Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

Sức mạnh tổng hợp dựa vào vai trò nòng cốt của công nhân, nông dân, trí thức với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 

            Phát huy sức mạnh của liên minh giữa công nhân, nông dân, trí thức và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề rất cơ bản của phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ được mở rộng đến mức lớn nhất, phát huy cao nhất, khi sức mạnh của công nhân, nông dân, trí thức được động viên, khơi dậy, thật sự đóng vai trò nòng cốt. Càng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng phải củng cố sức mạnh của khối liên minh giữa công nhân, nông dân, trí thức, nếu không sẽ rơi vào “chủ nghĩa toàn dân”, thiếu lực lượng nòng cốt đủ bản lĩnh cho xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc rộng lớn.

         Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng xác định công - nông - trí  là động lực cách mạng, đồng thời ra sức mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt thành phần giai cấp, miễn là có tinh thần yêu nước chống đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc. Để củng cố, tăng cường và phát huy vai trò của công nhân, nông dân và trí thức, Đảng đã đưa ra các khẩu hiệu đấu tranh phù hợp, như tăng lương, giảm giờ làm, chia lại ruộng công, giảm tô, giảm tức... Khi đã có chính quyền thì đẩy mạnh  chống “giặc đói”, chống “giặc dốt”, thực hành các quyền tự do dân chủ để giải phóng sức mạnh của công nhân, nông dân, trí thức - những người vốn chịu nhiều thiệt thòi dưới ách áp bức của thực dân, phong kiến. Khi điều kiện chín muồi, Đảng chủ trương cải cách ruộng đất, đưa lại quyền làm chủ ruộng đất cho nông dân. Đi liền với nhấn mạnh yêu cầu củng cố liên minh công - nông - trí, Đảng cũng luôn coi trọng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở các thời kỳ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Mẫu số chung cho xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc chính là đánh đuổi đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường. Nhờ đó mà khối đại đoàn kết toàn dân tộc được mở rộng và xây dựng vững chắc, lấy Đảng làm hạt nhân lãnh đạo, lấy liên minh công - nông - trí làm nòng cốt.

        Khi chuyển sang thời kỳ xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, Đảng hết sức coi trọng chăm lo quyền lợi công nhân, nông dân và trí thức. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đường lối của Đảng là giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh của công nhân, nông dân, trí thức dựa trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của cá nhân con người, coi trọng phân phối theo lao động, bảo đảm cho công nhân có quyền tự do lựa chọn nơi làm việc và ngành, nghề phù hợp theo tín hiệu của thị trường để phát huy tốt nhất năng lực vốn có của mỗi người; nông dân có chủ quyền trên ruộng đất được làm chủ; trí thức được tự do lao động sáng tạo, tham gia giám sát và phản biện xã hội, có khả năng “vốn hóa” tri thức của mình, được bảo vệ bản quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ. Cơ chế đó làm cho tính tích cực của công nhân, nông dân, trí thức được phát huy tốt hơn, bảo đảm cho người có năng lực, có đóng góp nhiều hơn thì xứng đáng được hưởng thu nhập cao hơn. Mặt khác, kinh tế thị trường cũng khiến một bộ phận công nhân, nông dân, trí thức gặp khó khăn như thiếu việc làm và thu nhập bền vững của công nhân, bị chèn ép giá nông sản, thu hẹp diện tích canh tác, rủi ro thiên tai... của nông dân, tình trạng bấp bênh đời sống của trí thức. Khắc phục khó khăn này, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao phúc lợi xã hội như: Thúc đẩy việc làm bền vững, bảo vệ quyền lợi cho công nhân trước chủ sử dụng lao động (thời gian và môi trường làm việc, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội; phúc lợi công ty; quyền công đoàn...); nâng cao đời sống cho nông dân dựa trên chuyển đổi sang nền nông nghiệp hiện đại, nông dân khá giả, nông thôn văn minh; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tôn trọng tự do học thuật của trí thức... Đồng thời với quan tâm chăm lo quyền lợi của công nhân, nông dân, trí thức, Đảng cũng rất coi trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc như: Xây dựng cơ chế, chính sách tự do kinh doanh bình đẳng để doanh nhân phát huy năng lực của chính họ; xem đồng bào ta ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, có nhiều chính sách bảo hộ công dân, khuyến khích đầu tư về trong nước; ra sức chăm lo đoàn kết, tập hợp đồng bào các tôn giáo, các dân tộc thiểu số... Mẫu số chung để đoàn kết, tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp là phấn đấu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được mở rộng càng có điều kiện để chăm lo tốt hơn quyền lợi công nhân, nông dân và trí thức. Liên minh công - nông - trí và hợp tác giữa công nhân, nông dân, trí thức với doanh nhân ngày càng được thực hiện một cách hài hòa, có hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế các xung đột xã hội, như mô hình “bốn nhà” (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) hay mô hình trí thức góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ... Lực lượng doanh nhân đã và đang đóng vai trò tích cực vào phát triển đất nước, kinh tế tư nhân trở thành một lực lượng nòng cốt (cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể) để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Nhiều chính sách cho công nhân, nông dân, trí thức được Đảng, Nhà nước thực hiện gián tiếp thông qua can thiệp chính sách, luật pháp để điều tiết hành vi của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, như bảo đảm tiền lương tối thiểu, bảo hiểm cho người lao động, nâng cao phúc lợi công ty hay liên kết giữa doanh nghiệp với hợp tác xã và nông dân trong nền kinh tế thị trường, góp phần đưa nông hộ thoát dần “bẫy sản xuất nhỏ” manh mún, bấp bênh.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét