Phùng Chí Kiên là người chỉ huy quân sự đầu tiên của Đảng, vị tướng đầu tiên của cách mạng Việt Nam.
Ông sinh năm 1901, tên khai sinh Nguyễn Vĩ, quê ở Nghệ An. Năm 1925, Nguyễn Vĩ bắt liên lạc với các bạn đồng hương ở Hương Cảng, trở thành những thành viên đầu tiên của Tâm Tâm Xã do Hồ Tùng Mậu đứng đầu. Sau đó tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội
Tháng 10/1926, Nguyễn Vĩ được tổ chức cử đến Quảng Châu, vào học lớp huấn luyện chính trị đầu tiên dành cho những hội viên ưu tú của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc mở. Ông đổi tên là Phùng Chí Kiên. Sau khóa học, Phùng Chí Kiên được cử vào học trường võ bị Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn. Năm sau, nhà trường bị đóng cửa.
Phùng Chí Kiên gia nhập quân cách mạng và tham gia bạo động Quảng Châu (ngày 12/12/1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.
Tháng 2/1931, Phùng Chí Kiên sang học trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Nhưng khi đến Mãn Châu, ông bị phát-xít Nhật bắt giam gần một năm rồi mới sang Liên Xô.
Đầu năm 1934, Phùng Chí Kiên về Hương Cảng (Trung Quốc) tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong đứng đầu.
Tháng 8/1936, Phùng Chí Kiên được cử về Sài Gòn cùng Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản và Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 16/7/1936, nhằm đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình. Nhưng một năm sau, do yêu cầu mới của cách mạng, Lê Hồng Phong về Sài Gòn hoạt động, Phùng Chí Kiên lại sang Trung Quốc chỉ đạo công tác Đảng ở nước ngoài.
Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức, Nhật nhảy vào Đông Dương. Thực hiện chỉ thị của Đảng, Phùng Chí Kiên họp Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài bàn việc vận động thành lập hội Việt Nam Độc lập đồng minh, rồi cùng với Hồ Chí Minh chuyển tới Tĩnh Tây, một thị trấn thuộc tỉnh Quảng Tây giáp biên giới Trung Quốc - Việt Nam.
Ngày 28/1/1941, Phùng Chí Kiên theo Hồ Chí Minh về Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Ở đây, ông đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bảo vệ khu căn cứ. Ông soạn thảo các bài viết về “Con đường giải phóng dân tộc”, trong đó có các bài viết về đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng, chiến thuật chiến tranh du kích. Đồng thời đã tích cực tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi.
Đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5-1941), Phùng Chí Kiên tiếp tục là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, được cử phụ trách quân sự, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và trung đội Việt Nam cứu quốc quân thứ nhất.
Tháng 9/1940, khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, gây tiếng vang lớn trong cả nước, làm thực dân Pháp điên đầu, ra sức tìm cách đối phó. Cuối tháng 6/1941, Pháp mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng nhằm bắt các lãnh đạo Đảng, tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vũ trang cách mạng mới hình thành.
Phùng Chí Kiên chỉ huy đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của địch, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, điển hình là trận chống càn ở Giá Huần (Vũ Lễ). Cứu quốc quân tuy cố gắng nhiều nhưng phải di chuyển luôn, tiếp tế khó khăn, sức lực giảm dần. Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn địch, còn hai tiểu đội phá vòng vây, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.
Ngày 21/8, đơn vị bị phục kích tại xã Bằng Đức. Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây, ông hy sinh ngày 22/8/1941, năm ông tròn 40 tuổi.
Ngày 23/7/1947, trong phiên họp Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL truy phong cấp tướng cho đồng chí. Đây là sắc lệnh phong tướng đầu tiên của Nhà nước ta.
Tháng 11/2003, Phùng Chí Kiên được Đảng, Chính phủ ra quyết định công nhận là nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khóa 1), cán bộ lãnh đạo quân đội cấp tướng, liệt sĩ hy sinh anh dũng trong chiến đấu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét