Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

HỌC THUYẾT MÁC-LÊNIN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ- XÃ HỘI LÀ KHOA HỌC, ĐÚNG ĐẮN

 

    Sự vận động, phát triển từ thời cổ đại đến nay của nhân loại và của lịch sử dân tộc Việt Nam là bằng chứng rõ ràng chứng tỏ rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, đúng đắn và phản ánh chính xác, khách quan lịch sử vận động, phát triển tiến bộ của toàn thể nhân loại, trong đó có dân tộc Việt Nam. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để tiếp cận nghiên cứu, giải thích, dự báo sự phát triển mang tính lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người nói chung, mỗi dân tộc nói riêng, trong đó có sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Học thuyết đó đã chỉ rõ:

    - Lịch sử phát triển của loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, trong đó sự phát triển của quan hệ sản xuất theo hướng tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất là cơ sở, trên đó xây dựng nên kiến trúc thượng tầng thích hợp.

    - Lịch sử loài người đã và đang trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội, là quy luật chung của sự phát triển của xã hội loài người; còn mỗi quốc gia dân tộc có thể bỏ qua một hay một vài hình thái nào đó trong điều kiện lịch sử - cụ thể của thời đại và dân tộc. Việt Nam bỏ qua sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ và hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử khách quan không thể phủ nhận.

    Như vậy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế - xã hội, mà còn phân tích làm nổi bật lên bản chất, quy luật vận động, những mâu thuẫn của chúng và dự báo sự sụp đổ tất yếu, sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng theo quy luật. Một cách lịch sử - tự nhiên, cũng như từ chế độ cộng sản nguyên thủy nhân loại bước lên chế độ chiếm hữu nô lệ rồi chế độ phong kiến tới chủ nghĩa tư bản, thì sau hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa ấy phải là một hình thái kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn, đó chính là cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là XHCN. Đó là một tất yếu lịch sử, hợp quy luật khách quan mà khoa học mácxít đã chỉ ra.

    nghĩa Mác - Lênin vì là khoa học và cách mạng triệt để nên nó giải quyết tất cả những vấn đề đặt ra của lịch sử , những yêu cầu tiến bộ của nhân loại cần lao, dù ở phương Đông hay phương Tây, như chính giá trị đích thực của bản thân nó. Thực tế lịch sử cho thấy, từ khi hình thành, phát triển và được xác lập vào cuối thế kỷ XIX, hệ thống các tư tưởng, quan điểm và những nguyên lý, quy luật kinh tế - xã hội mà hệ thống khoa học đó phát hiện ngày càng được chứng minh bằng thực tiễn cuộc sống, được thừa nhận rộng rãi và trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của giai cấp công nhân toàn thế giới, là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên các châu lục và của các đảng tiên phong, chân chính của giai cấp đó, không kể ở Việt Nam hay bất cứ quốc gia, dân tộc nào hay ở châu lục nào.

                                                                                                                                         Chủ lực

Quyet tam phong chong tham nhung cua Dang ta

Đảng Cộng sản Việt Nam và quyết tâm chính trị trong phòng, chống tham nhũng

          Sự thật từ hiệu quả và sự chuyển biến mạnh mẽ trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” ở Việt Nam thời gian qua, điển hình là vụ án AVG cùng nhiều vụ án trọng điểm do Trung ương chỉ đạo vừa qua là dẫn chứng sinh động bác bỏ luận điệu sai trái đó.
        Họ cho rằng: Tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền vì “Đảng vừa đá bóng, vừa thổi còi”; vì xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công; đã nhiều lần phát động chống tham nhũng, nhưng đều không thành công, tệ nạn lại càng gia tăng... Từ đó, họ kết luận cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công.
       Cần phải khẳng định rằng, những luận điệu trên không có cơ sở khoa học và hoàn toàn sai lầm về mặt lý luận và thực tiễn. Lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại, phát triển đều phải có chính đảng của mình hoặc phải chọn lấy chính đảng thích hợp với mình. Sự lựa chọn ấy chỉ được coi là đúng đắn, khi một mặt phải bắt nguồn sâu xa từ thực tiễn đất nước, từ truyền thống của dân tộc, từ ước vọng tha thiết của nhân dân; mặt khác, phải phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội, với xu thế vận động tất yếu của nhân loại tiến bộ. Theo đó, rõ ràng tệ tham nhũng không phải là những hiện tượng phản ảnh bản chất của chế độ. Nó cũng không phải là những căn bệnh nảy sinh do chế độ một đảng lãnh đạo dẫn đến mất dân chủ như một số người vẫn thường rêu rao.
Quốc gia dân tộc nào cũng vậy, trong từng thời điểm đều do một đảng cầm quyền. Khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền nhà nước đều là người của đảng đó; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, suy thoái vẫn xảy ra, kể cả các nước phát triển có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế, xã hội cao.
         Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng tuyệt đại đa số đều là những nhà cách mạng tự nguyện từ bỏ lợi ích bản thân, xả thân chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhiều tấm gương hy sinh oanh liệt của các nhà lãnh đạo, các cán bộ, đảng viên, mãi mãi lưu danh trong lịch sử vẻ vang của Đảng và dân tộc. Tuy nhiên, ngay từ đó, trong cuộc đấu tranh một sống, một chết dưới ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến, cũng đã có những người không chịu nổi thử thách gian nguy, tự rời bỏ hàng ngũ cách mạng, thậm chí đầu hàng địch, phản bội cách mạng. Những người thiếu kiên trung với cách mạng, có biểu hiện dao động, cầu an, Đảng đã thải loại họ. Nhưng đó chỉ là những trường hợp hết sức cá biệt. Đảng không vì thế mà yếu đi. Đảng càng trong sạch và ngày càng phát triển vững mạnh, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, tôn vinh vai trò lãnh đạo và tình nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng.
          Ở Việt Nam, thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã xuất hiện và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một tất yếu khách quan. Năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết, nên trong những ngày đầu gìn giữ chính quyền và độc lập dân tộc, Đảng đã tuyên bố tự giải tán, mở rộng Chính phủ dân tộc với sự tham gia của nhiều đảng phái đối lập, như: Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng); Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội)… Nhưng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các tổ chức đảng phái hoặc phản động “bán nước, cầu vinh”, hoặc không đưa ra được đường lối đúng đắn, không vì lợi ích của quốc gia, dân tộc nên lần lượt bị chính nhân dân loại bỏ.  Khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng cuốn gói chạy theo. Được sự tiếp tay của đế quốc Mỹ, nhiều đảng phái đã được chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam. Song, do mục đích chính trị của những đảng phái này là phá hoại tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động nên nhân dân Việt Nam đã đoàn kết đấu tranh loại bỏ những đảng phái chính trị đó. Cũng có một thời kỳ khá dài, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam đã tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này hoàn toàn tự nguyện giải tán. 
        Có một thực tế, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), biết bao cán bộ, đảng viên ngày đêm ở nơi xa xôi biển đảo, biên cương canh giữ chủ quyền đất nước; nhiều cán bộ, đảng viên dũng cảm chiến đấu trên mặt trận thầm lặng, giữ gìn an ninh chính trị và cuộc sống yên bình cho nhân dân; những cán bộ, đảng viên trực tiếp sản xuất vất vả trong nhà máy, trên đồng ruộng; những cán bộ, đảng viên lao động trí óc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo... đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung, không tính toán thiệt hơn, không đòi hỏi sự ưu ái cho riêng mình.
        Thời gian qua, công tác đấu tranh PCTN, suy thoái ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đạt những kết quả bước đầu quan trọng cả trong nhận thức và hành động. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thể chế quản lý kinh tế-xã hội và PCTN tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tương đối đồng bộ, toàn diện. Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác đấu tranh PCTN; đồng thời Quốc hội, Chính phủ cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần đấu tranh đẩy lùi tình trạng tham nhũng, suy thoái. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN được quan tâm, vai trò của báo chí trong PCTN bước đầu được phát huy, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân. Vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong PCTN được nâng lên.
        Việc xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ để PCTN được quan tâm. Cải cách hành chính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt những kết quả tích cực. Việc minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên đã được coi trọng thực hiện. Công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí, suy thoái được đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ nét. Tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị chuyên trách về PCTN từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả.
Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh; bước đầu khắc phục tình trạng án treo về tội phạm tham nhũng; từng bước chú trọng công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, với 11 hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã diễn ra, trong đó có đến 5 Hội nghị Trung ương (6, 7, 8, 9 và 11) có nội dung xử lý, kỷ luật cán bộ sai phạm, gần 60.000 cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật. Trong số 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật có cả Ủy viên Bộ Chính trị; Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; nguyên Phó thủ tướng; bộ trưởng và nguyên bộ trưởng; bí thư tỉnh ủy; nguyên bí thư tỉnh ủy...
         Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã và đang không ngừng xây dựng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế trong nền chính trị nhất nguyên. Nền chính trị nhất nguyên ở Việt Nam là do nhân dân Việt Nam lựa chọn từ chính thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam. Đó là độc lập, tự do cho dân tộc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển của mình; là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện của con người… Những thành tựu không thể phủ nhận đó đã khẳng định và ngày càng củng cố vững chắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
         Như thế, luận chứng vì xã hội Việt Nam thiếu dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo nên không thể chống tham nhũng thành công là thiếu căn cứ, không thuyết phục. Cần có cách đánh giá khách quan cả mặt làm được và mặt chưa làm được của cuộc đấu tranh chống tham nhũng những năm vừa qua, kể từ Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đến nay. Rõ ràng, mấy năm gần đây, tệ nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, nhưng đã ngăn chặn được sự lây lan. Điều đó nói lên, cuộc đấu tranh PCTN vừa qua tuy chuyển biến chậm, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, nhưng đã có kết quả buớc đầu. Đó là điều không thể phủ nhận. Viện dẫn một luận chứng không đúng sự thật để kết luận rằng, cuộc đấu tranh PCTN hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện đảng cầm quyền, độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam không thể thành công là điều phi lý.
        Cũng cần khách quan khẳng định rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có lúc phạm phải sai lầm, khuyết điểm; nhưng với bản chất của một đảng chân chính, một đảng cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, Đảng đã sớm nhận ra khuyết điểm và chủ động đưa ra các chủ trương, giải pháp khắc phục hiệu quả. Hiện nay, trong đấu tranh PCTN, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nhận diện rất cụ thể những biểu hiện suy thoái, xác định mục tiêu, quan điểm, các nhóm giải pháp và việc tổ chức thực hiện. Qua đó thể hiện Đảng xác định quyết tâm chính trị, cả xã hội có sự chuyển mình, cả hệ thống chính trị cùng toàn dân, toàn quân quyết tâm vào cuộc đấu tranh PCTN.
       Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Còn những việc làm, mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng. Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa lại có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong”(1). Theo đó, cuộc đấu tranh PCTN của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như việc “nhổ cỏ” đòi hỏi phải có thời gian, không thể một sớm, một chiều có thể khắc phục triệt để tệ tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và hệ thống chính trị, cùng sự đồng lòng, đoàn kết, đồng thuận của nhân dân, cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí dù còn nhiều khó khăn, vất vả, nhưng chúng ta tin rằng sự nghiệp ấy sẽ ngày càng thành công!

Cang lo muu do chong pha nha nuoc VN

Càng lộ rõ mưu đồ chống phá Nhà nước Việt Nam

       Tôi đọc bài “Màn kịch vụng về trên sân khấu chính trị hải ngoại” trên mục “Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của Báo Quân đội nhân dân trên internet. Là người đã có hơn 30 năm sống và làm việc trên đất Mỹ, hiểu về nhân quyền ở đất nước này và một số nước đã có dịp tiếp cận, tôi đồng tình với cách đặt vấn đề và lập luận 
      Trước Tết Nguyên đán Canh Tý 2020, khachs quan nhìn nhận, so với nhiều quốc gia trên thế giới, những tiến bộ về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam khá rõ nét. Có lẽ vì thiếu thiện chí với Việt Nam mà cái gọi là "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam" và một số tổ chức phi chính phủ ở Mỹ thường đội lốt “bảo vệ nhân quyền” để thực hiện những việc làm và lời nói không chính xác, gây khó khăn cho thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam... Hành động trao "giải thưởng nhân quyền" cho những kẻ vi phạm pháp luật đã và đang thụ án tù tại Việt Nam đúng là một trò hề... Thực chất, đây vẫn là chiêu trò kích động những người thiếu bản lĩnh, kém hiểu biết nhằm chống phá Việt Nam. Cùng với việc báo chí, truyền thông lên tiếng phản bác, định hướng dư luận..., theo tôi, thông qua kênh ngoại giao, Chính phủ Việt Nam cần có biện pháp đấu tranh, lên án mạnh mẽ những hành động này.

       Hành động trao cái gọi là "giải thưởng nhân quyền" cho một số nhân vật đã và đang bị tòa án kết tội "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" hoặc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” của cái gọi là "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam" là trái với công ước và nguyên tắc quốc tế. Tại Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 đã quy định về nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Sau đó, tại Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác tiếp tục được ghi nhận rõ ràng hơn.
Pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: Tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Như vậy có thể thấy hành động lợi dụng nhân quyền của cái gọi là "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam" đã vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, vi phạm trắng trợn pháp luật Việt Nam.

Dap tat ngay nhung tin don ac y

Dập tắt ngay những tin đồn ác ý!

        Tối 19-3, cư dân mạng xôn xao bàn tán, thậm chí có người tỏ ra hoang mang lo lắng khi trên mạng xã hội (MXH) xuất hiện tin đồn TP Hà Nội sẽ thực hiện phong tỏa từ 24 giờ 19-3. Một trong những lý do xuất phát từ tin đồn này là có đối tượng lợi dụng ý kiến của lãnh đạo TP Hà Nội đưa ra khuyến nghị người dân trong thời điểm dịch Covid-19 đang bùng phát nên hạn chế ra đường khi không cần thiết, không tụ tập đông người ở nhà hàng, vũ trường, quán cà phê… nhằm góp phần bảo vệ sức khỏe, gia đình và cộng đồng.
      Trước tin đồn thất thiệt đó, sáng qua (20-3), trả lời phỏng vấn Đài Truyền hình Việt Nam, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung, Trưởng ban chỉ đạo công tác phòng, chống dịch Covid-19 TP Hà Nội chính thức bác bỏ thông tin trên; đồng thời khẳng định Hà Nội đang kiểm soát tốt các diễn biến của dịch Covid-19. Những thông tin có liên quan đến dịch bệnh đều được Ban chỉ đạo của thành phố cập nhật và thông tin thường xuyên, liên tục, công khai, minh bạch để mọi người dân được biết và chung tay góp sức cùng với các cấp chính quyền chủ động phòng, chống dịch. Thành phố tiếp tục thực hiện quyết liệt các biện pháp tối ưu để bảo đảm an toàn sức khỏe và tính mạng của người dân; giảm đến mức tối đa sự lan truyền của dịch trên địa bàn; bảo đảm đủ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng hóa cho người dân Thủ đô trong mọi tình huống.
         Việc người đứng đầu chính quyền Thủ đô kịp thời lên tiếng bác bỏ tin đồn phong tỏa Hà Nội là rất kịp thời, đúng lúc, được dư luận hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ. Động thái này thêm một lần khẳng định, Đảng bộ, chính quyền và các cơ quan, lực lượng chức năng của Hà Nội đã, đang và sẽ làm hết sức mình vì sự an toàn, sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Hơn ai hết, những người “đứng mũi chịu sào” của thành phố luôn thấu hiểu rằng, phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả dịch Covid-19 trên địa bàn Thủ đô là góp phần bảo vệ “đầu não” Trung ương, bảo vệ “trái tim” của cả nước. Vì vậy, Hà Nội phải luôn chủ động thực hiện mọi biện pháp quyết liệt, hữu hiệu để giảm tới mức thấp nhất thiệt hại từ đại dịch nguy hiểm này.
        Những ngày qua, công luận đã nhiều lần lên tiếng, bóc mẽ những đối tượng đưa tin giả, tin sai sự thật, tung tin thất thiệt về dịch Covid-19 trên MXH khiến nhiều người dân hoang mang, gây bất ổn tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tính đến ngày 14-3, cơ quan chức năng trong cả nước đã xác minh, làm việc với 654 trường hợp đưa tin sai sự thật, xử phạt hành chính hơn 146 đối tượng. Trong số đó, Công an TP Hà Nội đã lập hồ sơ xử lý 44 đối tượng có hành vi đăng tin, bài sai sự thật về dịch Covid-19 trên MXH, xử phạt hành chính gần 200 triệu đồng. Như vậy, tỷ lệ đối tượng trên địa bàn Hà Nội tung tin thất thiệt bị xử phạt chiếm gần 30% số đối tượng vi phạm trong cả nước. Con số này phần nào cho thấy Hà Nội là “mảnh đất màu mỡ” cho nhiều đối tượng bất chấp lương tâm, đạo lý, pháp luật để phao tin đồn nhảm về dịch bệnh, làm vẩn đục môi trường thông tin, gây bất an lòng người và phân tâm dư luận xã hội.
         Có thể nhiều đối tượng tung tin giả, tin sai sự thật trên MXH chỉ nhằm câu like, câu view, thích được nhiều người biết đến để được nổi tiếng theo kiểu “đốt đền”; cũng có kẻ cố ý phao tin thất thiệt nhằm lôi kéo, kích động “tâm lý đám đông” khiến nhiều người phải đổ xô đi mua sắm, tích trữ hàng hóa rồi tranh thủ trục lợi. Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng, việc hàng nghìn người dân sáng 7-3 kéo nhau ùn ùn đến các chợ, cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại để mua sắm, tích trữ lương thực, thực phẩm, gây ra cảnh náo loạn chưa từng thấy ở nhiều địa điểm kinh doanh là có “bàn tay vô hình” của những kẻ đầu cơ, trục lợi. Thậm chí có cả đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn lợi dụng thời điểm dịch Covid-19 đang hoành hành để tung tin thất thiệt nhằm chống phá sự lãnh đạo, điều hành của Đảng bộ, chính quyền và các cơ quan chức năng TP Hà Nội.
Dù có động cơ, mục đích, lý do gì, việc tung tin giả, sai sự thật trong thời điểm dịch bệnh hiện nay đều phải phê phán kịch liệt và xử lý kiên quyết, triệt để những đối tượng vi phạm. Như nhiều người từng nhận định, virus gây ra dịch Covid-19 rất nguy hại, nhưng cũng không nguy hại bằng những virus tin giả trên MXH do tốc độ lây lan của nó khủng khiếp gấp bội lần virus SARS-CoV-2.
Trong hoàn cảnh đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh, trách nhiệm của mỗi chúng ta không dừng lại ở việc đồng lòng đấu tranh, lên án, tẩy chay những virus tin giả đang hằng giờ, hằng ngày xuất hiện tràn lan trên MXH mà cần phải đề cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ công dân trong việc tiếp nhận, sàng lọc, thu nạp những thông tin trung thực, tích cực, lành mạnh, nhân văn trên không gian mạng. Mặt khác, để góp phần thắng lợi trong “cuộc chiến” đẩy lùi dịch Covid-19, mọi người, trước hết là cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải trở thành những “chiến sĩ thông tin” làm tốt vai trò chia sẻ, nhân rộng, lan truyền những tin tức chính thống, tin cậy, chính xác từ Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế, các cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm, góp phần làm cho những thông tin tốt, thông tin tích cực có khả năng chi phối, lấn át những thông tin xấu, thông tin tiêu cực. 
        “Cuộc chiến” phòng, chống đại dịch Covid-19 ở nước ta nói chung, ở Hà Nội nói riêng đang vào thời điểm cam go, quyết liệt. Từ những kết quả bước đầu đã đạt được, cùng với những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ, sáng tạo, sát tình hình thực tế, chúng ta đã, đang kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh và có đủ khả năng, nguồn lực, kinh nghiệm để chiến đấu với “giặc Covid-19”. Do vậy, bên cạnh sự nỗ lực vào cuộc khẩn trương, quyết liệt của các cấp, các ngành từ Trung ương tới cơ sở, sự đồng lòng, chung tay góp sức của mỗi người dân chính là tạo nên sức mạnh tổng hợp để biến thành “vũ khí” sắc bén nhằm sớm loại trừ dịch bệnh này ra khỏi đời sống xã hội.

Giu gin ban sac VH bao ve nen tang tu tuong tinh than XH


Giữ gìn bản sắc văn hóa-bảo vệ nền tảng tinh thần xã hội

      Năm 1991, Liên bang Xô viết chính thức sụp đổ. Đó là mất mát vô cùng lớn lao đối với phong trào cộng sản trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đó cũng là bài học kinh nghiệm rất có giá trị đối với những đất nước tiếp tục vững bước tiến lên theo con đường CNXH như Việt Nam. Một trong những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc Liên bang Xô viết sụp đổ là sự xâm thực về văn hóa, dẫn tới thay đổi về nền tảng tinh thần xã hội.
       năm 1958, Liên Xô và Hoa Kỳ thống nhất việc tổ chức hai cuộc triển lãm tại thành phố New York và thủ đô Moscow nhằm thúc đẩy giao lưu văn hóa và sự hiểu biết lẫn nhau. Đây được coi là một sự kiện gây chấn động thế giới, bởi hai quốc gia siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ đối nghịch về nền tảng chính trị và có những khác biệt rất lớn về văn hóa. Sau này, triển lãm của Liên Xô tại thành phố New York không được đề cập nhiều nhưng triển lãm của Hoa Kỳ lại gây tiếng vang đáng kể.
       Tại công viên Sokolniki ở thủ đô Moscow, Hoa Kỳ đã quảng bá văn hóa, công nghệ cũng như các sản phẩm tiêu dùng, từ ô tô, đồ uống đến nghệ thuật, thời trang và kiến trúc. Nhiều nhà tài trợ và doanh nghiệp lớn nổi tiếng của xứ cờ hoa, như: Disney, Dixie Cup Inc, IBM, Pepsi… đều có gian hàng trưng bày sản phẩm. Ngày 24-7-1959, trước khi triển lãm Moscow chính thức khai mạc, Phó tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã mời nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev tham quan các gian hàng. Họ dừng lại trước một căn bếp-nơi trở thành “hiện trường” cho cuộc tranh luận nổi tiếng trong chiến tranh Lạnh. Căn bếp này do các nhà thiết kế Hoa Kỳ dựng lên với đầy đủ tiện nghi, như: Máy rửa bát, lò nướng bánh mì, máy xay sinh tố… dường như là để “khoe” mọi người dân Mỹ đều có thể sở hữu căn bếp như thế. Lãnh đạo Liên Xô tỏ ý không vừa lòng, nói rằng các gia đình Liên Xô cũng có những thứ này. Cuộc tranh luận bắt đầu, chủ đề được mở rộng đến các vấn đề chính trị như chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản (CNTB), chiến tranh hạt nhân... Ngày hôm sau, "Cuộc tranh luận trong bếp" là tin tức xuất hiện trên trang nhất của các tờ báo ở Hoa Kỳ. Và điều thú vị nhất của “Cuộc tranh luận trong bếp” là sau khi nó kết thúc, Nixon và Khrushchev cùng uống Pepsi. Một nhiếp ảnh gia đã bắt được khoảnh khắc Nixon và Khrushchev đứng cạnh nhau trong khi nhà lãnh đạo Liên Xô thưởng thức nước ngọt có ga của một thương hiệu… phương Tây.
        Cùng các cuộc chiến về chính trị, ngoại giao, văn hóa là mũi nhọn được các thế lực thù địch phương Tây sử dụng nhằm tiêu diệt nhà nước Nga Xô viết. Dưới thời nhà lãnh đạo Khrushchev, các thế lực chống cộng và chính quyền phương Tây căn cứ vào tình hình đã tăng cường thực thi “diễn biến hòa bình”, âm mưu phương Tây hóa, phân hóa Liên Xô. Đến thời Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan (hai nhiệm kỳ-1981-1989), Chính phủ Hoa Kỳ càng đẩy mạnh chủ trương ngoại giao cân bằng, thẩm thấu tư tưởng, văn hóa với Liên Xô và các nước Đông Âu qua truyền bá quan điểm phương Tây về tự do, nhân quyền với hạt nhân là lợi ích cá nhân. Reagan cho rằng, trong cuộc đấu tranh giữa CNTB và CNXH, nhân tố quyết định cuối cùng không phải là đọ sức đạn hạt nhân và tên lửa mà là cuộc đọ sức của ý chí và tư tưởng.           Ở chiều ngược lại, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô khi đó là Mikhail Gorbachev lại ra sức cổ súy cho cái gọi là tư duy mới chính trị quốc tế. Lợi dụng thời cơ đó, các thế lực chống cộng ở phương Tây tài trợ cho một số cơ quan nghiên cứu lập phương án đánh vào những tình cảm nhân dân Liên Xô dành cho Lênin và Stalin. Các tác phẩm chống Lênin, Stalin xuất hiện đầy rẫy trên báo, đài phát thanh, đài truyền hình, phim ảnh... Họ kích động nhân dân Liên Xô đề nghị mai táng thi hài Lênin. Phương Tây còn ca tụng tư duy cải tổ của Gorbachev, nhằm làm suy yếu và hủy bỏ uy tín của Đảng Cộng sản Liên Xô, của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), tuyên truyền cho cái gọi là cuộc sống tươi đẹp ở phương Tây và tính ưu việt của chế độ tư bản. Phương Tây rất chú trọng dùng lối sống tiêu dùng để tác động và ảnh hưởng đến đông đảo người dân Liên Xô, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên.
        Sau này, tổng kết về “thắng lợi” của chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Liên Xô và Đông Âu, năm 1988, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã xuất bản cuốn sách “1999-Chiến thắng không cần chiến tranh”. Trong đó, R.Nixon xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!".
        Từ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cùng với âm mưu xâm lăng nước ta bằng quân sự, các nước đế quốc còn thực hiện âm mưu xóa bỏ những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh này ở nước ta, theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội ngày càng diễn ra rất phức tạp, gay go và quyết liệt.
       Nguy cơ “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng diễn ra từ hai góc độ: Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và xu hướng “tự chuyển hóa” của những đối tượng yếu kém bản lĩnh chính trị trước sự biến động của xã hội.
      Ở góc độ chống phá của các thế lực thù địch, biểu hiện rõ nét nhất là hoạt động xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản thực dụng, trụy lạc, tôn thờ đồng tiền là trên hết, sống ích kỷ, phi đạo đức. Cùng đó, các thế lực thù địch luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này.
Trong nhiều năm qua, đã có không ít văn nghệ sĩ lạc đường, từ bỏ lợi ích của quốc gia, dân tộc, chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị dân chủ, tự do tư sản. Thậm chí, đã xuất hiện những sáng tác miêu tả cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta mang một màu đen tối, chết chóc, bi kịch, vô nghĩa; phủ định những sáng tạo văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ chiến tranh, coi đó là “minh họa”, là tô hồng, là cao hơn, là đứng trên hiện thực. Chúng ta không phủ nhận những hạn chế lịch sử của mảng văn học, nghệ thuật trong chiến tranh nhưng không thể nhân danh đổi mới để bôi nhọ cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc bằng việc chỉ miêu tả mặt đen tối, sự chết chóc và tha hóa con người trong chiến tranh. Khuynh hướng này chỉ là phiến diện, chưa trung thực với lịch sử. Với vai trò văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, những sản phẩm đội danh văn hóa này đặc biệt nguy hiểm, có nguy cơ làm tha hóa thế hệ trẻ, tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển.
       Ở góc độ chủ quan những người “tự chuyển hóa”, khi đất nước mở cửa sâu rộng với thế giới, những yếu tố có khả năng tác động tới sự biến đổi về xã hội ùa vào theo là vấn đề tất yếu. Đó bao gồm hai sản phẩm cơ bản: Văn hóa và tiêu dùng. Cả hai sản phẩm này, dù được nhập khẩu chính ngạch nhưng đều mang tính hai mặt, đặc biệt với sản phẩm văn hóa. Những sản phẩm văn hóa được phép lưu hành đều mang những giá trị nhất định về chân-thiện-mỹ, cổ vũ lối sống lành mạnh, tốt đẹp. Tuy nhiên, đi kèm theo đó là việc phổ biến những giá trị văn hóa, hình ảnh xã hội khác biệt, thậm chí đi ngược với những giá trị văn hóa truyền thống của người Việt. Dưới góc độ hội nhập, chúng ta không thể không tiếp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới nhằm bổ sung, làm giàu thêm nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nếu việc tiếp thu thiếu chủ động, không đủ bản lĩnh, năng lực để chỉ lựa chọn cái tốt, cái có ích cho đời sống văn hóa thì quá trình hội nhập về văn hóa sẽ trở thành nguy cơ làm “biến màu” nền văn hóa bản địa.
Đối với sản phẩm tiêu dùng, là những thứ vô cùng gần gũi trong cuộc sống mỗi người, như: Cái ăn, cái mặc, cái làm đẹp, sự tác động về văn hóa diễn ra âm thầm nhưng không kém phần mạnh mẽ. Bởi lẽ, bất cứ lĩnh vực nào, sản phẩm gì trong xã hội đều ẩn chứa yếu tố văn hóa. Một chiếc quần Jean gắn với hình ảnh chàng Cowboy miền Tây nước Mỹ. Một chiếc ô tô Mercedez gắn với văn hóa Đức. Một sản phẩm tiêu dùng tốt, bền, giá cả phải chăng thường gắn với hình ảnh đất nước Mặt trời mọc… Khi quen thuộc với những sản phẩm tiêu dùng ấy, đồng nghĩa với việc người sử dụng trở nên “thân thiết” với nền văn hóa làm ra chúng. Từ đó, tâm lý sùng bái hàng ngoại có thể tiếp biến thành sùng bái văn hóa ngoại.
         Những tác động của văn hóa lên nền tảng tư tưởng xã hội thường không mang tính chất tức thời mà là một quá trình “mưa dầm thấm lâu”. Tuy nhiên, sự chuyển biến chậm rãi đó lại có khả năng thay đổi bền vững tư duy, tình cảm của mỗi người. Vì thế, nếu thiếu cảnh giác, để những tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai du nhập, thẩm thấu sâu vào đời sống xã hội Việt Nam, chúng ta sẽ phải trả cái giá rất đắt. Thậm chí, có thể là cả việc lạc mất con đường tiến lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân đã lựa chọn.

Nhung ban tay den khay dao phap luat

Những “bàn tay đen” hòng khuấy đảo luật pháp Việt Nam

      Do tính chất phức tạp của vụ án nên ban đầu, tòa dự kiến tiến hành xét xử trong 10 ngày. Nhưng mới bước sang ngày thứ 4 thì toàn bộ các bị cáo đã nhận tội và xin được sự khoan hồng của pháp luật. Nhiều bị cáo đã nói rõ trước tòa, điển hình là bị cáo Lê Đình Doanh: “Trong thời gian nằm trong trại tạm giam đã nghĩ về hành động của mình và nhận ra lỗi lầm mà mình đã gây nên, do đó bị cáo thành tâm sám hối. Đề nghị các luật sư thôi không bào chữa cho bị cáo nữa...”. Đây là chuyện rất bình thường trong các vụ án, bởi sau những đêm nằm ngẫm nghĩ và khi được tòa phân tích thì các bị cáo đã nhận ra tội lỗi của mình, mong muốn sửa chữa, chuộc lại lỗi lầm, bỏ con đường tối, tìm về đường sáng.
      Theo dõi vụ việc và vụ án này, chúng tôi nhận thấy, trong suốt thời gian diễn ra vụ việc cho đến khi vụ án xảy ra, một số cơ quan báo chí nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam và một số trang mạng xã hội được điều hành bởi một số người cơ hội chính trị, mang danh “đấu tranh cho dân chủ” đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc về tính chất vụ việc và vụ án. Họ cho rằng sự việc xảy ra rạng sáng 9-1-2020 là sự “đàn áp” của chính quyền đối với những người gọi là “nông dân” (vấn đề này chúng tôi sẽ nêu rõ trong các bài viết sau), rồi từ đó kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia điều tra, can thiệp, tác động... hòng chính trị hóa vụ án hình sự này nói riêng và các vụ án hình sự ở nước ta nói chung. Họ hy vọng với sự tham gia, can thiệp, tác động của một số tổ chức quốc tế tới chính quyền của một số nước thì có thể sẽ làm thay đổi hệ thống pháp luật và nền tư pháp, dẫn tới sự thay đổi về thể chế chính trị của Việt Nam.

Giu vung niem tin, day lui su xuyen tac

Giữ vững niềm tin, đẩy lùi sự xuyên tạc

       Hiện nay, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, việc các thế lực thù địch xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước, chế độ không phải là điều lạ. Càng gần ngày diễn ra đại hội Đảng, hoạt động chống phá càng phức tạp với thủ đoạn tinh vi nhằm chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết, lung lạc niềm tin trong nhân dân.
      Sinh thời, Bác Hồ luôn xử lý tình huống phức tạp một cách chuẩn xác, uyển chuyển, tinh tế với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Sau Cách mạng Tháng Tám, nước ta thù trong giặc ngoài, khó khăn chồng chất, nhưng Người tin vào sức mạnh của nhân dân, chủ trương đại đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Người chú trọng củng cố niềm tin cho nhân dân, cán bộ đảng viên trước khó khăn, thử thách. Đây chính là sức mạnh nền tảng giúp giữ vững chế độ. Tiếng nói tích cực của nhân dân ủng hộ cách mạng, chế độ đủ sức áp đảo các thông tin tuyên truyền nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ.
      Người căn dặn: “Cách mạng phải lấy sức mạnh trong lòng dân”. Để xây dựng sức mạnh lòng dân, Đảng ta phải có những hành động thực tế mang lại lợi ích thiết thực, tôn trọng quyền dân chủ và làm chủ của dân. Chính nhân dân sẽ là người làm chủ, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng. Bác nhấn mạnh phải làm sao cho dân tin tưởng, dân hiểu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước thì được dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ.
       Những luận điệu xuyên tạc, lừa mị, mê hoặc, kích động, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nước ta thực chất là chống lại nhân dân. Chúng ta cần phải biết rõ, tỉnh táo, chủ động phản bác lại. Lấy cái tích cực, đúng đắn, chính đáng chống lại cái tiêu cực, xuyên tạc, sự giả dối; lấy sự “quang minh chính đại”, “dĩ công vi thượng”, đặt việc dân việc nước lên hàng đầu như lời Bác dạy để đẩy lùi cái xấu. Một khi Đảng được dân tin yêu thì không thế lực nào có thể chống phá. Chính sự đoàn kết, đồng thuận giữa nhân dân với Đảng là yếu tố quyết định. Đảng vì dân mà tồn tại, dân tin Đảng, bảo vệ Đảng chính là bảo vệ cuộc sống của chính mình.
       Cán bộ, đảng viên phải giữ vững niềm tin, tiên phong gương mẫu. Mỗi người dân có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, chế độ, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật. Hiểu biết về pháp luật để tự bảo vệ mình, đồng thời bảo vệ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta phải tỉnh táo phân biệt những thông tin đúng, chính thống để giữ vững niềm tin, hành động đúng đắn, tránh rơi vào luận điệu xuyên tạc của kẻ thù.

GÓP PHẦN NHẬN DIỆN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Ở VIỆT NAM

 


Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế thế giới, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tề, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Trong bối cảnh đó, xuất phát từ bản chất, âm mưu của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế chúng càng ra sức phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam, bằng những phương sách giành “chiến thắng không cần chiến tranh”. Có thể nhận diện các mưu đồ đen tối của chúng qua một số vấn đề sau:

Trước hết, mục tiêu mà các thế lực thù địch nhằm đến là ngăn cản tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thứ hai, các thế lực thù địch đẩy mạnh việc truyền bá hệ tư tưởng tư sản và lối sống phương Tây, sử dụng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý để bôi nhọ và tiến tới hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, các thế lực thù địch thực hiện việc chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lôi kéo và móc nối, trợ giúp cho các lực lượng chống đối chủ nghĩa xã hội, kích động ly khai.

Thứ tư, một số nước đặt điều kiện chính trị cho những trợ giúp về kinh tế, văn hóa, xã hội… tiến tới can thiệp vào công việc nội bộ của ta.

    Qua những âm mưu, thủ đoạn chính của “diễn biến hòa bình” như trên, cho chúng ta thấy sự hiện diện nguy hiểm của nó đối với nước ta hiện nay. Chính vì vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” chính là đấu tranh vì sự tồn vong của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, nhận diện đúng và đấu tranh thắng lợi mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”.

TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 


Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hôi XII Đảng ta khẳng định: Năm năm qua, nắm bắt thời cơ, thuận lợi; vượt qua thách thức, khó khăn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu rất quan trọng. Kết quả đó được thể hiện sinh động trên bình diện tổng thể các mặt, các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội đất nước ta. Một trong những kết quả to lớn khẳng định tính đúng đắn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đó là “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên”. Kết quả to lớn đó được thể hiện cụ thể trên những nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển đồng bộ, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Việc sản xuất, cung ứng nhiều loại hàng hóa, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công thực hiện theo cơ chế giá thị trường; dỡ bỏ nhiều rào cản tham gia thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Phong trào khởi nghiệp sáng tạo và phát triển doanh nghiệp khá sôi động, kinh tế nhà nước từng bước đước sắp xếp, tổ chức lại có hiệu quả hơn; kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một động lực quan trong của nền kinh tế; kinh tế tập thể từng bước đổi mới, phát triển khá nhanh; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh và có hiệu quả, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế nước ta.

Hai là, cơ cấu lại nền kinh tế đúng hướng, bước đầu đạt những kết quả quan trọng; các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện đáng kể; nợ công giảm, nợ xấu được kiểm soát. Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch tích cực, tỉ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm, tỉ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên. Công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển nhanh, trở thành đầu tàu phát triển của ngành công nghiệp; công nghiệp hỗ trợ bước đầu phát triển, góp phần nâng cao tỉ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp trong nước.

Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế phát triển sâu, rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, tham gia nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương thế hệ mới; xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế.

Với những kết quả cơ bản trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhiệm kỳ qua như đã nêu trên, đó là minh chứng sống động, hùng hồn cho tính đúng đắn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

    

NGUY HẠI TỪ NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN CÁC TRANG MẠNG


Thời gian qua, trên các trang mạng các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá ta trên nhiều lĩnh vực....Đặc biệt, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, thật giả lẫn lộn, bóp méo, xuyên tạc sự thật vào những sự kiện dư luận quan tâm bằng những kỹ xảo tinh vi của công nghệ, tạo dựng chuyện bằng cách lắp ghép, trích dẫn, cắt xén các lời phát ngôn, bài viết, hình ảnh… Mục đích của các thế lực thù địch, phản động là gây nhiễu loạn thông tin, làm cho người đọc, người xem thiếu kinh nghiệm dễ lầm tưởng, khó phân biệt, nhận diện thật - giả, đúng - sai.

Từ đó, đánh giá không đúng bản chất của vấn đề, sự kiện, nhân vật. Những luồng thông tin xấu độc làm ảnh hưởng đến niềm tin của người dân về sự lãnh đạo Đảng và điều hành của Nhà nước, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân. Nguy hiểm hơn, nhiều thông tin kích động, tạo dựng mâu thuẫn, dẫn đến nhận thức sai lầm trong dư luận Nhân dân dẫn đến những hành động vi phạm pháp luật.

Trước những thông tin đó, đáng tiếc là một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên do thiếu bản lĩnh chính trị, nhận thức chưa thấu đáo nên đã chia sẻ, bình luận làm thông tin có cơ hội phát tán trên không gian mạng. Nhiều người đã có những hành động thiếu suy nghĩ, lời lẽ thiếu khiêm tốn, vô tình tiếp tay để các thế lực thù địch, chống đối suy diễn, lợi dụng gây ảnh hưởng trong dư luận Nhân dân.

Chỉ đạo công tác đấu tranh tư tưởng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Những luận điệu của các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị… tuy không có gì mới, nhưng nó được tung ra, truyền bá vào lúc này là hết sức độc hại, nguy hiểm, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong nội bộ ta, tác động hòng làm đội ngũ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chính vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động nâng cao “sức đề kháng” đối với thông tin xấu độc, đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, đặc biệt trên các trang mạng hiện nay là nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy, tổ chức Đảng, của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên.

 

  

KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 


Công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã được 35 năm. Nước ta bước vào thế kỷ XXI trên con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn ra rất nhanh, phức tạp, khó lường; đất nước đang đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức, nhiều vấn đề mới đặt ra phải giải quyết. Đánh giá thành tựu 30 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”[1]; “Năm năm qua, nắm bắt thời cơ, thuận lợi; vượt qua thách thức, khó khăn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu rất quan trọng”[2]. Thành tựu đó đã chứng minh, chúng ta đã nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã hình thành sáng tỏ. Đó là những cơ sở tư tưởng, lý luận cơ bản, quan trọng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kiên định con đường đã lựa chọn - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.  



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội - 2016, Tr.16.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Tài liệu sử dụng tại Đại hội đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương), Lưu hành nội bộ, Tháng 4-2020.

 

NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 


Trải qua gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã nhận rõ nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết, xử lý đúng đắn, hiệu quả.

Trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định phải đặc biệt chú trọng, nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội XII của Đảng lại nhấn mạnh và cụ thể hóa hơn là mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Để nhận thức đúng đắn và xử lý tốt mối quan hệ đó, Đảng đã chỉ rõ nguyên tắc và phương châm, phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn đất nước, chú trọng nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển của đất nước và thế giới, những diễn biến của khu vực, quốc tế tác động tới nước ta trên cả hai mặt thuận lợi và khó khăn, tích cực và tiêu cực để đón kịp, tận dụng thời cơ, chủ động vượt qua thách thức và nguy cơ, tôn trọng quy luật khách quan, không phiến diện, cực đoan, duy ý chí. Từ thực tiễn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho thấy cần nhận thức sâu sắc hơn, tiếp tục bổ sung, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mối quan hệ lớn về mặt tư tưởng, lý luận, đề ra quyết sách, tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, tiếp tục phát triển đất nước nhanh và bền vững. Chú trọng xử lý tốt mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng tưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Đó là những mối quan hệ lớn phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới ở nước ta. Đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nhận thức đầy đủ, thật sự thấm nhuần, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, thật hiệu quả./.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2020

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH KHÔNG KHOAN NHƯỢNG

 


 

Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một thế giới phẳng đã được hình thành nhờ sự phát triển vũ bão của CNTT và Internet. Mạng xã hội từ đó cũng phát triển rất nhanh, tác động rất lớn đến đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia.

Những năm gần đây, lợi dụng mạng xã hội các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phát tán nhiều loại thông tin sai trái với mức độ, tần suất ngày càng tăng, nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã quyết liệt chống phá ngày càng tinh vi, phức tạp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, quốc phòng, an ninh trật tự.

Nhận thức được sự nguy hiểm đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên, cựu chiến binh và nhân dân có ý thức tốt, có trình độ nhận thức cao; hiểu rõ, đầy đủ, đúng đắn các vấn đề thực tiễn đất nước đang diễn ra đã chủ động đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch, quyết tâm bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

Bên cạch đó, một số kẻ cơ hội, thoái hóa, biến chất cố tình bóp méo, nói xấu, bôi đen, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây mất niềm tin trong nhân dân. Tuy chúng chiếm tỷ lệ ít nhưng cực kỳ nguy hiểm và đáng lo ngại, dễ dàng lôi kéo và được sự “hậu thuẫn” của số đông cư dân mạng thiếu hiểu biết gây bất ổn xã hội. Một bộ phận cư dân mạng trình độ nhận thức còn hạn chế có tâm lý đám đông, a dua, hùa theo.

Trong khi đó, những ý kiến phân tích, bình luận, phê phán của những người tích cực chiếm tỷ lệ chưa nhiều trên mạng xã hội nhưng họ là những con người bản lĩnh, rất kiên trì, chấp nhận hứng chịu "gạch đá"của những cư dân mạng thiếu hiểu biết và những kẻ phản động, đội lốt "dân chủ". Họ còn đơn độc trước một bộ phận lớn vô cảm, không quan tâm, thờ ơ với đất nước, với thời cuộc.

Không thể để các thế lực bất mãn và thù địch "lật sử", phủ nhận thành quả cách mạng mà máu, xương cha ông chúng ta đã đổ xuống hòng lật đổ chế độ. Với trách nhiệm của một công dân trước vận mệnh của đất nước, chúng ta kiên quyết đấu tranh trực diện, vạch mặt, đập tan các luận điệu sai trái và âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trên mạng xã hội nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ ./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TỪ KHI NÀO NHỮNG KẺ BÁN NƯỚC NHƯ TRƯƠNG VĨNH KÝ LẠI ĐƯỢC VINH DANH?

   Vừa qua các báo được coi là chính thống đồng loạt đưa tin, bài ca ngợi Trương Vĩnh Ký, một người có thừa tài năng nhưng mang dạ phản trắc, kẻ đã dành trọn cả đời để cúc cung tận tụy với thực Dân Pháp, giúp giặc Pháp thôn tính và cai trị nước ta. Tuổi Trẻ là tờ báo “chính thống” đắc lực nhất trong việc đăng tải đề tài vinh danh ông ta với rất nhiều bài viết trong nhiều năm nay. Ngày 11/9/2020, tại buổi tọa đàm về “nhà báo Trương Vĩnh Ký” do Bảo tàng Báo chí Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, nhà báo Trần Hữu Phúc Tiến và Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho rằng “dù theo Pháp nhưng Trương Vĩnh Ký yêu nước theo cách của Ông ấy”. Thế đấy! bảo sao mà trước đây Dương Trung Quốc từng khẳng định “Pháp chiếm Việt Nam là để mượn đường đánh Trung Quốc”. Con người có lương tri và nhận thức đầy đủ về lịch sử thì phải khẳng định là: Trương Vĩnh Ký yêu nước Pháp và Vatican chứ không phải là nước Việt Nam của chúng ta!

Trương Vĩnh Ký tội nghiệt chồng chất, cao hơn cả đỉnh Hoàng Liên Sơn và dù có lấy hết nước của 4 bể dưới gầm trời này thì chẳng bao giờ rửa sạch tội phản quốc của ông ta. Ký là kẻ phục vụ đắc lực cho lợi ích của Pháp; ông ta được chính phủ Pháp ban tặng huy chương Đệ Ngũ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh, và được chính phủ thuộc địa bỏ tiền mua sách, cấp cho tiền lương mỗi năm là 13.800 quan (kể cả tiền dạy học). Để so sánh, lúc đó lương của Thống đốc Nam Kỳ cũng chỉ có 18.000 quan, lương của ông Tổng thư ký là 15.000 quan. Như vậy lương của Trương Vĩnh Ký đứng hàng thứ ba, chỉ sau hai viên chức cao cấp nhất người Pháp. Những thành tích nổi bật của Ký như: Bày mưu, tính kế để người Pháp tàn sát, giết hại người yêu nước tham gia phong trào Cần Vương chống pháp, là kẻ bày mưu “dùng người Việt trị người Việt” khi đề xuất Toàn quyền Pháp hỗ trợ vũ khí, đào tạo kỹ thuật cho những kẻ tay sai là người Việt, dùng những người đó để đàn áp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân ta (Đây là kế “đổi màu da trên xác chết mà sau này người Mỹ học để xâm lược Việt Nam). 

Trong các bức thư gửi Toàn quyền Pháp, Pétrus Ký bày cho ông ta cách đàn áp phong trào kháng chiến Cần Vương như sau: "Nay họ chỉ còn cách thần phục nước Pháp. Xứ Trung kỳ mà ngài vừa ban cho nền tự trị sẽ phải bắt buộc ở dưới sự giám hộ của người bảo hộ nó. Bọn phiến loạn (nghĩa quân Cần vương) không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lỗ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa".

Tự tưởng thần phục, cam chịu làm khuyển mã cho người Pháp, ông ta xem người Pháp là những người khai hóa văn minh: “về phương diện chính trị và kinh tế, nước Pháp là người đi đồng hóa, còn người An Nam là kẻ chịu đồng hóa. Ông tin rằng việc người Pháp tấn công Việt Nam là một "sứ mệnh mà Thiên Chúa giao phó", và người Pháp với tư cách là "chủ nhân", cần giảng dạy người An Nam những tư tưởng và khái niệm cần thiết cho việc cải tạo người An Nam”.

Năm 1886, Paul Bert được Trương Vĩnh Ký tư vấn, ép vua Đồng Khánh nhượng cho Pháp khu đất nằm giữa trấn Bình Đài và Linh Hựu Quán để Pháp xây dựng thêm doanh trại, đồn bốt, nhà thương, kho hậu cần... Linh Hựu Quán bị triệt giải từ đó. Và cũng từ đó người dân ở Huế gọi khu nhượng địa mới này là Mang Cá Lớn, khu Trấn Bình Đài cũ là Mang Cá Nhỏ.

Chẳng biết từ bao giờ những kẻ bán nước, làm tay sai cho ngoại Bang như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký lại được vinh danh, đặt tên trường và tên đường ở nhiều tỉnh thành. Ngày xưa, Ngụy Sài Gòn là tay sai, là tôi tớ của Đế quốc Mỹ, thân phận của Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu…và Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là như nhau; thế nên ngụy ca ngợi và vinh danh ngụy cũng không có gì là lạ. Thế nhưng chẳng hiểu tại sao, ngành truyền thông của đất nước ta, đất nước của những người anh hùng chống ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc lại làm cái việc vong luân, bại lý thế này? Xin dành câu hỏi này cho các vị có trách nhiệm quản lý lĩnh vực “văn hóa tư tưởng”, các vị phải có trách nhiệm trả lời cho nhân dân Việt Nam câu hỏi này./.
Yêu nước ST.

ĐỂ “CÁI TÔI” YÊU NƯỚC HÒA VÀO “NHỊP ĐẬP CHUNG” CỦA TOÀN XÃ HỘI

            Trong suốt thời gian qua, Việt Nam được dư luận thế giới đánh giá là một đất nước có nền chính trị ổn định, là điểm đến thân thiện, an toàn của hàng triệu du khách quốc tế và là một trong những nước có môi trường đầu tư hấp dẫn. Những đánh giá, ca ngợi đó thể hiện sự khâm phục, ngưỡng mộ của bạn bè thế giới dành cho nhân dân ta, đồng thời cũng là một cách tôn vinh hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.  Vậy nên, không có lý do gì để chúng ta lại làm cho hình ảnh đất nước bị tổn thương, tình hình xã hội thêm phức tạp chỉ vì những lời dụ dỗ, kích động bởi những kẻ quá khích, bất mãn, những phần tử cơ hội chính trị, phản động. Trước những thông tin hoài nghi, trước những lời tuyên truyền mị dân của các phần tử xấu, người dân cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo nhận diện đâu là đúng - sai, phải - trái, chính - tà, thật - giả, thiện - ác để không bị mắc mưu, “sập bẫy”. Hãy biết trân trọng lịch sử cách mạng của ông cha ta, hãy biết nâng niu những giá trị, thành quả hòa bình mà chúng ta đang có, hãy bày tỏ tình yêu quê hương đất nước bằng những thái độ, hành vi ứng xử chuẩn mực, hợp đạo lý, đúng pháp luật. 
             Lo lắng cho vận mệnh đất nước cũng là một biểu hiện của tinh thần yêu nước. Nhưng thời gian gần đây, cũng có một số người lo lắng đến mức chỉ biết ngồi “khóc lóc”, than thở, hoài nghi… thì lại là một thứ “yêu nước suông”! Cũng không nên “bày tỏ tình yêu nước” bằng cách suốt ngày chỉ ngồi bên bàn phím để “than thân trách phận”, đổ lỗi, chỉ trích, mong muốn xã hội thế này, đòi hỏi đất nước phải thế kia… trong khi hàng triệu người dân đang cần mẫn lao động hăng say ở khắp mọi miền đất nước và hàng vạn chiến sĩ đang ngày đêm đổ mồ hôi trên thao trường huấn luyện và làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác giữ gìn biên cương, biển, đảo, lãnh thổ Tổ quốc. 
            Tình yêu nước không phải là điều gì đó quá cao siêu, mà đôi khi bắt đầu bằng suy nghĩ giản dị là hiểu những gì mình đang có, những quyền lợi mình đang được thụ hưởng và cố gắng làm tốt công việc của mình; đồng thời, làm tròn bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.
            Tình yêu nước của mỗi người chỉ thật sự có giá trị khi biết khơi nguồn, lan truyền cảm hứng tình cảm thân thương của mình cho người khác và cộng đồng. Yêu nước vừa là “cái chung” của mọi người, vừa là “cái riêng” của mỗi con người. Và tình yêu nước chân chính chỉ thể hiện đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ khi “cái tôi” yêu nước của mỗi người luôn biết bắt nhịp, hòa chung với “cái tôi” yêu nước của cộng đồng, của mọi người trong xã hội./. 
 TBQL 17

 

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU VU KHỐNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

  

Có lẽ không người dân Việt Nam nào còn lạ chuyện những công dân vi phạm pháp luật Việt nam bị khởi tố, bị bắt thường bị các thế lực thù địch vu khống, bịa đặt để quy chụp cho công an và chính quyền.

            Gần đây nhất khi vụ việc ở Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội) đang được đưa ra xét xử, trên mạng xã hội, những người mệnh danh là “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”… đã tự cho mình như một nhà hoạt động vì Đồng Tâm, đại diện cho “dân oan” và trở thành một “nhà truyền thông chủ lực” cho nhóm chống đối chính quyền và lực lượng chức năng ở Đồng Tâm. Điển hình như đối tượng Trịnh Bá Phương đã đưa lên mạng xã hội các bài viết về sự việc Đồng Tâm nhằm kích động dư luận.

            Chúng tôi cho rằng, những người mượn vụ việc để bịa đặt và hướng dư luận hiểu theo ý đồ xấu độc của họ, nhằm làm rối loạn thông tin về hoạt động của cấp ủy Đảng, chính quyền. Sự việc ở Đồng Tâm đã được xác định là vụ án được đem ra xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, trong đó các bị cáo bị truy tố với các tội danh “giết người” theo quy định tại Điều 123, khoản 1 và “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Điều 330, khoản 2, Bộ luật Hình sự năm 2015. Vụ án rất rõ ràng về việc đưa các đối tượng ở Đồng Tâm ra xét xử trước pháp luật là hoàn toàn đúng pháp luật, không có chuyện “trấn áp, bắt bớ” như rêu rao của thế lực phản động.

            Người viết bài này muốn nhắc lại một điều chưa cũ, đó là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, phần lớn mỗi người đều có một chiếc điện thoại thông minh cầm tay. Và đó cũng chính là phương tiện hữu hiệu nhất mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng. Bởi vậy chúng ta – những người xem, người nghe, người sử dụng điện thoại thông minh, trước hết phải là người sử dụng thông minh, phải học cách nhận biết được thông tin thật và giả, đúng và sai.

 


 

NHỮNG TÁC PHẨM TRỞ THÀNH “BẢO VẬT QUỐC GIA”

CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 
                                       

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho mục tiêu cao cả là giành độc lập, tự do cho Tổ quốc ta; mang ấm no, hạnh phúc cho nhân dân ta và để lại những giá trị nhân văn cao quý cho nhân loại. Trước khi đi xa, Người đã để lại cho toàn Đảng và toàn dân di sản vô giá, đó là Tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những di sản đó có 5 tác phẩm đã được công nhận Bảo vật Quốc gia đó là:

1. Đường Kách mệnh (Bác viết năm 1927)

2. Nhật ký trong tù (Bác viết năm 1942-1943 với 133 bài thơ bằng chữ Hán)

3. Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống Pháp (Bác viết năm 1946, lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

4. Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước chống Mỹ (văn bản này Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

5. Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn bản gốc viết từ ngày 10/5/1965 đến ngày 19/5/1969, lưu trữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng)

Mỗi di sản mà Người để lại đều chứa đựng những giá trị, ý nghĩa lớn lao và luôn tỏa sáng, soi đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vẻ vang và đang vững bước trên con đường đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc, soi rọi, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn kiên định và trung thành với sự nghiệp cách mạng; kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà Người đã trọn đời cống hiến và hy sinh, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới đích cuối cùng.
——-
TB.

 

 

 





“NGOAN ĐỘT XUẤT, TỐT NHẤT THỜI”

             Dạo này đi đâu cũng nghe người ta bàn tán chuyện nhân sự cấp ủy khóa mới. Ai cũng biết rằng, cùng với chuẩn bị văn kiện thì chuẩn bị nhân sự là hai nhiệm vụ quan trọng nhất đối với đại hội đảng các cấp. Nhưng trên thực tế, nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức, nếu không nói là xem nhẹ, lơi lỏng việc chuẩn bị văn kiện bảo đảm chất lượng, mà chỉ nhăm nhăm, ngấm ngầm lo toan cái chuyện “ai vào, ai ra” cấp ủy khóa mới. Thậm chí, cũng chỉ vì mong muốn bằng mọi giá được “có chân” trong cấp ủy khóa mới mà thời nay còn nảy sinh một loại người cơ hội mới “ngoan đột xuất, tốt nhất thời”.

Gọi là “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” vì trong cả nhiệm kỳ họ là người không nổi trội về chuyên môn, chẳng xuất sắc về năng lực, quan hệ ứng xử với mọi người có khi “nhất bên trọng, nhất bên khinh”, thậm chí nịnh trên, nạt dưới; nhưng từ khi biết mình có khả năng nằm trong (hoặc tiếp tục nằm trong) “tầm ngắm” của cấp ủy khóa mới, họ lươn lẹo hình thức ứng xử và chú tâm “đánh bóng” bề ngoài nhằm tạo ra “hình ảnh thân thiện” nhất thời đối với người khác.
Thực hiện phương châm ứng xử “gió chiều nào, che chiều ấy”, họ luôn nói năng, giao tiếp mềm mỏng, nhã nhặn, nhún nhường để hy vọng làm hài lòng tất cả mọi người trong cơ quan, đơn vị. Với cấp trên thì một mực “dạ, vâng”, thủ trưởng nói gì “em” cũng tuân lệnh, lãnh đạo bảo gì “em” cũng nghe theo. Với cấp dưới, làm việc gì họ cũng khen tốt, nói cái gì họ cũng bảo hay. Với đồng nghiệp thì họ rất niềm nở, mỗi khi mở miệng là “anh anh - chú chú”, “cậu cậu - tớ tớ” ngọt như mía lùi, nghe rất dễ xiêu lòng!

Nhưng “cao tay” hơn, có người còn âm thầm thực hiện cái gọi là chiến thuật “vây, lấn, tấn, diệt”; “bao vây” với tất cả những ai có thể mang lại lá phiếu, lợi ích cho mình, tìm mọi cách lân la, gần gũi, lôi kéo những người “đồng hương, đồng môn, đồng niên” và triệt để lợi dụng “nhóm lợi ích” để tạo ra vây cánh nhằm chiếm ưu thế áp đảo trong các cuộc bầu bán; tìm đủ thứ chiêu trò để tiếp cận, “lấn chiếm”, chi phối, mua chuộc tình cảm của người khác bằng cả lợi ích vật chất và tinh thần để “dụ dỗ” được càng nhiều người ủng hộ mình càng tốt. Thậm chí, họ kín đáo dùng đủ mọi mánh khóe để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của những nhân sự vốn được coi là “đối phương, đối thủ” tiềm tàng hay trực tiếp của họ trong cuộc bầu cử. Mục đích của họ là ngấm ngầm “tấn công” nhằm làm giảm thiểu, suy yếu, tiêu hao những lá phiếu có thể dành cho nhân sự khác, cốt để “nâng mình, hạ người”, triệt hạ đối phương đến cùng.

Có một thực tế đáng buồn là không phải ai cũng phát hiện được những kẻ “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” đó, vì loại người này bề ngoài lúc nào cũng tỏ ra xởi lởi, hào nhoáng, thân tình với người khác, nhưng thực chất họ là những “diễn viên siêu hạng” trong ứng xử, vì “cái ngoan” của họ là do tình thế bắt buộc “phải ngoan”, chứ cái ngoan đó không thực lòng, thực chất và “cái tốt” của họ là do hoàn cảnh đòi hỏi “phải tốt” giả vờ, chứ đâu phải cái tốt từ cái tâm, cái thiện chân chính. Như một con tắc kè đổi màu, những kẻ “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” rất giỏi trong việc khéo léo che mắt thiên hạ, khi thì uốn éo “đóng rắn, giả lươn” không dễ ai hay; lúc lại ra vẻ ngây thơ “cưa sừng làm nghé” nhằm tạo thiện cảm với người tiếp xúc, trò chuyện. Cách “mị dân” siêu khéo của những kẻ “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân viên cấp dưới dễ bị đánh lừa nên không phân biệt được đâu là bản chất, đâu là hiện tượng, từ đó nhẹ dạ, cả tin rồi hồn nhiên tiếp tay bầu họ vào cấp ủy khóa mới, trong khi lại vô tâm loại bỏ những nhân tố tích cực, tiến bộ khác.
Không phải ngẫu nhiên mà Người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta từng cảnh báo rằng, đối với cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm làm công tác nhân sự đại hội, khi giới thiệu, đề cử ai vào cấp ủy khóa mới thì phải rất tỉnh táo, tinh tường, chứ “đừng nhìn gà hóa cuốc”, “đừng thấy đỏ mà tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong”. Những lời cảnh tỉnh đó như nhắc nhở chúng ta - những cán bộ, đảng viên khi dự đại hội đảng các cấp được vinh dự cầm lá phiếu bầu trên tay - phải rất đề cao cảnh giác với những người “ngoan đột xuất, tốt nhất thời”, kiên quyết ngăn ngừa, không để những kẻ cơ hội “siêu tinh vi” này “chui” vào cấp ủy các cấp, vì họ chính là mầm mống gây ra tai họa khôn lường cho Đảng, cho nước, cho dân./.

ST.