Đảng, Nhà nước Việt Nam
luôn xác định công tác tôn giáo, dân tộc là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thực hiện chính
sách đại đoàn kết dân tộc là chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước
ta. Mọi âm mưu, thủ đoạn và những lời lẽ xuyên tạc nhằm chia rẽ dân tộc, tôn
giáo ở Việt Nam đều phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Đập tan âm mưu chia rẽ dân
tộc
Thời gian gần đây, bất chấp
những nỗ lực thực hiện và thành quả vượt bậc trong xây dựng và thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch vẫn ra sức xuyên tạc,
chống phá bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn.
Chúng cho rằng, Nhà nước hầu
như không, hoặc rất ít quan tâm, dẫn đến đồng bào dân tộc thiểu số bị thiệt
thòi, khi về chính trị thì đồng bào không có bình đẳng, tiếng nói để “bảo vệ”
mình. Về kinh tế, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít được “đầu tư”, nên cuộc sống
đồng bào ngày càng khó khăn, bà con không có tư liệu sản xuất, buộc phải “nhượng”
đất cho người Kinh, tiếp tục mưu sinh bằng cách phá rừng. Về văn hóa, chúng rêu
rao rằng, do bị “đồng hóa” văn hóa người Kinh, khiến các tộc người mất đi bản sắc
truyền thống vốn có. Về xã hội, thể trạng, học vấn, điều kiện phát triển của đồng
bào dân tộc so với người Kinh có khoảng cách ngày càng lớn.
Chúng ra sức kích động mâu
thuẫn giữa các dân tộc với nhau, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với hệ thống
chính trị, biểu hiện bằng việc đồng bào bị lôi kéo tham gia các cuộc biểu tình,
bạo loạn, tạo ra các điểm nóng chính trị.
Những luận điệu trên hoàn
toàn bịa đặt, bởi thực tiễn đã chứng minh, từ năm 1930 đến nay, Đảng ta đã luôn
nhất quán quan điểm: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến
lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng,
đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển.
Đặc biệt, trong quá trình
đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, vấn đề dân tộc tiếp tục được
quan tâm, ưu tiên thực hiện thông qua một số nghị quyết, như: Nghị quyết số
22-NQ/TƯ ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn
phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Nghị quyết số 24-NQ/TƯ ngày 12-3-2003 Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc...
Đến Đại hội XIII (2021), Đảng
ta khẳng định chủ trương về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc cho giai đoạn
2021-2025 là: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách
dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải quyết những
khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm, định canh, định
cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng
biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn
2021-2030. Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số có dưới 10.000 người,
đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi”.
Cùng với đó, Quốc hội,
Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, thông tư về công tác dân tộc,
như: Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18-11-2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19-6-2020 của Quốc hội phê duyệt
chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị định số
05/2011/NĐ-CP ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, quy định rõ các
nguyên tắc cơ bản trong “Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; bảo đảm và thực hiện chính sách
phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng
bào dân tộc thiểu số”; Quyết định số 66/2013/QĐ-TTg ngày 11-11-2013 của Thủ tướng
Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người
dân tộc thiểu số học tại các cơ sở giáo dục đại học…
Thực hiện chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát
triển đúng hướng và có chuyển biến mạnh. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình quân
giảm 4%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn giảm hơn 4%/năm; các huyện nghèo giảm
khoảng 5-6%/năm. Đặc biệt, một số địa phương đã có các mô hình triển khai có hiệu
quả, như: Tỉnh Lâm Đồng có những mô hình “Nhiều người giúp một người” (xã Hòa
Nam, huyện Di Linh); “Giúp nhau giảm nghèo nhanh, bền vững” (xã Tà Năng, huyện
Đức Trọng); phát triển kinh tế hộ sản xuất (xã B’Lá, huyện Bảo Lâm). Tỉnh Hòa
Bình có mô hình khởi nghiệp trong “Liên kết phát triển trồng và sản xuất các sản
phẩm của cây sachi (huyện Đà Bắc). Tỉnh Bình Phước có mô hình hợp tác xã gắn với
chuỗi giá trị, bền vững từ đầu vào, sản xuất hữu cơ và tiêu thụ sản phẩm hạt điều
tại các huyện Bù Đăng và Bù Gia Mập…
Đặc biệt, hệ thống chính
trị được củng cố vững mạnh, vai trò và việc tham gia vào bộ máy chính quyền
cũng như những đóng góp vào đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ngày
càng được bảo đảm.
Đó là những minh chứng rõ
nét bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách dân tộc
và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam.
Bác bỏ những luận điệu
chia rẽ tôn giáo
Do định kiến với Việt Nam,
các thế lực phản động, thù địch ở trong nước và ngoài nước, trong đó có Ủy ban
Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) bất chấp những thành tựu của Việt Nam trong
nỗ lực bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, xuyên tạc trắng
trợn về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF thường xuyên sử dụng thông tin,
tài liệu cũ, không chính xác từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được Nhà nước Việt
Nam công nhận cùng số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng,
Nhà nước để đưa vào các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu, phê
phán việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị Bộ Ngoại
giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn
giáo.
Họ tự cho mình quyền được
khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép,
đăng ký với chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng
sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái
pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến
pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn
chế quyền tự do tôn giáo”.
Họ cho rằng “Luật Tín ngưỡng,
tôn giáo của Việt Nam gồm các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi
ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn
giáo”, không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”. Họ lợi dụng triệt
để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để
cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”. Họ dựa vào việc các tổ
chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: Tổ chức bất hợp
pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long
An)… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm
đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”…
Tuy nhiên, thực tiễn sinh
hoạt tôn giáo ở Việt Nam hoàn toàn khác xa với những nhận định thiếu khách
quan, mang tính định kiến, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Ở Việt Nam, quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực
tế; không có chuyện Nhà nước hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người
dân và cũng không có chuyện “đàn áp tôn giáo”.
Điều này được thể hiện từ
rất sớm, ngày 3-9-1945, chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời bàn về
sáu vấn đề cấp bách, trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nêu rõ: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo
và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG
TỰ DO và lương giáo đoàn kết”.
Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký hai sắc lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm Sắc lệnh số 35/SL,
ngày 20-9-1945, quy định “Đền chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả các nơi có tính
cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng không được xâm
phạm” và Sắc lệnh số 65/SL, ngày 23-11-1945, ấn định nhiệm vụ cho Đông phương
Bác Cổ học viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tịch trong toàn cõi Việt Nam.
Tiếp
nối Sắc lệnh số 35/SL và Sắc lệnh số 65/SL, đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã
ban hành hơn 30 văn bản về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống
tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Để khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân Việt Nam ở tính pháp lý cao nhất, kể từ khi Quốc hội được
thành lập đến nay, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đã được khẳng
định tại 5 bản Hiến pháp, bao gồm Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến
pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013.
Đặc biệt, tại kỳ họp thứ
hai, khóa XIV, ngày 18-11-2016, Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
(có hiệu lực từ năm 2018). Đây là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013
về các điều, khoản quy định về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Nhờ có chủ trương, chính
sách, pháp luật về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện và được thực hiện nhất
quán trong thực tiễn, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng
phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc
tế ngày càng mở rộng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng
được bảo đảm tốt hơn.
Nếu năm 2003, cả nước có
15 tổ chức thuộc 6 tôn giáo với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự,
34.000 chức sắc, 78.000 chức việc, thì đến tháng 5-2024, Nhà nước công nhận và
cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 27 triệu đồng
bào theo đạo (chiếm hơn 27% dân số cả nước), trong đó, có trên 54.000 chức sắc,
135.500 chức việc; trên 29.600 cơ sở thờ tự tôn giáo và khoảng trên 54.000 cơ sở
tín ngưỡng.
Nhiều lễ hội lớn trong các
tôn giáo thu hút hàng vạn tín đồ, nhân dân tham dự, như: Tháng 12-2017, Giáo hội
Tin lành tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành; tháng
7-2019, Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai,
với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo
Việt Nam đã tổ chức thành công 3 Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (năm 2008,
2014, 2019). Đặc biệt, Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc 2025 do Ủy ban tổ chức
quốc tế Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (ICDV), Giáo hội Phật giáo Việt Nam
đồng tổ chức. Đây là lần thứ tư Việt Nam đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản Vesak
Liên hợp quốc. Dự kiến, 80 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia Đại lễ Phật đản
Vesak Liên hợp quốc 2025 tại Việt Nam.
Thực tiễn đó khẳng định, đời
sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam những năm qua là đa dạng, sôi động và
phong phú, không chỉ nhân dân trong nước, trong đó có tín đồ các tôn giáo ghi
nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Do vậy, những nhận định thiếu
khách quan, không đúng với thực tế tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam sẽ không bao giờ có giá trị, cần phải phê phán, bác bỏ./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét