Đào tạo tiến sĩ là bậc đào tạo cao nhất
trong giáo dục đại học và trong hệ thống giáo dục quốc dân, là đào những nhà
khoa học, nhà nghiên cứu. Do đó, việc đào tạo phải chuẩn từ chất lượng đầu vào,
trong quá trình đào tạo và đạt chuẩn chất lượng đầu ra, cũng như phải có tính hội
nhập trong bối cảnh quốc tế hiện nay.
Sau hơn 4 năm thực hiện quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ theo Thông tư số 08/2017/TT-BGDĐT (Quy chế 08) đã cho thấy một số quy định cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tế. Với quan điểm kế thừa có chọn lọc, đồng thời khắc phục một số hạn chế trong thực tiễn triển khai; ngày 28/6/2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ (Quy chế 18) thay thế Quy chế 08. Quy chế 18 có những điều chỉnh khách quan, khoa học, sát thực và tăng cường liêm chính học thuật. Đáng chú ý nhất là đã giảm thiểu những nội dung hướng dẫn chi tiết; tiếp tục mở rộng tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở đào tạo; lượng hóa, chuẩn hóa những quy định về ngoại ngữ và năng lực nghiên cứu khoa học của người hướng dẫn và nghiên cứu sinh; quy định về tổ chức và quản lý đào tạo linh hoạt hơn.
Để mở rộng tự chủ và trách nhiệm giải trình
của các cơ sở đào tạo tiến sĩ theo Luật Giáo dục đại học
năm 2019 (Luật 34), quy chế mới tiếp tục giảm thiểu những nội dung hướng dẫn
chi tiết, thay vào đó, yêu cầu cơ sở đào tạo cụ thể hóa quy trình và thủ tục
liên quan. Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm cao hơn về tổ chức triển khai thực
hiện từ xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức tuyển sinh và công nhận nghiên cứu
sinh, tổ chức đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp. Đây cũng là chủ trương đúng đắn,
góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đào tạo, đặc biệt đối với
đào tạo các nhà khoa học, nhân lực chất lượng cao của đất nước.
Để lượng hóa, chuẩn hóa những quy định, đối với người dự
tuyển, Quy chế 18 bổ sung minh chứng về trình độ ngoại ngữ (sử dụng các chứng
chỉ quốc gia theo khung ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam bên cạnh những chứng
chỉ được quốc tế công nhận như IELTS,
TOEFL,…). Các bài báo, báo cáo khoa học trong danh mục tạp chí Web of
Sciencen (WoS) và Scopus vẫn là yêu cầu để minh chứng cho kinh nghiệm và kết
quả nghiên cứu của người hướng dẫn và chuẩn đầu ra của nghiên cứu sinh. Bên
cạnh đó, Quy chế bổ sung việc chấp nhận các sách chuyên khảo, các công bố tại
các tạp chí trong nước có chất lượng tốt theo tiêu chuẩn đánh giá của Hội đồng
Giáo sư nhà nước. Các ghi nhận chỉ áp dụng nếu là tác giả chính.
Quy
chế 18 cũng cho phép thay thế các công bố nghiên cứu khoa học bằng những kết
quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ đã đăng ký và được cấp bằng độc quyền sáng chế quốc gia hoặc quốc tế; hoặc
giải thưởng chính thức của cuộc thi quốc gia hoặc quốc tế trong lĩnh vực nghệ
thuật và nhóm ngành thể dục, thể thao, được công nhận bởi cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền. Cách tính điểm sẽ căn cứ theo khung điểm tối đa của Hội đồng
Giáo sư nhà nước quy định, với tổng điểm đối với người hướng dẫn là 4,0 điểm và
đối với đầu ra của nghiên cứu sinh là 2,0 điểm. Điều đó vừa phản ánh đúng thực
tế, vừa tạo động lực để các tạp chí trong nước không ngừng nâng cao chất lượng.
Bộ đã đặt lòng tin vào đánh giá của các nhà khoa học trong nước, trước hết là
các chuyên gia của Hội đồng Giáo sư nhà nước. Sự ghi nhận, công nhận đối với
các tạp chí trong nước sẽ là động lực để các tạp chí khoa học phấn đấu nâng cao
chất lượng, tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế bằng nội lực, từ đó, đẩy mạnh
việc quan tâm xây dựng các tạp chí trong nước vươn lên đẳng cấp quốc tế. Việc
công bố các kết quả nghiên cứu của người hướng dẫn và nghiên cứu sinh qua các
tạp chí có uy tín trong nước là một kênh quan trọng để những sản phẩm khoa học
có giá trị phù hợp với điều kiện của Việt Nam đến được với đông đảo những người
quan tâm ở trong nước. Đây là sự ghi nhận các kết quả nghiên cứu ứng dụng để
giải quyết các vấn đề thực tiễn, góp phần tư vấn và xây dựng chính sách tại
Việt Nam. Chúng ta phải có sự tự tin với nền khoa học của Việt Nam, đặc biệt là
lĩnh vực góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Để
đáp ứng hiệu quả trước sự thay đổi trong quá trình đào tạo tiến sĩ, các quy
định về tổ chức và quản lý đào tạo trong Quy chế 18 linh hoạt hơn và do cơ sở
tự chủ quyết định. Theo đó, người học được tạo điều kiện bảo lưu kết quả học
tập trong thời gian nhất định để tiếp tục theo học và nghiên cứu nếu có nhu
cầu. Mặt khác, nhằm thu hút, tận dụng tri thức của những người đủ điều kiện để
đóng góp tích cực và công tác nghiên cứu, đào tạo thế hệ tương lai, nhưng không
làm giảm chất lượng đào tạo. Quy chế mới điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu
sinh/người hướng dẫn trong cùng một thời gian; cụ thể: giáo sư được hướng dẫn
độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng
dẫn độc lập tối đa 05 nghiên cứu sinh; tiến sĩ được hướng dẫn độc lập tối đa 03
nghiên cứu sinh. Trường hợp đồng hướng dẫn 01 nghiên cứu sinh được tính quy đổi
tương đương hướng dẫn độc lập 0,5 nghiên cứu sinh.
Các
mốc thời gian đào tạo tiễn sĩ cũng được thay đổi so với trước để đáp ứng yêu
cầu đào tạo thực tiễn. Tổng thời gian đào tạo tiêu chuẩn là 3-4 năm. Tổng thời
gian học tập, nghiên cứu trước khi trình hồ sơ thực hiện quy trình phản biện
độc lập và bảo vệ các cơ sở là 6 năm. Thời gian để hoàn thành các thủ tục bảo
vệ luận án ở cơ sở sau thời gian này là từ 06 tháng đến 01 năm theo tình hình
thực tế do cơ sở đào tạo quy định.
Phản
biện độc lập là một trong những kênh hỗ trợ cho cơ sở đào tạo nhìn nhận lại
chất lượng đào tạo. Đánh giá của các chuyên gia bên ngoài cơ sở đào tạo về chất
lượng luận án của nghiên cứu sinh là căn cứ để cơ sở đào tạo có giải pháp cải
tiến quy trình đào tạo và nâng cao chất lượng. Vì vậy, Quy chế 18 đã bổ sung
quy trình phản biện có thể tiến hành đến 02 lần, tăng 01 lần so với quy định trước,
nhằm bảo đảm nghiên cứu sinh và người đánh giá có cơ hội giải hoặc bảo lưu quan
điểm trong nghiên cứu của mình. Quy định như vậy là phù hợp với thực tiễn.
Như vậy, Quy chế mới đã mở rộng tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở
đào tạo nhưng
không kém phần chặt chẽ, khách quan, khoa học, sát thực và tăng cường liêm
chính học thuật nhằm kiểm soát chất lượng đào tạo từ phía Bộ Giáo dục và Đào
tạo, người học, người hướng dẫn và cộng đồng xã hội./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét