Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

Thiếu tướng Vũ Hiệp Bình - Lấy cột mốc biên giới làm vạch nhịp bài ca

 Năm 1978, tôi nhập học hệ Đại học, Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang, nay là Học viện Biên phòng. Lúc đó, hình ảnh người lính Biên phòng "Chân đạp mây bay, tóc vờn gió núi" luôn là ước mơ của tuổi trẻ. Với chúng tôi, ngày đó, những người đeo quân hàm sĩ quan như ông Vũ Hiệp Bình thật sự là niềm ngưỡng vọng của mỗi người lính. Chúng tôi cũng chỉ mong, sau này, khi ra trường, cũng được mang quân hàm sĩ quan như thế.

Thời gian đó, biên giới Tây Nam đang rất căng thẳng, biên giới phía Bắc đang có những diễn biến xấu. Khát khao của những người lính biên phòng là được trực tiếp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trước họa xâm lăng, khát khao đó luôn thôi thúc chúng tôi học tập, rèn luyện để sớm được ra trường. Chính trong thời điểm sôi sục đó, với lòng yêu đất nước, yêu biên giới thiết tha, cảm phục về tinh thần dũng cảm ngoan cường của đồng bào, đồng chí trong bảo vệ biên giới, đã tạo cảm xúc để ông Vũ Hiệp Bình viết bài thơ: "Tổ quốc, biên giới và người chiến sĩ Biên phòng". Bài thơ ông viết được Đội Văn nghệ của Trường dàn dựng tổ khúc Thơ-múa, gây được tiếng vang trong Hội diễn Văn nghệ quần chúng toàn lực lượng. Hình ảnh của ông trong đám học viên trẻ chúng tôi là mục tiêu phấn đấu.

Trong những năm đó, hoạt động phong trào văn hóa văn nghệ ở các trường đại học và cao đẳng rất phát triển. Đối với các trường quân đội và lực lượng vũ trang, hoạt động văn nghệ cũng là một nhiệm vụ, là món ăn tinh thần, nhu cầu cuộc sống hằng ngày của người lính. Vào mùa hội diễn văn nghệ nhà trường, từng đơn vị phải xây dựng các tiết mục, tổ chức biểu diễn từ cấp đại đội lên tiểu đoàn. Ngày đó, tôi mới tập tọe làm thơ, viết văn, nên cũng có thành phần trong đội văn nghệ của đại đội. Vào các buổi chiều và tối, ông Vũ Hiệp Bình, khi đó đang là Trợ lý Văn hóa văn nghệ Phòng Chính trị nhà trường, thường xuống các đơn vị để hướng dẫn, bày cách lấy hơi, cách biểu diễn sao cho hay, cho chuẩn. Mặc dù chương trình hội diễn "cây nhà lá vườn" nhưng ông hướng dẫn, chỉ bảo rất chu đáo, có những tiết mục, ông trực tiếp thị phạm cho chúng tôi. Hình ảnh người sĩ quan vừa có chất nghiêm khắc của người chỉ huy, vừa có chất "nghệ sĩ", đã in dấu ấn trong lứa sinh viên "trường lính" ngày đó.

Vì chúng tôi đang là học viên, nên việc học luôn đặt lên hàng đầu, chuyện văn nghệ chỉ là phong trào quần chúng, ít được quan tâm đầu tư thời gian. Thấy chúng tôi có tư tưởng "văn nghệ vườn", được chăng hay chớ, ông tranh thủ lúc nghỉ giải lao giữa các buổi tập để tâm sự. Ông nói nhỏ, khúc triết và rất chân tình: Dù là tiết mục tham gia văn nghệ quần chúng, lính hát cho lính nghe, nhưng sự thể hiện lại bộc lộ ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân. Tiếng hát là sức mạnh của cuộc sống, là danh dự của con người dồn tụ lại.

Lúc đó, thật lòng, chúng tôi đâu có hiểu hết những điều ông tâm sự. Chỉ sau này, khi đã là sĩ quan, làm nhiệm vụ trực tiếp trên các tuyến biên giới, mặt đối mặt với thực tiễn cuộc sống, chiến đấu, chúng tôi mới hiểu hết những lời tâm huyết của ông. Làm việc gì cũng phải tận tâm, tận lực, vì danh dự của con người. Và, những lời tâm huyết ấy, đúc rút từ bao khó khăn, vất vả của chính cuộc đời ông mới có được.

Thiếu tướng Vũ Hiệp Bình, Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng, sinh năm 1953 tại Thanh Hóa, lớn lên ở vùng đất mỏ Quảng Ninh. Thời niên thiếu của ông rất vất vả và thiếu thốn. Khi còn bé, mỗi khi mẹ đi công tác, ông được gửi về nhà bà ngoại. Lúc 6-7 tuổi, ông đã thường xuyên phải ở nhà một mình, tự lấy củi để đun, chăn nuôi lợn, gà và tự lo cho mình, bữa đói bữa no. Nhiều bữa, nhà hết gạo nên phải ăn sắn triền miên... Nhưng các buổi chiều chủ nhật, ông thường ra đứng dưới chân cột điện nghe say sưa chương trình ca nhạc từ chiếc loa phóng thanh của khu phố.

Bà Phạm Nguyên Cường, vợ ông kể cho nghe ký ức về những năm tháng tuổi thơ kham khổ của ông. Bà kể: "Suốt những năm học cùng nhau, mỗi năm học, tôi chỉ thấy anh mặc đúng một cái áo sơ mi. Lúc đó tôi không biết hoàn cảnh gia đình của anh đã "ngây thơ" hỏi: Sao Hiệp Bình chỉ có một cái áo thôi à?". Và tôi thấy mặt anh đỏ dừ, mà tôi vẫn không hiểu tại sao. Sau này biết được hoàn cảnh của anh, tôi cứ áy náy, ân hận mãi. Về sau, khi đã là vợ chồng, cứ mỗi lần nhớ lại chuyện đó, tôi vẫn thấy lòng mình gợn lên một nỗi buồn. Tự trách mình sao ngày đó vô tâm, vô tính đến thế".

Cũng theo bà Phạm Nguyên Cường cho biết, năm 1967, lúc 14 tuổi, ông được ra học tại trường nội trú Lê Văn Tám của tỉnh Quảng Ninh, từ lớp 6 đến hết lớp 8. Trong giai đoạn này, ông Vũ Hiệp Bình luôn là một học sinh học khá giỏi đều các môn và đặc biệt là rất say mê âm nhạc. Ông thường tự mày mò học nhạc, học thổi sáo. Thời kỳ học phổ thông, ở ông đã sớm bộc lộ vai trò "thủ lĩnh", nên luôn được bạn bè tín nhiệm bầu làm lớp trưởng, lớp phó.

Cuối năm 1970, cả nước dốc lòng cho chiến trường, đâu đâu cũng hừng hực khí thế tòng quân: Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Vừa kết thúc học kỳ 1, lớp 9 trường cấp 3 Hòn Gai, ông viết đơn tình nguyện và ngày 27/2/1971, ông lên đường nhập ngũ, được biên chế vào lực lượng Công an nhân dân vũ trang Quảng Ninh. Thế là nghiệp Biên phòng đã chọn ông và ông đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Trong cuốn nhật ký của ông, có đoạn viết: "Đó là năm học 1970-1971, tôi học lớp 9D, Trường cấp 3 Hòn Gai. Những năm bảy mươi về trước, thị xã Hòn Gai mới chỉ có một trường cấp 3 (cả tỉnh Quảng Ninh, chỉ những huyện thị lớn như Hải Ninh, Quảng Yên, Đông Triều mới có trường cấp 3). Khi đó, ngôi trường hai tầng ngói đỏ bề thế, tọa lạc lưng chừng đồi thông, bên bờ Vịnh Hạ Long ngày đêm gió hát... đã có sức thu hút kỳ lạ. Khi còn nhỏ, hàng ngày thấy các anh chị học cấp 2, cấp 3 "hành quân" từ các ngả Hà Tu, Cọc 5, Hà Lầm, Bãi Cháy... háo hức tới trường, tôi ao ước ghê lắm, để đến bao giờ mới được là học sinh của Trường cấp 3 Hòn Gai...

Ước ao thế, nhưng cũng đinh ninh sớm muộn gì, nếu siêng năng học hành sẽ được là học sinh của trường. Ấy vậy mà cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của đế quốc Mỹ đã buộc lũ học trò chúng tôi phải sơ tán về những miền quê hẻo lánh. Để mãi đến hè năm 1970, khi bom đạn giặc tạm yên, tôi mới chính thức được ngồi sau dãy bàn góc trái trong căn phòng học ở tầng 2, ngay sát cạnh cầu thang của Trường cấp 3 Hòn Gai; được là "đồng tác giả" những trò tinh quái của đám "học trò sắp thành người lớn" dưới tán phượng sân trường...

Thời đất nước có chiến tranh, việc học hành dở dang đối với lứa học trò chúng tôi lúc bấy giờ là chuyện thường xảy ra với rất nhiều lý do khác nhau. Có thể do hoàn cảnh gia đình, đang tuổi ăn học đã phải là người gánh vác chính việc nhà; có thể do trường lớp quá xa xôi; cũng có thể do không hứng thú với sự học hành... Nhưng có lẽ, phổ biến nhất là do phải "xếp bút nghiên" theo chí trai thời chiến. Đa số chúng tôi là thế!"

Chia tay mẹ già và các bạn cùng lớp, bước chân vào cuộc đời quân ngũ, ông luôn mang trong ba lô bộ sách giáo khoa lớp 10 mà người bạn gái học cùng lớp đã chuẩn bị cùng những cuốn sách nhạc lý cơ bản. Ngay khi huấn luyện tân binh, ông vẫn không ngừng tự học hỏi, nghiên cứu, theo đuổi đam mê, bộc lộ năng khiếu của bản thân. Cứ khi nào rỗi ông lại tranh thủ tự học văn hóa và học nhạc, tập đàn ghi ta. Bằng lòng kiên trì, ý chí và nghị lực, chỉ trong thời gian ngắn, ông đã hoàn thành việc tự học xong chương trình văn hóa cấp lIl và thi tốt nghiệp cấp III (lớp 10) khi ấy. Không chỉ dừng lại ở đó, ngay lúc ấy ông đã tự mày mò học tiếng Anh để tự trang bị kiến thức ngôn ngữ cho mình. Sau thời gian huấn luyện tân binh ông được điều về đơn vị mới phục vụ cho chiến đấu, trở thành chiến sĩ thông tin và là hạt nhân Đội Tuyên văn của Công an nhân dân vũ trang tỉnh Quảng Ninh.

Bền bỉ phấn đấu, không ngừng tu dưỡng rèn luyện, ông liên tục đạt danh hiệu chiến sĩ xuất sắc. Năm 1974, ông được lựa chọn đi đào tạo sĩ quan khóa 7 Trường sĩ quan Công an nhân dân vũ trang (nay là Học viện Biên phòng). Sau 3 năm học tập, tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi, ông được giữ lại trường làm giáo viên và được điều đi thực tế tại Đồn Biên phòng Hoành Mô, Quảng Ninh. Hết thời gian thực tế Quảng Ninh, ông về trường và được giao chức trách là Trợ lý Văn hóa văn nghệ. Với năng khiếu và say mê nghệ thuật ông trở thành nhạc sĩ, nhạc công kiêm ca sĩ của Đội Tuyên truyền văn hóa của Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang, rồi của lực lượng Công an nhân dân vũ trang và sau này là Bộ đội Biên phòng.

Năm 1983, khi chúng tôi gấp rút ôn tập, chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp, ông Vũ Hiệp Bình được trên điều về Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị công tác. Còn tôi, tốt nghiệp Đại học Biên phòng khóa 2, được điều đi thực tế chiến đấu ở Đồn Biên phòng 206 Hoàng Liên Sơn. Đây cũng là giai đoạn tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng. Để xây dựng đội ngũ cán bộ lâu dài cho lực lượng, nhận ra tài năng và sự ham mê học tập của ông, từ Trợ lý Văn nghệ của Trường sĩ quan, ông được Bộ Tư lệnh cho đi học tiếp Đại học Văn hóa (tốt nghiệp 1985), rồi cử nhân chính trị (năm 1996). Sau khi tốt nghiệp Đại học Văn hóa, ông được phân công về công tác tại Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh BĐBP, đảm nhiệm chức trách từ Trợ lý đến Phó trưởng phòng rồi Trưởng phòng.

Và cũng bắt đầu từ đây, cuộc đời ông dường như gắn liền với các đơn vị cơ sở. Ở mỗi nơi ông đến, dấu ấn về một con người trăn trở, thao thức, trách nhiệm đến tận cùng của sự hiến dâng vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc, vạch nhịp bài ca con người qua mỗi dấu mốc cuộc đời: Chủ nhiệm Chính trị BĐBP Sơn La (1997); Phó Chủ nhiệm Chính trị BĐBP (1998); Phó Chỉ huy trưởng về Chính trị BĐBP Quảng Ninh (2003); Chủ nhiệm Chính trị BĐBP (2004); bảo vệ xuất sắc luận án Thạc sĩ Triết học (2006); Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng và được Đảng, Nhà nước phong hàm Thiếu tướng (2007).

Tâm sự về những cố gắng, ý thức tự rèn luyện của ông, bà Phạm Nguyên Cường cho biết: "Về chuyện học hành phấn đấu của anh, mặc dù là người cận kề với anh, mà tôi, vợ anh cũng phải thú thật là rất kính phục anh, vì một nghị lực và sự kiên trì vô cùng. Như, việc học nhạc của anh, hầu như tự học là chính. Anh cẩn thận ghi chép nắn nót từng nét nhạc. Để rèn luyện cách viết nhạc, anh đã chép đi chép lại nhiều bản nhạc mà anh thấy tâm đắc. Việc học ngoại ngữ, anh luôn có một cuốn sổ nhỏ để ghi chép các đoạn văn hay, hoặc những từ cần nhớ. Để có kiến thức phục vụ công việc, anh rất chịu đọc, chịu phát hiện, chịu suy nghĩ, luôn trăn trở và không dễ dãi, nên các tài liệu, bài viết của anh là một sự chắt lọc, chặt chẽ và chất lượng cao".

Kể về những năm tháng kỷ niệm của cuộc đời, bà Phạm Nguyên Cường bộc bạch: "Cũng thời gian học ở trường nội trú Lê Văn Tám. Anh đã chơi thân với tôi, là bạn cùng lớp và sau này trở thành người bạn đời của anh. Chúng tôi xây dựng gia đình với nhau năm 1976. Nửa cuối năm 1977, chúng tôi có con trai và anh đặt tên cháu là Bình Nguyên, với sự kết hợp giữa tên anh và tôi. Đây là giai đoạn vô cùng khó khăn của đất nước, các gia đình đều có cuộc sống rất kham khổ. Các cháu bé thì hầu như không có đường, sữa. Quân hàm, đồng lương sĩ quan còn thấp, anh chắt chiu dành dụm tiêu chuẩn đường hoa mai, sữa bột và cả những phong bánh lương khô để gửi về cho vợ con. Và mỗi lần được nghỉ phép, anh dành hết tình cảm vào việc chăm chút bù đắp cho gia đình, vợ con. Anh tranh thủ đi lấy củi, chở mùn cưa, gánh nước, tắm rửa, giặt giũ cho con... chẳng nề hà bất cứ việc gì.

Với gia đình lớn, bên nội, bên ngoại, anh luôn quan tâm lo lắng đến mọi người và rất được nể trọng. Anh cưu mang các con, các cháu, ngay cả khi bản thân gia đình nhỏ của anh cũng không khá giả gì. Anh luôn được coi là một người mẫu mực. Từ việc lớn đến việc nhỏ, mọi người đều lắng nghe và tôn trọng ý kiến của anh. Mẹ tôi, là một cán bộ lão thành cách mạng, nhưng bất cứ việc gì trong gia đình, mẹ đều muốn được nghe ý kiến của anh. Mẹ luôn nói với chúng tôi: "Chả cần học ai, chúng bay cứ học theo anh Bình mày thôi". Với bạn bè anh em, anh luôn chân tình, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ mỗi khi có khó khăn, nên luôn được bạn bè quý mến và trân trọng ..."

Từ khi lớp chúng tôi ra trường, lên biên giới, ông về công tác ở Cục Chính trị. Tuy chúng tôi ít khi được gặp ông, nhưng tình cảm và hình ảnh người sĩ quan luôn trăn trở, nhiệt tình, hết lòng vì học viên của ông còn in đậm trong mỗi câu chuyện về thời còn ngồi trên ghế giảng đường. Sau này, tôi được gọi về Đại học Biên phòng học lớp giáo viên, rồi làm cán bộ tuyên huấn của Phòng Chính trị nhà trường. Đó là cơ duyên để tôi có dịp thường xuyên gặp ông. Mỗi khi về Cục Chính trị công tác, gặp lại ông, hình ảnh người sĩ quan, trợ lý văn hóa văn nghệ của nhà trường nhiệt tình, trách nhiệm đến cùng với công việc năm nào, bây giờ vẫn thế. Vẫn cái bắt tay chân tình, nụ cười hiền, luôn ẩn chứa nét tươi vui của ông khi trao đổi công việc với chúng tôi. Khi có việc chúng tôi cần giải quyết gấp, ông tập trung giải quyết cho xong với thời gian nhanh nhất. Có những việc vượt quá thẩm quyền của mình, ông lo lắng, bươn bả giúp chúng tôi đề đạt với cấp trên giải quyết ổn thỏa. Một lần, khi công việc hoàn thành, trước khi chia tay để tôi về đơn vị, mời tôi chén trà nóng, ông nhỏ nhẹ:

- Các cậu ở đơn vị cơ sở, về cơ quan công tác, nếu không giải quyết công việc cho xong sớm thì vất vả lắm. Nào chỗ ăn, chỗ nghỉ, tàu xe đi lại khó khăn, kéo theo công việc ở đơn vị lại chậm trễ. Mới lại, mình cũng là người của nhà trường ra đi mà. Giúp nhà trường cũng là trách nhiệm của người đơn vị cũ chứ!

Ngày đó, cứ ai ở Trường về Bộ Tư lệnh công tác, có việc ở Cục Chính trị đều tìm đến ông. Ông như là điểm tựa cho chúng tôi mỗi khi có việc phải về cơ quan. Lứa đàn em chúng tôi cảm nhận được ở nơi ông sự tin cậy, chu đáo, chân thành, và trong ông, còn tiềm ẩn bản lĩnh của người chỉ huy chính trị.

Từ nhà trường, về cơ quan Cục, ông được đào tạo Đại học Văn hóa. Những vốn liếng của người sĩ quan Biên phòng có năng khiếu văn nghệ, nay được đào tạo bài bản, đã cho ông hiểu sâu hơn về cơ sở văn hóa, thiết chế văn hóa, nhất là văn hóa các dân tộc vùng biên giới và phương pháp tổ chức hoạt động văn hóa cơ sở. Đảm nhiệm Trưởng phòng Tuyên huấn, ông được cấp trên cử đi đào tạo cử nhân Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, rồi Cao học Triết học tại Đại học quốc gia.

Đầu năm 1997, ông được Bộ Tư lệnh điều động làm Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng Sơn La. Đây là lần đầu ông xuống địa bàn biên giới, trên cương vị người chủ trì cơ quan chính trị, ở một tỉnh có đường biên giới giáp nước bạn Lào, địa hình phức tạp, cư dân chủ yếu là người Mông, Thái, Dao... Tình hình kinh tế, xã hội nơi đây còn nhiều khó khăn. Bao kiến thức đã học về nhiệm vụ công tác Đảng, công tác chính trị, đến lúc này mới có điều kiện để ông tổ chức thực hiện và kiểm nghiệm từ thực tế. Từ Trưởng phòng Tuyên huấn, nay làm Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh, tiếp cận với công việc, ông nghiệm ra rằng, nhiệm vụ công tác Đảng, công tác chính trị của Bộ đội Biên phòng rất toàn diện và đa dạng. Công tác tư tưởng và tổ chức của Bộ đội Biên phòng tỉnh vừa tiếp nhận sự chỉ đạo toàn diện của Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh, đồng thời chịu sự lãnh đạo của Tỉnh ủy mà trực tiếp là sự chỉ đạo, hướng dẫn các Ban của Tỉnh ủy.

Đi cơ sở thực tế ông mới thấy công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ hết sức nặng nề. Người lính biên phòng nơi địa đầu Tổ quốc hằng ngày phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách. Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới rất căng thẳng, các thế lực thù địch, các loại tội phạm thường xuyên hoạt động chống phá. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được đặt lên hàng đầu; phải giáo dục, rèn luyện cho cán bộ, chiến sĩ Biên phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức trách nhiệm cao, có đời sống tinh thần phong phú, lạc quan.

Về với biên cương Tây Bắc, ông hòa mình vào cuộc sống của chiến sĩ Biên phòng và đồng bào các dân tộc Sơn La. Mặc dù công việc nhiều nhưng nếu có điều kiện là ông xuống địa bàn. Từ Bộ chỉ huy xuống địa bàn hai cánh Tây và Đông sông Mã, đường sá vô cùng vất vả. Ngồi xe U-oát xóc như xóc ốc, bụi đỏ tràn vào xe, bám vào áo quần đỏ quạch và có nơi phải đi bộ cả nửa ngày, nhưng ông chẳng ngại đến tận các đồn Mường Lạn, Sốp Cộp, Chiềng Khương (Sông Mã), Xuân Nha, Nà Đít, Loóng Sập (Mai Châu). Thăm cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc Mông, Thái, Dao, Cống Khao... ông càng thấm thía tình nghĩa quân dân Tây Bắc sâu nặng đến nhường nào. Với ông, muốn hiểu dân, muốn nói cho dân nghe, trước hết phải thấu hiểu, cảm thông với những khó khăn mà người dân đang đối mặt. Khi đã hiểu được tâm tư nguyện vọng của dân, thì dân sẽ tin Bộ đội Biên phòng, tin Đảng và Chính phủ, cùng Bộ đội Biên phòng bảo vệ biên cương. Phải làm cho người lính Biên phòng nào cũng thấm sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngày thành lập lực lượng: "Khi tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được. Nhất là Công an Biên phòng ở những nơi có đồng bào thiểu số, phải chú ý đến phong tục, tập quán của đồng bào, luôn giúp đỡ, vận động đồng bào, làm cho đồng bào tin yêu, phục cán bộ, thì đồng bào sẽ hết sức giúp đỡ, có khi hy sinh cả cho ta".

Địa bàn biên giới Sơn La trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân các dân tộc giàu lòng yêu nước. Bà con đã vượt qua muôn vàn khó khăn, đoàn kết cùng bộ đội chiến đấu, phục vụ chiến đấu thắng lợi. Tuy nhiên, do lịch sử để lại, quan hệ thân tộc, dòng tộc hai bên biên giới vẫn còn gắn bó, phong tục tập quán giống nhau, lại thường xuyên qua lại, nên nảy sinh những vấn đề phức tạp. Tệ nạn trồng, sử dụng, buôn bán thuốc phiện trong đồng bào Mông vẫn tái diễn. Khu vực giáp biên cũng từng là nơi nổi phỉ, xưng vua, gây mất ổn định về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Những chiến sĩ Biên phòng không quản khó khăn, gian khổ, lăn lộn cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân khu vực biên giới tuyên truyền, vận động một bộ phận nhân dân lạc hậu, không mắc mưu bọn người xấu, lôi kéo sang bên kia biên giới, xóa bỏ cây anh túc, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, từng bước ổn định sản xuất và đời sống, giữ ổn định chính trị.

Trong các kế hoạch triển khai hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, ông luôn lấy mục tiêu là tinh thần trách nhiệm, sự gắn bó máu thịt của người lính miền biên viễn với nhân dân. Ông yêu cầu cán bộ, chiến sĩ Biên phòng nói chung, cán bộ vận động quần chúng nói riêng không chỉ là người có chuyên môn nghiệp vụ cao, mà còn phải có trái tim nhân hậu, biết chia sẻ, biết lắng nghe và luôn thấu hiểu cuộc sống của đồng bào. Hơn lúc nào hết, trong những năm gắn bó với biên giới Sơn La, ông nhận thức sâu sắc câu nói của Nguyễn Trãi: Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân. Ông dồn hết tâm sức cho công tác vận động quần chúng. Ngoài việc trực tiếp xuống gặp gỡ, thăm hỏi, động viên, giải quyết những vấn đề nóng trên địa bàn biên giới, ông chỉ đạo các đồn, các đội công tác phải xây dựng kế hoạch công tác quần chúng cụ thể, chi tiết.

Với ông thế trận biên phòng có chuyển thành thế trận lòng dân cũng là từ đây. Rễ có chắc cây mới bền. Mà muốn rễ chắc thì người dân phải có được cuộc sống ấm no, không còn cảnh thiếu đói, đứt bữa khi giáp hạt. Muốn thế, cán bộ vận động quần chúng, tuyên huấn không chỉ nói cho dân hiểu, làm cho dân biết mà còn phải hướng dẫn cho dân làm. Muốn người dân thoát đói, nghèo, trụ vững nơi biên giới gian khó, cán bộ biên phòng, trực tiếp là cán bộ vận động quần chúng phải quan tâm đến chăm lo chuyển đổi cây trồng vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, hướng dẫn cho người dân tự biết làm giàu, vươn lên bền vững. Ông chủ trương phải làm sao người dân đưa sản xuất từ tự cung tự cấp thành hàng hóa. Chỉ khi sản xuất của người dân gắn với sản xuất hàng hóa thì lúc đó mới có thể nâng cao chất lượng sản xuất và nâng cao đời sống cho người dân thì lòng dân mới yên. Đây chính là ý tưởng về một biên giới mềm, một tư duy mới về công tác biên phòng.

Cũng từ ý tưởng và tư duy mới, khi ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị BĐBP, ông đã tìm tòi, đặt vấn đề với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) hợp tác hỗ trợ để tổ chức nhiều khóa tập huấn hướng dẫn kiến thức về làm kinh tế và khởi sự kinh doanh, sản xuất hàng hóa cho cán bộ, chiến sĩ biên phòng và cán bộ các xã biên giới.

Tuy là cán bộ chỉ huy nhưng trong con người ông lại cũng chất chứa tâm hồn người nghệ sĩ. Những vất vả của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc Sơn La đã cho ông động lực trong công tác và cảm xúc sáng tạo nghệ thuật. Những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi cùng với cán bộ, chiến sĩ trên đường công tác, những đêm lửa trại, ngày chợ phiên vùng cao, được cùng với người dân Mông, Thái, Dao, Cống Khao... bộc bạch tâm tình qua lời ca, điệu xòe dân dã, ông đã bật lên cảm xúc, những ca từ theo nốt nhạc bay lên, và từ đó các ca khúc: "Người ơi, người ở", "Chiều biên giới" đã ra đời!

Ông đã nhiều lần chứng kiến đồng bào các dân tộc từ các làng bản xa xôi, vợ chồng, con cái bồng bế nhau háo hức đến đồn Biên phòng xem văn nghệ, do Đội tuyên truyền văn hóa Biên phòng tỉnh biểu diễn. Đêm văn nghệ vùng cao đã tạo nên sức sống mới, tăng cường thêm tình đoàn kết quân dân, là cơ sở tuyên truyền, vận động nhân dân có hiệu quả góp phần làm cho đồn Biên phòng thành "điểm sáng văn hóa vùng biên" không ngừng phát huy. Những năm công tác ở Sơn La, ông đã quan tâm chỉ đạo xây dựng và củng cố Đội tuyên truyền văn hóa Biên phòng tỉnh khá mạnh, được đồng bào và chiến sĩ ngợi khen. Có thể nói, thời gian làm Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng Sơn La đã tạo "bước ngoặt" cho cuộc đời ông. Trước đây là Trưởng phòng Tuyên huấn chỉ tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác tư tưởng, văn hóa, nay là Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh, ông phải tổ chức thực hiện toàn diện nhiệm vụ công tác Đảng, công tác chính trị, nhất là lĩnh vực xây dựng tổ chức cơ sở đảng, rèn luyện đảng viên.

Qua thực tiễn chỉ đạo công tác tư tưởng và tổ chức, lại được trực tiếp quan hệ, phối hợp công tác đối với các ban, ngành của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã cho ông có cái nhìn đa chiều về nhiệm vụ công tác Đảng, công tác chính trị trong Bộ đội Biên phòng. Đây cũng là dịp ông kiểm nghiệm những lý luận đã học ở Trường Sĩ quan Biên phòng, Đại học Văn hóa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, qua thực tế sinh động, phong phú ở địa bàn khó khăn, phức tạp như Sơn La. Từ kiểm nghiệm ấy, rút ra những bài học bổ ích để giáo dục, nâng cao trách nhiệm chính trị cho bộ đội.

Cuối năm 1997, ông được Bộ Quốc phòng quyết định bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng. Chia tay Sơn La, những tình cảm sâu đậm của đồng bào, chiến sĩ vùng biên giới vẫn đọng lại trong ông. Âm hưởng ca khúc "Người ơi, người ở" níu kéo, khiến ông bịn rịn trước khi về xuôi... Bản tính ông vốn thế, cương nghị, trách nhiệm với công việc bao nhiêu, với tình cảm lại dễ rung động, xúc cảm bấy nhiêu! Thời gian công tác ở biên giới Sơn La đã cho ông phát huy khả năng chỉ đạo thực tiễn, tạo tiền đề cho ông phát triển tư duy và sáng tạo của người phụ trách công tác chính trị tư tưởng toàn lực lượng sau này.

Đảm nhiệm cương vị Phó Chủ nhiệm Chính trị phụ trách công tác tư tưởng văn hóa, ông đã dành nhiều thời gian và công sức chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, nhất là nhiệm vụ giáo dục chính trị, xây dựng môi trường văn hóa cho bộ đội. Ông tập trung vào mục tiêu đảm bảo cho cán bộ, chiến sĩ Biên phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, quyết tâm chiến đấu cao; xây dựng người chiến sĩ Biên phòng có nhân cách trong sáng của "Bộ đội Cụ Hồ", gắn bó máu thịt với nhân dân các dân tộc trên biên giới, vùng biển. Tuy nhiên, công tác tư tưởng và tình hình tư tưởng trong thời gian này còn những biểu hiện: Nhận thức chính trị về tình hình nhiệm vụ chưa sâu, ý thức trách nhiệm của cán bộ ở một số đơn vị chưa cao, làm việc cầm chừng. Một số đơn vị có biểu hiện buông lỏng quản lý, dẫn tới cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật, pháp luật.

Trước tình hình đó, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vũ Hiệp Bình đề xuất Bộ Tư lệnh tổ chức Hội nghị sơ kết 2 năm công tác giáo dục chính trị nhằm đánh giá thực trạng công tác giáo dục chính trị trong Bộ đội Biên phòng. Hội nghị tập trung thảo luận những ưu điểm, tồn tại công tác tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trị trong nhà trường và tại các đơn vị; rút kinh nghiệm công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, người chỉ huy các cấp; đề ra phương hướng đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục chính trị trong toàn lực lượng.

Căn cứ vào Chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy và Kế hoạch của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng về đợt sinh hoạt chính trị "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với Bộ đội Biên phòng", ông đã tích cực triển khai biên soạn tài liệu hướng dẫn thực hiện. Năm 1998, nhân dịp hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng (3/3/1959 - 3/3/1999), ông đã tham mưu đề xuất chủ trương lãnh đạo và chỉ đạo Phòng Tuyên huấn, Báo Biên phòng, Đoàn Nghệ thuật, Nhà Văn hóa, Phòng Chính trị Bộ đội Biên phòng các tỉnh, thành phố phối hợp với Ban Thời sự, Ban Truyền hình tiếng Dân tộc (Đài Truyền hình Việt Nam), Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, các báo, đài địa phương đưa hàng trăm tin, bài về hoạt động của Bộ đội Biên phòng và nhân dân các dân tộc trên biên giới.

Đồng thời mời các văn, nghệ sĩ đi thực tế tại các đơn vị Biên phòng, tham gia đợt vận động sáng tác về đề tài Biên phòng, biên giới. Kết quả đã có 279 tác giả (trong đó có 47 tác giả âm nhạc) với 400 tác phẩm thơ, văn, nhạc, họa. Riêng cuộc thi ảnh đã có 169 tác giả với 300 tác phẩm dự thi. Ông chỉ đạo Đoàn Nghệ thuật xây dựng chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Lễ kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống lực lượng, chỉ đạo Đoàn Điện ảnh Bộ đội Biên phòng hoàn thành bộ phim: "Bốn mươi năm một chặng đường lịch sử" (Kịch bản: Phan Trọng Bằng, đạo diễn: Thanh Phong, quay phim: Anh Việt) công chiếu trên VTV1.

Việc triển khai chủ trương của Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về xây dựng "đồn Biên phòng thành điểm sáng văn hóa" đã được nâng lên một tầm cao mới; được Bộ Văn hóa - Thông tin đánh giá cao, là cơ sở để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (sau này) cùng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng ký kết chương trình phối hợp: "Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - thông tin trên các tuyến biên giới". Có được thành công này, đó là ngay từ khi ông là Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng Sơn La, được ông quan tâm tham mưu cho Thường vụ Đảng ủy Biên phòng tỉnh và trực tiếp chủ trì phối hợp với các ban, ngành triển khai nhiều biện pháp thiết thực, hiệu quả. Thực tiễn sinh động ấy đã giúp ông sau này ở cương vị cao hơn, với những kinh nghiệm phong phú cả lý luận và thực tiễn để triển khai trong toàn lực lượng.

Ngay từ năm 1993, đứng trước tác động của kinh tế thị trường, công tác văn hóa văn nghệ của cả nước nói chung, đời sống văn hóa tinh thần của vùng cao biên giới và Bộ đội Biên phòng nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chủ trương "Cần phải dấy lên một sức sống mới trong toàn lực lượng, không thể để các đơn vị thiếu thốn về vật chất, nghèo đói về tinh thần". Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên, Cục Hậu cần phát động phong trào "sản xuất tự túc", "tăng gia quanh vườn, quanh nhà, quanh bếp". Cục Chính trị tổ chức Đoàn Văn công thành "một đoàn hai đội"; tăng cường thêm các đội chiếu bóng xuống cơ sở phục vụ. Tuy vậy, vẫn không đáp ứng được yêu cầu.

Vấn đề đặt ra lúc này là không thể đáp ứng, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần thường xuyên cho cán bộ, chiến sĩ nếu như không có lực lượng tại chỗ. Vì vậy, ông cùng với lãnh đạo Cục Chính trị đã đề xuất với Bộ Tư lệnh phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin ký kết chương trình phối hợp: "Đưa văn hóa thông tin về vùng cao biên giới", nhằm vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố các tổ, đội tuyên truyền văn hóa thôn bản, đồn Biên phòng. Chương trình đó đã được triển khai tại các tỉnh, thành có đường biên giới, từng bước khơi dậy đời sống văn hóa ở các bản, làng biên giới, xây dựng đời sống văn hóa ở các đồn Biên phòng.

Cục Chính trị đã chỉ đạo xây dựng thí điểm một số tổ thông tin tuyên truyền ở đồn Biên phòng, cùng với 19 đội văn nghệ không chuyên Bộ đội Biên phòng các tỉnh, thành đi vào hoạt động có hiệu quả. Đến năm 1998, hầu hết các đồn Biên phòng đã có tổ thông tin tuyên truyền. Các đồn Biên phòng đã phát huy hiệu quả chương trình phối hợp, nhiều đồn đã trở thành "điểm sáng vùng cao" như: Phó Bảng (Hà Giang), Nậm Cắn (Nghệ An), Tà Vát (Bình Phước). Tiếp đó, chủ trương xây dựng "đồn Biên phòng thành điểm sáng văn hóa" đã được ông quan tâm phối hợp với Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở (Bộ Văn hóa - Thông tin), Đài Truyền hình Việt Nam lồng ghép chương trình phối hợp đưa văn hóa thông tin, phương tiện nghe, nhìn về vùng cao biên giới. Kết quả là, đã lắp đặt cho 100% đồn Biên phòng tuyến núi, 30% đồn Biên phòng tuyến biển, đảo bộ đầu thu tín hiệu truyền hình VTRO. Thư viện Tổng hợp các tỉnh, thành biên giới giúp hướng dẫn nghiệp vụ, xây dựng, trang bị đầu sách cho Thư viện Biên phòng tỉnh, tủ sách cho các đồn Biên phòng. Các Sở Văn hóa - Thông tin tập huấn nghiệp vụ văn hóa quần chúng, trang bị thêm phương tiện âm thanh, ánh sáng cho các tổ, đội tuyên truyền văn hóa.

Tháng 8/1998, Cục Chính trị đã phối hợp với Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở, Vụ Văn hóa dân tộc (Bộ Văn hóa - Thông tin) tổ chức Liên hoan các tổ, đội tuyên truyền văn hóa ở Hà Nội (khu vực phía Bắc), thành phố Hồ Chí Minh (khu vực phía Nam) với 51 tổ, đội, trên 800 diễn viên, với 60 chương trình, 495 tiết mục tham gia. Đồng thời, tổng kết 5 năm chương trình phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng và Bộ Văn hóa - Thông tin. Qua tổng kết, các đại biểu ghi nhận và đánh giá cao hiệu quả của chương trình.

Có thể nói, từ năm 1993 khởi đầu chương trình phối hợp "Đưa văn hóa thông tin về vùng cao biên giới", đến xây dựng "Đồn Biên phòng thành điểm sáng văn hóa" năm 1998 là một bước tiến dài về sự bền vững, hiệu quả và phát triển của chương trình phối hợp. Nhiều "điểm sáng văn hóa" ở khu vực biên giới được địa phương ghi nhận và đánh giá cao như: Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Khánh Hòa, Bình Phước, Kiên Giang... Kết quả của chương trình phối hợp đó có công sức không nhỏ của Phó Chủ nhiệm Chính trị Vũ Hiệp Bình.

Trong chỉ đạo Đội tuyên truyền Văn hóa cơ sở của ông, với tôi, còn có một kỷ niệm không thể nào quên. Năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội diễn văn nghệ các trường Đại học toàn quốc. Trường Đại học Biên phòng được Tổng cục Chính trị cử đại diện cho các trường Đại học trong Quân đội tham dự Hội diễn. Thời gian này, tôi là Phó Chủ nhiệm Chính trị nhà trường, được Ban Giám hiệu giao nhiệm vụ trực tiếp làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền văn hóa, dẫn quân xuống Đoàn Nghệ thuật Biên phòng nhờ dàn dựng chương trình để tham gia Hội diễn. Thời gian luyện tập chưa đầy 2 tháng, hạt nhân văn nghệ nhà trường dù khá đến mấy cũng chỉ là "chiến sĩ hát, chiến sĩ vỗ tay", tôi lại là dân "tay ngang", nay được giao cầm quân đi Hội diễn cấp Bộ, tôi vô cùng lo lắng. Biết được băn khoăn, vướng mắc của tôi, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vũ Hiệp Bình xuống Đoàn Nghệ thuật thăm và động viên anh chị em trong Đội Tuyên truyền văn hóa nhà trường. Ông trực tiếp nghe, tham gia ý kiến vào chương trình của Đội và giao nhiệm vụ cho chỉ huy Đoàn Nghệ thuật giúp đỡ anh em. Được Phó Chủ nhiệm vừa là cấp trên, vừa là "người nhà" xuống động viên, tôi và anh em trong Đội rất phấn khởi. Chỉ huy Đoàn Nghệ thuật nói với tôi:

- Anh yên tâm. Thủ trưởng Bình đã giao nhiệm vụ cho chúng em rồi. Chúng em sẽ hết lòng ủng hộ các anh, tất cả vì màu cờ sắc áo của lực lượng Bộ đội Biên phòng!

Chứng kiến sự nhiệt tình, trách nhiệm của ông với anh em văn nghệ, tự nhiên tôi thấy nơi sống mũi mình cay cay. Ông Vũ Hiệp Bình vẫn thế, lặng lẽ mà chu đáo, nhẹ nhàng mà thuyết phục, gần gũi mà sâu lắng. Ông không chỉ là chỗ dựa về tinh thần, mà còn là tấm gương về trách nhiệm cao, tận tụy với công việc, không chỉ riêng tôi mà còn với bao người.

Đội tuyên truyền văn hóa trường Đại học Biên phòng tham gia Hội diễn các Trường Đại học toàn quốc tại thành phố Hồ Chí Minh giành thắng lợi vẻ vang. Tám tiết mục tham gia của Đội đoạt 5 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, xếp thứ Nhì toàn quốc. Tôi điện về báo cáo với ông, ông rất mừng và điện khen toàn Đội. Những thành quả trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ của lực lượng Bộ đội Biên phòng, dù là nghệ thuật chuyên nghiệp hay các Đội tuyên truyền văn hóa, ông đều hào hứng và có chút tự hào, vì ẩn vào niềm vui chung của mọi người, có công sức chỉ đạo của ông.

Sau khi dẫn Đội tuyên truyền văn hóa của Trường đi Hội diễn trở về, tôi được Bộ Tư lệnh bổ nhiệm làm Phó Tổng biên tập Báo Biên phòng. Anh Vũ Mạnh Tường, Tổng biên tập vì lý do sức khỏe, chuyển sang Ban Ký sự, ông Vũ Hiệp Bình, Phó Chủ nhiệm Chính trị kiêm Tổng Biên tập. Lần này, tôi thực sự được giúp việc cho ông. Đầu năm 2001, Bộ Văn hóa - Thông tin có chủ trương sắp xếp lại hệ thống báo chí và cấp phép lại cho các tờ báo. Khi nhận thông báo của Cục Báo chí, ông gọi tôi lên phòng làm việc, rồi bảo:

- Đây là cơ hội để Báo Biên phòng phát triển. Khương về làm tờ trình và đề án để xin ý kiến Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh báo cáo Bộ Văn hóa - Thông tin. Cố gắng giữ được tờ báo và xin được giấy phép phát hành rộng rãi.

Tôi làm xong tờ trình và dự thảo đề án xin Báo Biên phòng phát hành rộng rãi, đem đến thông qua ông. Ông xem xét cẩn thận, thêm, bớt từng câu, từng chữ. Khi Ban Biên tập Báo Biên phòng thông qua đề án, được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh nhất trí cao, ông rất mừng. Ra khỏi Sở Chỉ huy, ông hồ hởi:

- Cơ hội cho Báo phát triển rồi đấy. Trong khi chờ Bộ Văn hóa - Thông tin cấp giấy phép, anh em mình phải chuẩn bị nội dung, bài vở dăm, ba số rồi tăng kỳ, làm thử.

Chúng tôi chuẩn bị kỹ nội dung, làm thử một vài số theo đúng chỉ đạo của ông. Báo phát hành, được bạn đọc hồ hởi đón nhận, ông động viên chúng tôi cố gắng hơn. Tuy bận rất nhiều công việc của Phó Chủ nhiệm Chính trị, ông vẫn rất trách nhiệm với vai trò Tổng Biên tập. Có những số báo, ông duyệt bài đến tận khuya, để kịp cho anh em chuyển xuống nhà in. Có những số do sức ép thời gian, chất lượng một số bài chưa cao, ông gọi cho tôi, nhắc nhở để rút kinh nghiệm. Là người giúp việc cho ông, tôi học hỏi ở ông rất nhiều điều. Nếu trong chỉ đạo công tác Đảng, công tác chính trị, ông là người nghiêm túc, thận trọng, trong chỉ đạo văn nghệ, ông tận tình, say mê sáng tạo, thì trong báo chí, ông lại có cách chỉ đạo chỉn chu, chặt chẽ. Bởi trong ông, ý thức trách nhiệm trước tập thể là yêu cầu cao nhất.

Ngày 24/4/2001, Bộ Văn hóa-Thông tin đã cấp giấy phép số: 164/ GP-VHTT, cho Báo Biên phòng được phát hành rộng rãi. Bộ Tư lệnh có quyết định điều động, bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Hòa Văn, Phó Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh làm Tổng Biên tập, tôi làm Phó Tổng biên tập, ông Vũ Hiệp Bình không kiêm nhiệm Tổng Biên tập nữa. Sau này, tuy công việc của Chủ nhiệm Chính trị, hay Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng rất bận rộn, nhưng ông vẫn luôn quan tâm theo dõi và chỉ đạo báo. Ông thường xuyên trao đổi với Ban Biên tập, định hướng tuyên truyền, cho ý kiến nâng cao chất lượng tin, bài và phương thức phát hành rộng rãi báo xuống đến tận đồn Biên phòng, xã, bản biên giới.

Riêng tôi, ông vẫn dành cho những tình cảm chân thành, trân trọng mỗi khi tôi có bài thơ, truyện ngắn hoặc tiểu thuyết vừa viết xong. Ông góp ý chân tình với tôi, mong mỏi tôi tiến xa trên con đường văn học. Lúc rảnh rỗi, hay có ca khúc vừa sáng tác, ông gọi tôi sang phòng làm việc, hát mộc cho tôi nghe. Nghe ông say sưa hát ca khúc vừa sáng tác, khiến tôi quên ông đang là vị Tướng Biên phòng, chỉ thấy ở ông vẹn nguyên tâm hồn "nghệ sĩ" như ngày nào.

Rồi như một may mắn của cuộc đời binh nghiệp, đầu năm 2003 ông trở về đất Mỏ yêu dấu, giữ cương vị Phó Chỉ huy Chính trị Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh. Ông biết rõ cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ, đồng thời cũng tạo điều kiện để ông thử thách, rèn luyện trên cương vị mới ở một địa bàn rộng lớn, nhiệm vụ rất toàn diện. Về công tác tại địa bàn thân thuộc, nơi ghi dấu tuổi thơ đầy gian truân vất vả, những năm tháng học trò với bao kỷ niệm ở mái trường Lê Văn Tám và cấp 3 Hòn Gai. Năm 1971, ngày đầu bỡ ngỡ nhập ngũ vào Công an nhân dân vũ trang Quảng Ninh, đối với ông có quá nhiều cảm xúc. Từ người lính, nay trở thành chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, gặp lại bao cảnh quen, bạn cũ, khiến mỗi chặng đường công tác của ông từ đảo Cô Tô, Ngọc Vừng, Quan Lạn đến Hoành Mô, Bắc Phong Sinh, Pò Hèn, Móng Cái, Trà Cổ... đều là những ngày tháng không thể nào quên.

Những chuyến đi khảo sát, nắm tình hình phân giới cắm mốc ở các đồn Biên phòng tuyến núi, vận động quần chúng tại địa bàn có đông đồng bào dân tộc Dao, Cao Lan, Sán Chay... huyện Bình Liêu, Hải Hà, đã cho ông sự cảm phục về tinh thần vượt khó, hy sinh của đồng bào, đồng chí vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Là cán bộ chính trị, trải qua thực tế ở hai địa bàn biên giới Tây Bắc và Đông Bắc Tổ quốc, cứ mỗi năm tháng công tác, ông lại tích lũy thêm lý luận và thực tiễn về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, giúp ông tham gia cùng Thủ trưởng Bộ Tư lệnh hoàn thành Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước "Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng nền biên phòng toàn dân".

Ông đã chỉ đạo cơ quan chính trị, các đồn Biên phòng tổ chức tốt chương trình phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân tỉnh thực hiện cuộc vận động "Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Cán bộ, chiến sĩ các đồn Biên phòng không ngại khó khăn, gian khổ, tận tụy giúp đỡ nhân dân các dân tộc ở Hoành Mô, Quảng Đức, Bắc Phong Sinh.... định canh định cư, trồng rừng, làm thủy lợi, trồng lúa nước, đào ao thả cá trên khu vực biên giới, góp phần cải thiện đời sống. Hình ảnh "Thầy thuốc quân hàm xanh", "Thầy giáo quân hàm xanh" ngày càng sâu đậm trong nhân dân với những ấn tượng tốt đẹp.

Quảng Ninh là một tỉnh lớn, có vị thế chiến lược về kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, nhất là lĩnh vực biên phòng. Chính vì vậy, ông đặt vấn đề với Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh phải tăng cường mối quan hệ với các lực lượng vũ trang cùng đứng chân trên địa bàn, làm tham mưu cho Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh đẩy mạnh xây dựng thế trận biên phòng toàn dân trong thế trận quốc phòng-an ninh vững chắc. Mối quan hệ giữa Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và các ban, ngành trong tỉnh do các đồng chí tiền nhiệm xây dựng, nay ông đã tiếp tục phát huy trong nhiệm vụ công tác biên phòng và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Trong chỉ đạo nhiệm vụ công tác Đảng, công tác chính trị, với ông, công tác tuyên truyền, văn hóa văn nghệ được ông quan tâm, ưu ái. Phong trào văn hóa, văn nghệ của Bộ đội Biên phòng tỉnh vốn đã có truyền thống, nay được phát triển rộng khắp. Tình cảm của ông đối với anh, chị em văn nghệ sĩ đất Mỏ khi đi thực tế sáng tác về đề tài Biên phòng, biên giới, ngày càng gắn bó, sâu đậm. Cũng trong thời gian này, cảm xúc về biên cương và người lính đã thôi thúc ông viết thêm các ca khúc: "Dưới cờ Quyết thắng", "Người lính biên phòng và mùa Xuân"...

Trong một chuyến tôi đi công tác Quảng Ninh, ông gọi vào phòng làm việc. Ông tâm sự: Việt Nam là một dân tộc có biển, đảo và cũng rất yêu biển, đảo. Để biển, đảo bình yên và phát triển, rất cần đưa dân ra làm chủ các đảo. Một khi đảo có dân, không chỉ làm chủ chủ quyền biển, đảo mà các đảo cũng sẽ phát triển. Sau này, trong chuyến ông ra thăm quần đảo Trường Sa, tư duy dân sự hóa các đảo càng thôi thúc, càng làm ông trăn trở. Trong chuyến đi này, ông viết ca khúc "Bài ca Trường Sa" mang âm hưởng dân ca Việt Nam, khẳng định Trường Sa là của Việt Nam từ xa xưa (như ông đã từng tâm sự). Đó cũng là những tình cảm, tư duy của ông về tương lai biển, đảo trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc.

Tháng 2/2004, ông được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng, đồng thời là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng. Trở về Cục Chính trị với cương vị mới, ông nhận rõ trách nhiệm nặng nề mà Đảng ủy, Bộ Tư lệnh giao cho. Tiếp nối công việc của người tiền nhiệm, ông vừa khiêm tốn học hỏi, vừa đúc rút kinh nghiệm, tìm tòi, sáng tạo cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy Cục Chính trị triển khai toàn diện công tác Đảng, công tác chính trị, sát thực, có trọng tâm, trọng điểm trên các lĩnh vực, nhất là công tác Đảng, công tác Vận động quần chúng... Đặc biệt, nhiệm vụ công tác tư tưởng của lực lượng thời điểm này cán bộ, chiến sĩ đang trông chờ vào sự ổn định tổ chức Bộ đội Biên phòng, khi chưa có Kết luận 165 của Bộ Chính trị về tổ chức Bộ đội Biên phòng. Cục Chính trị đã chủ động làm tham mưu, đề xuất kịp thời nhiệm vụ công tác Đảng, công tác chính trị, đồng thời, tiếp tục kiện toàn, sắp xếp, điều chỉnh biên chế, tổ chức, nhân sự cơ quan Cục.

Ông cùng tập thể lãnh đạo Cục tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, xây dựng quy trình, chế độ công tác, tác phong, lề lối làm việc gắn với thực tiễn cơ sở. Hằng năm, duy trì nghiêm túc việc đánh giá, nhận xét và chấm điểm kết quả thực hiện công tác Đảng, công tác chính trị ở các đơn vị tỉnh, thành phố và đón nhận sự đánh giá, nhận xét của các đơn vị đối với cơ quan Cục với tinh thần cầu thị. Cục Chính trị đã tham mưu kiện toàn Đảng ủy các đơn vị trực thuộc, phối hợp với các Ban của Tỉnh ủy thành lập Đảng bộ Bộ đội Biên phòng các tỉnh mới tách, theo Nghị quyết của Quốc hội: Đắk Nông, Đắk Lắk, Lai Châu, Điện Biên. Thực hiện điều chỉnh quy hoạch công tác cán bộ, tăng cường cán bộ cho các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên.

Ngày 6/1/2006, Cục Chính trị đã tham mưu cho Đảng ủy Bộ đội Biên phòng ra Nghị quyết lãnh đạo, chuẩn bị nội dung ban hành các văn bản, tổ chức thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Bộ đội Biên phòng theo Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 513 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính ủy, chính trị viên nhằm nâng cao vai trò, vị thế của công tác Đảng, công tác chính trị. Đây là vinh dự, tự hào, trách nhiệm to lớn của đội ngũ cán bộ chính trị. Tháng 2/2007, Chủ nhiệm Chính trị Vũ Hiệp Bình được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm chức Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng và được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm Thiếu tướng.

Là Phó Chính ủy, ông được phân công phụ trách lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và vận động quần chúng. Xác định công tác vận động quần chúng là biện pháp cơ bản trong công tác biên phòng, là nội dung trọng tâm của công tác Đảng, công tác chính trị, coi biện pháp vận động quần chúng là cơ sở, tiền đề đổi mới toàn diện công tác biên phòng, ông đã chỉ đạo Phòng Vận động quần chúng, Cục Chính trị tổng kết 10 năm đổi mới công tác vận động quần chúng (1996 - 2006). Từ tổng kết thực tiễn sinh động của công tác vận động quần chúng với nhiều mô hình ở các tuyến biên giới như: "Già làng, trưởng bản gương mẫu" (ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Đắk Nông), "Quần chúng tự quản đường biên cột mốc" (ở Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Quảng Trị); "Cụm tàu thuyền, bến bãi an toàn" (ở Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Tiền Giang), đã rút ra những bài học hết sức cơ bản, để từ đó tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác Vận động quần chúng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Cũng qua tổng kết, thấy rõ hơn công tác Vận động quần chúng đã cùng cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung xây dựng củng cố cơ sở chính tri, tăng cường đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, tham gia xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở khu vực biên giới. Đồng thời không ngừng phát huy vai trò quần chúng nhân dân cùng Bộ đội Biên phòng bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng. Những chuyến đi cùng với các ban, ngành Trung ương, các văn nghệ sĩ đến với các đồn Biên phòng và nhân dân các dân tộc biên giới Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Thiếu tướng Vũ Hiệp Bình vẫn canh cánh nỗi niềm: Đồng bào ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khổ quá. Nhiều mái nhà che tạm, nhiều góc bếp không đỏ lửa mỗi kỳ giáp hạt, nhiều trẻ thơ không được cắp sách đến trường, người già ốm đau không được chạy chữa. Băn khoăn đó cứ trăn trở mãi trong ông.

Nhân dịp 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng và 20 năm Ngày Biên phòng toàn dân, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã thống nhất với Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Biên tập Báo Quân đội nhân dân phối hợp mở cuộc vận động "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo", do lực lượng Bộ đội Biên phòng làm nòng cốt. Phó Chính ủy Vũ Hiệp Bình được phân công làm Phó Trưởng ban cuộc vận động. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính ủy Võ Trọng Việt, trưởng ban chỉ đạo và các thành viên ban chỉ đạo, các cơ quan chức năng, cuộc vận động đã được cán bộ, chiến sĩ Biên phòng, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm cả nước hưởng ứng. Ông Vũ Hiệp Bình cùng cán bộ cơ quan Bộ Tư lệnh lặn lội đến với Bộ Chỉ huy, các đồn Biên phòng trọng điểm đôn đốc tổ chức thực hiện.

Các cán bộ dưới quyền ông từng chứng kiến vị Tướng Biên phòng khoác áo mưa, chống gậy cùng cấp dưới vượt đường trơn, mưa lũ vào các làng bản Hà Xi-Hà Nê, Là Si của đồng bào La Hủ thăm thẳm dưới chân múi U Ma Tu Khoòng (Mường Tè, Lai Châu). Ông ngồi bên bếp lửa trò chuyện cùng dân; cùng ăn lưng cơm nhạt với tộc người Đan Lai (Con Cuông, Nghệ An); cùng uống ché rượu cần với đồng bào Giẻ Triêng (Kon Tum). Rồi cùng nắm tay nhau múa hát cả đêm, chung vui với bà con nghèo trong ngày họ được nhận ngôi nhà mới. Những lức đó, trông ông thật hồ hởi, chất "nghệ sĩ" trong ông lại được dịp bay bổng. Ánh mắt ông tươi trẻ, quên hẳn bệnh đau dạ dày mãn tính, ông hân hoan hòa chung với niềm vui của đồng bào. Sơ kết giai đoạt 1, toàn lực lượng đã vận động kinh phí và đóng góp công sức xây dựng được 1.700 căn nhà, 40 công trình dân sinh, vượt chỉ tiêu đề ra, được Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Quốc phòng đánh giá rất cao.

Tôi vẫn nhớ, năm đó vào khoảng cuối tháng 7/2003, Ủy ban Dân tộc và Miền núi, nay là Ủy ban Dân tộc đã mở hội nghị về công tác tuyên truyền trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh. Ông Vũ Hiệp Bình khi đó là Phó Chỉ huy Chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh này, được Bộ Tư lệnh cử làm đại diện cho lực lượng Bộ đội Biên phòng dự hội nghị, còn tôi, đi theo góc độ của phóng viên báo chí. Những năm đó, chuyện xe cộ đi lại còn khó khăn. Biết tôi được Tòa soạn cử đi công tác chuyến đó, ông về thăm nhà ở Hà Nội, đã điện cho tôi, hẹn chiều chủ nhật chờ ông ở vườn hoa Bộ Tư lệnh, để cùng ông xuống Quảng Ninh. Khi tôi đến nơi, ông đã ở vườn hoa, đang tần ngần trước bức tượng "Nghe lời non nước" của họa sĩ Vũ Ngọc Khôi, nguyên Đoàn phó Điện ảnh Bộ đội Biên phòng.

Thấy tôi đến, ông vẫy tay, chỉ vào bức tượng, rồi bảo: - Bức tượng này anh Vũ Ngọc Khôi sáng tác lâu rồi Khương ạ. Ngày đó, lực lượng ta có nhiều văn nghệ sĩ tài hoa lắm. Văn, thơ có nhà văn Lương Sĩ Cầm, Trần Hữu Tòng và các cây bút: Nguyễn Ngọc Châu, Huy Khoát, Đào Nguyên Bảo, Đào Quang Thép, Hữu Lịch, Nguyễn Xuân Thái... Họa sĩ có: Trần Văn Lưu, Giang Khích, Quang Thâm, Vũ Ngọc Khôi, Văn Chính... Âm nhạc có Nguyễn An, Bảo Chung, Lê Đóa, Trần Danh... Múa có Trần Minh, Minh Vân, Văn Đức Lương, Trần Triệu Phú, Trịnh A Sa. Nhiếp ảnh có Văn Bang, Quang Hạnh, Vũ Nhật... Điện ảnh có Phùng Bá Gia, Lê Bửu, Phan Trọng Bằng... Giọng ông chùng hẳn xuống: Bây giờ, đội ngũ văn nghệ sĩ của lực lượng ta mỏng quá.

Nghe ông nói thế, tôi biết, ông đang trăn trở về đội ngũ văn nghệ sĩ của lực lượng. Năm tháng qua đi, các lớp đàn anh cứ xa vắng dần... Việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tài chưa được quan tâm đúng mức. Một lát sau ông bảo:

- Khương ở Tòa soạn, anh em cộng tác viên nhiều. Khương thấy ai có năng khiếu văn chương thì phát hiện, để Cục có kế hoạch bồi dưỡng. Mảnh đất biên phòng là đất tốt cho văn nghiệp lắm đấy.

Tôi hiểu, dù chỉ nói nhẹ nhàng thế thôi, nhưng với ông, không chỉ là tâm sự, mà còn là trăn trở của người cán bộ chính trị sâu nặng với nghiệp văn nghệ của lực lượng. Sau này, khi về làm Chủ nhiệm Chính trị, rồi Phó Chính ủy, ông đã thực hiện điều này, ông giao nhiệm vụ cho các nhà văn Nguyễn Xuân Thái, Phạm Thanh Khương, cùng Phòng Tuyên huấn và Báo Biên phòng tổ chức hai Trại viết, nhằm bồi dưỡng và phát hiện thêm các tác giả trẻ. Văn có Lê Huy Thành (Đắk Lắk), Lê Văn Chương (Quảng Ngãi), Nguyễn Thành Phú (Quảng Trị), Minh Lợi (Quảng Bình), Phạm Ngọc Đua (Hải Phòng), Hàn Viết Hoan, Nguyễn Hồng Thái (Cục Chính trị). Nhạc có Vũ Đức Tạo (Quảng Ninh), Nguyễn Bá Đại (Điện Biên), Đỗ Thế Tuấn (Thanh Hóa)... Chúng tôi báo cáo kết quả hai Trại viết với ông, ông mừng lắm. Ông bảo chúng tôi tập hợp các bài viết có chất lượng, xuất bản tập ký, truyện ngắn và tập ca khúc về Bộ đội Biên phòng.

Với Phó Chính ủy Vũ Hiệp Bình, ông càng vất vả, trách nhiệm trong công việc, bươn bả trên khắp chặng đường biên giới, đến với đồng bào, chiến sĩ thì khả năng sáng tạo âm nhạc của ông càng thăng hoa. Phạm vi đề tài của ông mở rộng thêm. Ngoài Biên phòng, biên giới, ông đã sáng tác ở các lĩnh vực khác, được giới nhạc sĩ ghi nhận như: "Niềm vui cô gái thống kê", "Bài ca kiểm toán viên nhà nước", "Hành khúc người lính không mang quân hàm", "Bài ca Trường Sa", "Tây Hồ hoài niệm", "Bến dân ca"... Đặc biệt ca khúc "Chiều biên giới" ông sáng tác năm 1999 được bình chọn là 10 bài hát được yêu thích nhất về đề tài Lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng của Tổng cục Chính trị.

Cũng năm này ca khúc "Hành khúc người lính không mang quân hàm" được trao giải nhì về đề tài Lực lượng vũ trang. Ca khúc "Tây Hồ hoài niệm" đoạt giải C dòng Romance (một thể loại âm nhạc hòa tấu thính phòng dành cho giọng ca và bè đệm đàn) của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Chào mừng 50 năm Ngày truyền thống lực lượng Bộ đội Biên phòng (3/3/1959 - 3/3/2009), bài thơ "Tổ quốc, biên giới và người chiến sĩ Biên phòng" của ông viết năm 1979, được Nhạc sĩ An Thuyên, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa-Nghệ thuật Quân đội, sáng tác tổ khúc, dàn dựng cho Đoàn Nghệ thuật Bộ đội Biên phòng tham gia Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quân đoạt giải xuất sắc. Chương trình được chọn biểu diễn tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng và 20 năm Ngày Biên phòng toàn dân.

Trọng trách của người Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng còn đang nặng nề, sự nghiệp sáng tác âm nhạc của ông mới vào độ chín, thì ông lâm trọng bệnh. Vợ, con, người thân, đồng chí, bạn bè luôn động viên ông. Các cấp lãnh đạo, giáo sư, bác sĩ hết sức quan tâm, chạy chữa cho ông với khả năng cao nhất. Nhưng căn bệnh quái ác cứ dần lấy đi sức lực của ông. Tôi sang Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thăm ông, thấy tôi vào, ông cố nén cơn đau, nói chuyện với tôi. Tôi báo cáo với ông về ý tưởng tôi định viết về ông trong tập ký "Chân dung các vị Tướng Biên phòng", ông gượng cười bảo: "Ý tưởng tốt đấy, khi nào mình khỏe, mình với Khương trao đổi thật kỹ nhé! Mà cậu nhớ lời mình dặn, phải phát hiện, bồi dưỡng thêm các hạt nhân văn nghệ Biên phòng tương lai!".

Sau lần đó, tôi chưa kịp báo cáo lại với ông về những điều ông dặn, thì ông đột ngột ra đi, đi mãi, cuộc hành trình đời người đã trọn. Ông đi... để lại bao thương tiếc trong lòng người thân, đồng chí, bạn bè, cùng với bao dự định về nhiệm vụ xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng vững mạnh, toàn diện, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và sáng tác âm nhạc còn dang dở... Cả cuộc đời ông là những trăn trở về công tác biên phòng. Trong những cuốn nhật ký, tài liệu ông để lại có rất nhiều tư liệu ông đã dày công thu thập, đúc rút các vấn đề, nội dung từ lịch sử đến kinh nghiệm trong nước và quốc tế về công tác biên phòng. Ngoài các bài viết tổng kết lý luận của ông như "Hai mươi năm đổi mới công tác biên phòng"; "Ổn định biên giới quốc gia"... đã được đăng tải trên các báo, tạp chí lý luận, ông còn để lại Đề cương chi tiết hơn 30 trang của cuốn lý luận về công tác biên phòng, mà ông tạm đặt là "Biên phòng luận"...

Nhân một năm ngày mất của ông, bà Phạm Nguyên Cường, người bạn đời của ông, cùng con, cháu, nén đau thương, mong mỏi làm được việc có ý nghĩa, để giữ lại những kỷ niệm về ông. Bà đã cùng đồng nghiệp của ông trong Bộ Tư lệnh, những người bạn trong Hội Nhạc sĩ Việt Nam cần mẫn lần tìm những di cảo của ông, để xuất bản tập "Thiếu tướng Vũ Hiệp Bình, Nhạc và Thơ". Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức Đêm Thơ - Nhạc Vũ Hiệp Bình, để tưởng nhớ ông. Đêm đó, những ca khúc, những bài thơ của ông đã được cất lên từ cảm xúc nghẹn ngào của các nghệ sĩ trong và ngoài lực lượng. Họ biểu diễn với tình cảm chân thành, để tri ân người nhạc sĩ, vị Tướng Biên phòng Vũ Hiệp Bình. Ông là thế, và mãi mãi là thế. Trọn một đời vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì đồng bào các dân tộc trên biên giới. Cả cuộc đời ông là những vạch nhịp bài ca người lính Biên phòng. Và các cột mốc biên giới là những vạch nhịp đậm nét trong bản nhạc đầy xúc động và lạc quan về cuộc đời ông.

Trong một bài viết có tiêu đề "Năm học chưa hoàn thành" của ông đề Kính tặng Cô giáo Chủ nhiệm Đào Thị Minh và các bạn lớp 9D (1970-1971) có đoạn: "Đối với tôi, khoảng thời gian ngắn ngủi, chưa đầy một năm học ấy lại chứa đựng dồn nén, đậm đặc, đầy ắp cảm xúc và kỷ niệm. Tôi cứ liên tưởng tới Bản giao hưởng số 8 cung Si thứ - mà đời sau gọi là "Bản giao hưởng Chưa hoàn thành" - của nhạc sĩ thiên tài người Áo, Franz Schubert (1797-1828). Thật ra, đó là một tác phẩm dở dang mà trọn vẹn. F.Schubert đạt được mục đích âm nhạc của mình chỉ trong hai chương nhạc, thay vì bốn chương như các bản giao hưởng truyền thống, ở ý nghĩa đích thực và đẹp đẽ nhất. Tôi cảm nhận năm học 1970-1971 chưa hoàn thành của tôi cũng là một sự dở dang mà trọn vẹn. Bởi vì chính những tình cảm thầy trò, niềm tự hào và ngay cả sự luyến tiếc năm học lớp 9D dở dang ấy của tôi vẫn cứ ngân lên với những cung bậc da diết, lãng mạn và thiêng liêng cho đến tận bây giờ".

Có thể. Vâng, rất có thể những gì ông trăn trở về sự nghiệp biên phòng và âm nhạc còn dang dở, chưa trọn vẹn như ông mong ước. Nhưng chúng tôi, những thế hệ cán bộ biên phòng có cảm nhận, sự dang dở của ông để lại ấy mà trọn vẹn. Bởi, trọn vẹn cả cuộc đời ông đã dâng hiến cho biên cương Tổ quốc, nơi ông đã lấy "cột mốc biên giới làm vạch nhịp bài ca". Và cuộc đời ông đã là vạch nhịp bài ca về biên giới thiêng liêng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét