Các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam được kỳ vọng mang
lại giá trị kinh tế to lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ theo đuổi mục tiêu kinh tế sẽ
khoét sâu mâu thuẫn với chiến lược xây dựng nền văn hóa dân tộc dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
Bài viết bàn về vấn đề
phát triển công nghiệp văn hóa phải liên kết hài hòa với xây dựng nền văn hóa
và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm
nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Từ đó đề xuất một số
giải pháp, kiến nghị cho vấn đề chưa từng được đặt ra: Phát huy thế mạnh của
công nghiệp văn hóa nhằm phục vụ đắc lực công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng.
“Lành mạnh” là từ khóa
mà các lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhắc đến nhiều lần khi chỉ đạo định hướng phát
triển công nghiệp văn hóa Việt Nam. Thời gian qua, không ít sản phẩm công
nghiệp văn hóa vì lợi ích kinh tế mà bất chấp tất cả, tạo nên những tác phẩm
tầm thường về nội dung, kệch cỡm về hình thức, phản nhân văn và văn hóa, thậm
chí là xấu độc, gây ra không ít hệ lụy tiêu cực đến đời sống tinh thần của nhân
dân. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải có sự lãnh đạo, quản lý, kiến
tạo các ngành công nghiệp văn hóa sát sao để phát triển mà không chệch hướng;
đồng thời, tận dụng thế mạnh của lĩnh vực này để góp phần bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng.
Mâu thuẫn và hóa giải
Bản chất công nghiệp văn
hóa là một ngành công nghiệp sử dụng vốn văn hóa, tài năng sáng tạo, cơ sở hạ
tầng và công nghệ sản xuất hiện đại để có thể sản sinh ra các sản phẩm và dịch
vụ văn hóa đem lại nhiều lợi ích. Đã là sản xuất công nghiệp nghĩa là sản xuất
hàng loạt dựa theo quy trình chặt chẽ tạo ra số lượng sản phẩm lớn có giá trị
gia tăng kinh tế cao, phục vụ một lượng lớn khách hàng. Sản phẩm công nghiệp
văn hóa ra đời đều đặt lợi ích kinh tế lên trên hết và trước hết như bao ngành
công nghiệp khác.
Nhà triết học Đức
Theodor W. Adorno (1903- 1969) - người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “công nghiệp
văn hóa” vào năm 1944, đã cảnh báo về mặt trái nếu chạy theo lợi ích thuần túy.
Ông cho rằng, công nghiệp văn hóa là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, các tác
phẩm văn hóa bác học sẽ bị biến thành văn hóa đại chúng; qua đó rất dễ thủ tiêu
sức sáng tạo con người, chỉ còn lại là sự rập khuôn, đáp ứng thị hiếu giải trí
tầm thường. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng: Khi lợi nhuận là tất cả thì
những tác động của sản phẩm công nghiệp văn hóa đến chuẩn mực đạo đức và giá
trị văn hóa có thể gây ra nhiều hệ lụy. Như vậy, có thể nhìn thấy mâu thuẫn tự
nhiên giữa mục tiêu tối thượng của công nghiệp văn hóa là lợi ích kinh tế với
giá trị văn hóa, tầm ảnh hưởng của ngành kinh tế dịch vụ này đối với vấn đề xây
dựng đời sống tinh thần con người.
Ý thức được mặt trái của
công nghiệp văn hóa, các quốc gia phát triển đã sớm có những điều chỉnh bằng
công cụ luật pháp, chẳng hạn như phân loại độ tuổi xem phim, không để trẻ em
tiếp cận những bộ phim không phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi. Bản thân những
người sáng tạo, nhà sản xuất công nghiệp văn hóa cũng rất sợ bị cộng đồng tẩy
chay, gây thiệt hại doanh thu nên họ luôn cân nhắc nội dung và hình thức của
sản phẩm liệu có vi phạm pháp lý và đạo lý hay không? Do vừa phải luôn hấp dẫn,
thu hút công chúng, lại vừa phải tránh không bị “thổi còi”, tự thân các sản
phẩm công nghiệp văn hóa phải biến đổi theo chiều hướng tiến bộ, không chỉ có
hàm lượng sáng tạo cao mà còn tạo ra ý nghĩa, hình tượng, phương thức biểu đạt
mới, dẫn dắt xu thế phát triển của văn hóa. Hơn thế, nhiều sản phẩm công nghiệp
văn hóa đã góp phần đắc lực tuyên truyền, cổ động nâng cao tình cảm, niềm tin
yêu đối với đất nước, dân tộc, giáo dục đạo đức, kích thích năng lực sáng tạo
của cộng đồng. Công nghiệp văn hóa ngày nay còn kiến tạo “sức mạnh mềm” quốc
gia, điển hình nhất là “làn sóng Hàn Quốc” (Hallyu - Hàn lưu).
Các quốc gia trên thế
giới đều xác định công nghiệp văn hóa là lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược phát
triển. Đặc biệt, trong bối cảnh đòi hỏi phát triển bền vững, không gây ô nhiễm
môi trường, vai trò của công nghiệp văn hóa càng trở nên nổi bật bởi có đóng
góp cao vào GDP, tạo ra số lượng việc làm lớn và ổn định, thực sự là “bệ đỡ”
vượt qua khủng hoảng chính trị, năng lượng, dịch bệnh... Số liệu được công bố
trong nhiều năm gần đây cho thấy: Các quốc gia có nền văn hóa ảnh hưởng nhất
toàn cầu đều là những quốc gia phát triển, đều có nền công nghiệp văn hóa đóng
góp ít nhất 5% GDP và mang đến hàng triệu việc làm. Như vậy, có thể xác định,
công nghiệp văn hóa có vị trí rất quan trọng, là yếu tố hữu hình để nhận diện
văn hóa của một quốc gia phát triển.
Nắm bắt được xu thế
chung của thế giới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết
số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, đã xác định “phát triển công
nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa” là một trong
sáu nhiệm vụ cần thực hiện. Cụ thể hóa chủ trương chiến lược của Đảng, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8-9-2016, phê duyệt
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030, xác định các ngành cụ thể gồm: Quảng cáo; kiến trúc; phần
mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời
trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và
phát thanh; du lịch văn hóa.
Nhờ chính sách đó, các
ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam có tốc độ phát triển ấn tượng, thể hiện qua
con số đóng góp 3,61% GDP vào năm 2018, hoàn thành sớm mục tiêu 3% vào năm 2020
mà Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đề ra. Điều
quan trọng hơn, các ngành công nghiệp sẽ góp phần kiến tạo diện mạo văn hóa
Việt Nam tương lai. Đó là một nền văn hóa do Đảng lãnh đạo, có khả năng tự chủ,
đủ sức đề kháng trước những “làn sóng” ngoại lai, lan tỏa giá trị quốc gia -
dân tộc vượt ra khỏi biên giới, có giá trị ngang hàng với các lĩnh vực khác
trong lòng quốc gia phát triển có thu nhập cao.
Hiểm họa từ phát triển thiếu
lành mạnh
Trong bài phát biểu chỉ
đạo tại Hội nghị văn hóa toàn quốc (năm 2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu
cầu “khẩn trương phát triển các ngành công nghiệp văn hóa” nhưng phải đảm bảo
“xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh”. Yếu tố “lành mạnh” được Thủ tướng Phạm
Minh Chính nhắc lại trong Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công
nghiệp văn hóa Việt Nam (năm 2023) với yêu cầu “các sản phẩm, dịch vụ công
nghiệp văn hóa phải đảm bảo đáp ứng được các yếu tố “Sáng tạo - Bản sắc - Độc
đáo - Chuyên nghiệp - Lành mạnh - Cạnh tranh - Bền vững”.
Sở dĩ yếu tố “lành mạnh”
được lãnh đạo Đảng, Nhà nước lưu tâm bởi thực tế một số sản phẩm công nghiệp
văn hóa có biểu hiện phát triển lệch lạc đáng lo ngại. Đó là những sản phẩm tìm
tòi thể nghiệm cực đoan, lai căng, đi vào “tăm tối”, “hũ nút”; khai thác “phần
tối”, “góc khuất” con người không phù hợp tính nhân văn phổ quát, với thuần
phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam; cố tình vi phạm pháp lý và đạo lý để “nổi
tiếng kiểu đốt đền”, thu về nhiều lợi nhuận... Cá biệt một số sản phẩm công
nghiệp văn hóa còn ẩn chứa quan điểm sai trái; hạ thấp, phủ nhận những thành
quả cách mạng, “giải thiêng lịch sử”; bịa đặt, vu cáo các bậc tiền bối và lãnh
đạo cách mạng; thổi phồng mặt trái của xã hội và khuyết điểm của Đảng, Nhà
nước... Tất cả xuất phát từ lòng hám lợi danh, cực đoan, thiếu tỉnh táo suy
xét, đề cao cái tôi sáng tạo của một bộ phận văn nghệ sĩ, nhà sản xuất sản phẩm
công nghiệp văn hóa. Căn nguyên là họ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bản lĩnh chính
trị kém, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và không loại trừ một bộ phận đã thoái
hóa, biến chất, bước chân vào hàng ngũ những kẻ phản động, lợi dụng văn hóa,
văn nghệ chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Thật đáng lo ngại nếu
sản phẩm công nghiệp văn hóa thiếu lành mạnh tràn ngập thị trường văn hóa. Nó
sẽ “ru ngủ”, “đầu độc” người dân, nhất là thanh niên, khiến một bộ phận người
dân sa vào lối sống hưởng lạc, thiếu rèn luyện, lao động, xa rời lý tưởng chính
trị - xã hội nhân văn, phai nhạt các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc… Nếu
điều đó xảy ra, công nghiệp văn hóa sẽ tác động tiêu cực đến mục tiêu, đường
lối của Đảng ta là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần
xã hội; phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính
và phẩm giá con người.
Tuy các sản phẩm công
nghiệp văn hóa thiếu lành mạnh chưa xuất hiện nhiều, nhưng vẫn có thể tạo ra hệ
lụy tiêu cực khác. Đó là làm nảy sinh tâm lý không muốn nghiên cứu, ngại làm,
sợ sai, sợ khuyết điểm của các cơ quan quản lý, tham mưu, tư vấn trong lĩnh vực
văn hóa từ Trung ương đến địa phương. Khảo sát 123 cán bộ trong nhóm đối tượng
này do Báo Quân đội nhân dân thực hiện năm 2023 cho thấy: 19% cán bộ chưa bao
giờ tìm hiểu về công nghiệp văn hóa; 54,8% chỉ tìm hiểu khi có yêu cầu; 45,2%
ít tham dự các hoạt động công nghiệp văn hóa; và chỉ có 21,7% cán bộ được giao
nhiệm vụ tổng hợp hằng năm về công nghiệp văn hóa… Đây là một trong những lực
cản khiến các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam chưa bứt phá, chuyên nghiệp
để trở thành mũi nhọn của nền kinh tế. Thực sự đáng lo ngại khi cơ quan chức
năng chưa quán triệt nghiêm túc, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng là khẩn
trương phát triển công nghiệp văn hóa. Cơ quan chức năng đã chậm cụ thể hóa,
thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng thành luật, cơ chế, chính sách liên
quan đến tự do sáng tạo bảo đảm sự minh bạch. Trong vấn đề quản lý các
ngành công nghiệp văn hóa, hiện đang thiếu cơ chế, tổ chức điều phối tập trung
mà phân tán ra nhiều bộ, ngành quản lý; thiếu cơ chế lãnh đạo, quản lý khoa học
để bảo đảm được định hướng chính trị; chưa khắc phục những hiện tượng mất dân
chủ đối với các hoạt động công nghiệp văn hóa.
Việc cấp thiết, cần phải
làm ngay là xử lý mâu thuẫn, để công nghiệp văn hóa ở Việt Nam phát triển đúng
hướng, lành mạnh, góp phần tích cực vào công cuộc chấn hưng nền văn hóa nước
nhà và thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển.
Lấy cái đẹp dẹp cái xấu
Trên thực tế, nếu đối
tượng phản động lợi dụng sản phẩm công nghiệp văn hóa để chống phá, chúng ta có
thể nhận diện và sẽ đấu tranh không khoan nhượng. Tuy nhiên nếu là một số văn
nghệ sĩ hám lợi danh, cực đoan trong sáng tạo thì lại cần cách thức xử lý khôn
khéo, hợp tình, hợp lý. Quan trọng nhất là không vội vàng quy chụp mà phải tìm
hiểu trên cơ sở hiểu đúng vấn đề, xác minh, làm rõ đâu là hiện tượng, đâu là
bản chất. Cốt yếu là không để những người không phải là phản động trở nên bất
mãn, đứng sang hàng ngũ đối lập; không để các thế lực thù địch có cớ rêu rao
chúng ta hạn chế tự do sáng tạo.
Muốn như vậy, chúng ta
cần quản lý công nghiệp văn hóa thông qua luật định, càng cụ thể, rõ ràng, minh
bạch càng tốt; tạo điều kiện cho công dân được phép làm những điều pháp luật
không cấm, còn cơ quan Nhà nước chỉ làm những điều luật pháp cho phép. Việc
quản lý nhờ có luật sẽ rõ ràng, nhất quán, tránh gây khó cho những người sáng
tạo trong việc biểu đạt. Người sáng tạo sẽ biết đâu là “vùng cấm” không nên
bước vào hay cố tình “đi dây”, tránh làm ảnh hưởng quyền lợi cộng đồng, không
xâm phạm lợi ích của người khác. Sự nghiêm minh gắn với chế tài xử lý đủ sức
răn đe của luật pháp sẽ tạo điều kiện tối đa cho mọi sáng tạo, mọi tiềm năng
tài năng của con người được thể hiện trong khuôn khổ lành mạnh.
Công nghiệp văn hóa rất
cần thể chế, chính sách kiến tạo để phát triển. Một loạt vấn đề như: Ưu đãi về
thuế, phí, tài trợ và lập quỹ hỗ trợ, đào tạo nhân lực chất lượng, quy định hợp
tác công - tư… cần được khẩn trương nghiên cứu, ban hành và thực hiện. Chỉ khi
đó công nghiệp văn hóa mới đủ động lực phát triển, đáp ứng được nhu cầu trong
nước, có sức ảnh hưởng ra khu vực, xuất khẩu sản phẩm hòa vào thị trường văn
hóa toàn cầu. Đây cũng là lúc chúng ta có thể phát huy thế mạnh của công nghiệp
văn hóa trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thực chất bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường
lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ niềm tin của nhân dân
vào Đảng; bảo vệ đường lối đổi mới; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; khẳng
định thành quả cách mạng… Trong các ngành công nghiệp văn hóa có một số lĩnh
vực tiềm năng mang lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng như: Điện ảnh; xuất bản; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và
triển lãm; truyền hình và phát thanh. Đây là những sản phẩm thiết yếu và cơ bản
được công chúng trong và ngoài nước yêu thích, có độ “phủ sóng” cao, sức lan
tỏa rộng khắp. Nội dung sản phẩm rất phong phú, liên quan mật thiết đến công
tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: Câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp
các lãnh tụ của Đảng; những tấm gương vì dân, vì nước của cán bộ, đảng viên;
các câu chuyện về thành tựu đổi mới, đời sống nhân dân đi lên dưới sự lãnh đạo
của Đảng; công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng…
Nhìn thẳng vào sự thật,
việc đầu tư lâu nay cho các sản phẩm văn hóa để phục vụ nhiệm vụ chính trị,
trong đó có bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chưa thực sự hiệu quả. Vì các
sản phẩm này tuyên truyền, cổ động một chiều, thường là khô cứng, áp đặt. Các
sản phẩm này chỉ phù hợp với đối tượng đảng viên, quần chúng trong cơ quan công
quyền, hệ thống chính trị; trong khi đông đảo công chúng lại thường chỉ quan
tâm đến sản phẩm hấp dẫn về nội dung và hình thức thể hiện.
Muốn thay đổi nhận thức
con người trước hết phải chinh phục được trái tim của họ. Tính nghệ thuật trong
các sản phẩm văn hóa là điều cần chú ý nâng cao. Lấy ví dụ, điện ảnh Mỹ thường
xuyên tập trung làm phim về thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) là
bởi lẽ Chính phủ và quân đội Mỹ khi đó thuộc về bên chính nghĩa chống lại “trục
phát xít”. Hollywood đã dựng lên hình tượng lính Mỹ anh hùng, dũng cảm hy sinh
để cứu đồng đội, dân thường trong chiến đấu nhưng cũng không kém phần lãng mạn,
chung thủy trong tình yêu. Doanh thu của các bộ phim đều thuộc hàng “bom tấn”,
lại được đánh giá cao về nghệ thuật. Điều quan trọng là họ tuyên truyền được
tình yêu quê hương, đất nước cho người dân Mỹ; giới thiệu một cách “quyến rũ”
các “giá trị Mỹ” cho công chúng trên thế giới. Nghệ thuật cao sâu ở đây chính
là tuyên truyền mà như không tuyên truyền; thông điệp chính trị ẩn rất sâu
trong các câu chuyện và hình tượng nghệ thuật. Với việc đã hoàn thiện quy
trình, quy chuẩn về sản xuất, phân phối, quảng cáo chuyên nghiệp từ rất lâu nên
các bộ phim lịch sử, chiến tranh của Mỹ ra đời đạt hiệu quả nhiều mặt, như “bắn
một mũi tên trúng nhiều đích”.
Kinh nghiệm của các
cường quốc công nghiệp văn hóa cho thấy: Sản phẩm văn hóa phục vụ nhiệm vụ
chính trị, đề tài về Lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, phục vụ cho
công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không “khó, khô, khổ” như nhiều
người lầm tưởng; hoàn toàn có thể đạt được giá trị nghệ thuật cao, sức phổ biến
rộng, mang về doanh thu lớn. Thành công về thương mại, sức hút với công chúng
của phim truyện “Đào, phở và piano”, phim truyền hình “Cuộc chiến không giới
tuyến”, những ca khúc “Lá cờ”, “Bay qua Biển Đông”… đã chứng minh cho luận điểm
trên. Các sản phẩm văn hóa để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thực hiện
là do Nhà nước đặt hàng. “Liệu cơm gắp mắm” cũng sẽ có sản phẩm, nhưng không có
kinh phí để quảng bá, tuyên truyền, thậm chí chưa có quy định cụ thể liên quan
đến phát hành. Điều này khiến các sản phẩm văn hóa bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng lâu nay không thể được gọi là sản phẩm công nghiệp văn hóa; còn chưa đạt
hiệu quả chính trị, tác động xã hội như mong muốn.
Trước hết cần loại bỏ tư
duy làm sản phẩm văn hóa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ phục vụ nội bộ,
làm theo yêu cầu đặt hàng. Không nên chạy theo số lượng bằng cách phân bổ nguồn
vốn dàn trải mà nên tập trung làm sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao, thà ít mà
tinh. Điều đó không có nghĩa là sử dụng kinh phí từ ngân sách để kinh doanh sản
phẩm văn hóa, vì đầu tư nhiều mà không thu về thì rất khó giải trình với nhân
dân. Và về bản chất, Đảng, Nhà nước cũng không có nhiệm vụ kinh doanh sản phẩm
văn hóa. Như vậy, chỉ có con đường hợp tác công - tư. Nhà nước đóng vai trò
định hướng, thẩm định nội dung tư tưởng, góp một phần kinh phí, đảm bảo các thủ
tục theo đúng quy định; phần lớn kinh phí thực hiện và thực hiện như thế nào,
phát hành ra sao để khối tư nhân “xử lý”. Muốn như vậy, Nhà nước cần khuyến
khích, động viên, có cơ chế ưu đãi, thu hút đầu tư từ nguồn lực xã hội hóa, thu
hút các đơn vị sáng tạo chuyên nghiệp vào cuộc. Khi đó, chúng ta mới hy vọng có
những sản phẩm công nghiệp văn hóa đúng nghĩa để bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng hiệu quả, có chiều sâu.
Các ngành công nghiệp
văn hóa có triển vọng lớn, phát triển nhanh, mang lại hiệu quả cao là động lực
mới cho sự phát triển văn hóa phù hợp với xu thế thời đại. Nhận thức chung về
vai trò, vị trí của công nghiệp văn hóa đã thống nhất, điều còn lại là khẩn
trương phát triển, đặc biệt là nghiên cứu cách làm phù hợp, hiệu quả để công
nghiệp văn hóa phục vụ đắc lực công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo
vệ chế độ ta một cách thông minh, tinh tế, sâu sắc, hiệu quả.
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét