Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

Sức mạnh tổng hợp dựa trên cơ sở phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế

 

        Trong chiến tranh giải phóng hay sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, bất cứ lực lượng chính trị nào muốn giành được thắng lợi đều phải phát huy tối đa cả sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế. Sức mạnh dân tộc được phát huy cao độ, tối đa, kể cả sức mạnh chính trị - tinh thần và sức mạnh kinh tế - vật chất, thì mới có thể tận dụng, phát huy tốt sức mạnh quốc tế. Sức mạnh quốc tế được sử dụng khôn khéo, phục vụ đúng mục tiêu, đường lối cách mạng thì mới phát huy được mặt thuận lợi, hạn chế các tác động bất lợi, nhất là giải quyết mối quan hệ giữa tranh thủ sự giúp đỡ bên ngoài với giữ vững độc lập, tự chủ.

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng các đế quốc hùng mạnh nhất trong thế kỷ XX. Sức mạnh trong nước hình thành từ đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với khả năng huy động sức người, sức của ở mức cao nhất phục vụ cho đấu tranh cách mạng; sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, ý chí, tinh thần quyết chiến và quyết thắng vì độc lập, tự do của dân tộc, vì lương tâm và phẩm giá con người. Chính sức mạnh trong nước trở thành yếu tố quyết định tranh thủ có hiệu quả sức mạnh thời đại, sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của phong trào giải phóng dân tộc, của các lực lượng tiến bộ. Viện trợ về vật chất và ủng hộ về chính trị - tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa trở thành một điểm tựa, một nguồn sức mạnh quan trọng, góp phần giúp dân tộc ta giành chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Sự ủng hộ về chính trị - tinh thần của các đảng cộng sản và công nhân, của nhân loại tiến bộ, nhất là phong trào chống chiến tranh xâm lược lan rộng trên thế giới, đem “chiến tranh” vào trong lòng các nước mang quân xâm lược Việt Nam, khiến cho tính chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược được quốc tế hóa sâu sắc. Việt Nam trở thành trung tâm thời đại của cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chính và tà, giữa tiến bộ và thoái bộ. Phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp của Đảng đã giúp chuyển hóa sức mạnh quốc tế thành sức mạnh trong nước để góp phần chiến thắng kẻ thù xâm lược.

             Trong lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, phương pháp kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại càng được Đảng ta sử dụng linh hoạt và sáng tạo. Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, giải phóng sức sản xuất đã khơi dậy, phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp xã hội tham gia phát triển kinh tế vốn trước đó bị che khuất bởi cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Hệ thống chính trị ổn định, hệ thống thể chế, luật pháp, chính sách, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ,... từng bước đổi mới, hoàn thiện đã tạo môi trường không chỉ giải phóng sức sản xuất trong nước mà còn thu hút đầu tư nước ngoài, đưa nền kinh tế đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Bản sắc văn hóa dân tộc, lòng yêu nước, hệ giá trị con người Việt Nam, chất lượng nguồn nhân lực được coi trọng là những yếu tố quyết định để nâng cao nội lực đất nước, tạo “vốn đối ứng” để thu hút, hấp thu, khai thác có hiệu quả các nguồn lực quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế đã giúp chúng ta phát huy tốt hơn nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, nhân lực chất lượng cao... từ các nước phát triển. Nguồn lực bên ngoài giúp chúng ta bù đắp sự thiếu hụt của nguồn lực trong nước, phát huy tốt hơn nhiều nguồn lực đất nước còn ở dạng “tiềm năng”, chưa biến thành “động năng”, chưa được “vốn hóa”, như lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên... Trong hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta xác định nguồn lực trong nước đóng vai trò quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng. Tính quyết định của nguồn lực trong nước thể hiện ở đường lối độc lập tự chủ được thể chế hóa thành luật pháp, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để dẫn dắt, sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài theo mục tiêu của chúng ta, tránh lệ thuộc vào một quốc gia (cả về vốn, thị trường...). Đổi mới luật pháp, chính sách phải đi trước để tạo lập môi trường thể chế cho doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam; xác lập các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ sản xuất và thị trường trong nước; xác định lộ trình hợp lý cho hội nhập để doanh nghiệp trong nước có điều kiện đổi mới, cơ cấu lại, nâng cao sức cạnh tranh, tránh bị thua thiệt khi hội nhập. Xây dựng lực lượng doanh nghiệp trong nước, thuộc mọi thành phần kinh tế đủ mạnh, có sức cạnh tranh cao để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

           Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước, trên tinh thần độc lập, tự chủ, Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự và sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Sức mạnh bên trong chính là sức mạnh của bản chất chế độ chính trị - xã hội, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, lấy quân đội nhân dân và công an nhân dân làm nòng cốt; sức mạnh chính nghĩa của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, của nền quốc phòng tự vệ, kiên trì, kiên quyết đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; sức mạnh của chính trị - tinh thần, của bản sắc văn hóa Việt Nam phát huy cao độ; sức mạnh của nền kinh tế liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao; sức mạnh của trang bị vũ khí từng bước hiện đại hóa để đủ sức răn đe, bảo vệ hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh từ sớm, từ xa. Sức mạnh quốc tế được phát huy cao độ khi chúng ta đứng trên lập trường chính nghĩa, dựa trên luật pháp quốc tế, phù hợp với giá trị chung mà nhân loại cùng quan tâm như: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích chiến lược của quốc gia - dân tộc phù hợp với luật pháp quốc tế; bảo vệ quyền tự do, an toàn hàng hải và hàng không; bảo vệ hòa bình trong khu vực và trên thế giới, chống sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực; mở rộng hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích chiến lược của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ các chuẩn mực của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Quan điểm của Việt Nam vì thế nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế, càng làm cho chúng ta rèn thêm bản lĩnh trong cuộc đấu tranh chính nghĩa, bóc trần sai trái của bất cứ thế lực nào có âm mưu và hành động vi phạm chủ quyền và lợi ích chiến lược đất nước ta mà luật pháp quốc tế đã công nhận. Tính chính nghĩa đó sẽ được chuyển hóa thành sự giúp đỡ về mặt vật chất, ủng hộ về mặt chính trị - tinh thần để tăng cường nền quốc phòng toàn dân, hiện đại hóa lực lượng vũ trang nhân dân, nâng cao năng lực tự bảo vệ đất nước. Trong trường hợp đó, cả sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại được phát huy trong sự gắn kết hữu cơ để tạo nên sức mạnh tổng hợp ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chiến lược của đất nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét