Thứ nhất: Nhà nước quản lý dân cư trên một lãnh thổ nhất định và là chủ thể đại diện duy nhất cho chủ quyền quốc gia trong quan hệ đối ngoại.
Khác tổ chức thị tộc, bộ lạc thời nguyên thủy được
hình thành trên cơ sở những quan hệ huyết thống, nhà nước được hình thành trên
cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ
mà họ cư trú. Quyền lực nhà nước có hiệu lực đối với mọi thành viên sinh sống
trên địa bàn ấy không phân biệt huyết thống.
Đặc trưng này làm xuất hiện mối
quan hệ giữa từng người trong cộng đồng nhà nước. Mỗi nhà nước được xác định bằng
một biên giới quốc gia nhất định.
Thứ hai:
Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi
thành viên trong xã hội.
- Bộ máy quyền lực nhà nước bao gồm: đội vũ trang đặc
biệt (quân đội, cảnh sát, nhà tù...) và bộ máy quản lý hành chính từ trung ương
đến địa phương.
- Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trên cơ
sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật và dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được
thực hiện trong thực tế.
Nhà nước ban hành pháp luật và quản
lý xã hội bằng pháp luật, chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành pháp luật và
chính nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực thi.
Thứ ba: Nhà nước hình thành hệ thống thuế khoá để
duy trì và tăng cường bộ máy cai trị. (Thuế
là nguồn thu chính của nhà nước).
- Do thoát ly sản xuất, nên để tồn
tại, nhà nước phải dựa vào thuế khoá, quốc trái và các hình thức bóc lột khác
có tính chất cưỡng chế để nuôi sống bộ máy cai trị.
- Vì vậy, nhà nước của giai cấp
bóc lột không những là công cụ trấn áp
giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét