tựu đối ngoại của Việt Nam.

Quan điểm đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam là phi khoa học, phản lịch sử và đi ngược lại lợi ích căn bản của dân tộc. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là sự “áp đặt”, mà là kết quả của lịch sử, được nhân dân thừa nhận, kiểm nghiệm và khẳng định qua thực tiễn cách mạng. Đảng lãnh đạo nhưng không đứng ngoài hay đứng trên Nhà nước và pháp luật; Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối đúng đắn; bằng nêu gương, bằng tổ chức và cán bộ; đồng thời chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đó chính là bản chất ưu việt của chế độ chính trị Việt Nam. Việc kiên định một đảng cầm quyền không phải là lực cản của dân chủ, mà là điều kiện quan trọng để bảo đảm ổn định chính trị, thống nhất ý chí và hành động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tóm lại, Cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và thể chế chính trị của Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và hết sức cấp thiết. Việc vạch trần các luận điệu xuyên tạc, làm rõ âm mưu lợi dụng xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách thể chế để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ mang ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc.

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; kiên quyết bác bỏ quan điểm “đa nguyên, đa đảng”; giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng chính là cơ sở để củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm ổn định chính trị, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

TIN MỚI NHẬN: TÍN HIỆU VUI!

     Về vụ vinh danh rác phẩm dị tật "Nỗi buồn chiến tranh" của tay ấu "d.âm" Bảo Ninh, nguồn tin cho biết Ban chỉ đạo 35 của Trung ương về "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng ngừa đấu tranh phản bác, ngăn chặn xử lý thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái thù địch" đang vào cuộc.

Sau phẫn nộ của nhân dân cả nước về cuốn sách "Nỗi buồn chiến tranh" của tay ấu Bảo Ninh. Trung ương vào cuộc chỉ đạo, trong cuộc họp với ban TGTW, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc đặt câu hỏi với ban TGDVTW đã xem xét trách nhiệm thế nào với cá nhân, tổ chức?

Động thái này cho thấy Trung ương, cơ quan tham mưu giúp việc của Đảng, của Tổng bí thư, Ban chỉ đạo 35 sẽ bám sát Ban Tuyên giáo - Dân vận TW việc xử sai phạm, đó là nhiệm vụ phải làm chứ không thể nửa vời.

Mong Cục Điều tra Hình sự bộ QP sớm khởi tố dưới góc độ vai trò Quân pháp để điều tra và mở rộng vụ án, cần làm triệt để từ gốc để lập lại kỷ cương đất nước, và trả lại danh dự cho người lính, sự tổn thương tâm lý của những CCB đã chiến đấu cho tổ quốc, để người dân Việt biết trân trọng lịch sử hào hùng của dân tộc để giữ gìn cống hiến xây đắp!
Môi trường ST.

“KHÔNG MƠ HỒ” GIỮA TỰ DO DÂN CHỦ HỢP PHÁP VỚI LỢI DỤNG TỰ DO DÂN CHỦ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ!

     Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì mà thế lực thù địch bịa đặt, mà là tấm khiên cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng.

Thời gian qua, lợi dụng các vụ án liên quan đến đối tượng có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), những phần tử cơ hội chính trị, phản động và một số tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã quy chụp, xuyên tạc vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Họ cho rằng quy định đó là công cụ để “đàn áp tiếng nói phản biện”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận”.

Các luận điệu này được ngụy trang dưới chiêu bài “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ tự do ngôn luận” nhằm phủ nhận tính chính danh, tính hợp hiến, hợp pháp và sự cần thiết của quy định pháp luật quan trọng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và thể chế chính trị. Những thủ đoạn, chiêu trò “đánh lận con đen” này vẫn thường được các đối tượng sử dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, gây bất lợi cho Việt Nam trong đối ngoại.

Bản chất pháp lý ưu việt của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã hiến định: “Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14). 

Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cũng hiến định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Quy định này một mặt nhằm tránh các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền con người, quyền công dân; mặt khác cũng hạn chế khả năng lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thực hiện các hành vi ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ hơn nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, trong đó mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15). Quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam là thành viên từ năm 1982) quy định việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải “kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” và “có thể bị giới hạn bởi pháp luật” vì các lý do như tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.

Chính vì thế, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế và hợp hiến, hợp pháp ở Việt Nam.

Tội danh này quy định người phạm tội cố ý thực hiện các hành vi thể hiện dưới các phương thức, thủ đoạn lợi dụng các quyền tự do dân chủ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền khác với mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, như: Viết, biên tập, đăng tải các bài đả kích, lăng mạ, bôi nhọ, nói xấu, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên internet và các phương tiện truyền thông khác làm ảnh hưởng, thiệt hại đến uy tín của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, thanh danh của Đảng, Nhà nước, gây mất trật tự công cộng, tạo tâm lý hoang mang, lo lắng, bất an trong xã hội.

Các chế tài đối với người phạm tội này (bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm) là các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi nguy hiểm này đối với xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Thực tế pháp luật hầu hết các quốc gia dân chủ đều có quy định hình sự tương tự để xử lý các hành vi lạm dụng tự do ngôn luận gây hại nghiêm trọng, như: Tội phỉ báng, vu khống (Anh, Mỹ, Australia...); tội kích động thù hận (nhiều nước châu Âu); tội tán phát thông tin sai lệch gây hoang mang dân chúng (Pháp, Đức...); tội xúc phạm quốc kỳ, quốc huy (Mỹ, Ấn Độ...). Do vậy, Nhà nước quy định “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành là phù hợp thông lệ pháp luật thế giới và thực tiễn đất nước.

Việc quy định “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành ở Việt Nam nhằm: 1) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bao gồm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội... Những lợi ích này là nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của quốc gia, dân tộc; 2) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, gồm uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật kinh doanh, tài sản... của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; 3) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gồm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời tư, bí mật cá nhân, gia đình, tài sản... của mỗi công dân; 4) Bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh, gồm chống lại sự lan truyền thông tin giả mạo, độc hại, gây hoang mang, chia rẽ xã hội, phá hoại niềm tin.

Như vậy, việc quy định tội danh này không nhằm hạn chế tự do phát biểu chính kiến hay phản biện xã hội, mà nhằm ngăn chặn sự lạm dụng, sử dụng các quyền tự do đó như một công cụ để gây hại một cách có chủ đích và nghiêm trọng đến các giá trị được pháp luật bảo vệ.

Thực tế, không phải mọi phát biểu trái chiều của cá nhân đều bị coi là phạm tội. Những hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi nó thực sự xâm phạm đến một trong các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ (lợi ích Nhà nước, quyền lợi tổ chức, cá nhân) do người có đủ năng lực pháp luật hình sự thực hiện.

Vạch trần các luận điệu xuyên tạc Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành

Thứ nhất, luận điệu cho rằng “Điều 331 dùng để đàn áp tiếng nói phản biện, chỉ trích chính quyền” là sự suy diễn ác ý và sai lầm của thế lực thù địch.

Phản biện xã hội đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung, lành mạnh, xây dựng, dựa trên sự thật và động cơ trong sáng luôn được khuyến khích và bảo vệ tại Việt Nam. Hàng nghìn ý kiến phản biện trên báo chí, diễn đàn Quốc hội, hội thảo khoa học, qua các kênh tiếp công dân... là minh chứng rõ ràng cho điều này. Vừa qua, kết quả góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tham gia tích cực của người dân với hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên cả nước, trong đó có gần 36,6 triệu ý kiến từ cá nhân, và tỷ lệ tán thành đạt 99,75% cho thấy sự đồng thuận cao của xã hội đối với dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Thực tiễn đó cho thấy, Việt Nam không hạn chế quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền trưng cầu ý dân, phản biện xã hội. Ngược lại, việc thực hiện các quyền này đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung luôn được tôn trọng, bảo đảm và khuyến khích thực hiện đầy đủ trong thực tế. Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ áp dụng đối với hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xuyên tạc, phỉ báng, tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, luận điệu cho rằng “Điều 331 được sử dụng để bịt miệng blogger, nhà báo độc lập” là sự đánh tráo khái niệm và ngụy biện của thế lực thù địch.

Nhà báo, blogger hoạt động hợp pháp, tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, cung cấp thông tin chính xác, chính thống, có trách nhiệm luôn được tôn trọng. Hệ thống báo chí chính thống và nhiều blogger tuân thủ pháp luật vẫn hoạt động bình thường ở Việt Nam.

Việc một số cá nhân tự nhận là “nhà báo”, “blogger” nhưng lợi dụng danh nghĩa này để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (như cố ý đăng tin sai sự thật, xuyên tạc, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, tán phát thông tin chống phá Nhà nước) thì có thể bị xử lý theo Điều 331 hoặc các điều luật khác (như "Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông"-Điều 288 của Bộ luật Hình sự).

Việc xử lý họ là vì hành vi phạm tội, không phải vì danh nghĩa hay nghề nghiệp của họ. Luật Báo chí năm 2016 phân biệt rõ nhà báo hoạt động trong cơ quan báo chí được cấp phép với người hoạt động thông tin trên mạng (không phải là nhà báo theo luật định). Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, nhưng đều phải tuân thủ pháp luật.

Thứ ba, luận điệu cho rằng “Việt Nam vi phạm cam kết quốc tế về tự do ngôn luận khi có Điều 331” là sự vu khống của thế lực thù địch.

Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành phù hợp với giới hạn quyền được quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Quy định này cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp giới hạn quyền nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, quyền hoặc uy tín của người khác. Việc thực thi Điều 331 chính là để bảo vệ các giá trị đó. Các báo cáo quốc gia định kỳ của Việt Nam về thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều giải trình rõ quan điểm và thực tiễn này.

Tựu trung lại, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì thế lực thù địch bịa đặt, mà là “tấm khiên” cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất, có trật tự và an toàn. Quy định đó nhằm bảo vệ xã hội khỏi những hành vi lạm dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích chung, quyền lợi chính đáng của người khác. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng./.
Môi trường ST.