Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

Lịch sử đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam

 

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá. Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong  lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc.

Điều đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn núi cao”; và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước; nước mất nhà tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

Những tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc hiền tài của dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chân lý đó.

Trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”, Đảng ta nêu chủ trương đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi Đảng ra đời đã chỉ đạo tổ chức thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh với mục tiêu đoàn kết các tầng lớp nhân dân đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập, tự do cho dân tộc. Với đường lối đúng đắn sáng tạo đó, Đảng ta đã phát động toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa, đập tan ánh thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong kháng chiến chống Pháp, để đánh thắng những đội quân xâm lược lớn của chủ nghĩa đế quốc, Đảng ta đã dựa vào sức mạnh của toàn dân, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Theo đó, Đảng ta chủ trương thực hiện kháng chiến toàn dân gắn liền với kháng chiến toàn diện. Với chiến lược đó, Đảng đã tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận "cả nước đánh giặc". Điều kiện chủ yếu để quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến là huy động cho được sức mạnh toàn dân. Trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[1]. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hiệu triệu, động viên, cổ vũ toàn thể các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các nhân sĩ yêu nước trong khối đoàn kết dân tộc đều cùng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Đảng ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cuộc kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất đất nước. Đảng ta sớm xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn. Đó là điều cơ bản nhất để thực hiện toàn dân kháng chiến. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, ta đã tạo được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và cũng chính trong lòng cuộc kháng chiến, chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng và củng cố.

Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một bức tranh đại đoàn kết dân tộc rất sinh động. Toàn thể dân tộc Việt Nam đã kết thành một khối vững chắc không gì có thể phá vỡ nổi, trong đó, Đảng, lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhau. Đảng tin vào dân, dân tin vào Đảng; quân với dân một ý chí, cả nước đồng lòng, toàn dân ra trận, tất cả vì mục tiêu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Để phát huy được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - tháng 9 năm 1955; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - tháng 12 năm 1960), lấy liên minh công nông làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền với những mục tiêu, thành phần, phương thức hoạt động phù hợp với nhiệm vụ cách mạng của mỗi miền là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ trương đó thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mặt trận dân tộc thống nhất trên cả hai miền đã thực sự tập hợp, động viên được mọi lực lượng, mọi cá nhân có ý thức dân tộc, có tinh thần yêu nước, chống Mỹ, tham gia vào cuộc chiến đấu cho mục tiêu chung là đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đó có cội nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua mấy ngàn năm lịch sử. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã động viên đến mức cao nhất lực lượng nhân dân cả nước, kết hợp tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.



[1] Sđd: Tập 4, tr 480

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét