Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

ĐỪNG ĂN “BÁNH VẼ”!

     Mới sáng sớm, sương mù còn đặc quánh nóc nhà, Trưởng bản A Sùng đã chạy sang nhà A Lử. Chả là tối qua, vợ A Lử mếu máo gọi điện báo tin chồng đang định bán nốt cặp bò giống để đưa cả nhà “đi làm giàu” ở miền đất hứa.

Đến nơi, thấy A Lử đang xếp quần áo vào bao tải, mặt mũi hầm hầm, Trưởng bản A Sùng ôn tồn hỏi:

- A Lử à, lúa đang thì con gái, bò đang béo tốt, mày định đi đâu?

- Đi đến nơi sung sướng chứ đi đâu! Ở đây làm mãi, cái lưng còng xuống mà vẫn chưa giàu. Người ta bảo theo “Hội thánh” không làm cũng có ăn, ốm đau có “bề trên” che chở, lại được chia đất, chia ngoại tệ. Ở đây Nhà nước có thương mình đâu!

Trưởng bản A Sùng nghiêm giọng:

- Mày lại nghe mấy kẻ xấu trên mạng xúi bẩy rồi. Mày bảo Nhà nước không thương, thế cái đường bê tông phẳng lỳ chạy qua cổng nhà mày từ đâu ra? Cái trường nội trú to đẹp mà con mày đang học miễn phí, ăn ở đàng hoàng là từ đâu? Rồi cái thẻ bảo hiểm y tế mày dùng lúc đau ốm; rồi chính quyền và bộ đội hỗ trợ kinh phí, góp ngày công làm nhà mới cho mày năm kia; tiền giống cây trồng... nó từ trên trời rơi xuống à?

Khựng lại một chút, nhưng A Lử vẫn cố cãi:

- Nhưng... nhưng họ bảo người dân tộc mình bị kỳ thị, chỉ theo “Hội thánh” thì mới sướng được. Tao xem video bên đấy toàn nhà lầu, xe hơi thôi.

Chỉ tay ra phía cửa, Trưởng bản A Sùng hỏi:

- Mày nhớ thằng A Páo ở bản bên không? Năm ngoái cũng nghe lời rủ rê, bán hết nhà cửa, ruộng nương trốn đi. Rồi sao? “Miền đất hứa” đâu chẳng thấy, sang đến nơi, nó bị nhốt lại, bắt phải cầm cờ phản động, căng băng rôn, rồi học thuộc lòng mấy câu nói xấu Đảng, nói xấu chính quyền mình. Thằng A Páo bảo “Cán bộ tốt, tao không chửi” thì bị đánh bầm giập, bị bỏ đói mấy ngày liền. Thâm độc nhất là chúng chụp ảnh, quay phim rồi lu loa do chính quyền Việt Nam đàn áp người dân tộc. May mắn nó trốn về được nhưng thân tàn ma dại, sợ đến già. Đấy, cái sướng của mày đấy!

Thấy A Lử cúi mặt suy nghĩ, Trưởng bản A Sùng tiếp lời:

- A Lử này, cái đầu mày phải sáng lên. Bọn xấu chỉ muốn lừa mày bán nhà lấy tiền đưa cho chúng rồi biến mày thành tay sai chống phá Đảng, chính quyền, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc đấy. Người Mông, người Thái, người Kinh chúng ta cùng hít thở bầu không khí hòa bình, cùng chung lá cờ Tổ quốc, sướng khổ có nhau. Mày bỏ đi là mắc mưu “diễn biến hòa bình” của chúng, là tự đập vỡ bát cơm của vợ con mày đấy. Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu kích động ly khai. Chúng vẽ ra viễn cảnh hão huyền để lôi kéo người dân. Mình phải tỉnh táo, chớ để chúng lừa bịp. 

Lúc này, vợ A Lử mới từ trong bếp chạy ra, nước mắt ngắn dài:

- Bác A Sùng nói đúng đấy mình ơi! Đừng nghe lời ma mị nữa. Ở nhà chịu khó làm ăn, có chính quyền, có bộ đội giúp đỡ, lo gì không no ấm.

A Lử thở dài, đặt bao tải trên vai xuống, giọng lí nhí:

- Tao... tao trót dại nghe tai nọ qua tai kia. Thôi, không đi đâu nữa cả. Để tao ra cắt cỏ cho bò ăn.

Trưởng bản A Sùng cười khà khà:

- Thế mới là A Lử của bản ta chứ! Nhớ nhé, “bánh vẽ” trên mạng thì đẹp, nhưng ăn vào là ngộ độc đấy!
Môi trường ST.

MƯỢN DANH DÂN CHỦ - NHỮNG ÂM MƯU THỎA HIỆP THỜI HIỆN ĐẠI

     Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng, không gian thông tin mở rộng chưa từng có, vấn đề dân chủ tiếp tục bị một số thế lực chính trị hóa, công cụ hóa nhằm phục vụ mưu đồ gây sức ép, can thiệp và chuyển hóa thể chế. Đáng chú ý, các thủ đoạn ấy không còn thô sơ, đối đầu trực diện như trước mà được “mềm hóa” bằng những lời lẽ mị dân, những chiến dịch truyền thông tinh vi và các hình thức thỏa hiệp kiểu mới. Mượn danh dân chủ để áp đặt giá trị, tạo cớ can thiệp, kích động bất ổn-đó là bản chất của nhiều luận điệu thời sự đang được tán phát với tần suất dày đặc!

Bản chất của chiêu bài “dân chủ” giả hiệu

Nhìn sâu vào bản chất, chiêu bài “dân chủ” giả hiệu không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những khẩu hiệu mang tính đánh tráo khái niệm mà còn thể hiện ở cách thức vận hành linh hoạt, thích nghi với từng giai đoạn và từng không gian xã hội. Khi những luận điệu công khai, trực diện dần bộc lộ sự khiên cưỡng và mất sức thuyết phục, các thế lực thù địch nhanh chóng chuyển sang phương thức tinh vi hơn: Biến dân chủ thành một quá trình thỏa hiệp về nhận thức, chứ không còn là yêu sách chính trị lộ liễu.

Trong bối cảnh hiện nay, bản chất của “dân chủ” giả hiệu là không yêu cầu sự thay đổi đột ngột, mà từng bước làm “mềm hóa” nền tảng tư tưởng. Họ không đòi phủ nhận ngay vai trò lãnh đạo của Đảng, mà gieo rắc quan điểm cho rằng cần “điều chỉnh”, “cân bằng”, “chia sẻ quyền lực” như một xu thế tất yếu của thời đại. Dân chủ, theo cách diễn giải này, bị biến thành cái cớ để hợp thức hóa sự nhượng bộ về nguyên tắc.

Đáng chú ý, chiêu bài này thường được triển khai bằng ngôn ngữ trung tính, học thuật hoặc mang màu sắc cải cách, tránh đối đầu trực diện. Những khái niệm như “cải cách thể chế”, “chuẩn mực quốc tế”, “quản trị hiện đại”, “xã hội dân sự” được sử dụng như những lớp đệm ngôn từ, che giấu mục tiêu cốt lõi là làm suy yếu niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng và tính chính danh của chế độ. Khi khái niệm dân chủ bị tách khỏi nền tảng lịch sử-cách mạng và điều kiện cụ thể của đất nước, nó dễ dàng bị dẫn dắt theo quỹ đạo áp đặt.

Bản chất nguy hiểm của “dân chủ” giả hiệu còn thể hiện ở việc tạo ra tâm lý dung hòa và thỏa hiệp trong xã hội. Thay vì kích động phản kháng quyết liệt, họ khuyến khích thái độ “đứng giữa”, “nghe cả hai phía”, “không cực đoan”, từ đó làm mờ ranh giới giữa đúng và sai, giữa xây dựng và phá hoại. Khi sự kiên định về lập trường bị coi là bảo thủ, còn thỏa hiệp về nguyên tắc được ngụy trang thành cởi mở, thì dân chủ đã bị bóp méo ngay từ trong nhận thức.

Cần thấy rõ rằng, “dân chủ” giả hiệu không nhằm mục tiêu trao quyền thực chất cho nhân dân, mà hướng đến tái cấu trúc quyền lực theo lợi ích của các thế lực bên ngoài. Mọi lời kêu gọi dân chủ nếu đi kèm điều kiện từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chấp nhận mô hình ngoại lai, hoặc đánh đổi ổn định chính trị đều không phải là dân chủ, mà là sự áp đặt được bọc trong vỏ ngôn từ mềm mại.

Chính vì vậy, khi chiêu bài “dân chủ” giả hiệu ngày càng được triển khai bằng các hình thức tinh vi, đặc biệt trong không gian số, việc nhận diện bản chất của nó không thể dừng ở nội dung khẩu hiệu, mà phải đi sâu vào cách thức thẩm thấu, cách tạo ra sự thỏa hiệp âm thầm trong tư tưởng. Từ đây, vấn đề đặt ra không chỉ là phản bác luận điệu, mà là bóc tách những hình thái thỏa hiệp mới đang được che giấu dưới danh nghĩa dân chủ trong thời đại số.

Những hình thái thỏa hiệp tinh vi trong thời đại số

Trong thời đại số, khi không gian mạng trở thành môi trường tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội, các thế lực thù địch không còn sử dụng những luận điệu công kích thô ráp, đối đầu trực diện. Thay vào đó, chúng triển khai các hình thái thỏa hiệp tinh vi, mềm hóa nội dung chống phá bằng ngôn ngữ “trung tính”, “khoa học”, “khai phóng”, nhằm từng bước làm xói mòn nền tảng tư tưởng từ bên trong.

Một hình thái phổ biến là thỏa hiệp trong nhận thức về mô hình dân chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa bị cố tình đặt ngang hàng với các mô hình dân chủ tư sản, rồi từ đó gieo rắc quan điểm rằng “không có con đường nào là duy nhất”, “mọi mô hình đều cần pha trộn”. Nghe có vẻ khách quan, nhưng thực chất là phủ nhận tính tất yếu lịch sử của con đường mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn, từng bước làm mờ vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị.

Tinh vi hơn, các đối tượng chống phá lợi dụng không gian học thuật và diễn đàn chính sách để thúc đẩy sự thỏa hiệp về tư tưởng. Dưới danh nghĩa nghiên cứu, phản biện, cải cách thể chế, họ lồng ghép những luận điểm đòi “giảm vai trò chính trị của Đảng”, “phi chính trị hóa bộ máy nhà nước”, “trao quyền cho xã hội dân sự độc lập”. Những khái niệm này được trình bày như giải pháp kỹ thuật, nhưng bản chất là từng bước thay đổi nền tảng quyền lực chính trị.

Trên không gian mạng, thỏa hiệp được ngụy trang bằng cảm xúc và đạo đức. Các câu chuyện cá nhân, vụ việc đơn lẻ được khai thác có chủ ý để tạo cảm giác rằng “dân chủ đang bị hạn chế”, “nhân quyền chưa được tôn trọng”. Từ đó, người tiếp nhận thông tin dễ bị dẫn dắt vào tâm lý hoài nghi, dao động, chấp nhận những đòi hỏi thay đổi thể chế như một lối thoát “nhân văn” và “tiến bộ”.

Một hình thái nguy hiểm khác là thỏa hiệp thông qua việc đánh tráo khái niệm tự do ngôn luận. Tự do được tuyệt đối hóa, tách rời khỏi khuôn khổ pháp luật và lợi ích quốc gia-dân tộc. Mọi sự quản lý thông tin đều bị gán ghép thành “đàn áp”, “bịt miệng”. Khi quan niệm này lan rộng, xã hội dễ chấp nhận việc dung túng cho tin giả, tin xấu, quan điểm cực đoan, từ đó làm suy yếu kỷ cương và niềm tin xã hội.

Đáng chú ý, các thế lực thù địch còn thúc đẩy thỏa hiệp bằng sự mệt mỏi tư tưởng. Chúng gieo rắc tâm lý rằng các vấn đề chính trị là “xa vời”, “không cần thiết quan tâm”, rằng ổn định hay chế độ nào cũng như nhau. Sự thờ ơ ấy chính là mảnh đất màu mỡ để các luận điệu sai trái âm thầm thẩm thấu, khiến một bộ phận xã hội dần xa rời lý tưởng, mất cảnh giác trước âm mưu chống phá.

Tất cả những hình thái thỏa hiệp này đều có điểm chung: Không phủ nhận trực diện mà làm loãng, làm mờ, làm suy yếu niềm tin. Nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời, sự thỏa hiệp tư tưởng sẽ từng bước chuyển hóa thành thỏa hiệp chính trị, gây hệ lụy lâu dài đối với sự ổn định và phát triển của đất nước.

Chủ động đấu tranh, phản bác và dẫn dắt dư luận trong không gian số

Trước những hình thái thỏa hiệp tinh vi được triển khai ngày càng sâu rộng trong không gian số, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể dừng lại ở việc nhận diện hay cảnh báo, mà phải được nâng lên thành một chiến lược chủ động, toàn diện và lâu dài. Trọng tâm của cuộc đấu tranh hiện nay không chỉ là “chống”, mà là chủ động chiếm lĩnh trận địa tư tưởng, dẫn dắt nhận thức và củng cố niềm tin xã hội.

Trước hết, cần kiên quyết giữ vững nguyên tắc tư tưởng, coi đây là “lằn ranh đỏ” không thể thỏa hiệp. Mọi biểu hiện nhân danh dân chủ để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, dù được ngụy trang dưới bất kỳ hình thức học thuật hay cải cách nào, đều phải được nhận diện và phản bác kịp thời. Kiên định không đồng nghĩa với giáo điều, nhưng linh hoạt tuyệt đối không được đánh đổi bằng việc nhượng bộ về nền tảng.

Cùng với đó, đấu tranh trong không gian số đòi hỏi chuyển từ thế bị động sang thế chủ động về thông tin. Không thể chỉ phản ứng khi luận điệu sai trái đã lan rộng, mà phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có sức thuyết phục. Lấy cái đúng để đẩy lùi cái sai, lấy thực tiễn sinh động để bác bỏ những khái niệm trừu tượng, phiến diện. Thực tiễn phát triển của đất nước, đời sống ngày càng được nâng cao của nhân dân chính là luận cứ mạnh mẽ nhất chống lại mọi sự xuyên tạc.

Một giải pháp có ý nghĩa quyết định là nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” cho xã hội, đặc biệt là trên môi trường số. Điều này đòi hỏi đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng hiện đại, dễ tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Không áp đặt, không sáo mòn, mà trang bị cho người dân-nhất là thế hệ trẻ-khả năng phân tích, phản biện, nhận diện đúng-sai trong “biển thông tin” đa chiều. Khi người dân có bản lĩnh và tri thức, các luận điệu mị dân sẽ khó có chỗ đứng.

Đồng thời, cần phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhà báo, nhà nghiên cứu, người có ảnh hưởng xã hội phải thực sự trở thành “chiến sĩ tư tưởng” trong thời đại số. Không né tránh tranh luận, không im lặng trước cái sai, nhưng cũng không cực đoan, cảm tính. Phản bác phải sắc bén, có lý lẽ, có căn cứ khoa học và thực tiễn, thể hiện bản lĩnh chính trị và văn hóa tranh luận lành mạnh.

Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức truyền thông chính thống là yêu cầu cấp thiết. Nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể chỉ dừng ở thông báo, tuyên truyền một chiều, mà cần được thể hiện sinh động, gần gũi, phù hợp với logic tiếp nhận của công chúng số. Khi thông tin chính thống chậm, khô cứng, thiếu hấp dẫn, thì khoảng trống ấy sẽ nhanh chóng bị các luồng thông tin sai trái chiếm lĩnh.

Đấu tranh trong không gian số cũng phải gắn liền với hoàn thiện thể chế, pháp luật và kỷ cương thông tin. Tự do ngôn luận không đồng nghĩa với tự do xuyên tạc, bôi nhọ, kích động chống phá. Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng là cần thiết để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, đồng thời khẳng định rằng dân chủ phải đi đôi với trách nhiệm và thượng tôn pháp luật.

Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng, dẫn dắt dư luận hiệu quả nhất chính là bằng thực tiễn tốt. Khi dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được mở rộng, khi quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ, khi đất nước phát triển ổn định, bền vững, thì mọi chiêu bài “dân chủ” giả hiệu, mọi lời mời gọi thỏa hiệp đều tự mất sức thuyết phục.

Trong kỷ nguyên số, cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt. Chỉ khi giữ vững bản lĩnh, kiên định nguyên tắc, chủ động thông tin và dẫn dắt nhận thức xã hội, chúng ta mới có thể làm chủ không gian số, biến thách thức thành cơ hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi âm mưu núp bóng dân chủ trong thời đại mới.

Âm mưu “mượn danh dân chủ” để thực hiện các cuộc “thỏa hiệp” từng bước là một thách thức lớn trong giai đoạn hiện nay. Nó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn tỉnh táo, sáng suốt, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lý luận. Chỉ có đứng vững trên nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng, chúng ta mới có thể nhận diện đúng, đấu tranh hiệu quả, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng và đưa đất nước phát triển vững mạnh./.
Ảnh: Các chương trình nghệ thuật tại buổi sơ duyệt cấp nhà nước Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2025).
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 10 ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ ĐƯỢC PHÂN CÔNG THAM GIA BAN BÍ THƯ KHÓA XIV

     Ngày 30/1, Bộ Chính trị phân công 10 Ủy viên Bộ Chính trị tham gia Ban Bí thư khóa XIV, trong đó có Tổng Bí thư Tô Lâm.

Theo quyết định của Bộ Chính trị, 10 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIV được phân công tham gia Ban Bí thư khóa XIV, gồm: Tổng Bí thư Tô Lâm; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa; Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết; Trưởng ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí; Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc; Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh; Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị.

Trước đó, tại hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã bầu Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Nguyễn Văn Quảng, vào Ban Bí thư khóa XIV.

Như vậy, Ban Bí thư khóa XIV có 13 thành viên, trong đó 10 Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công và 3 Ủy viên được Trung ương bầu.

Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Nguyễn Văn Quảng. Đồ họa: Khánh Hoàng

Điều lệ Đảng quy định Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương thành lập, gồm Tổng Bí thư, một số ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công và một số ủy viên Ban Bí thư do Trung ương bầu trong số ủy viên Trung ương.

Ban Bí thư lãnh đạo công việc hằng ngày của Đảng, gồm chỉ đạo công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; chỉ đạo sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị; quyết định một số vấn đề về tổ chức, cán bộ và một số vấn đề khác theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương; chỉ đạo hoặc kiểm tra việc chuẩn bị các vấn đề đưa ra Bộ Chính trị thảo luận và quyết định./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ DỰ CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM 85 NĂM NGÀY BÁC HỒ VỀ NƯỚC!

     Tối 28/1, tại Cao Bằng, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Chương trình kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam (28/1/1941-28/1/2026) “Hai tay xây dựng một sơn hà”!

Kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28/1/1941 – 28/1/2026), tối 28/1, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp thực hiện Chương trình cầu truyền hình “Hai tay xây dựng một sơn hà” tại 4 địa danh lịch sử: Cao Bằng – Hà Nội – Nghệ An – Thành phố Hồ Chí Minh.

Tham dự tại điểm cầu Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng có: Tổng Bí thư Tô Lâm; nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; các đồng chí nguyên Thường trực Ban Bí thư: Phan Diễn, Trần Quốc Vượng.

Tham dự tại điểm cầu Thành phố Hồ Chí Minh có: Chủ tịch nước Lương Cường, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nguyên Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh.

Tham dự tại điểm cầu Thủ đô Hà Nội có: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Tham dự tại điểm cầu tỉnh Nghệ An có: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài.

Cùng dự tại các điểm cầu có các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, nguyên Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương; các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, cán bộ đảng viên và đông đảo nhân dân các tỉnh, thành phố tại các điểm cầu.

Từ điểm cầu Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng, Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu, nhấn mạnh: Chương trình cầu truyền hình kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam – một sự kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử và văn hóa sâu sắc đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đây là dịp để chúng ta tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và là dịp để mỗi chúng ta nhìn lại trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân và trước tương lai của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Tổng Bí thư cho biết, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với những miền đất, những dấu mốc đã kết tinh thành một trục di sản lịch sử – cách mạng – văn hóa thống nhất của dân tộc Việt Nam. Từ quê hương Nghệ An – nơi hun đúc tinh thần yêu nước và nhân ái; từ Thành phố Hồ Chí Minh – nơi Người ra đi tìm đường cứu nước, mang theo khát vọng giải phóng dân tộc. Để rồi sau 30 năm bôn ba, Người trở về Tổ quốc, đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng, dựa vào nhân dân, gây dựng căn cứ địa cách mạng, mở ra bước ngoặt quyết định cho vận mệnh đất nước.

Sự kiện Bác Hồ về nước không chỉ là sự trở về về mặt địa lý, mà là sự trở về với nhân dân, với thực tiễn dân tộc, với con đường độc lập, tự chủ của cách mạng Việt Nam. Từ những quyết định chiến lược được hình thành nơi núi rừng Cao Bằng, con đường cách mạng Việt Nam được xác lập, dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh Nhà nước Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Tổng Bí thư khẳng định, giá trị lớn nhất của sự kiện Bác Hồ về nước không chỉ nằm ở lịch sử, mà ở những bài học còn nguyên ý nghĩa thời đại. Đó là bài học về tự lực, tự cường – điều kiện tiên quyết để giữ vững độc lập dân tộc. Đó là bài học dựa vào nhân dân – nguồn sức mạnh bền vững nhất của cách mạng. Đó là bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại – độc lập mà không biệt lập, hội nhập mà không hòa tan.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gay gắt, những bài học ấy càng nhắc nhở chúng ta một yêu cầu có tính nguyên tắc: muốn giữ vững độc lập phải có nội lực đủ mạnh; muốn phát triển bền vững phải có đồng thuận xã hội; muốn đi xa phải kiên định tự chủ, giữ vững kỷ cương, đề cao hiệu quả.

Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ tầm nhìn và mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều quan trọng nhất lúc này là chuyển mạnh từ quyết tâm chính trị sang hành động cụ thể, từ định hướng sang kết quả thực chất.

Đến năm 2030, mục tiêu cao nhất không phải là những con số hình thức, mà là đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt và thực chất hơn: thu nhập ổn định hơn, việc làm bền vững hơn; người dân được tiếp cận thuận lợi hơn với giáo dục, y tế, nhà ở và các dịch vụ thiết yếu; khoảng cách phát triển giữa các vùng, nhất là vùng căn cứ địa cách mạng, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước được thu hẹp.

Đến năm 2045, hướng tới một Việt Nam phát triển, tự chủ, an toàn và thịnh vượng; nơi con người thực sự là trung tâm của phát triển; nơi mỗi người dân được tôn trọng, được bảo đảm an sinh và có cơ hội phát triển toàn diện.

Những mục tiêu đó không đo bằng khẩu hiệu, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng cuộc sống hằng ngày của nhân dân và bằng niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. 

Tổng Bí thư nhắc lại, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Cao Bằng chí ít cũng phải phấn đấu để cao bằng người ta; phải cao bằng những tỉnh tốt nhất; tốt nhất là Cao Bằng vượt mức không ai bằng”. Tổng Bí thư nhấn mạnh, lời căn dặn ấy hôm nay được đặt trong yêu cầu mới: cao về ý chí tự lực, cao về niềm tin của nhân dân, cao về chất lượng phát triển. Chăm lo cho vùng cội nguồn cách mạng, cho đồng bào các dân tộc thiểu số, cho vùng biên giới không chỉ là chính sách xã hội, mà là đầu tư cho nền tảng an ninh, cho tương lai dài hạn của quốc gia.

Tổng Bí thư bày tỏ, trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng, kiên định con đường đã lựa chọn; kế thừa xứng đáng di sản mà Người để lại; hành động quyết liệt, làm việc hiệu quả, mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm trước nhân dân, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự chủ, hùng cường và thịnh vượng, đóng góp tích cực cho hòa bình và phát triển của khu vực và thế giới.

Cầu truyền hình Kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam mang tên “Hai tay xây dựng một sơn hà” là chương trình quy mô lớn với sự tham gia của hơn 800 diễn viên chuyên nghiệp và không chuyên, trong đó, tại điểm cầu Cao Bằng là hơn 350 người.

Kết cấu cầu truyền hình "Hai tay xây dựng một sơn hà" được tổ chức theo mạch tư duy “từ quyết sách đến hành động, từ lịch sử đến thời đại”, gồm 3 chương.

Chương 1: “Đôi tay vạch đường”, nhìn lại khoảnh khắc Bác Hồ trở về Tổ quốc đầu năm 1941 và lựa chọn Cao Bằng làm địa bàn chiến lược để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Nội dung của chương lý giải tầm nhìn và bản lĩnh của Người trong việc nhận diện thời cơ - xác định kẻ thù - chọn đúng ưu tiên sống còn của dân tộc. Đây là chương của định hướng, quyết sách, phương pháp, nơi “đôi tay” của Người vạch ra con đường đi cho dân tộc.

Chương 2: “Vòng tay nhân dân”, làm rõ bài học lấy dân làm gốc và sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân khi đường lối đúng được nhân dân tin theo và cùng hành động. Từ việc xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, mở rộng phong trào Việt Minh đến cao trào đấu tranh trên cả nước, cách mạng đi từ thắng lợi từng bước đến thắng lợi quyết định, kết tinh bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 - thời khắc ý Đảng hòa cùng lòng dân, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên độc lập.

Chương 3: “Giương cao ngọn cờ”, khẳng định giá trị thời đại của những quyết sách mang tính chiến lược từ năm 1941 trong bối cảnh hôm nay. Nội dung của chương nối tinh thần Hồ Chí Minh với kỷ nguyên mới sau Đại hội XIV của Đảng, nhấn mạnh các bài học còn nguyên sức sống: chọn đúng ưu tiên chiến lược, phát huy nội lực, tự lực - tự cường chiến lược, đại đoàn kết và kiên định mục tiêu quốc gia.

Đan xen giữa các phóng sự, dẫn chuyện của phóng viên, MC và giao lưu trò chuyện..., là những ca khúc tiêu biểu qua các thời kỳ như: Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó, Lá cờ Đảng… được xử lý theo tinh thần đương đại, hòa quyện chất liệu dân gian - dân ca gắn với từng điểm cầu.

Bốn điểm cầu được thiết kế theo mô hình “mạch nguồn – lan tỏa – hội tụ”. Điểm mới của phần thể hiện mỗi điểm cầu đảm nhiệm một chức năng tư tưởng trong kịch bản.

Hình tượng xuyên suốt là “Đôi bàn tay”: đôi tay ra đi tìm đường cứu nước, đôi tay đặt dấu mốc trở về, đôi tay vạch đường lối trong gian khó và đôi tay của thế hệ hôm nay nắm chặt nhau để dựng xây tương lai. Một biểu tượng giản dị nhưng đủ mạnh để kết nối lịch sử với hiện tại.

Ngôn ngữ thể hiện lấy âm nhạc làm mạch cảm xúc, chọn các ca khúc tiêu biểu theo từng thời kỳ nhưng được xử lý đương đại, hòa quyện chất liệu dân gian – dân ca vùng miền để gắn với các điểm cầu. Các tiết mục nghệ thuật trong chương trình có sự kết hợp chất liệu dân gian vùng miền: then, hát ru, ví giặm, chất liệu Nam Bộ, sự hòa quyện của nhiều giọng điệu, một tinh thần.

Từ điểm tựa Cao Bằng - cội nguồn cách mạng, cầu truyền hình "Hai tay xây dựng một sơn hà" góp phần tạo nên một “cuộc vận động tinh thần” quy mô quốc gia: Cả nước hướng về Cao Bằng như một lời hiệu triệu cho hành trình mới của nội lực, đoàn kết và khát vọng phát triển bền vững.

Chương trình không chỉ là tưởng nhớ quá khứ, mà là lời hiệu triệu hành động cho hiện tại và tương lai: Mỗi thế hệ tiếp tục nâng cao ngọn cờ độc lập, phát triển và khát vọng vươn lên bằng trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của mình.

* Chiều cùng ngày, Kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28/1/1941 – 28/1/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn công tác của Trung ương đã tới dâng hoa, dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đền thờ Bác Hồ, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó và thăm quan hang Cốc Pó - nơi Bác Hồ trở về nước lãnh đạo cách mạng./.






Yêu nước ST.

TỪ NGỘ NHẬN VỀ “THIÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN” ĐẾN VẾT NỨT NIỀM TIN!

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và không gian số bùng nổ, việc so sánh mô hình phát triển giữa các quốc gia là nhu cầu tự nhiên. Tuy nhiên, khi những so sánh ấy bị giản lược, phiến diện, thậm chí bị dẫn dắt có chủ ý, chúng không còn là công cụ tham khảo khoa học mà trở thành “cái bẫy tư tưởng”, âm thầm khoét sâu vào nền tảng niềm tin chính trị. Thực tiễn cho thấy, không ít biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay bắt nguồn từ sự ngộ nhận, thần tượng hóa cái gọi là “thiên đường phát triển” ở bên ngoài, trong khi phủ nhận hoặc hoài nghi con đường phát triển mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn!

Từ nhu cầu so sánh đến nguy cơ lệch chuẩn nhận thức

So sánh là một phương pháp phổ biến trong khoa học xã hội và quản lý phát triển. Đảng ta chưa bao giờ phủ nhận việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Ngược lại, nhiều văn kiện quan trọng khẳng định rõ yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi việc so sánh bị tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, trình độ phát triển, thậm chí bị giản lược thành những đối chiếu cảm tính: Nước này “giàu hơn”, xã hội kia “tự do hơn”, mô hình nọ “văn minh hơn”. Nguy hiểm hơn, một số luận điệu cố tình tuyệt đối hóa ưu điểm, che giấu mâu thuẫn nội tại, khiếm khuyết xã hội của các quốc gia đó, từ đó gieo rắc tâm lý tự ti, hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, từng nhấn mạnh: “So sánh phát triển nếu không đặt trong chỉnh thể lịch sử-văn hóa-thể chế sẽ rất dễ trở thành công cụ dẫn dắt nhận thức lệch lạc, nhất là trong môi trường truyền thông đa chiều hiện nay”.

Thực tế cho thấy, những biểu hiện “tự diễn biến” về tư tưởng không xuất hiện đột ngột, mà thường bắt đầu từ các vết nứt nhỏ trong nhận thức: Nghi ngờ mô hình phát triển, giảm sút niềm tin vào năng lực lãnh đạo, từ đó dần xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định rõ: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời chỉ ra nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) nhấn mạnh yêu cầu chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó cảnh báo rõ thủ đoạn lợi dụng so sánh mô hình phát triển, thể chế chính trị để gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động niềm tin. Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tiếp tục chỉ rõ: Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị ngày càng tinh vi, thường núp bóng dưới các luận điệu “khách quan”, “so sánh”, “tham khảo mô hình nước ngoài”... Đây là căn cứ lý luận-chính trị quan trọng để nhận diện đúng bản chất của những quan điểm thần tượng hóa cái gọi là "thiên đường phát triển".

“Thiên đường phát triển” - một khái niệm được tô vẽ có chủ ý

Không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị thường xuyên khai thác hình ảnh “thiên đường phát triển” ở một số quốc gia phương Tây hay khu vực khác. Đây là thủ pháp quen thuộc: Lấy một vài chỉ số kinh tế, phúc lợi xã hội hoặc quyền tự do cá nhân được phóng đại, tách khỏi những mặt trái như phân hóa giàu-nghèo, khủng hoảng nhập cư, bạo lực xã hội, bất ổn chính trị... để tạo ra một bức tranh lý tưởng hóa. Trong khi đó, những thành tựu phát triển to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam sau 40 năm đổi mới lại bị cố tình làm mờ, thậm chí xuyên tạc. Từ một nước nghèo, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, kinh tế tăng trưởng thuộc nhóm cao của khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội phân tích: “Cái gọi là “thiên đường phát triển” thực chất chỉ tồn tại trong những lát cắt truyền thông có chọn lọc. Không có mô hình nào hoàn hảo, càng không có con đường phát triển chung cho mọi quốc gia. Nguy hiểm là ở chỗ người ta cố tình biến sự khác biệt thành cái cớ để phủ nhận con đường mà một dân tộc đã lựa chọn bằng lịch sử và hy sinh”.

Những luận điệu thần tượng hóa này, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, sẽ từng bước bào mòn niềm tin, tạo ra tâm lý “so bì”, “đứng núi này trông núi nọ”, từ đó dẫn tới "tự diễn biến" trong tư duy chính trị.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, không ít biểu hiện dao động về nhận thức chính trị bắt nguồn từ việc tiếp nhận thông tin so sánh quốc tế một chiều, thiếu kiểm chứng, đặc biệt trên không gian mạng. Nhiều nội dung truyền thông cố tình lựa chọn các chỉ số bề nổi về thu nhập, phúc lợi, tự do cá nhân, trong khi né tránh hoặc làm mờ các vấn đề nội tại như phân hóa xã hội, bất ổn chính trị, suy giảm niềm tin công chúng tại chính những quốc gia được ca ngợi. Trong công tác xây dựng Đảng đã xuất hiện hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ trẻ bộc lộ tâm lý so bì, ngộ nhận, từ đó giảm sút ý chí phấn đấu, ngại va chạm, né tránh đấu tranh bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng. Đây không phải biểu hiện chống đối trực diện, nhưng là những “vết nứt âm thầm” trong niềm tin, nếu không được nhận diện và uốn nắn kịp thời sẽ tiềm ẩn nguy cơ "tự diễn biến" về tư tưởng. Ở chiều ngược lại, chính thực tiễn Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn, thách thức lớn đã cho thấy tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng ta lựa chọn, củng cố niềm tin xã hội và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống.

Một đặc điểm nguy hiểm của “tự diễn biến” hiện nay là tính âm thầm, mềm hóa, phi đối kháng trực diện. Không ít người vẫn khẳng định mình “không chống Đảng, không chống chế độ”, nhưng lại thường xuyên đặt câu hỏi theo hướng phủ định: Vì sao ta không đi theo con đường khác? Vì sao mô hình này không giống mô hình kia? Vì sao nước ngoài làm được mà ta không làm như họ?...

Những câu hỏi ấy nếu xuất phát từ tinh thần xây dựng, nghiên cứu khoa học thì là điều bình thường. Nhưng khi chúng được lặp đi lặp lại trong một hệ quy chiếu lệch chuẩn, thiếu nền tảng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiếu hiểu biết về thực tiễn Việt Nam thì rất dễ trở thành mầm mống của "tự diễn biến". Thực tiễn công tác xây dựng Đảng cho thấy, ở một số nơi, một số cán bộ, đảng viên dao động về nhận thức, giảm sút ý chí phấn đấu, ngại bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng, thậm chí né tránh đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Đây chính là hệ quả của quá trình bị tác động lâu dài bởi những so sánh lệch chuẩn và hình ảnh “thiên đường phát triển” được tô vẽ.

Đại tá, PGS, TS Cao Văn Trọng, Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định: “Tự diễn biến" nguy hiểm nhất không phải ở lời nói công khai chống đối, mà ở sự thay đổi hệ giá trị bên trong con người. Khi niềm tin bị xói mòn, hành động lệch lạc chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Thực tiễn thế giới: Không có mô hình phát triển “vạn năng”

Nhìn ra thế giới một cách khách quan sẽ thấy, nhiều quốc gia từng được coi là “hình mẫu phát triển” cũng đang đối mặt với khủng hoảng sâu sắc: Bất ổn chính trị kéo dài, xung đột xã hội, phân hóa giàu-nghèo gia tăng, niềm tin của người dân vào thể chế suy giảm. Ngay trong lòng các nước phát triển, phong trào phản đối, chia rẽ xã hội, cực đoan hóa chính trị diễn ra ngày càng gay gắt. Trong khi đó, Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy con người làm trung tâm, không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Đó không phải là con đường dễ dàng, nhưng là con đường phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) nhiều lần nhấn mạnh: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tìm tòi, vừa làm vừa tổng kết, không rập khuôn, không giáo điều, nhưng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây chính là lời giải đáp thuyết phục nhất cho những luận điệu đòi “đổi hướng”, “đi theo mô hình khác” một cách giản đơn.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Không có mô hình phát triển nào mang tính khuôn mẫu cho mọi quốc gia. Việc so sánh nếu thiếu nền tảng lý luận và hệ quy chiếu khoa học rất dễ dẫn tới ngộ nhận, từ đó làm suy giảm niềm tin chính trị và nảy sinh biểu hiện "tự diễn biến" về tư tưởng”.

TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với sao chép mô hình. Mỗi con đường phát triển phải xuất phát từ điều kiện lịch sử, văn hóa và thể chế cụ thể của từng quốc gia”.

Nhận diện và hóa giải “ảo ảnh thiên đường phát triển”

Để ngăn chặn nguy cơ "tự diễn biến" từ những ngộ nhận về mô hình phát triển, trước hết cần nâng cao năng lực nhận diện trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. So sánh phải dựa trên cơ sở khoa học, toàn diện, đặt trong bối cảnh cụ thể, tuyệt đối tránh tâm lý sùng bái hay phủ định sạch trơn. Bên cạnh đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cần tiếp tục được đổi mới theo hướng gắn lý luận với thực tiễn sinh động của đất nước, giúp người học thấy rõ vì sao con đường Đảng và nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, phù hợp và có tính tất yếu lịch sử. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự xây dựng cho mình “sức đề kháng tư tưởng”, không dao động trước những luận điệu hào nhoáng, không để những so sánh phiến diện dẫn dắt nhận thức và hành động.

Niềm tin chính trị không phải là khái niệm trừu tượng, mà được xây dựng từ thực tiễn phát triển đất nước, từ sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, từ hiệu quả quản trị quốc gia. Đấu tranh với quan điểm thần tượng hóa “thiên đường phát triển” cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ.

Trong bối cảnh mới, khi thông tin đa chiều vừa là cơ hội vừa là thách thức, việc giữ vững niềm tin càng đòi hỏi bản lĩnh chính trị, sự tỉnh táo và trách nhiệm xã hội của mỗi người. Nhận diện đúng “ảo ảnh”, bóc tách những so sánh lệch chuẩn chính là cách để vá lại những “vết nứt âm thầm”, củng cố nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có “thiên đường phát triển” nào được sao chép nguyên xi, chỉ có con đường phù hợp nhất với mỗi dân tộc. Với Việt Nam, đó là con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã, đang và sẽ kiên định lựa chọn./.
Ảnh: Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
QV-ST!

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC XÂY DỰNG BẰNG MỒ HÔI NHƯNG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIẾT BẰNG XƯƠNG MÁU!

     Hơn 50 năm thống nhất đất nước, Bắc - Nam sum họp một nhà nhưng nỗi đau chiến tranh vẫn còn đó. Những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương và làm tốt công tác hòa hợp dân tộc mà cụ thể là Nghị Quyết 36 của Bộ Chính trị; người Việt Nam ở nước ngoài trở thành một bộ phận không thể tách rời của dân tộc, đã tạo thành khối đại đoàn kết vững chắc chung tay xây dựng đất nước Lạc Hồng.

Cả dân tộc đang vững tin bước vào kỷ nguyên mới. Hòa hợp dân tộc tạo khối đại đoàn kết; thống nhất ý chí và hành động để khơi dậy khát vọng dân tộc vươn lên. Suốt hơn 50 năm qua chúng ta vì hòa hợp dân tộc nên phải khép lại đau buồn. Song không vì thế mà phủ nhận quá khứ, xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thành đen, phục dựng vinh danh các kẻ tay sai bán nước tội đồ của dân tộc; công nhận tính chính danh của nguỵ quyền Sài Gòn; bôi xấu hình ảnh QĐND Việt Nam để thực hiện mưu đồ đen tối hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN và thắng lợi vĩ đại của dân tộc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; làm lu mờ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc Việt Nam. Không có lý lẽ nào có thể phủ nhận ngày 30/4/1975 mãi mãi là ngày trọng đại nhất của đất nước. Cả dân tộc đã hy sinh xương máu đứng lên theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, thu giang sơn về một mối.

Đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình để dân tộc phát triển thịnh vượng cần hoà giải và hoà hợp dân tộc khép lại quá khứ hướng về tương lai nhưng điều đó không có nghĩa là lãng quên quá khứ. Chúng ta nhớ rằng để đất nước thống nhất, hoà bình và ổn định ngày hôm nay dân tộc ta đã đổ biết bao xương máu qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Để bảo vệ Tổ quốc cả nước đã có 1.146.250 anh hùng, liệt sĩ hy sinh trong đó 191.605 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp; 849.018 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ; 105.627 Liệt sỹ hy sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị. Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường ở hai miền Bắc – Nam đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại. Đóng góp vào sự nghiệp cách mạng, cả nước có trên 9.000.000 người có công; 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; trên 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động; gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh; hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam; gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…Chúng ta không thể vô ơn, đời đời biết ơn các thế hệ cha anh đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình vì Tổ quốc.

Nguỵ - bè lũ tay sai bán nước đã nhào. Đế Quốc Mỹ đã thua nhục nhã phải cúi đầu cuốn gói cút khỏi nước ta. Chúng ta không thể quên tội ác của 541. 933 lính viễn chinh Mỹ và 70.000 quân của 5 nước chư hầu Mỹ đã gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tại Việt Nam. Chúng đã trút 15,4 triệu tấn bom đạn xuống Việt Nam gấp 6 lần tổng số bom đạn mà tất cả các nước sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2; tương đương sức nổ của khoảng 600 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945. Việt Nam là nước bị Mỹ ném bom nhiều nhất thế giới. Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam 839 tỷ USD; 75 triệu lít chất độc hoá học huỷ diệt môi trường sống khiến 5 triệu nạn nhân Việt Nam đến nay vẫn đau đớn, quằn quại vì chất độc hoá học này. Trước khi ký hiệp định, Mỹ thực hiện dã tâm đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá; dùng pháo đài bay B52 rải thảm, huỷ diệt Miền Bắc, đây là cuộc tập kích bằng đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, số bom Mỹ thả trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng bằng 5 quả bom nguyên tử Mỹ thả xuống Nhật Bản năm 1945.

Cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc. Kẻ thù của dân tộc Việt Nam là Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước Nguyễn Văn Thiệu. Nhân dân 2 miền Bắc - Nam không phải kẻ thù của nhau, là anh em ruột thịt một nhà. Hơn 50 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là dấu son chói lọi, niềm tự hào muôn đời của mỗi người con đất Việt. Chúng ta không được phép lãng quên lịch sử và không được phép vô ơn với xương máu của các thế hệ cha ông mình đã đổ xuống để chúng ta có ngày hôm nay. Dù đứng ở góc độ nào đi nữa cũng không thể phủ nhận một cuộc chiến tranh thần thánh, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đã ghi vào lịch sử thế giới một trang sử vàng chói lọi nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí thống nhất, độc lập, tự chủ và khát vọng của một dân tộc yêu chuộng hoà bình, biểu tượng của hòa bình; cổ vũ các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới tiến lên đánh bại chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới dành độc lập, tự do. Khép lại quá khứ để hoà hợp dân tộc không có nghĩa là lãng quên, phủ nhận quá khứ. Tương lai đất nước xây dựng bằng mồ hôi nhưng lịch sử dân tộc viết bằng xương máu./.

Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÉP LẠI VAI TRÒ TRUNG ƯƠNG!

     Thủ tướng Phạm Minh Chính không có tên trong danh sách trúng cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV cho thấy ông sẽ khép lại vai trò ở cấp Trung ương sau khi kết thúc nhiệm kỳ Chính phủ hiện tại.

Chúng ta sẽ nhớ hình ảnh một Thủ tướng hành động quyết liệt, thường xuyên có mặt tại thực địa trong những thời điểm khó khăn nhất, từ cao điểm phòng, chống dịch Covid-19 đến những đợt thiên tai, lũ lụt, nơi ông trực tiếp lắng nghe, chia sẻ và chỉ đạo công tác khắc phục. Những hình ảnh ấy để lại dấu ấn về một người đứng đầu Chính phủ gần dân, đồng hành cùng người dân trong hoạn nạn, không chỉ bằng chỉ đạo mà bằng sự hiện diện cụ thể.

Dưới góc nhìn quốc tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính được truyền thông và giới quan sát đánh giá cao như một nhà lãnh đạo điều hành mạnh mẽ, thực tế giữ vai trò quan trọng trong việc đưa Việt Nam vượt qua đại dịch, ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì đà hội nhập trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Nhiều hãng tin lớn ghi nhận phong cách chỉ đạo quyết liệt, thiên về hành động cùng đường lối đối ngoại linh hoạt cởi mở gần gũi của ông, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Khép lại một nhiệm kỳ nhiều thử thách, đó là lời chào trân trọng và tri ân dành cho một Thủ tướng đã đồng hành cùng đất nước qua những giai đoạn khó khăn, để lại dấu ấn của trách nhiệm, tận tâm và tinh thần phụng sự./.
Yêu nước ST.

CHÚC MỪNG TBT TÔ LÂM ĐƯỢC BẦU GIỮ CHỨC TỔNG BÍ THƯ BCH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XIV 🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Nay lại nhớ câu “chuyện hài” quanh việc Đại tướng Tô Lâm được bầu giữ chức Tổng Bí thư để nhiều người nhớ và tỉnh táo trước mọi ÂM MƯU thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ LLVT (Quân đội & Công an) hòng phi chính trị hoá 2 lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhân dân.

Tháng 8/2024 sau khi TBT Nguyễn Phú Trọng về cõi NIẾT BÀN thì BCT, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu Đại tướng Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam với số phiếu bầu tuyệt đối 100%.

Ngay khi đó đám đài địch như Việt Tân, VOA, RFA liền vồ lấy để xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ bệ Tân TBT Tô Lâm. Điều đáng nói là cùng hoà giọng làm loa rè cho địch là đám lính lác võ biền, đám bất mãn trở cờ và cả đám tâm thần chính trị trong nước….khi đó khắp, Youtube, fb đều là những thuyết âm mưu abc…”nào là mất dân chủ, nào là tiếm quyền, nào là không chính danh, nào là uy hiếp cụ cố Tổng nhường ngôi” vân vân và mây mây. Lại có mấy thằng nhõi con có chút ảnh hưởng trên mạng xh thì mượn cả phim dã sử tận bên Tàu để ví von dẫn dắt dư luận…trong đó có cả 1 số đứa là bạn fb của lão nông cũng adua với giặc.

Tối hôm qua lão cứ cười và lắc đầu rồi lại tự hỏi, không biết từ mai bọn chúng lại sản xuất ra những THUYẾT ÂM MƯU nào nữa sau khi đã bị BCT, Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam “TÁT LỆCH MẶT” bằng cách giao cho Quân đội bảo vệ Đại hội, bảo vệ hòm phiếu, kiểm phiếu….

Giờ thì Giáo sư-Tiến sỹ-Đại tướng Tổng Bí thư Tô Lâm đã chính danh chưa hả các mày? 👇

Môi trường ST.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DANH SÁCH 200 ĐỒNG CHÍ trúng cử BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

     Chiều 22-1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã công bố kết quả và thông qua danh sách các đồng chí trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Ủy viên chính thức và 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết.

DANH SÁCH ỦY VIÊN CHÍNH THỨC BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

KHỐI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG

1. ĐỒNG CHÍ TÔ LÂM, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương.

2. ĐÀO TUẤN ANH, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 34, Bộ Quốc phòng.

3. TRẦN VĂN BẮC, Thiếu tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 2, Bộ Quốc phòng.

4. ĐỖ THANH BÌNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

5. LÊ HẢI BÌNH, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

6. ĐOÀN XUÂN BƯỜNG, Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4, Bộ Quốc phòng.

7. ĐỖ VĂN CHIẾN, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội.

8. HOÀNG DUY CHINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV.

9. NGUYỄN TÂN CƯƠNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

10. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

11. NGUYỄN HỒNG DIÊN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội.

12. ĐẶNG VĂN DŨNG, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

13. ĐOÀN ANH DŨNG, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

14. HOÀNG TRUNG DŨNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

15. HỒ QUỐC DŨNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.

16. NGUYỄN KHẮC ĐỊNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội.

17. LƯƠNG QUỐC ĐOÀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

18. NGUYỄN QUỐC ĐOÀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ.

19. NGUYỄN HỮU ĐÔNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XV, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

20. ĐẶNG HỒNG ĐỨC, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

21. NGUYỄN QUANG ĐỨC, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

22. NGUYỄN VĂN GẤU, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

23. PHAN VĂN GIANG, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

24. NGUYỄN THỊ THU HÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Văn phòng Trung ương Đảng.

25. VŨ HẢI HÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội.

26. LÊ KHÁNH HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước.

27. LÊ NGỌC HẢI, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Quốc phòng.

28. NGÔ ĐÔNG HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

29. NGUYỄN LONG HẢI, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương.

30. NGUYỄN THANH HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa XV.

31. NGUYỄN VĂN HIỀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

32. TRẦN THỊ HIỀN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

33. NGUYỄN SỸ HIỆP, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

34. PHAN CHÍ HIẾU, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tư pháp.

35. BÙI THỊ MINH HOÀI, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

36. NGUYỄN THỊ HỒNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

37. ĐOÀN MINH HUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

38. LÊ MẠNH HÙNG, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương.

39. LÊ QUỐC HÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

40. BÙI QUANG HUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

41. DƯƠNG QUỐC HUY, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ.

42. LÊ MINH HƯNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

43. NGUYỄN ĐỨC HƯNG, Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 3, Bộ Quốc phòng.

44. TRẦN TIẾN HƯNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

45. NGUYỄN ĐÌNH KHANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

46. TRẦN VIỆT KHOA, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng.

47. VŨ TRUNG KIÊN, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng.

48. ĐÀO HỒNG LAN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế.

49. NGUYỄN NGỌC LÂM, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

50. NGUYỄN THANH LÂM, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.

51. TRẦN THANH LÂM, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

52. TRỊNH MẠNH LINH, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

53. NGUYỄN HỒNG LĨNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

54. NGUYỄN PHI LONG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.

55. NGUYỄN VĂN LONG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

56. LÊ VĂN LỢI, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

57. NGUYỄN THỊ THANH MAI, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

58. PHAN VĂN MÃI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XV.

59. LÊ QUANG MẠNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng Ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.

60. LÂM VĂN MẪN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV.

61. TRẦN THANH MẪN, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội.

62. LÊ QUỐC MINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

63. TRẦN HỒNG MINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

64. PHẠM HOÀI NAM, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

65. HÀ THỊ NGA, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

66. LÊ THỊ NGA, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội khóa XV.

67. NGUYỄN THANH NGHỊ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

68. NGUYỄN TRỌNG NGHĨA, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

69. BÙI VĂN NGHIÊM, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

70. TRẦN THANH NGHIÊM, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Đô đốc Hải quân, Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng.

71. NGUYỄN QUANG NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

72. NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tài chính.

73. CHIÊM THỐNG NHẤT, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9, Bộ Quốc phòng.

74. NGUYỄN HẢI NINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

75. LA CÔNG PHƯƠNG, Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 1, Bộ Quốc phòng.

76. LÊ HỒNG QUANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

77. LƯƠNG TAM QUANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an.

78. NGUYỄN VĂN QUẢNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

79. VŨ HẢI QUÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ.
80. THÁI THANH QUÝ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

81. TRỊNH VĂN QUYẾT, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

82. HOÀNG MINH SƠN, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

83. NGUYỄN KIM SƠN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
84. VŨ HỒNG SƠN Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng.

85. ĐỖ TIẾN SỸ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam
86. NGUYỄN THÀNH TÂM, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

87. LÊ ĐỨC THÁI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

88. TRẦN HỒNG THÁI, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
89. LÂM THỊ PHƯƠNG THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

90. NGUYỄN THỊ THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội.

91. TRẦN SỸ THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

92. ĐINH HỮU THÀNH, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

93. NGUYỄN TRƯỜNG THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

94. NGUYỄN VĂN THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

95. PHẠM TẤT THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.
96.TÀO ĐỨC THẮNG, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội.
97. TRẦN ĐỨC THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

98. LÊ XUÂN THẾ, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 7, Bộ Quốc phòng.

99. LÊ XUÂN THUÂN, Thiếu tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 12, Bộ Quốc phòng.

100. LÊ THỊ THỦY, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ.

101. NGUYỄN HUY TIẾN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
102. ĐẶNG KHÁNH TOÀN, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

103. TRƯƠNG THIÊN TÔ, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

104. LÊ TẤN TỚI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội khóa XV.

105. PHẠM THỊ THANH TRÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.

106. NGUYỄN HẢI TRÂM, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao.

107. LÊ MINH TRÍ, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương.

108. HÀ QUỐC TRỊ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

109. LÊ HOÀI TRUNG, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

110. TRẦN CẨM TÚ, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương.

111. NGÔ VĂN TUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Tổng Kiểm toán nhà nuớc.

112. NGUYỄN ANH TUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

113. PHẠM GIA TÚC, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

114. HOÀNG THANH TÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội khóa XV.

115. PHẠM THẾ TÙNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

116. ĐỖ XUÂN TỤNG Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

117. LÊ VĂN TUYẾN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

118. NGUYỄN THỊ TUYẾN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

119. BÙI THỊ QUỲNH VÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

120. NGUYỄN ĐẮC VINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khóa XV.

121. NGUYỄN MINH VŨ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao.

122. VÕ THỊ ÁNH XUÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước.
123. DƯƠNG TRUNG Ý, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

KHỐI ĐỊA PHƯƠNG

124. CAO THỊ HÒA AN, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk.
125. PHAN THĂNG AN, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng.

126. NGUYỄN DOÃN ANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa.

127. NGUYỄN HOÀI ANH, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa.
128. PHẠM ĐỨC ẤN, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng.
129. LÊ NGỌC CHÂU, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng.
130. LÊ TIẾN CHÂU, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV thành phố Hải Phòng.
131. NGÔ CHÍ CƯỜNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Đồng Tháp.
132. QUẢN MINH CƯỜNG, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Quảng Ninh.
133. TRẦN TIẾN DŨNG, Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên.
134. PHẠM ĐẠI DƯƠNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ.
135. NGUYỄN TRỌNG ĐÔNG, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội.
136. NGUYỄN VĂN ĐƯỢC, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh.
137. NGUYỄN HOÀNG GIANG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi.
138. NGUYỄN HỒ HẢI, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau.
139. NGUYỄN TIẾN HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang.
140. TÔN NGỌC HẠNH, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai.
141. NGUYỄN MẠNH HÙNG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tây Ninh.
142. TRỊNH VIỆT HÙNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lào Cai.
143. Y THANH HÀ NIÊ KDĂM, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Lâm Đồng.
144. HOÀNG QUỐC KHÁNH, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn.
145. NGUYỄN DUY LÂM, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh.
146. TRẦN VĂN LÂU, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long.
147. HẦU A LỀNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang.
148. NGUYỄN PHƯỚC LỘC, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh.
149. VÕ VĂN MINH, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh.
150. HỒ VĂN MỪNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang.
151. HỒ VĂN MƯỜI, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng.
152. LÊ MINH NGÂN, Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu.
153. NGUYỄN HỮU NGHĨA, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên.
154. HOÀNG VĂN NGHIỆM, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Sơn La.
155. NGUYỄN DUY NGỌC, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội.
156. PHẠM QUANG NGỌC, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên.
157. THÁI ĐẠI NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai.
158. HỒ VĂN NIÊN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
159. ĐẶNG XUÂN PHONG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Ninh Bình.
160. LÊ QUỐC PHONG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

161. TRẦN PHONG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa.
162. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị.
163. LÊ NGỌC QUANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng.
164. TRẦN LƯU QUANG, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
165. NGUYỄN VĂN QUYẾT, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh.
166. NGUYỄN HỒNG THÁI, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh.
167. ĐỒNG VĂN THANH, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Cần Thơ.
168. NGHIÊM XUÂN THÀNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa.
169. VŨ ĐẠI THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.
170. NGUYỄN KHẮC THẬN, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An.
171. NGUYỄN KHẮC TOÀN, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Huế.
172. LƯƠNG NGUYỄN MINH TRIẾT, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk.
173. NGUYỄN ĐÌNH TRUNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Huế.
174. TRỊNH XUÂN TRƯỜNG, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên.
175. PHẠM ANH TUẤN, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai.
176. TRẦN HUY TUẤN, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình.
177. VƯƠNG QUỐC TUẤN, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên.
178. LÊ QUANG TÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ.
179. VŨ HỒNG VĂN, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Đồng Nai.
180. HỒ THỊ HOÀNG YẾN, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long.


DANH SÁCH ỦY VIÊN DỰ KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

1. NGUYỄN HẢI ANH, Đại tá, Phó Tư lệnh Quân đoàn 12, Bộ Quốc phòng.
2. NGUYỄN TUẤN ANH, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu.
3. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh.
4. BÙI QUỐC DŨNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước.
5. NGUYỄN HUY DŨNG, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
6. NGUYỄN MINH DŨNG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Long.
7. BÙI THẾ DUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương 
 BÙI THẾ DUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
8. TRẤN DUY ĐÔNG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ.
9. VŨ MẠNH HÀ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế.
10. LÊ HẢI HÒA, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng.
11. U HUẤN, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Quảng Ngãi.
12. ĐỖ HỮU HUY, Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk.
13. NGUYỄN HỒNG PHONG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thanh Hóa.
14. BÙI HOÀNG PHƯƠNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
15. TRẦN QUÂN, Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính.
16. TRẦN ĐĂNG QUỲNH, Thiếu tướng, Trợ lý đồng chí Tổng Bí thư, sỹ quan Công an Nhân dân biệt phái.
17. NGUYỄN MINH TRIẾT, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy cơ quan, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam.
18. HỒ XUÂN TRUỜNG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Khánh Hòa.
19. BÙI ANH TUẤN, Trợ lý đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư.
20. MÙA A VẢNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Điện Biên./.



Yêu nước ST.