Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, 17 tuổi, ông đã theo ba vào căn cứ trực tiếp chiến đấu. Nhanh nhẹn, mưu trí và gan dạ, lập nhiều chiến công nên ông được đề bạt giữ các chức danh chủ chốt khi tuổi đời còn rất trẻ.
Mới 25 tuổi, ông đã là Huyện ủy viên, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, Phó trưởng Công an huyện. Năm 29 tuổi, ông là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện (2 khóa), Trưởng Công an huyện. Sau khi chuyển sang Bộ đội Biên phòng, ông lần lượt giữ các vị trí Phó Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp; Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Cà Mau; Tỉnh ủy viên, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; Phó Cục trưởng Cục Trinh sát, rồi Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Đảng ủy viên Đảng ủy Bộ đội Biên phòng khóa 12, 13. Ông là Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi (Ba Lợi).
Ông là người có phong cách dễ gần và rất quý mến anh em báo chí. Những chuyến đi công tác xa, ông thường gọi cánh phóng viên đi cùng. Với tôi, trong những lần như thế, được nghe ông kể chuyện thời niên thiếu, thủa chiến tranh lửa đạn, tôi càng thấu hiểu chân dung của vị tướng người Nam Bộ mộc mạc, chân tình. Trưởng thành trong lúc giao thoa của "hoàng hôn chiến tranh" và "bình minh hòa bình", nhưng Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi gần như phải trải nghiệm trọn vẹn những vất vả gian lao, mất mát hy sinh thời binh lửa, cống hiến quãng thời gian đẹp nhất, mạnh mẽ và đầy hoài bão của đời người cho sự nghiệp cách mạng.
Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi là người sống nội tâm, điềm đạm. Với trí nhớ tuyệt vời. Nhiều sự kiện xảy ra cách đây đã hơn 40 năm nhưng ông vẫn nhớ đến từng chi tiết nhỏ, nhất là chuỗi ngày kề vai sát cánh cùng cha, cùng chú chiến đấu trong vùng căn cứ. Tâm điểm trong các câu chuyện về quá khứ của ông vẫn là chuyện chiến đấu trong rừng của đại gia đình nội, ngoại; những trận đọ súng vào sinh ra tử của ông và những người đồng chí, đồng đội, trong đó có người cha và cũng là người chỉ huy đáng kính của mình.
Ông nội của Ba Lợi là ông Nguyễn Văn Lâu, tham gia kháng chiến chống Pháp từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Hồi đó, gia đình ông nội sống ở xã Long Điền A, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong lịch sử của tỉnh An Giang, huyện Chợ Mới là "ngọn cờ đầu" trong phong trào đấu tranh chống xâm lược. Đây là nơi khai sinh chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh An Giang và hiện còn lưu giữ di tích lịch sử "Cột dây thép", một bằng chứng về tội ác chiến tranh của thực dân Pháp. Đây là hệ thống gồm hai cột dây thép, một cột ở bên này sông Tiền thuộc xã Long Điền A và một cột bên kia sông thuộc Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới. Đây chính là mạng lưới thông tin được chính quyền thực dân lúc ấy dùng để thông tin liên lạc từ các xã bên này sông sang bên kia sông và ngược lại...
Để ghi dấu ấn thành lập chi bộ Đảng đầu tiên, người cộng sản Lê Văn Đỏ đã treo lá cờ Đảng rất to, trên đoạn dây nối từ cột dây thép xã Long Điền A sang cột dây thép xã Tấn Mỹ. Sáng hôm đó, tàu Pháp tuần tra trên sông Mỹ Luông hướng ra sông Tiền. Chúng vô cùng hốt hoảng trước sự xuất hiện lá cờ Đảng và ra lệnh đốt cháy toàn bộ xóm Cột dây thép xã Long Điền A. Nhiều nhà cửa bị thiêu rụi, dân chúng bị tàn sát. Cũng tại cột dây thép, sáng ngày 18/1 (âm lịch) năm 1946, quân và dân Chợ Mới đã phục kích và bắn cháy một chiếc tàu của Pháp (chiếc tàu này đã được trục vớt tại ấp 1, thị trấn Mỹ Luông vào ngày 6/3/2006 ở độ sâu hơn 10 mét). Sáng hôm sau, giặc Pháp tổ chức càn quét quy mô lớn chưa từng có, vừa để đàn áp phong trào cách mạng, vừa để trả thù.
Lúc này bộ đội đã rút vào vùng căn cứ, chỉ còn lực lượng bán vũ trang cùng với nhân dân đối đầu với đội quân hùng mạnh được trang bị vũ khí hiện đại tối tân. Ông Nguyễn Văn Lâu biết nói tiếng Pháp, chỉ huy một đội đấu tranh chính trị trực diện với kẻ thù. Tuy nhiên, như con thú dữ bị thương, giặc Pháp đã ra tay tàn sát dã man dân làng, làm chết và bị thương trên một trăm người dân vô tội, trong đó có ông Nguyễn Văn Lâu... Hàng năm, cứ sau Rằm tháng Giêng, cả xã Long Điền A lại tổ chức đám giỗ hội (giỗ nhiều người trong một ngày). Đó là đám giỗ để tưởng nhớ những người đã bị giặc Pháp tàn sát. Ông nội bị giặc giết chết, nhà cửa ruộng vườn bị thiêu rụi, bà nội của Ba Lợi phải ôm con nhỏ chạy vào khu Đồng Tháp Mười, huyện Thanh Bình, tỉnh Kiến Phong (Đồng Tháp ngày nay) để khai hoang, làm ruộng, sống lay lắt qua ngày.
Mỗi lần nhắc lại những kỷ niệm về người ba thân yêu của mình (ông Nguyễn Văn Bồi, bí danh là Nguyễn Thanh Phương), Ba Lợi luôn thấy tự hào. Bởi, cha ông là người thầy, người thủ trưởng và là người đồng chí, đồng đội cùng "chia lửa" với ông trên một chiến hào. Ông Nguyễn Văn Bồi chính là người dìu dắt Ba Lợi trưởng thành trên con đường cách mạng. Ông không chỉ dạy Ba Lợi cách ăn, ở, ứng xử mà còn tập cho con trai mình cách bắn tỉa, bắn chụm, gài lựu đạn, đến những kỹ năng để thích ứng với môi trường sống, chiến đấu gian khổ, thiếu thốn ở trong vùng căn cứ.
Ông Nguyễn Văn Bồi tham gia cách mạng, vào Ty Công an tỉnh Long Châu Sa (An Giang) từ năm 1945, hoạt động ở chiến khu Đồng Tháp Mười, sau này do yêu cầu của tổ chức, ông Bồi chuyển sang Huyện đội, làm công tác quân báo. Năm 1950, ông Bồi kết hôn với bà Trương Thị Kim Ngân, quê thị trấn Thanh Bình và ngay sau đám cưới, người vợ trẻ cũng theo chồng vào vùng kháng chiến. Hai năm sau, trong khói lửa chiến tranh, người con gái đầu lòng của ông bà được sinh ra và đến ngày 10/10/1954, Ba Lợi cất tiếng khóc chào đời. Tại sao đặt tên Lợi? Ông cho biết: Trước đó một tuần, vào ngày 4/10/1954, người cậu của ông ra đời, được đặt tên là Thắng. Ông được sinh ra đúng ngày Thủ đô Hà Nội được giải phóng (10/10/1954) nên được ba mẹ đặt tên là Lợi. Ghép tên cậu với tên cháu thành Thắng Lợi để kỷ niệm Ngày giải phóng Thủ đô. Thắng Lợi còn là niềm khát khao cháy bỏng của quân dân cả nước nói chung và đồng bào miền Nam nói riêng lúc bấy giờ.
Ở trong chiến khu với ba mẹ đến 5 tuổi, hai chị em Ba Lợi được gửi về ông bà ngoại (vùng địch chiếm đóng) để có điều kiện ăn học. Đối với những gia đình có người thân đi làm cách mạng, sống trong vùng địch chiếm đóng là nỗi cực khổ, mất mát không gì so sánh được. Vợ con họ luôn bị giặc truy đuổi, tra khảo, bắt bớ, đánh đập. Năm 1965, Mỹ-ngụy đánh phá ác liệt, chia cắt Đồng Tháp Mười thành nhiều mảnh khác nhau nhằm chia cắt, cô lập các đơn vị cách mạng với nhân dân. Bà Trương Thị Kim Ngân phải đưa các con chạy về tá túc nhà bà con ở xã Tân Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, vừa làm thuê kiếm sống, vừa trốn tránh sự truy lùng của địch. Đây có thể nói là quãng thời gian cơ cực, vất vả nhất của gia đình Ba Lợi.
Năm 1969, mẹ ông - bà Trương Thị Kim Ngân bị giặc bắt bỏ tù chỉ vì có chồng là "Việt Cộng". Hơn một tháng chịu cảnh đòn roi, phải nhờ các cậu dùng tiền lo lót nên bà mới được thả ra. Tuy nhiên, đến năm 1970, bà lại bị bắt lần thứ 2 và bị địch tra tấn hết sức dã man như những tù nhân đặc biệt nguy hiểm lúc bấy giờ. Chúng bắt bà uống nước xà bông, chích điện, đánh đập bằng dùi cui, chết đi sống lại nhiều lần. Sau 3 tháng dùng cực hình tra tấn mà chúng vẫn không khai thác được gì ở người phụ nữ trung kiên này, bọn giặc buộc phải thả tự do cho bà. Ra tù, bà Trương Thị Kim Ngân tiều tụy, gầy còm nhưng đầy khí tiết, suốt một thời gian dài phải "vịn giường tập đi". Mặc dù vậy, bà và 7 người con còn nhỏ vẫn không có được một ngày sống yên ổn với bọn giặc. Những đôi mắt cú vọ vẫn rình rập, truy đuổi để mong lần tìm ra dấu vết của "Cộng sản".
Cuối năm 1970 (chỉ vài tháng sau khi ra tù), biết không thể ở lại ấp Tân Long, xã Tân Mỹ thêm một ngày nào nữa, bà Trương Thị Kim Ngân được các cậu trong gia đình góp tiền mua cho một chiếc ghe nhỏ, dắt theo 7 đứa con nheo nhóc, xuôi theo con nước từ khúc sông Kênh Sáng qua Vịnh Tre đến Châu Phú, An Giang sống lay lắt qua ngày bằng nghề mò cua bắt ốc... Chuyện ăn ở đã khó mà chuyện học hành của con trẻ lại càng trần ai hơn. Đối với những đứa trẻ có cha đi làm cách mạng như Ba Lợi vừa học vừa phải chạy giặc. Học ngày nào biết ngày đó và tuyệt đối không được để lộ hoàn cảnh xuất thân của mình. Chính vì lẽ đó, Ba Lợi không bao giờ dám học một chỗ lâu ngày vì sợ bị giặc phát hiện là "Cộng sản nòi". Có khi, trong một năm, ông phải chuyển trường đến vài ba lần mới mong được yên thân. Tháng 6/1971, gia đình nối liên lạc được với ba ở trong chiến khu. Ba ông yêu cầu, bằng mọi giá phải đưa ông vào chiến khu, kiên quyết không để địch bắt. Còn mẹ ông và các chị em trong gia đình tiếp tục cuộc sống "nay đây mai đó", cho đến tháng 10/1973 mới tìm vào khu căn cứ cách mạng (thuộc xã Phương Thịnh, Cao Lãnh, Đồng Tháp), sống bán hợp pháp cho đến ngày giải phóng...
Vào căn cứ, lúc đầu ông Nguyễn Văn Bồi tính hướng cho Ba Lợi theo ngành cơ yếu. Các chú, các anh trong đơn vị, người thì bàn nên để ông làm công tác Đoàn Thanh niên; người lại tính cho ông làm y tá. Bàn đi tính lại mãi, cả đơn vị thống nhất "bắt" Ba Lợi phải theo học lớp cứu thương. Nói bị "bắt" là bởi, ngay từ đầu Ba Lợi xác định theo ba vào chiến khu là để được trực tiếp chiến đấu chứ không làm bất kỳ việc gì khác. Tuy nhiên, ba ông và các chú đã quyết, điều này cũng có nghĩa là tổ chức đã sắp xếp nên ông phải chấp hành. Nói là học chứ thực tế chiến trường lúc bấy giờ làm gì có thời gian, cũng chẳng có tài liệu nghiên cứu và giáo viên mà giảng dạy. "Khóa học" của Ba Lợi chỉ vỏn vẹn 2 học viên, được một giáo viên là y tá lành nghề trực tiếp hướng dẫn theo kiểu vừa học vừa làm, "làm lâu quen tay". Học được khoảng một tháng thì địch đánh phá ác liệt, theo điều động mới, Ba Lợi về nhận nhiệm vụ bảo vệ Văn phòng Huyện ủy.
Khu căn cứ Đồng Tháp Mười lúc bấy giờ là một vùng đất trũng ngập nước, sình lầy, cỏ cây um tùm, rậm rạp, trải rộng trên diện tích khoảng 800.000 ha. Vào mùa mưa, nơi đây nhuộm trắng một màu nước, cua cá, rắn, đỉa, muỗi mòng nhiều vô kể. Sống và chiến đấu trong môi trường như thế bộ đội ta chỉ có hai sự lựa chọn: hoặc là ở trên xuồng ba lá (chỉ chở tối đa được 3 người), hoặc "treo mình" trên lưng chừng những bụi cây. Mọi sinh hoạt, ăn ở đều diễn ra theo đúng một kịch bản "thò chân xuống là đụng nước". Muỗi mòng dày đặc như rải cám, nên tối đến là lập tức phải chui vào mùng (màn) nếu không muốn bị chúng..."tha đi nơi khác". Nước lên đã khổ mà khi nước rút (mùa khô đến) càng cực hơn. Không sử dụng được ghe thuyền nên mỗi khi di chuyển, bộ đội ta thường phải lội bộ, sình lầy ngập đến đầu gối, phải dùng gậy chống, dò dẫm mà đi. Ngán nhất là những khi đi tải đạn hay lấy lương thực, thực phẩm; không tìm ra chỗ để nghỉ chân, mọi người phải dùng gậy chống xuống bùn nhão, tay giữ, tay đỡ sao cho khỏi bị đổ, rồi tranh thủ nghỉ lấy sức để đi tiếp.
Với Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi, quãng thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là những thước phim dài vô tận. Ông không thể nhớ hết đã đánh bao nhiêu trận, tiêu diệt bao nhiêu tên địch; bao nhiêu ngày phải nằm gai nếm mật, nhịn đói, chịu khát và vật vã bởi những trận sốt rừng? Chiến tranh- ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi tơ vô hình nên làm gì có thời gian để mà suy ngẫm. Tuy nhiên, có một sự đại mà Ba Lợi không bao giờ quên, đó là ngày ông chính thức được công nhận chiến sĩ cách mạng.
Hôm ấy, vào chiều 4/8/1972, sau trận càn quét của địch vào khu căn cứ, ông Nguyễn Văn Bồi và các ông Bùi Văn Phòng, Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Trưởng ban An ninh huyện; Năm Hạo, ủy viên Ban An ninh huyện ngồi lại bàn bạc trao đổi nên bố trí Ba Lợi vào lực lượng nào. Lúc đầu mọi người tính để ông tham gia công tác Đoàn Thanh niên như dự định ban đầu. Tuy nhiên khi được hỏi ý kiến, Ba Lợi mạnh dạn trình bày nguyện vọng là được vào Huyện đội hoặc lực lượng An ninh của huyện để trực tiếp chiến đấu. Nghe con trình bày như thế, ông Nguyễn Văn Bồi gắt giọng: "Con đi làm cách mạng, chịu sự phân công của tổ chức hay tự chọn việc?". Do đã nung nấu ước mơ từ lâu nên Ba Lợi trả lời ngay: "Con không chọn nghề mà chỉ muốn trực tiếp chiến đấu. Con muốn được như ba và mấy chú ở đây".
Thấy Ba Lợi tỏ vẻ quyết tâm, chú Hai Phòng nhẹ nhàng nói: "Thôi, cho cháu nó vào lực lượng An ninh của huyện". Nghe chú Hai Phòng nói vậy, lại thấy Năm Hạo gật đầu nên cuối cùng ông Nguyễn Văn Bồi cũng đồng ý chiều theo sự lựa chọn của con. Lúc bấy giờ, Ba Lợi mừng muốn phát khóc nhưng ông cố nén cảm xúc để nghe chú Hai Phòng thông qua quyết định trước đơn vị: "Kể từ hôm nay, đồng chí Nguyễn Phước Lợi chính thức là cán bộ an ninh huyện". Vậy là ước mơ trở thành hiện thực. Ba Lợi sẽ là đồng chí, đồng đội của cha mình, của chú Hai Phòng, Năm Hạo - những người luôn được ông xem là thần tượng của ý chí vượt khó, tinh thần chiến đấu bền gan. Từ hôm nay, ông sẽ được cầm súng ra trận với tâm thế của một chiến sĩ cộng sản, sẽ trực tiếp đối đầu với kẻ thù để làm tròn bổn phận đối với quê hương, đất nước.
Thời điểm những năm 1971-1972, chiến sự trên vùng căn cứ Đồng Tháp Mười diễn ra vô cùng ác liệt. Mỹ-ngụy liên tục mở nhiều đợt càn quét với ý định tiêu diệt không còn một bóng Cộng sản ở khu vực thuộc huyện Thanh Bình, Đồng Tiến (Tam Nông) và huyện Cao Lãnh của tỉnh Kiến Phong (Đồng Tháp) nhằm mở rộng địa bàn quản lý của chúng trên Vùng 4 chiến thuật. Bọn chúng tổ chức, bố trí nhiều cụm chiến đấu ngay trong vùng căn cứ của ta từ cấp trung đội, đại đội, đồn, bốt. Riêng huyện Thanh Bình có tới 10 đồn, bốt được chúng "rải kín" khắp địa bàn. Lúc này lực lượng của ta phải phân tán mỏng, bám trụ ở những khu vực riêng biệt, với nhiệm vụ chính là tập kích, phục kích, gài lựu đạn để chống càn quét và không để đối phương mở rộng địa bàn hoạt động.
Đây là thời điểm ác liệt nhất. Mỹ-ngụy huy động tổng lực, huy động cả hỏa lực, không quân, có cả B52, xe tăng, pháo binh, tàu chiến hỗ trợ để càn quét, triệt phá các căn cứ của ta. Điển hình vào tháng 11/1972, bọn chúng tổ chức vây ráp, lùng sục, đánh vào các mục tiêu của ta suốt 29 ngày đêm ròng rã. Trong khi đó phía quân ta chỉ còn khoảng 15 người. Nhiều ngày gạo không có ăn, thay vào đó là những "sản vật" của vùng sông nước như ốc, cá, rau cỏ qua ngày mà vẫn kiên cường bám trụ chiến đấu. Có lần lực lượng Huyện đội bị địch chia cắt, nằm trong vòng vây của chúng, không thể nào liên lạc được với Huyện ủy. Có lần qua máy thông tin PRC.25, ta biết được ngày hôm sau chúng đưa 2 chi đoàn xe tăng M113 đánh vào tọa độ mà các đồng chí Huyện đội trú đóng. Tình thế hết sức nguy nan, nếu không thông báo kịp thời thì các đồng chí này rất có thể sẽ phải hy sinh.
Lúc bấy giờ khoảng 2 giờ chiều, đồng chí Phó Bí thư Huyện ủy và đồng chí Huyện đội trưởng bàn cách: phân công Ba Lợi đóng vai người đi chăn trâu, mặc áo rách, cầm một sợt dây, một cây roi và 1 trái lựu đạn lẻn vào vòng vây của địch, thông báo tình hình cho lực lượng của ta trong đó. Với sự linh hoạt, mưu trí, Ba Lợi tận dụng địa hình, cơ động tìm đến được vị trí có đơn vị của ta bị kẹt trong vòng vây. Có những lúc ông đi ngang qua ổ phục kích của địch mà chúng không hề hay biết, kịp thời thông báo tin giúp đơn vị di chuyển ngay trong đêm để bảo toàn lực lượng. Đúng như nhận định của ta, sáng sớm hôm sau, bọn địch tổ chức càn quét quy mô lớn, dùng cả B52 tấn công vào các mục tiêu đóng quân của ta hôm trước, nhưng ta đã chủ động di chuyển đến nơi an toàn.
Mỗi trận đánh đi qua là mỗi sự trải nghiệm của tinh thần mưu trí, dũng cảm, sự chai lỳ, giúp cho người chiến sĩ an ninh Nguyễn Phước Lợi tích lũy kinh nghiệm, nhanh chóng trưởng thành. Tháng 7/1973, Ba Lợi được tổ chức tin tưởng giao nhiệm vụ trực tiếp đưa đoàn cán bộ Huyện ủy Thanh Bình đi lên tỉnh họp (lúc đó trụ sở của tỉnh đóng tại kênh Sáng Phèn, thuộc Xẻo Quýt, huyện Mỹ An - nay là huyện Tháp Mười, tiếp giáp tỉnh Tiền Giang). Từ huyện Thanh Bình đến Mỹ An, nếu "thuận buồm xuôi gió" phải lội bộ mất 6 ngày đêm; còn nếu không may gặp địch càn quét có khi phải mất gấp đôi thời gian mới có thể tới được. Trên đường đi dù muốn hay không cũng phải vượt qua hàng chục đồn bốt của địch; bơi qua hàng chục con sông lớn nhỏ bằng tấm cao su rộng 2m2 bọc ba lô, súng đạn và dồn cỏ vào cho nó nổi trên mặt nước. Chuyến đi này có khoảng 40 đồng chí, trong đó có 4 Bí thư Huyện ủy: Thanh Bình, Tam Nông, Hồng Ngự, Chợ Mới và cán bộ Khu ủy...
Khi đến con kênh Sáng Nguyễn Văn Tiếp, thuộc huyện Cao Lãnh, cách đồn địch khoảng 400m, đoàn công tác đụng phải một tốp lính đang đi tuần nên phải dừng lại để ngụy trang giấu mình. Thời gian cứ chậm chạp trôi qua, mãi gần 12 giờ đêm mà vẫn chưa có tín hiệu báo yên. Đoàn công tác ai cũng nóng ruột, vì nếu không qua được con kênh rộng chừng 150m ngay trong đêm nay sẽ rơi vào thế "tiến thoái lưỡng nan", đi không được mà quay lại căn cứ cũng không xong. Bởi, khi trời sáng rất dễ bị đối phương phát hiện, dùng máy bay trực thăng tiêu diệt. Trong tình thế nguy nan đó, Bí thư Huyện ủy Thanh Bình phân công Ba Lợi mang theo súng AK, một mình vượt sông để nắm tình hình địch, làm ám tín hiệu cho đoàn.
Nước chảy xiết, trong lúc vượt sông, Ba Lợi bị trôi xuống gần đồn địch. Khi cách đồn địch khoảng 250m thì ông mới tiếp cận được bờ bên kia và lọt vào chuồng nhốt vịt của dân. Nghe tiếng vịt kêu, tưởng có trộm đột nhập, bác nông dân một tay xách đèn, một tay cầm thanh củi lao ra định đánh. Lúc này Ba Lợi bơi áp sát vào bác nông dân và nói nhỏ: "Tôi là bộ đội cách mạng...". Bác nông dân chợt sững người lại và rất nhanh chóng ghé sát vào tai Ba Lợi: "Chú nói nhỏ thôi, tụi nó vừa đi tuần qua đây. Nhà tui cũng gần đồn ngụy lắm". Biết gặp được người tốt bụng, Ba Lợi liền nhờ bác nông dân lên đường xem bọn lính ngụy có còn luẩn quẩn đâu đây không. Bác nông dân đi khoảng 5-7 phút rồi quay trở lại, lên tiếng gọi: "Chú bộ đội ơi, tụi nó đi về đồn hết rồi...". Chớp thời cơ, Ba Lợi mượn bật lửa của bác nông dân quẹt nháy 3 cái, phát tín hiệu cho đoàn vượt sông an toàn.
Cuối năm 1973, Ban An ninh huyện tuyển thêm 3 đồng chí và quyết định thành lập Đội An ninh vũ trang bảo vệ Huyện ủy. Đồng chí Nguyễn Phước Lợi vinh dự được chỉ định làm Đội trưởng. Quân số ít, nhưng khối lượng công việc thì nhiều vô kể, toàn những việc khó khăn, phức tạp. Lúc bấy giờ, ngoài nhiệm vụ bảo vệ các đồng chí trong Huyện ủy, Đội An ninh vũ trang còn kết hợp với Huyện đội, thực hiện các nhiệm vụ tập kích đánh vào đồn bốt ngụy; luồn sâu vào vùng địch chiếm đóng, diệt ác trừ gian và phục kích chống địch càn quét; xây dựng cơ sở cách mạng ngay trong lòng địch và ngăn chặn các hoạt động tính báo gián điệp, bọn chỉ điểm xâm nhập nội bộ. Mưu trí, dũng cảm, Đội trưởng An ninh vũ trang Nguyễn Phước Lợi liên tục lập nhiều chiến công, được tổ chức ghi nhận và tin tưởng giao đảm nhận nhiệm vụ ở nhiều vị trí.
Từ tháng 1 đến tháng 4/1975, Đội An ninh vũ trang phối hợp với Huyện đội liên tục chiến đấu với khí thế hào hùng của cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta trong trận đánh vào đồn Bắc Dầu 2, đóng ở xã Bình Thành (quân số đồn này tương đương một trung đội). Ông được phân công làm Chỉ huy phó của một hướng tiến công. Trận đó, ông đã cùng đồng đội tiêu diệt và bắt sống 23 tên, thu toàn bộ vũ khí. Ngày hôm sau, trong trận phục kích đánh địch chi viện từ nơi khác đến, ông chỉ huy đơn vị tiếp tục lập công khi đánh bại mưu đồ của chúng, thu được 2 ghe và 2 tấn vũ khí, súng, đạn... Sau trận đánh này, đồng chí Nguyễn Phước Lợi được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng mũi tiến công, tập trung đánh địch từ Tiểu khu tỉnh Kiến Phong sang chi viện cho quận Thanh Bình. Mặc dù quân số chỉ vỏn vẹn có 9 người, nhưng đơn vị của ông thường xuyên phối hợp với lực lượng du kích xã, tổ chức vây đánh, cô lập đồn Cải Tre, xã Bình Thành của bọn ngụy. Do liên tục bị tập kích, cô lập cả ngày lẫn đêm, nên chỉ sau một thời gian ngắn, đồn Cải Tre bị tiêu hao sinh lực, buộc phải rút chạy.
Chiến công nối tiếp chiến công, đơn vị của ông được cấp trên tin tưởng điều về hướng chủ yếu, tham gia các trận đánh với quy mô lớn hơn, ác liệt hơn. Điển hình là việc phối hợp với Huyện đội tấn công giải phóng Chi khu quận Thanh Bình diễn ra lúc 3 giờ sáng ngày 1/5/1975, do ông trực tiếp chỉ huy. Chỉ chưa đầy một giờ nổ súng, địch đã bỏ chạy tán loạn. Ta thắng lớn, thu nhiều súng đạn, chiến lợi phẩm và tiếp quản Chi khu quận Thanh Bình.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được giao làm Trung đội trưởng An ninh vũ trang của huyện Thanh Bình, tỉnh Long Châu Tiền (An Giang). Từ tháng 3/1976 - 9/1979, ông là Đội trưởng Đội Bảo vệ nội bộ, có nhiệm vụ chống địch xâm nhập vào nội bộ của ra trong đấu tranh chống lại "kế hoạch hậu chiến" của Mỹ-ngụy. Trong giai đoạn này, Đội Bảo vệ nội bộ do ông chỉ huy đã trực tiếp bắt được hàng chục tên gián điệp, tình báo tổ chức xâm nhập, trong đó có 10 tên tàn quân từ cấp trung đội, tiểu đoàn trưởng trở lên. Một số tên cầm đầu đã bị chính quyền cách mạng kết án tử hình. Cũng trong thời gian này, ông tham gia với Công an huyện phá vỡ các tổ chức phản động khác, phối hợp với lực lượng Bảo vệ nội bộ Huyện ủy phát hiện, tố giác hàng chục tên phản động do địch cài vào tổ chức của ta.
Từ tháng 3 đến tháng 9/1979, ông chỉ huy một đội tham gia phá một tổ chức phản động của bọn tàn quân âm mưu thành lập cái gọi là "Mặt trận Dân quân phục quốc". Tổ chức phản động này nhen nhóm thành lập một lực lượng vũ trang lên đến cấp trung đoàn. Về tổ chức hành chính, chúng "nhào nặn" ra "bộ tứ" gồm 1 "Tỉnh trưởng" và 3 "Phó tỉnh trưởng", trong đó có 1 tên Thiếu tá tình báo do CIA cài lại. Ý đồ của bọn chúng là tìm mọi cách, kể cả vũ trang để lật đổ chính quyền quận Thanh Bình và tỉnh Long Châu Tiền, thành lập căn cứ lõm ở xã Phú Thành (Tam Nông, Đồng Tháp). Được trang bị hiện đại (cấp trung đội có cả súng đại liên), ổ nhóm phản động này đã tổ chức một số vụ ám sát, giết hại cán bộ cấp xã... Trước thực trạng trên, để nhanh chóng ổn định tình hình, được sự chỉ đạo của Ban Giám đốc Công an tỉnh, Ban chỉ huy Công an huyện phân công Nguyễn Phước Lợi tham gia vào Ban chuyên án. Nhiệm vụ chính của ông là chỉ huy mũi trinh sát theo dõi hoạt động của những tên cầm đầu tổ chức, phục vụ cho việc đánh án.
Sau nhiều ngày lặn lội, gian khổ lần theo dấu vết của bọn phản động, được sự giúp đỡ của bà con nhân dân và cảm hóa được một tên trong tổ chức, ông đã nắm được thời gian, địa điểm bọn phản động tổ chức một cuộc họp kín để bàn kế hoạch tấn công huyện Thanh Bình. Do tính chất quan trọng, các đối tượng tham dự cuộc họp được mang theo vũ khí gồm 2 khẩu súng colt 45 cùng một số tài liệu, sơ đồ tác chiến. Địa điểm bọn phản động tổ chức cuộc họp là trên một chiếc ghe đậu ở bến phà Long xuyên, An Giang. Để tiếp cận, Ba Lợi cùng một trinh sát viên (là chiến sĩ mới nhập ngũ tháng 5/1975) dùng phương tiện áp sát mục tiêu. Tuy nhiên, khi đang áp sát vào ghe của bọn phản động thì ông bị chúng phát hiện. Tên "Tỉnh trưởng", hai tay cầm 2 con mác lao ra tấn công. Trước tình huống bất ngờ, ông bình tĩnh lựa thế giật được 2 con mác trên tay tên "Tỉnh trưởng" ném xuống sông và khống chế bắt trói hắn chuyển sang chiếc ghe khác. Tên Trung đoàn trưởng vốn là sĩ quan ngụy nên không dễ bị khuất phục, hắn lặng lẽ thọc tay xuống khoang ghe để lấy súng lên bắn trả. Nhanh như cắt, Ba Lợi áp sát, dí khẩu súng vào đầu hắn khống chế. Chỉ chưa đầy 5 phút, cả toán phản động đã bị bắt gọn; trong số này có một Tỉnh trưởng, một Phó Tỉnh trưởng và một Trung đoàn trưởng...
Vào một ngày cuối tháng 12/1976, đồng chí Nguyễn Phước Lợi được cấp trên điều xuống quận Thốt Nốt, Cần Thơ để truy bắt tên Thiếu tá CIA. Hôm đó, ông đi trên chiếc xe hon đa chở theo một trinh sát viên xuống cùng phối hợp với lực lượng Công an quận Thốt Nốt thực hiện kế hoạch vây bắt. Tới nơi, mới hay chúng có tới 4 tên, đóng giả bộ đội ta. Có một trung úy, hai thiếu úy, còn một tên đóng giả dân thường. Vì bọn phản động đóng giả quân giải phóng nên chúng được một người dân cho ở nhờ trong nhà. Ban đầu Công an quận Thốt Nốt không dám phối hợp vì sợ bắt nhầm bộ đội ta. Do nắm rõ đối tượng, ông đã thuyết phục, trình bày kế hoạch chi tiết, đồng thời cam đoan sẽ nhận mọi trách nhiệm nếu để xảy ra tình huống xấu, nên lực lượng Công an đồng ý phối hợp. Chờ đến tối, khi chúng đang chuẩn bị bữa cơm, các mũi trinh sát của ta lặng lẽ tiếp cận mục tiêu, bắt gọn 4 tên, trong đó có tên Thiếu tá CIA cài cắm lại. Ngay đêm hôm đó, trước những chứng cứ không thể chối cãi, ổ nhóm phản động này đã phải cúi đầu nhận tội.
Năm 1976, ông là cán bộ đầu tiên của Công an tỉnh Đồng Tháp được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen, được vinh danh Chiến sĩ Quyết thắng. Từ thời điểm đó cho đến năm 1983, ông liên tục được công nhận là Chiến sĩ thi đua. Tháng 6/1976, ông được Ty An ninh tỉnh Long Châu Tiền phong cấp hàm Chuẩn úy và đến tháng 9/1979 ông được bổ nhiệm Phó trưởng Công an huyện, Huyện ủy viên chính thức, đến tháng 11/1979 ông được phong vượt cấp từ Chuẩn úy lên Trung úy, đến tháng 9/1982 được thăng cấp hàm Thượng úy.
Tháng 6/1983, huyện Thanh Bình chia tách thành 2 huyện Thanh Bình và Tam Nông, Thượng úy Nguyễn Phước Lợi được bổ nhiệm làm Trưởng Công an huyện Tam Nông. Điều kiện đơn vị lúc ấy vô cùng khó khăn, trong khi quân số biên chế chỉ vỏn vẹn 90 cán bộ, chiến sĩ, lại đảm nhận một khối lượng công việc rất lớn. Chưa có trụ sở làm việc, toàn bộ đơn vị phải ở cư xá cũ xập xệ, dột nát. Mặc dù vậy, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của ông, nội bộ đơn vị luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, vượt khó vươn lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liên tục, Công an huyện Tam Nông được công nhận là một trong những lá cờ đầu trong phong trào thi đua của lực lượng Công an tỉnh Đồng Tháp.
Năm 1991, ông được trên điều bổ nhiệm làm Phó Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp, phụ trách công tác trinh sát. Trong thời gian này, ông đã chỉ đạo và trực tiếp tham gia phá án, bắt 3 toán xâm nhập từ nước ngoài về Việt Nam. Cả ba toán này đều nằm trong "Đảng nhân dân hành động" do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu. Ta thu nhiều tài liệu, vũ khí, phá vỡ âm mưu hoạt động, phá hoại của địch.
Cuối năm 2000, trước yêu cầu nhiệm vụ chính trị, nhất là công tác xây dựng đơn vị của Bộ đội Biên phòng Cà Mau (đơn vị có nhiều hạn chế, yếu kém), ông được điều sang Bộ đội Biên phòng tỉnh Cà Mau, làm Chỉ huy phó; một tháng sau, ông được bổ nhiệm Chỉ huy trưởng. Và ông được bầu là Tỉnh ủy viên, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau. Vốn là người có nhiều kinh nghiệm, lại tâm huyết với công việc, biết nghe ý kiến và tôn trọng cấp dưới nên ông đã cùng các cộng sự từng bước củng cố, xây dựng đơn vị ngày càng ổn định, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; trong đó ông tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm vấn đề tồn đọng về tài chính, trên 2 tỷ đồng của đơn vị, tạo khí thế mới của Bộ đội Biên phòng Cà Mau.
Tháng 12/2004, Đại tá Nguyễn Phước Lợi được điều về Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, giữ chức Phó Cục trưởng Cục Trinh sát, phụ trách công tác tình báo. Thời điểm này tình hình Tây Nguyên và Tây Nam Bộ diễn biến rất phức tạp. Bọn phản động lợi dụng đồng bào dân tộc ít người thường xuyên kích động, tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại cuộc sống yên bình của bà con nhân dân. Chúng xúi giục đồng bào tụ tập, khiếu kiện đông người, tuyên truyền kích động bà con dân tộc thiểu số nhẹ dạ cả tin vượt biên trái phép sang Campuchia để đi nước thứ ba. Đây là chiêu bài rất thâm độc của bọn phản động. Chúng vẽ ra viễn cảnh cuộc sống giàu sang sung túc, một "miền đất hứa" ở bên xứ lạ quê người, nhằm kích động tâm lý hướng ngoại, để lừa đảo bà con, gây phức tạp tình hình, tạo ra những điểm nóng về an ninh chính trị. Không ít người đã mắc mưu, rơi vào cái bẫy giăng sẵn của bọn phản động, bán nhà cửa, nương rẫy, theo chúng sang sống trong trại tị nạn.
Năm 2005, Phó Cục trưởng Cục Trinh sát Nguyễn Phước Lợi được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng điều vào Thường trực Bộ Tư lệnh Biên phòng tại Tây Nguyên (gọi tắt là TN 01), đóng ở Gia Lai. Trên cương vị của mình, ông nhanh chóng tiếp cận nghiên cứu, nắm bắt tình hình, triển khai sâu sắc biện pháp công tác trinh sát, nhất là khâu nắm tình hình, phân tích đánh giá tình hình, đặc biệt là tình hình nội, ngoại biên, tình hình nhân dân ở khu vực biên phòng, tình hình vượt biên và các hoạt động nhen nhóm chống phá chính quyền, gây mất đoàn kết dân tộc.
Qua tiếp cận, xâm nhập thực tế, ông đã có cơ sở đề nghị Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng thành lập Chuyên án B905 (ở khu vực Tây Nguyên) và V906 (Tây Nam Bộ). Đây là hai chuyên án đấu tranh chính trị, tập trung phòng chống tình trạng vượt biên trái phép đang diễn ra rất phức tạp trên địa bàn Tây Nguyên và vùng Tây Nam Bộ lúc bấy giờ. Ông được Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phân công trực tiếp làm Trưởng ban Chuyên án B905 "Chống vượt biên của người dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên".
Sau gần 10 tháng triển khai chuyên án, vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách, lực lượng Bộ đội Biên phòng các tỉnh Tây Nguyên đã kiên trì đấu tranh, lập được nhiều thành tích xuất sắc trong thực hiện Chuyên án B905. Tổng kết Chuyên án B905, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã được Chính phủ và Bộ Quốc phòng đánh giá cao, tạo tiền đề quan trọng cho việc đấu tranh bóc gỡ các ổ nhóm phản động FULRO, "Tin lành Đêga" trên địa bàn Tây Nguyên. Riêng cá nhân Cục phó Cục Trinh sát Nguyễn Phước Lợi được Bộ Quốc phòng tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong chỉ đạo, triển khai thực hiện thắng lợi 2 chuyên án đấu tranh chính trị này.
Nói về bí quyết thành công của chuyên án, Đại tá Nguyễn Phước Lợi cho rằng "đánh" vượt biên cũng như đánh rắn, phải đánh giập đầu. Kỹ năng này đã được ông tiếp cận ngay từ khi còn là cậu bé ở vùng sông nước miền Tây Nam Bộ. Vùng này rắn rất nhiều, đặc biệt là ở những cánh rừng trong chiến khu thì nhiều vô kể, nếu không có kinh nghiệm rất dễ bị rắn độc cắn chết. Mỗi khi đụng phải "sát thủ máu lạnh" này, cần phải tiêu diệt theo cách các cụ xưa vẫn dạy "đánh rắn giập đầu" và "đánh gãy xương sống". Khi xác lập Chuyên án B905, Cục phó Trinh sát Nguyễn Phước Lợi đề xuất áp dụng "kiểu đánh rắn" này, nhằm làm thất bại âm mưu thâm hiểm của những kẻ cầm đầu tổ chức phản động. Ông lấy hình tượng con rắn để mô tả những nét đặc trưng của chuyên án.
Ông nói: Con rắn có ba phần gồm đầu, xương sống và phần đuôi. Đuôi rắn là những người dân tộc thiểu số nhẹ dạ cả tin ở Tây Nguyên, bị kích động, lừa gạt. Xương sống thể hiện vừa là điểm tiếp nhận, vừa là nơi trung chuyển số người vượt biên để đi đến "cái đầu" là những kẻ cầm đầu ổ nhóm phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để hoạt động chống phá ta ở trong nước và nước ngoài. Chính vì vậy, để hạn chế và tiến tới xóa bỏ "ung nhọt" vượt biên trái phép, cần phải "đánh gãy xương sống và giập đầu rắn".
Nói thì có vẻ đơn giản, nhưng khi bắt tay vào thực hiện mới thấy trăm ngàn khó khăn, thử thách. Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Ban chuyên án đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều biện pháp nghiệp vụ như đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nâng cao ý thức cảnh giác cho bà con nhân dân; triển khai công tác trinh sát nắm tình hình, xây dựng mạng lưới cơ sở bí mật, đánh mạnh vào các mục tiêu, các đối tượng, đường dây vượt biên mà bọn phản động hình thành từ địa bàn nội địa đến khu vực biên giới, rồi sang Campuchia... Phải mất gần 10 tháng bám sát các đối tượng, địa bàn trọng điểm, Ban chuyên án đã đánh giập nát "cái đầu rắn độc", góp phần làm "giảm nhiệt", tiến tới xóa sổ tình trạng vượt biên trái phép trên địa bàn Tây Nguyên.
Tháng 12/2007, Đại tá Nguyễn Phước Lợi được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và thăng quân hàm Thiếu tướng. Ông được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phân công trực thường xuyên ở phía Nam.
Trưởng thành từ cán bộ cơ sở, dạn dày kinh nghiệm và có thời gian giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Trinh sát nên ông rất thông thuộc đặc điểm, tình hình của từng địa bàn các tỉnh, thành phía Nam. Tuy nhiên, khi đảm nhận cương vị Phó Tư lệnh, nhiệm vụ trọng trách nặng nề hơn, ông hiểu cần phải có sự bao quát mang tính toàn diện hơn trong công tác chỉ huy, chỉ đạo của một Phó Tư lệnh trực tiếp thường xuyên với các đơn vị Biên phòng phía Nam. Ông nhanh chóng bắt tay vào công việc, tập trung nghiên cứu, học hỏi, tìm hiểu, lắng nghe những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Ông dành nhiều thời gian đi xuống cơ sở, muốn được tận mắt nhìn thấy, tận tai lắng nghe chính những cán bộ ở cơ sở nói về công việc mà họ đang trực tiếp làm.
Bằng vốn sống thực tế và tư duy của một chỉ huy cấp cao trong lực lượng ông đã có nhiều đóng góp quý báu, thiết thực, giúp cho các đơn vị cơ sở trong xây dựng phương án, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới cũng như xây dựng đơn vị. Nhiều ý kiến tham mưu, đề xuất của ông đã giúp cho Đảng ủy Bộ đội Biên phòng triển khai thực hiện tốt công tác phối hợp với các ban, ngành Trung ương Thường trực ở phía Nam và cấp ủy, chính quyền các cấp ở địa phương. Từ đó công tác hiệp đồng với các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, lực lượng Công an và các ngành chức năng ở khu vực biên giới ngày càng chặt chẽ, có hiệu quả cao.
Ông cho rằng, địa bàn biên phòng các tỉnh phía Nam rất nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, nhưng cũng tiềm ẩn những vấn đề nhạy cảm và phức tạp. Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo, cần phải tập trung theo dõi, nắm chắc diễn biến tình hình, những vấn đề phát sinh tại hai khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Với Tây Nguyên, đây là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng của cả nước đang diễn ra những vấn đề phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo, cũng như công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tại đây, bọn phản động FULRO, "Tin lành Đêga" vẫn ngấm ngầm hoạt động. Chúng lợi dụng những sơ hở trong thực hiện các chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước để đẩy mạnh các hoạt động chống phá, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, làm mất ổn định tình hình.
Ở một số địa bàn, tà đạo Hà Mòn và một số tà đạo khác giống như một loại dịch bệnh lây lan trong cộng đồng, gây mất lòng tin của quần chúng vào các cấp chính quyền địa phương. Bên cạnh đó là tình trạng chặt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép diễn biến phức tạp ở khu vực biên giới. Một số doanh nghiệp lợi dụng chủ trương phát triển kinh tế, lợi dụng những kẽ hở trong quản lý để khai thác lâm sản, làm nghèo kiệt những cánh rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, tạo ra những điểm nóng về an ninh nông thôn, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.
Trước tình hình trên, Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi tăng cường sự sâu sát với thực tiễn, chủ động tham mưu đề xuất cho Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và các địa phương, kịp thời đề ra các giải pháp xử lý, giải quyết. Đồng thời, ông chỉ đạo các đơn vị Bộ đội Biên phòng nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, đánh giá tình hình, tăng cường phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động, giáo dục trong đồng bào các dân tộc thiểu số, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, trong đó chú trọng triển khai nhân rộng các mô hình giúp dân phát triển kinh tế, ổn định sản xuất, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, từ đó góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời với tăng cường công tác tuyên truyền, xóa bỏ các luận điệu kích động tư tưởng ly khai, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc; đấu tranh chấm dứt các hoạt động tổ chức đưa đón người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép và tích cực chăm lo xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh biên giới.
Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi mạnh dạn tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo Tây Nguyên và cấp ủy, chính quyền địa phương hạn chế tình trạng cấp phép cho các doanh nghiệp tư nhân phát triển sản xuất trên biên giới mà cần ưu tiên doanh nghiệp Nhà nước và có những dự án về phát triển kinh tế, ổn định dân cư kết hợp với quốc phòng - an ninh. Ông đã tham gia những ý kiến sát thực, có tầm nhìn sâu rộng.
Trong quá trình tổ chức, chỉ đạo các đơn vị, Phó Tư lệnh Nguyễn Phước Lợi đã nhận thấy rằng, đối với địa bàn Tây Nguyên, cần tập trung cho công tác đấu tranh phòng chống vượt biên trái phép thì ở địa bàn các tỉnh miền Tây Nam Bộ cần phải chú trọng ngăn chặn, hạn chế tình trạng xâm nhập trái phép. Có những thời điểm số lượng Việt kiều trở về nước đông, thành phần phức tạp, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn biên giới. Để xử lý vấn đề này, ông luôn chủ động công tác nắm tình hình, kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và chính quyền địa phương, mặt khác tập trung chỉ đạo các đơn vị Bộ đội Biên phòng tăng cường lực lượng xuống các địa bàn trọng điểm tuyên truyền, vận động, nhắc nhở bà con Việt kiều chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, không đi sâu vào các địa bàn nội địa mà nên quay trở về nơi ở cũ để ổn định cuộc sống; mặt khác làm tốt công tác đối ngoại Biên phòng, tăng cường phối hợp với các lực lượng chức năng nước bạn, giải quyết những vấn đề phát sinh giúp bà con Việt kiều yên tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống.
Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi luôn được nhân dân và rất nhiều cán bộ, lãnh đạo các địa phương quý mến. Vào những dịp lễ, tết cổ truyền dân tộc, hay các ngày kỷ niệm của các địa phương, ông luôn quan tâm thăm hỏi, động viên, chúc mừng, tổ chức các đợt tặng quà cho những hộ gia đình, cá nhân nghèo sinh sống trên khu vực biên giới. Trong ông, lúc nào cũng khắc sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu "lấy dân làm gốc". Trong mỗi chuyến công tác xuống đồn Biên phòng ông thường căn dặn cán bộ, chiến sĩ rằng: "Người dân biết tới Bộ đội Biên phòng là quý rồi, nhưng để bà con nhớ, thương và ủng hộ Bộ đội Biên phòng lại càng quý hơn".
Ấn tượng khó phai nhất trong ông là những chuyến thị sát địa bàn, trao tặng nhà tình nghĩa, tình thương cho các đối tượng chính sách, người nghèo neo đơn không nơi nương tựa. Đến với dân, tận mắt chứng kiến những khó khăn vất vả, thiếu thốn của họ, mắt ông ứa lệ, xót thương cho những thân phận gặp nhiều trắc trở, thiếu may mắn trong cuộc đời. Rồi, như một "phản xạ tự nhiên" của lòng nhân ái, ông lấy tiền trong túi của mình ra cho thêm. Sau những lần như vậy, ông cười thật tươi và tâm sự rằng: "Ngày xưa mình cũng nghèo khổ. Bây giờ hàng tháng có đồng lương, cuộc sống đỡ hơn nhiều nên san sẻ với bà con nghèo một ít cũng là việc nên làm..."
Không chỉ là nhân tố tích cực trong chỉ đạo các tỉnh, thành Biên phòng phía Nam, chủ động tham mưu cho chính quyền địa phương các cấp thực hiện tốt các phong trào xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở tuyến biên giới, biển, đảo; xây nhà đồng đội, nhà tình thương... Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi còn có nhiều đóng góp thiết thực, sáng tạo, cùng lãnh đạo Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đẩy mạnh phong trào kết nghĩa bản-bản giữa nhân dân hai bên biên giới. Thúc đẩy phong trào quần chúng nhân dân tự quản, bảo vệ đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh, trật tự. Cùng với việc hoàn thành tốt chức trách của một Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi còn là một thành viên tích cực của 2 Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Nhiều ý kiến, đề xuất của ông về các giải pháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng-an ninh và các phong trào quần chúng ở khu vực và từng địa phương đã được các cấp lãnh đạo đánh giá cao.
Mặc dù không nói được nhiều tiếng Campuchia, nhưng ông lại có rất nhiều bạn bè thân thiết bên đất nước Chùa Tháp. Mỗi lần ông tham gia đoàn công tác của Bộ Tư lệnh Biên phòng Việt Nam sang Campuchia, bao giờ cũng có nhiều bạn bè, đồng nghiệp của Bạn tới chào hỏi, trò chuyện ân cần. Họ quý ông vì sự chân tình, vô tư và cởi mở. Nhiều đoàn công tác của Bạn khi sang Việt Nam, tuy không có chương trình làm việc ở cơ quan Thường trực Bộ Tư lệnh tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cũng tranh thủ ghé thăm "anh Ba Lợi" như anh em một nhà. Chính mối quan hệ thân thiết, chân thành đó đã hỗ trợ cho Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi rất nhiều thuận lợi trong công tác đối ngoại biên phòng, góp phần cùng với chính quyền và lực lượng vũ trang hai nước, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới.
Trong quá trình chiến đấu và công tác, ông đã được khen thưởng Huân chương Quân công hạng Ba; 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất; 2 Huân chương Hữu nghị hạng Nhất của Nhà nước Campuchia tặng và nhiều huân, huy chương các loại.
Có thể nói rằng, trong suốt gần 7 năm làm Phó Tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi đã cùng Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng chỉ huy, chỉ đạo các tỉnh, thành Biên phòng, các đơn vị trực thuộc phía Nam thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới, vùng biển, đảo quốc gia; thực hiện tốt công tác tăng dày và tôn tạo cột mốc tuyến biên giới Việt-Lào, phân giới cắm mốc tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia... ở cương vị nào, ông cũng luôn tích cực, mẫu mực, đặt công việc, lợi ích của tập thể lên hàng đầu. Trong đời thường, ông sống tình cảm, chân tình, luôn được đồng đội và nhân dân tôn trọng, quý mến.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét