Thứ Ba, 9 tháng 6, 2020

NHỮNG THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII



Chúng ta đã bước vào năm cuối cùng để hoàn thành tốt các chương trình, mục tiêu nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XII của Đảng. Trong hai nhiệm kỳ vừa qua bằng các số liệu và sự kiện, có thể nhận thấy sự tương phản rõ ràng của những gam mầu sắc, qua đó cũng thấy rõ những bài học kinh nghiệm quý báu
NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT
Năm 2019 là một năm có ý nghĩa quan trọng;  Bằng nỗ lực to lớn của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta, 2019 là một năm ghi dấu thành tích vượt bậc kể từ đầu nhiệm kỳ cả về chính trị, kinh tế, đối ngoại, văn hóa, thể dục thể thao... Về kinh tế chúng ta đều vượt các chỉ tiêu do Quốc hội đề ra. Nợ công, nợ nước ngoài đều nằm dưới ngưỡng an toàn và ngưỡng cho phép của Quốc hội...
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV này, Chính phủ luôn khẳng định rõ mục tiêu "ổn định kinh tế vĩ mô song song với đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế", khác với sự dè dặt trước đây "mục tiêu hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý".Trong lời chúc Tết đồng bào, đồng chí và chiến sĩ nhân dịp năm mới Canh Tý 2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh năm 2019 vừa qua đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và cho chúng ta thêm nhiều bài học quý. Nhớ lại giai đoạn 5 năm trước, để đạt con số tăng trưởng, chúng ta phải bơm vào nền kinh tế một lượng lớn vốn đầu tư công và vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng. Những gì nhận được là con số tăng trưởng cao không như mong muốn, trong khi lạm phát tăng cao, lãi suất ngân hàng ở mức nhiều doanh nghiệp không chịu nổi, nợ xấu của ngân hàng trầm trọng, sản xuất đình đốn, nợ công, nợ nước ngoài tăng cao, khả năng trả nợ yếu kém, chỉ số tín nhiệm quốc gia ở mức thấp...
Riêng nạn tham nhũng, lãng phí gia tăng ở mức nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ gây đổ vỡ cho nền kinh tế. Trầm trọng hơn, có những nhóm người vẽ ra các kịch bản vơ vét tiền Nhà nước (cũng là của nhân dân) hết sức tinh vi, kín kẽ đến mức tưởng chừng không thể bóc gỡ, vì được ẩn mình dưới sự cấu kết mang tính "lợi ích nhóm" giữa những quyền lực chính trị và kinh tế, mà thiếu sự kiểm soát và giám sát có hiệu quả một thời gian dài trong nền kinh tế thị trường.
MUỐN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG PHẢI CÓ CÁN BỘ KHÔNG THAM NHŨNG
Trong gần 10 năm kể từ đầu nhiệm kỳ Ðại hội Ðảng lần thứ XI đến nay đã gần cuối nhiệm kỳ Ðại hội Ðảng XII của Đảng, rõ ràng nhiệm kỳ này phải gánh vác một nhiệm vụ rất nặng nề đó là dọn dẹp những chướng ngại vật, những nhân tố cản trở trên con đường phát triển của quốc gia, cản trở sự lãnh đạo xuyên suốt, toàn diện của Ðảng. Ðể hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, Đảng ta cần phải hành động quyết liệt trong việc sắp xếp điều động, bổ nhiệm công tác cán bộ đúng các vị trí công tác, những "mắt xích" nào yếu phải được  thay thế bằng những nhân tố tích cực hơn trong việc đương đầu và đấu tranh với tham nhũng. Những ai không muốn làm thì đứng sang một bên để người khác làm. Thái độ lừng chừng, viện lý do này khác phải được khắc phục triệt để. Ðiều này chúng ta có thể thấy rõ qua hoạt động của các cơ quan Ðảng và chính quyền các cấp như Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (ngày 1/2/2013, Bộ Chính trị ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban), Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Thanh tra, Kiểm toán, Công an, Kiểm sát, Tòa án,...
Ðây chính là bài học quí báu về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng thông qua công tác cán bộ, như Bác Hồ đã viết trong tác phẩm nổi tiếng Sửa đổi lối làm việc đó là: "Cán bộ phải là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém". Ðây là bài học thuộc lòng, nhưng đã có những lúc chúng ta làm chưa đúng; phải thành thật nhận thấy đây là khuyết điểm lớn, trong đó có cả của cá nhân tôi.
Công cuộc phòng, chống tham nhũng không phải đến hôm nay mới xuất hiện trong các văn kiện của Ðảng. Nhìn lại các kỳ Ðại hội từ những năm trong giai đoạn Ðổi mới, Ðảng ta đã thường xuyên cảnh báo, nêu quyết tâm về việc phòng, chống nguy cơ suy thoái, tham nhũng, tiêu cực. Ngay từ giữa nhiệm kỳ của Ðại hội VII, lúc xã hội mới nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong quá trình chuyển đổi cơ chế, Ðảng đã chính thức xác định bốn nguy cơ trước mắt là: tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng XHCN; tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Ðến Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, với nhiệm vụ chống tham nhũng được ghi dấu bằng nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 (lần 2). Nhiệm kỳ các Ðại hội khóa IX, khóa X đều có sơ kết, tổng kết nhưng hành động còn thiếu tính kiên quyết, tạo cơ hội cho tiêu cực, tham nhũng phát triển và lây lan.
Nhiệm kỳ Ðại hội khóa XI, tại Hội nghị Trung ương 4, công tác phòng, chống tham nhũng được khơi dậy với quyết tâm lớn nhưng kết quả lại chưa đạt yêu cầu. Niềm tin vào sự lãnh đạo của Ðảng trong các tầng lớp nhân dân bị thách thức nghiêm trọng khi kết thúc Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI). Ðây cũng là lần rất hiếm hoi mà một quyết định của Bộ Chính trị đã không được Trung ương thông qua. Kết quả của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) đã khiến cho nhiều cán bộ cấp cao trong Ðảng, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân sụt giảm niềm tin vào công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái của Ðảng.
KHÔNG ĐỂ AI ĐỨNG TRÊN TỔ CHỨC ĐẢNG
Ðến hôm nay, có thể nhận thấy công tác phòng, chống tham nhũng ở nhiệm kỳ Ðại hội khóa XII đã có những chuyển biến quan trọng, đem lại nguồn động viên to lớn cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Lịch sử của Ðảng ta là "một pho lịch sử bằng vàng", không ai được phép làm dơ bẩn danh dự của Ðảng! Không đảng viên nào được đứng lên trên tổ chức Ðảng!
Cũng nhìn vào những gì đã và đang diễn ra hôm nay mới thấy trách nhiệm, khuyết điểm của nhiệm kỳ Ðại hội khóa XI là không hề nhẹ, nhất là trên hai mặt chỉ đạo phát triển kinh tế và xây dựng Ðảng. Những tổn thất về uy tín chính trị, sự đổ vỡ niềm tin là khó có thể đong đếm được. Tôi thấy cần thiết phải nhắc lại lời dạy của Bác Hồ: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân" (tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân). Vì vậy, đối với những cán bộ có khuyết điểm mà không biết "tự sửa mình", không có đủ lòng tự trọng để lắng nghe phê bình, tự nguyện rời bỏ vị trí thì tổ chức Ðảng phải kiên quyết loại bỏ. Hồ Chủ tịch từng nói: "Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu" (phát biểu tại buổi lễ ra mắt ứng cử viên đại biểu quốc hội năm 1946 tổ chức tại Việt Nam học xá). Ðể đại hội thành công như mong muốn của mỗi chúng ta thì phải có đoàn kết nội bộ. Một trong những điều quan trọng để giữ gìn sự đoàn kết đó là công minh trong đánh giá cán bộ, công bằng trong kỷ luật Ðảng. Nếu nhìn sâu vào một số vụ việc cụ thể thì vẫn còn thấy những câu hỏi về sự công bằng trong xử lý cán bộ. Ðiều đó rất nguy hiểm, là nguyên nhân tiềm ẩn xung đột ngay trong nội bộ, khiến sự đoàn kết không bền vững. Chúng ta đều biết công tác cán bộ làm không tốt thì tự ta lật đổ ta. Chúng ta đã bước vào 90 năm kể từ khi có Ðảng. Ðại hội Ðảng lần thứ XIII đang đến gần, đay là Đại hội của chuyển giao thế hệ. Không có đại biểu tốt thì không có Đại hội tốt mà muốn có đại biểu tốt thì phải làm tốt từ cấp cơ sở. Chúng ta phải lựa chọn bằng được những đại biểu có bản lĩnh, liêm chính, được nhân dân thừa nhận và như vậy phải có cơ chế lắng nghe ý kiến của nhân dân. Những người làm công tác cán bộ phải "càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng" (Hồ Chí Minh, tác phẩm Sửa đổi lối làm việc), như kinh nghiệm ở những nhiệm kỳ vừa qua. Ðược như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ có một Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thành công rực rỡ, tập trung sức lãnh đạo đưa đất nước tiếp tục phát triển đi lên trên con đường giàu mạnh, phồn vinh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc./.



NGẪM TỪ CHUYỆN BIỂU TÌNH, BẠO ĐỘNG Ở MỸ
Nước Mỹ đang chìm trong biểu tình, bạo động những ngày qua không phải là chuyện lạ với thế giới. Nhưng điều khác lại ở đây là không hề thấy lũ cờ vàng chống cộng ho he gì? Không có tiếng sủa nào tố cáo chính phủ Mỹ mất dân chủ, vi phạm nhân quyền khi mà cảnh sát Mỹ đè cổ đến chết một anh da đen?
Không hiểu lũ tay sai bán nước, hại dân ấy có thấy tự nhục khi mà Công an Việt Nam xử phạt vi phạm giao thông, chấn áp nhóm tội phạm thảo khấu do cha con Lê Đình Kình cầm đầu ở đồng tâm, tòa án Việt Nam xử tội kẻ hiếp dâm, giết người Hồ Duy Hải để giữ gìn môi trường ổn định cho sự phát triển đất nước và sự bình yên cho cuộc sống của nhân dân thì chúng lại chính trị hóa vấn đề, thi nhau  sủa ỏm tỏi hòng kích động gây bất ổn về chính trị cho đất nước?
Phải chăng lũ họ không mở tai ra nghe thế giới và chính đồng bào mình ở ngoại quốc ca ngợi thành công chống dịch covid của Việt Nam? Sao lũ họ cố tình ngoảnh mặt làm ngơ khi mà các sân bóng thế giới không một bóng cổ động viên, các bãi biển của các cường quốc du lịch vắng hoe, các sân bay của hầu hết các quốc gia đắp chiếu im lìm... Thì ở Việt Nam, bầu không khí tưng bừng trên khắp các khán đài đã trở lại sớm nhất thế giới, người dân nô nức đi tắm biển hàng tháng nay rồi, những cánh bay Việt Nam hiên ngang tung hoành khắp thế giới ngay trong bão dịch... đã làm cho cả thế giới đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác...!!!
Âu cũng vẫn là bản chất cố hữu của những kẻ bán nước, hại dân, chạy theo ngoại bang mà thôi. Vậy, hãy đừng mở mõm ra thêm nữa (!!!).
                                                                    10/6/2020
                                                                         HLV

Một số giải pháp đấu tranh phản bác những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh


Một số giải pháp đấu tranh phản bác những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh
          Quán triệt quan điểm của Đảng: “…kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...”; đồng thời, để hiện thực hóa phương châm: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái…”, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
          Một là, nâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần cảnh giác của nhân dân trước những thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh.
          Nội dung này có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Có nhận thức đúng tính chất nguy hại của sự việc mới có ý thức cảnh giác, đề phòng. Do đó, công tác giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân về lĩnh vực quốc phòng - an ninh phải coi trọng điểm này, phải làm cho nhân dân thấy rõ đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin bịa đặt, nhằm dụng ý xấu để cảnh giác. Việc làm này phải được tiến hành một cách kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục, chú trọng những vùng có lịch sử chính trị - xã hội phức tạp, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo sinh sống; địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh. Cần tập trung tuyên truyền làm rõ vị trí, vai trò của công tác quốc phòng - an ninh, mối quan hệ giữa an ninh và quốc phòng, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh; an ninh biên giới, an ninh biển; chủ quyền biển đảo,... hướng tới thống nhất nhận thức, tư tưởng, ý chí và hành động, đúng với quan điểm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc…”. Phương thức tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, như thông qua hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, các trang mạng xã hội, qua giáo dục, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng trong xã hội.
          Hai là, cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực.
          Quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại của in-tơ-nét, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, càng chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch, càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự việc, hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, bán tín bán nghi trong xã hội. Tất nhiên, trừ các thông tin bí mật quân sự, bí mật quốc gia, các thông tin khác, nhất là về các sự kiện lớn, đột xuất, phức tạp, nhạy cảm, có thể gây bất ổn xã hội, thì luôn cần có thông tin chính thống, kịp thời từ cơ quan chức năng, từ người có thẩm quyền phát ngôn cho báo chí, đó chính là sự định hướng dư luận hiệu quả nhất.
          Hiện nay, mạng in-tơ-nét là phương tiện được các thế lực thù địch sử dụng nhiều nhất, là trận địa thông tin nóng bỏng nhất, nếu không chủ động thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời đáp ứng nhu cầu của công chúng thì trận địa sẽ bị bỏ trống và đương nhiên kẻ thù sẽ ào lên chiếm lĩnh. Vì vậy, trong khi việc kiểm soát, chế tài các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống còn gặp nhiều rào cản, khó khăn, thì cách tốt nhất để đẩy lùi thông tin bịa đặt, sai lệch là phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và minh bạch cho nhân dân. Để thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời, đáp ứng nhu cầu của công chúng, phải bảo đảm chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng báo chí “đói” nguồn thông tin chính thống và chính xác.
          Ba là, xây dựng lực lượng đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh.
          Trong đó, tập trung vào đội ngũ nhà báo, nhà nghiên cứu, thông tin viên, tuyên truyền viên trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đây là lực lượng đưa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhanh và hiệu quả nhất, là những người trực tiếp góp phần đập tan thông tin và luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Do vậy, cần xây dựng lực lượng này có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm cho họ, bảo đảm để lực lượng này là nòng cốt, xung kích trong đấu tranh, phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng.
          Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là cuộc chiến lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng. Sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của lực lượng này làm nòng cốt cho toàn dân là nhân tố trực tiếp trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
TBQL 17

Nhận diện các phương pháp tuyên truyền chống phá Đại hội Đảng các cấp


Nhận diện các phương pháp tuyên truyền chống phá Đại hội
Đảng các cấp
          Cứ trước thềm các kỳ đại hội Đảng là các thế lực thù địch lại tập trung công kích, chống phá bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm và quyết liệt. Bản chất, mục đích của chúng không thay đổi, nhưng thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với các phương pháp tuyên truyền chống phá Đại hội Đảng các cấp là việc làm hết sức quan trọng hiện nay.
          Hoạt động của chúng không còn được thực hiện đơn lẻ mà được tiến hành ồ ạt với việc huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền tập trung về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, cần nhận diện để chủ động đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn.
          Lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là các ứng dụng, dịch vụ tiện ích trên không gian mạng, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, chính trị không ngừng gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xuyên tạc vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác nhân sự Đại hội XIII… Tất cả sự chống phá trên đều nhằm tới mục tiêu: Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng; phá hoại Đại hội XIII của Đảng.
          Để gia tăng hiệu quả, quy mô, mức độ tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền, chúng huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Có thể thấy, các phương pháp, cách thức này có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:
          Thứ nhất, chủ thể khởi xướng các “phương pháp tuyên truyền” chủ yếu là các trung tâm, tổ chức thù địch Việt Nam ở nước ngoài như: Các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong (“Việt Tân”, “Đảng Dân chủ nhân dân”, “Đảng Vì dân”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”…); các trung tâm truyền thông nước ngoài (Đài BBC tiếng Việt, VOA tiếng Việt, RFA tiếng Việt…); các tổ chức quốc tế, NGO nước ngoài (“Theo dõi Nhân quyền thế giới - HRW”, “Ân xá quốc tế - AI”, “Phóng viên không biên giới - RSF”…). Bên cạnh đó, các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội XIII của Đảng còn được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt với sự phối kết hợp của nhiều lực lượng thù địch cả trong và ngoài nước, nhất là số dân biểu cực hữu trong chính giới các nước Mỹ, phương Tây; số đối tượng chống đối chính trị trong nước.
          Thứ hai, nội dung tuyên truyền được hướng theo một chủ đề thống nhất, như: Tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyên truyền chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013; tuyên truyền chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội; tuyên truyền xuyên tạc nguyên tắc tổ chức, vấn đề nhân sự Đại hội XIII… Chẳng hạn như, thực hiện chiến dịch chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội XIII, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối trong nước đã đồng loạt tán phát các bài viết có nội dung xuyên tạc cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đồng thời, kêu gọi sửa đổi “toàn diện” văn kiện, đường lối chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò “độc tôn” của Đảng; thay đổi hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước; xây dựng nền kinh tế đa sở hữu bắt đầu từ năm 2021.
          Để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc công tác nhân sự Đại hội XIII, các trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong, đài phát thanh nước ngoài đã đồng loạt tán phát hàng chục bài viết có nội dung xuyên tạc về công tác nhân sự Đại hội XIII, bịa đặt nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang hình thành “phe cánh” để “tranh giành, đấu đá quyền lực; có “lợi ích nhóm”, “thanh trừng phe phái” trong công tác nhân sự; thậm chí chúng còn xuyên tạc rằng vấn đề nhân sự Đại hội Đảng XIII bị một số thế lực bên ngoài can thiệp, chỉ đạo. 
          Thứ ba, các phương pháp tuyên truyền được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định, với nhiều lực lượng, phương tiện tham gia. Với mục đích chống phá Đại hội Đảng XIII chủ yếu được tiến hành vào thời điểm trước và trong khi diễn ra Đại hội XIII của Đảng. Đặc biệt, ngay trước thời điểm diễn ra Đại hội, các “phương pháp” này sẽ được gia tăng về cấp độ, tính chất và quy mô, sau đó sẽ giảm dần và kết thúc khi Đại hội Đảng XIII của Đảng kết thúc. Trong khoảng thời gian này, các thế lực thù địch, phản động sẽ tập trung huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện tham gia nhằm làm gia tăng mức độ, tính chất, phạm vi tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền.
          Các phương pháp tuyên truyền chống phá Đại hội Đảng XIII của các thế lực thù địch thời gian qua không chỉ tạo ra sự nhiễu loạn thông tin, gây ra những hoài nghi, hoang mang, mất niềm tin trong một bộ phận quần chúng, cán bộ, đảng viên mà còn tác động, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự và quá trình chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta cần nâng cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và chủ động đấu tranh, ngăn chặn các phương pháp tuyên truyền này./.
TBQL 17

Một số giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch về Chủ tịch Hồ Chí Minh


Một số giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch về Chủ tịch Hồ Chí Minh
          Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hòng hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh có ý nghĩa cấp thiết và cần có những nội dung, giải pháp toàn diện, đồng bộ; trong đó, tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
          Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
          Đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Theo đó, cần tập trung làm rõ Hồ Chí Minh từ một người yêu nước, cách mạng chân chính, trải qua hoạt động thực tiễn đã tiếp thu và tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân Việt Nam; là người tổ chức thành lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, Đảng đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, tạo nền tảng để kiến tạo thời đại mới của dân tộc Việt Nam - thời đại Hồ Chí Minh.
          Ngày nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải tiếp tục làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu, trở thành nền tảng chính trị - tinh thần chủ đạo của xã hội. Vì thế, cần có hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp. Đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hành dân chủ, bảo đảm dân sinh, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tạo sức đề kháng vững chắc trong nhân dân. Bên cạnh đó, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục về âm mưu, nội dung, phương thức, thủ đoạn chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch; chủ động trang bị cho nhân dân cách phòng, chống.
          Hai là, nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
          Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Vì thế, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng nguồn lực thông tin, lý luận đầy đủ, chắc chắn, đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là vấn đề nền tảng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt vấn đề này, không chỉ giúp chúng ta có được những thông tin đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mà còn loại bỏ các thông tin sai trái, phản động. Nếu không làm tốt nhiệm vụ này sẽ trực tiếp, hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng cuộc đấu tranh nói trên; thậm chí, trở thành cái cớ để luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh có dịp “bung nở”. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển một cách toàn diện, đồng bộ về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và trong xã hội.
          Ba là, không ngừng bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng, đất nước trong tình hình mới.
          Cùng với nghiên cứu làm rõ tính cách mạng, khoa học của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cần bổ sung, phát triển, làm cho tư tưởng của Người có sức sống mạnh mẽ trong hiện thực, trở thành động lực thúc đẩy đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước và mỗi người dân Việt Nam. Đảng ta đã vận dụng chủ nghủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra đường lối, phương pháp lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, sức sống của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nằm trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Xây dựng Đảng ta “đạo đức và văn minh”, mỗi cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; đủ khả năng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, tổ chức lãnh đạo Nhà nước và xã hội đạt được mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là đã bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
          Bốn là, cung cấp kịp thời, quản lý hiệu quả nguồn thông tin.
          Cơ quan tuyên giáo, thông tin, truyền thông và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quản lý, kiểm soát chặt chẽ mọi thông tin, đảm bảo mọi thông tin về Hồ Chí Minh đến với nhân dân đều chính xác. Đồng thời, đẩy mạnh định hướng dư luận, phổ biến pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước; siết chặt quản lý, nhất là ở khâu biên tập nội dung, in ấn xuất bản. Đặc biệt, trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên, phải thực hiện nghiêm túc các quy định, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là trong kỷ luật phát ngôn, quản lý tài liệu.
          Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh là tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp của xã hội, sự đồng lòng trong nhân dân, đảm bảo cho cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người sẽ giành thắng lợi./.
TBQL 17

ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU ĐÒI "DÂN CHỦ" Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Cách đây 30 năm, trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đứng trên bờ vực của sự đổ vỡ, ngày 18-12-1990, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ L.I.Gơn-bơ-giơ đã không úp mở, đặt ra bốn điều kiện về “dân chủ hóa” để họ viện trợ kinh tế cho các nước xã hội chủ nghĩa: 1- Tiến tới đa nguyên chính trị, chấm dứt sự độc quyền của Đảng Cộng sản; 2- Làm xuất hiện kinh tế thị trường, một khu vực kinh tế tư nhân quan trọng; 3- Tăng cường việc tôn trọng quyền con người ở các nước này; 4- Mỗi nước này có thái độ sẵn sàng xây dựng quan hệ hữu nghị với Mỹ. Tiếp đó, ngày 11-7-1995, trong tuyên bố Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Tổng thống B. Clin-tơn khẳng định, việc bình thường hóa và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam “sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây”. Nhất quán và tiếp tục theo đuổi lộ trình về thúc đẩy “dân chủ hóa”, “tự do hóa” trong chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm, các thế lực thù địch triệt để sử dụng chiêu bài “dân chủ” để phá hoại sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, áp đặt “dân chủ”, “tự do” theo tiêu chí của phương Tây, âm mưu đưa Việt Nam từng bước theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch tung ra nhiều luận điệu đòi thực thi cái gọi là “dân chủ”, “tự do”. Trước hết, họ tung hô, cổ súy nhiều nhất, quyết liệt nhất là việc đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”. Họ cho rằng, “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”; “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thực sự”; “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng... Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “không chịu đổi mới về chính trị” và đưa ra quan niệm sai lầm khi đồng nhất giữa “đa nguyên, đa đảng” với “đổi mới chính trị” Họ quy kết hàm hồ rằng: “Độc tài, đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại” và đưa ra “lời khuyên” rằng, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Các thế lực thù địch đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, bởi họ cho rằng, “sự độc đảng này được xác định trong Điều 4 Hiến pháp hiện hành khiến nhà cầm quyền không hề có cạnh tranh và không sợ bị thay thế”, do đó mà không có “dân chủ”. Cùng với tập trung đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ quyền lãnh đạo cách mạng, các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài “dân chủ” với mưu toan xóa bỏ chế độ chính trị hiện hành, đưa đất nước theo mô hình dân chủ tư sản. Họ vu khống rằng, “thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay là toàn trị”, “độc đoán”; “duy trì quyền lực chính trị bằng các công cụ, như cảnh sát, thực hiện bắt bớ, đàn áp những người không ủng hộ Nhà nước, ngăn cấm tự do thông tin, tự do hội họp, tự do báo chí, ngôn luận...”, vì thế mà không có “dân chủ”. Theo đó, các thế lực thù địch đòi “Việt Nam hiện nay phải chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ”, mà “dân chủ” phải bảo đảm được ba yếu tố: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; bầu cử tự do; tư pháp độc lập, trong đó yếu tố đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là quyết định nhất. Không chỉ dừng lại ở những luận điệu xảo trá nêu trên, các thế lực thù địch còn thổi phồng những sai lầm, thiếu sót về đường lối và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong quá khứ, đặc biệt là trên lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý - xã hội; đồng thời, ra sức lợi dụng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng, tiêu cực bị xử lý kỷ luật để nâng hiện tượng cá biệt thành bản chất, bôi đen chế độ, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới và minh chứng cho sự cần thiết “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, rằng như thế mới có “dân chủ” và “phát triển”. Trắng trợn hơn, các thế lực thù địch ra sức hậu thuẫn cho xây dựng các lực lượng phản động, như cái gọi là “Đảng Việt tân”, “Đảng Dân chủ tự do Thiên Chúa giáo”, “Đảng Dân chủ tự do Phật giáo”..., mưu toan hình thành lực lượng đối lập để từng bước thực thi thứ “dân chủ” của họ trong xã hội Việt Nam. Sử dụng chiêu bài “dân chủ”, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy những phần tử cơ hội về chính trị ở trong nước, các tổ chức nước ngoài thù địch với Việt Nam ra sức công kích Đảng và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, qua đó để “cấy” vào trong đời sống xã hội Việt Nam tư tưởng tự do, dân chủ tư sản, hòng tạo dựng mầm mống thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang quỹ đạo dân chủ tư sản. Họ luôn gắn vấn đề “dân chủ” với vấn đề “tôn giáo”, “dân tộc”, “nhân quyền”, vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trong thực hiện chính sách đối với các tôn giáo và các dân tộc thiểu số; trắng trợn xuyên tạc Việt Nam đàn áp tôn giáo và dân tộc thiểu số. Cũng bằng chiêu bài “dân chủ”, các thế lực thù địch ra sức chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mâu thuẫn, kích động hận thù giữa các dân tộc, các tôn giáo, tạo ra những bức xúc trong xã hội, hoài nghi trong dư luận, chia rẽ quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch lợi dụng tình hình khiếu kiện, các “điểm nóng”, nhất là vụ việc ở xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) để phát tán các tài liệu tuyên truyền tư tưởng tự do, dân chủ tư sản, vu khống, công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ; từ đó, hướng vào đòi xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang xây dựng; gieo rắc tư tưởng dân chủ tư sản trong đời sống xã hội. Như vậy, có thể thấy, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài “dân chủ” làm khâu đột phá trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam. Đằng sau tất cả những luận điệu tuyên truyền, hoạt động cả trực diện và không trực diện, đều hướng vào đòi thực thi thứ “dân chủ” ấy; trong đó, mục tiêu hàng đầu và mấu chốt của các thế lực thù địch là đòi thực hiện chế độ đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo, tiến tới loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Đây chính là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn của các thế lực thù địch.

KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN CÁI GỌI LÀ " DÂN CHỦ" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn cho phép chúng ta khẳng định dứt khoát rằng, ở nước ta không cần và không thể chấp nhận thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam. Trên phương diện lý luận, chúng ta đều biết, dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, dân chủ xuất hiện và phát triển với tính chất là sản phẩm trực tiếp của đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội, giải phóng loài người. Trong xã hội có giai cấp, tuyệt đối không thể có thứ dân chủ chung chung, phi giai cấp. Dân chủ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Về điều này, C. Mác đã chỉ rõ: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”. Theo V.I. Lê-nin, điều cốt tử nhất khi bàn đến vấn đề dân chủ là phải trả lời được câu hỏi, dân chủ của ai, cho ai và vì ai? Tự do cho ai và vì ai? Bởi vì, trong xã hội có giai cấp, dân chủ, tự do đối với bọn bóc lột có nghĩa là để áp bức những người bị bóc lột. Từ lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, nền dân chủ tư sản là một nấc thang đánh dấu sự phát triển đáng kể của dân chủ, nhưng toàn bộ thiết chế của nền dân chủ tư sản, từ việc tổ chức nhà nước đến các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện đều chỉ nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền sở hữu, lợi ích của giai cấp tư sản, truyền bá tư tưởng tư sản chống lại tư tưởng tự do, dân chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Theo V.I. Lê-nin, nền dân chủ tư sản là nền dân chủ của một thiểu số những kẻ giàu có, dân chủ của giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản chứ không phải dân chủ cho đa số nhân dân lao động. Còn dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự thay thế dân chủ tư sản trong nấc thang phát triển cao hơn của xã hội loài người tuân theo quy luật khách quan. Đó là nền dân chủ “gấp triệu lần” dân chủ tư sản. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên các phương diện chủ yếu: 1- Là nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; 2- Dân chủ xã hội chủ nghĩa thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; 3- Dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ý thức - tư tưởng, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào công việc quản lý nhà nước và xã hội thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Tiêu chí cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhân dân là chủ và làm chủ. Xét từ bản chất của dân chủ tư sản - thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam và tính ưu việt của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thì việc lựa chọn tất yếu ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam hiện nay không cần và không chấp nhận dân chủ tư sản. Trên phương diện thực tiễn, dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Chúng ta đã và đang hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quan điểm cho rằng, phải có đa đảng mới “có dân chủ và phát triển” là hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ; dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít nước đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển nhất; ngược lại, có những nước chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Điều đó minh chứng rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn”. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc ra sức hy sinh, phấn đấu cho nền dân chủ cao đẹp nhất mà loài người từ xưa đến nay khát khao vươn tới - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chín mươi năm qua, với tư cách một đảng mác-xít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cũng từ lịch sử nhân loại cho thấy một thực tế đau xót đối với cách mạng thế giới, đó là sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu vào những năm 1989 - 1991. Đặc biệt, ở Liên Xô, dưới tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đã dẫn tới hậu quả: Đại hội bất thường của các đại biểu nhân dân, ngày 15-3-1990 quyết định xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp Liên Xô về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Bắt đầu từ điểm mốc này đã hình thành chế độ đa đảng ở Liên Xô với vô số tổ chức, đảng phái chính trị “mọc lên như nấm”, trở thành các lực lượng chính trị đối lập, cạnh tranh với Đảng Cộng sản Liên Xô, để rồi dẫn tới một kết cục bi thảm: Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo đất nước. Các lập luận cổ vũ cho chế độ đa đảng ở Việt Nam thường lấy khuôn mẫu các nước tư bản phương Tây làm ví dụ minh chứng mà không hề quan tâm đến đặc điểm lịch sử - văn hóa, trình độ phát triển, tương quan lực lượng chính trị trong xã hội. Một số người do thiếu hiểu biết nên ít nhiều đã bị tiêm nhiễm bởi những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, lầm tưởng cứ có nhiều đảng cạnh tranh thì sẽ dân chủ hơn, xã hội phát triển hơn. Hãy nhìn sang một số nước tư bản hiện nay, nhất là nước Mỹ với sự tồn tại của 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa) thay nhau cầm quyền. Tuy bề ngoài là chế độ đa đảng đối lập, nhưng xét về bản chất chỉ là một đảng - đảng của giai cấp tư sản. Vì thế, dù Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa nắm quyền thì cũng đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản; dân chủ ở Mỹ không phải thứ gì khác ngoài nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ dành cho thiểu số người giàu có trong xã hội. Điều này cũng dễ hiểu, tại sao ở Mỹ, bên cạnh một xã hội với thiểu số những người có cuộc sống xa hoa, hào nhoáng thì vẫn còn tồn tại một xã hội hoàn toàn đối lập, gồm hàng chục triệu người đang phải sống trong sự bất công, thất nghiệp, đói nghèo, bệnh tật và không được là chủ, làm chủ,... Chính người Mỹ - Giáo sư Trường Đại học In-đi-a-na, Pôn Mi-slơ (Paul Mishler) đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng này: Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học,... đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra; nước Mỹ tự xưng là đa đảng, nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, cho dù là Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ. Như vậy, thực chất luận điệu cốt yếu nhất “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để chuyển từ chế độ “toàn trị” sang “dân chủ”, để có “dân chủ và phát triển” là mang tính chất mị dân, phản động, hết sức nguy hiểm, bởi rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người có nhận thức hạn chế; từ đó, có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi, phân tâm trong xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu này hướng vào xóa bỏ, gây nên những khó khăn nhất định trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đe dọa mất ổn định chính trị - xã hội gây mầm cho mâu thuẫn và xung đột xã hội chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Mục tiêu của các thế lực thù địch khi cổ xúy cho cái gọi là “dân chủ” là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ thành quả cách mạng, hướng lái đất nước theo nền dân chủ tư sản, tước đi quyền làm chủ của nhân dân đã giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ. Để không xảy ra những hậu quả tai hại đó, thì ở Việt Nam hiện nay nhất thiết không cần và không thể chấp nhận cái gọi là “dân chủ” mà các thế lực thù địch thường xuyên rêu rao, kích động!

ĐẠI HỘI KHÔNG PHẢI LÀ NƠI CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN


Thời gian qua, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc trong đấu tranh chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh trước pháp luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật, kể cả đương chức hoặc đã nghỉ hưu theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ yếu kém, không đủ phẩm chất, năng lực, quan liêu, sách nhiễu nhân dân đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp của Đảng được thực hiện trên cơ sở phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương; coi trọng chất lượng, hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại hội là dịp để ta sàng lọc cán bộ chứ không chỉ bàn phương hướng. Ai xứng đáng thì làm, không thì thôi, không sợ thiếu cán bộ”. Công tác nhân sự được thực hiện đúng điều lệ, quy chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; cán bộ phải tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Việc bầu ra cơ quan lãnh đạo các cấp được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm tạo môi trường thực sự dân chủ trong quá trình chuẩn bị nhân sự và trong bầu cử tại đại hội... chứ không thể để gia tăng tình trạng  “con vua thì lại làm vua” hay là việc “củng cố hay thâu tóm quyền lực” như các thế lực thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.
Tuy nhiên, cũng phải nghiêm túc nhìn nhận, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong công tác cán bộ thời gian qua. Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt công tác cải cách hành chính, đổi mới công tác đánh giá, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, nhưng kết quả chưa đạt yêu cầu đặt ra. Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ đạt được nhiều kết quả tốt, nhưng trên thực tế có nhiều cán bộ có đức, có tài, có triển vọng chưa được đưa vào quy hoạch. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn quy hoạch theo chức danh. Việc sắp xếp, bố trí giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc hoặc bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người thân, họ hàng của lãnh đạo còn diễn ra ở một số bộ, ngành, địa phương. Công tác giám sát của các cơ quan chức năng và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên ở một số nơi còn lỏng lẻo nên vẫn còn có cán bộ lãnh đạo, quản lý thoái hóa, biến chất, tham nhũng, hách dịch với nhân dân chưa được xử lý kịp thời.
Thực tế đó đòi hỏi các cơ quan chức năng cần tiếp tục xây dựng được đội ngũ cán bộ chiến lược “vừa hồng, vừa chuyên”, có đủ tâm, đủ tầm, đủ tài để lãnh đạo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của cách mạng. Để đạt được mục tiêu này, cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong công tác cán bộ. Cần xây dựng bộ khung tiêu chuẩn cho tất cả chức danh trong bộ máy hành chính nhà nước, cấp nào ràng buộc tiêu chuẩn chức danh ấy. Trong đánh giá cán bộ, phải lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân đối với cán bộ làm thước đo chủ yếu. Cần tiếp tục thực hiện cơ chế thi tuyển các chức danh bổ nhiệm bảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và cạnh tranh lành mạnh, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhiều cơ quan chức năng và nhân dân để lựa chọn những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo. Có cơ chế tranh cử đối với các chức danh bầu cử bằng cương lĩnh, chương trình hành động thuyết phục. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như "chạy chức", "chạy quyền" hoặc hình thức, chiếu lệ trong lựa chọn, bố trí cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải đúng nguyên tắc, dân chủ, minh bạch, công khai, công tâm, khách quan. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cải tiến chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ hợp lý bảo đảm cho cán bộ, đảng viên sống tốt bằng thu nhập chính đáng của mình. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cốt cán theo hướng hiện đại, chuẩn hóa chuyên sâu; coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành; gắn đào tạo cơ bản tại trường và bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn để đánh giá, tuyển chọn, tạo nguồn nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất đạo đức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cần gắn kết chặt chẽ đào tạo với sử dụng đúng chuyên môn được đào tạo. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, sử dụng cán bộ, qua đó kịp thời xử lý tiêu cực, đồng thời phát hiện, thay thế cán bộ yếu kém bằng những người có đức, có tài, có đủ phẩm chất, năng lực.



NHẬN DIỆN ĐÚNG VÀ CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ



Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những sự kiện “nóng” xảy ra để quy chụp, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, kích động tâm lý chống đối, kêu gọi quần chúng tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự.
Một trong những sự kiện “nóng” được chúng “khuấy” lên trong thời gian qua là việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 08 Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên vùng biển Nam Biển Đông, gần bãi Tư Chính, từ ngày 3-7 đến ngày 7-8-2019 và trong tháng 4/2020 khi cả thế giới đang tập trung phòng chống dịch bệnh Covid-19 Trung Quốc đã xây dựng trung tâm nghiên cứu... trên biển, đảo.
Dựa vào các tình hình trên, các thế lực thù địch, phản động tán phát nhiều tài liệu, gồm những bài viết, video clip, hình ảnh có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách “3 không” và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi và kích động sự chống phá của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin tình hình, do ngộ nhận.
Trước sự việc trên, vấn đề cơ bản là phải nhận thức rõ bản chất sự việc trên một số điểm cơ bản như sau:
Một là, Chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại
Trong xu thế hiện nay, các quốc gia đều có xu hướng vừa hợp tác, vừa đấu tranh, kể cả trong quan hệ song phương và đa phương; những điểm bất đồng giữa các quốc gia, dân tộc đều được giải quyết trên nền tảng hòa bình, đối thoại, cùng nhau tìm giải pháp chung và trên nền tảng nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế. Dĩ bất biến, ứng vạn biến, trong bối cảnh Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn giữ được chủ trương: “Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hoà bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển”. Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững nguyên tắc không thể bác bỏ - chủ quyền quốc gia.
Chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh kiên quyết, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Đồng thời, duy trì lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh “hòa bình” không để xảy ra xung đột vũ trang. Bên cạnh đó, thường xuyên thông tin kịp thời tình hình diễn biến đến nhân dân, quản lý chặt chẽ tình hình an ninh trật tự và làm tốt công tác định hướng tư tưởng cho nhân dân.
Ngược dòng lịch sử từ khi dựng nước và giữ nước cho đến ngày nay, đất nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Những cuộc chiến tranh đó đều đem đến những mất mát, tổn thất to lớn không thể bù đắp. Nhân dân ta cần hòa bình để ổn định, xây dựng và phát triển đất nước nên cần có chủ trương, đường lối đúng đắn, mọi sai lầm trong đường lối đều phải trả giá đắt, đều mang lại đau khổ cho nhân dân, nhất là khi đẩy đất nước vào chiến tranh.
Dân tộc Việt Nam vốn yêu chuộng hòa bình, ghét chiến tranh, chỉ khi tình thế bắt buộc mới phải đứng lên cầm súng đánh đuổi kẻ thù bảo vệ chính nghĩa, phẩm giá của dân tộc, không chịu khuất phục trước bất kỳ thế lực thù địch nào dù chúng mạnh đến đâu.
Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông, nhờ đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn bảo đảm và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại.
Hai là, chính sách “3 không” của Việt Nam vẫn hoàn toàn đúng đắn
Trước sự kiện vi phạm của tàu Trung Quốc và các động thái xâm lấn trên biển, đảo... các thế lực thù địch đã công kích, đòi Việt Nam phải thay đổi chính sách “3 không”, tiến đến hợp tác toàn diện, là đồng minh của Mỹ, Nhật Bản… để chống lại hành động xâm phạm chủ quyền từ phía Trung Quốc.
Thực tiễn cho thấy, mọi hành động của các quốc gia, xét đến cùng đều bắt nguồn từ lợi ích, lợi ích cao nhất, tối thượng nhất là lợi ích quốc gia, dân tộc. Đặc biệt, với các quốc gia tư bản chủ nghĩa, nếu không có lợi ích, Việt Nam là đối tác toàn diện, là đồng minh của họ, đang bị các quốc gia khác đe dọa chủ quyền, họ cũng chẳng lên tiếng, huống hồ là giúp đỡ. Lịch sử cho thấy, nhiều quốc gia đã bị các nước lớn “đi đêm” mặc cả với nhau trên lưng các quốc gia khác, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của các nước nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia họ, trong đó có Việt Nam. Do đó, với chính sách “3 không: không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Đảng, Nhà nước ta về quốc phòng nói chung, công tác đối ngoại quốc phòng nói riêng, mang bản chất chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng, hướng đến sự hòa bình, thịnh vượng cho đất nước, khu vực và thế giới. Chính sách quốc phòng, quân sự, xây dựng quân đội, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân của Việt Nam chỉ nhằm mục đích duy nhất là để bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không quên sự hợp tác, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; song từ xưa đến nay, cha ông ta luôn nhất quán tinh thần độc lập, tự chủ, lấy sức ta mà giải phóng cho ta, không dựa dẫm, ỷ lại, trông chờ duy nhất vào sự hỗ trợ từ bên ngoài để bị lệ thuộc, bị chi phối. Đảng ta luôn nhất quán quan điểm biện chứng trong đối tượng và đối tác, có hợp tác và có đấu tranh; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên.
Trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam luôn chủ động hội nhập và phát triển; tiến hành hội nhập sâu rộng trên các lĩnh vực, Việt Nam đã tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, diễn tập về an ninh phi truyền thống......; Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 80 nước, bao gồm tất cả các thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc…Quá trình hội nhập đó, Việt Nam vẫn giữ được chủ trương, đường lối và bảo đảm thực hiện tốt chính sách “3 không”, giữ đúng định hướng. Đến nay, chính sách “3 không” vẫn hoàn toàn đúng đắn.
Ba là, Quân đội nhân dân Việt Nam đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc
Các thế lực thù địch rêu rao: “Khi đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông, tại các vùng tranh chấp, Quân đội Việt Nam không dám nổ súng, không dám đấu tranh, để mặc Trung Quốc muốn làm gì thì làm…”. Những luận điệu đó là hoàn toàn xuyên tạc, không đúng sự thật, cố tình kích động gây căng thẳng tình hình với mục đích đẩy chúng ta vào cuộc đối đầu quân sự có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Thực tiễn cho thấy, trong suốt thời gian Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển, một trong những lực lượng thuộc biên chế của Quân đội Việt Nam luôn luôn có mặt 24/24h, thực hiện các hoạt động đấu tranh nhằm giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Lực lượng đó chính là Cảnh sát biển Việt Nam.... Trong mỗi tình huống, các phương án đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo luôn được lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam chuẩn bị, luyện tập nhuần nhuyễn và linh hoạt khi áp dụng vào thực tiễn đấu tranh, luôn giữ vững được định hướng, sự lãnh đạo của Đảng và tuân thủ nghiêm luật pháp quốc tế. Bên cạnh lực lượng Cảnh sát biển, các thành phần khác của lực lượng vũ trang Việt Nam cùng lực lượng kiểm ngư luôn luôn sẵn sàng thực hiện phương án để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Như vậy, có thể khẳng định mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta luôn vì lợi ích quốc gia dân tộc, các chính sách, biện pháp giải quyết trong các tình huống tranh chấp trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta thể hiện nhất quán nguyên tắc, mục tiêu đó. Chủ trương, đường lối đó cần được sự đánh giá, nhìn nhận khách quan từ mọi thành phần trong xã hội, nhất là thế hệ trẻ ngày nay.
Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi người dân đất Việt, hãy hiện thực hóa tinh thần đó bằng việc làm cụ thể để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, tăng cường mọi tiềm lực, sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới đấu tranh, phản bác lại các quan điểm phiến diện, siêu hình, xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Chúng ta là những người con đất Việt, mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần bảo vệ Tổ quốc.



CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC VAI TRÒ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG TA



Đã thành thói quen, cứ trước mỗi sự kiện lớn của đất nước, nhất là các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, trên một số trang mạng phản động, các thế lực thù địch lại đăng phát nhiều tin, bài xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương tập trung bàn về công tác quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ Đại hội XIII và một số nội dung quan trọng khác. Lợi dụng những yếu kém, bất cập của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng gia tăng chống phá với những giọng điệu bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc nguy hiểm.
Chúng cho rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ thời gian qua là do sai lầm trong công tác cán bộ của Đảng. Trước việc Đảng ta kiên quyết, xử lý nghiêm minh các sai phạm của hàng loạt cán bộ từ Trung ương đến cơ sở thời gian qua, chúng bóp méo, xuyên tạc rằng đó chỉ là các "phe cánh triệt tiêu nhau". Chúng trắng trợn xuyên tạc rằng, bản chất công tác cán bộ của Đảng ta là không dân chủ, thiếu minh bạch, làm theo kiểu “áo gấm đi đêm”, việc quy hoạch, sắp xếp cán bộ chỉ nhằm “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, “lợi ích nhóm”... Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những bức xúc của nhân dân trước tình trạng một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chính quyền các cấp tham nhũng, tiêu cực; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... để tung ra những bài viết mang tính chủ quan, phiến diện một chiều, quy chụp mọi sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cho đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.
Nguy hiểm hơn, chúng cho rằng mục đích của quy hoạch cán bộ không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích nhân dân mà chỉ là phục vụ "lợi ích nhóm", là bước chuẩn bị để các cán bộ đương chức “hạ cánh an toàn", chuẩn bị cho con em, "vây cánh" tiến thân... Từ đó chúng trắng trợn bịa đặt rằng, trong việc quy hoạch bố trí, sắp xếp cán bộ có sự "thương lượng", "thỏa hiệp" giữa các "phe cánh". Lại có kẻ lên mặt khuyên rằng: “Đảng tốt hay xấu, quan chức tốt hay xấu, người dân đều rõ cả. Do vậy, thay vì chống "luận điệu xuyên tạc"... thì Đảng nên tôn trọng các giá trị dân chủ-nhân quyền-pháp quyền và chứng minh Đảng trong sạch...”... Những giọng điệu thâm hiểm ấy ít nhiều đã tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta.
Những giọng điệu tuyên truyền, xuyên tạc về vai trò cán bộ và công tác cán bộ, nhất là nội dung Hội nghị Trung ương 9 là chiêu trò hết sức lố bịch, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đảng ta càng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ thì các thế lực thù địch, phản động càng gia tăng sự xuyên tạc chống phá. Những kết quả đạt được, những bài học rút ra từ thực tiễn càng tiếp thêm ý chí, quyết tâm để chúng ta tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; phát huy được trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Mặt khác, toàn xã hội cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.



CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG



Thời gian qua, trước các động thái của Trung Quốc trên Biển Đông, đặc biệt khi nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc tiếp tục mở rộng hoạt động tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, xây dựng trung tâm nghiên cứu.... trên biển, đảo, đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác lập phù hợp với các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ trương, biện pháp mềm dẻo, linh hoạt nhưng kiên quyết để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc..
Tuy nhiên, với âm mưu lợi dụng vấn đề tranh chấp biển Đông để chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động đã và đang tìm mọi cách để xuyên tạc chủ trương này, cho rằng chủ trương giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua hòa bình, đối thoại là sự “nhu nhược”, “hèn nhát” của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Gần đây, ở Hà Nội cũng diễn ra một buổi tọa đàm với chủ đề "Vùng biển Bãi Tư Chính và luật pháp quốc tế". Công bằng mà nói, về tình cảm yêu nước, mong muốn hiến kế cho Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đó là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, cần phân biệt sự hiến kế, kiến nghị xuất phát từ lòng yêu nước chân chính để đóng góp ý kiến cho Đảng, Nhà nước với việc lợi dụng vấn đề, nhân danh ý kiến, kiến nghị để gây nhiễu, làm phức tạp tình hình, với động cơ xấu.
Lợi dụng các sự việc trên và phát biểu, quan điểm, kiến nghị của một số người; trong đó, các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị có cả những người bất mãn..., đã lôi kéo nhân dân, kích động đẩy mạnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” viết bài xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; bôi nhọ, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước...
Luận điểm của chúng cho rằng, để tránh Trung Quốc có hành động xâm phạm thì Việt Nam phải kiện ra Tòa án Quốc tế như những gì mà Philippines đã làm trước đây. Chỉ khi Việt Nam đâm đơn khởi kiện, thể hiện rõ thái độ quyết liệt thì người dân mới có thể tin, chứ nay chỉ phản ứng mà chưa kiện thì chưa tin. Cùng với đó, chúng đòi Việt Nam phải thay đổi chính sách “3 không”, tiến đến hợp tác toàn diện, là đồng minh của Mỹ, Nhật Bản… để chống lại hành động xâm phạm chủ quyền từ phía Trung Quốc.. Rõ ràng, đây là kiểu đánh tráo khái niệm, vờ mượn dẫn chứng của nước ngoài khi kiện ra Tòa án Quốc tế để “vẽ đường” cho Việt Nam, để kích động tâm lý người dân khiến họ nghĩ rằng, trong xử lý vi phạm chủ quyền thì “phải kiện” mà không thấy được nguyên tắc, đường lối giải quyết phù hợp, đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta. Trong vấn đề biển Đông, chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh kiên quyết, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Đồng thời, duy trì lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh “hòa bình” không để xảy ra xung đột vũ trang. Bên cạnh đó, thường xuyên thông tin kịp thời tình hình diễn biến đến nhân dân, quản lý chặt chẽ tình hình an ninh trật tự và làm tốt công tác định hướng tư tưởng cho nhân dân.
Mặt khác, từ xưa đến nay, chính sách quốc phòng, quân sự, xây dựng quân đội, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân của Việt Nam chỉ nhằm mục đích duy nhất là để bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không quên sự hợp tác, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; song chúng ta nhất quán tinh thần độc lập, tự chủ, lấy sức ta mà giải phóng cho ta, không dựa dẫm, ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ từ bên ngoài để bị lệ thuộc, bị chi phối. Vì vậy, với chính sách “3 không: Không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Đảng, Nhà nước ta về quốc phòng nói chung, công tác đối ngoại quốc phòng nói riêng.
Đảng, Nhà nước ta luôn trân trọng những tình cảm, ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, từ trí thức, văn nghệ sĩ, các bậc lão thành đến thế hệ trẻ. Song, việc nhân danh yêu nước để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, miệt thị chính quyền, bôi nhọ, hạ uy tín của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá là không thể chấp nhận được.
Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam chúng ta cần phải nhìn nhận, phân tích đánh giá đúng tình hình để có hành động và lời nói đúng, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần vào giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, ổn định tình hình để phát triển bền vững trong tình hình hiện nay.