Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2020

NGƯỜI PHÁP, NGƯỜI MỸ VIẾT VỀ BÁC HỒ

 

Tuần báo "Đây Paris" ra ngày 18-6-1946 đã có một trong những bài viết sớm nhất, tương đối đầy đủ nhất về Bác Hồ của chúng ta:

Ảnh tư liệu

... Chủ tịch nước Việt Nam là một người giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ quần áo kaki giản dị! khi những người cộng tác xung quanh nhắc với ông rằng: với địa vị này... ông nên mặc trang trọng hơn, thì ông chỉ mỉm cười trả lời: “Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quý trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê”.

Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, là một đức tính rõ rệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hành hạ mình cho khổ sở, mà là để nêu gương dè xẻn gạo cho đồng bào, mong mọi người cùng làm để giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước hành động đó của ông.

Trong những ngày thường, ông dùng cơm ở Bắc Bộ phủ, ngồi chung hết thảy với mọi người. Người ta thấy quây quần xung quanh bàn ăn: các bộ trưởng, các thư ký và cả những cậu thiếu niên phục vụ bàn giấy. Với đức tính giản dị, khi ngồi ăn với mọi người ông không làm ai phải giữ kẽ nhiều quá, mà trái lại, lúc nào cũng thân mật, vui vẻ, gây cho bữa ăn một vẻ gia đình.

Tính giản dị và thân mật của ông còn biểu hiện qua những bài diễn văn: Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông (Ông thông thạo bảy thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm...) trái lại, ông chỉ dùng những câu từ nôm na, thường dùng khiến cho một người dù quê mùa chất phác nghe cũng hiểu ngay được... Tất cả đức tính Hồ Chí Minh luôn thể hiện trong từng hành động tưởng như bé nhỏ đó...

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của ông là một bài học nhỏ kết luận bằng một ý kiến đạo đức. Bởi những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà bài diễn văn của ông có một tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng”.

 Hai mươi năm lăm sau bài viết trên, năm 1971- sau khi Bác đã mất, một người Mỹ - nhà báo, nhà văn (Đâyvít Hanbơcstơn) trong cuốn sách “Hồ” của mình, do Nhà xuất bản 'Răngđôm Haosơ - Niu Yoóc" đã viết:

“…Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này, hơi giống Găngđi, hơi giống Lênin, nhưng hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỳ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng, với hầu hết người dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc quần áo đơn giản nhất – cách ăn mặc của ông không khác mấy so với người nông dân nghèo nhất – một phong cách mà phương Tây đã chế giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông...

Tính giản dị của ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của.

Ông Hồ không tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân, với lịch sử đến nỗi không cần những pho tượng, những cái đầu, những pho sách, những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ biết. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong một xã hội kém phát triển…”

(Nguồn: trích -117 Chuyện kể về Hồ Chí Minh - Ban Tuyên giáo TW, Nxb. CTQG - 2007)

Tư tưởng Hồ Chó Minh về ''Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"


 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là mối quan hệ “với tự mình”. Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là 4 đức tính cần có của con người, mang một lẽ tự nhiên, như trời có 4 mùa, đất có 4 phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể từng khái niệm:


 “Cần” là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”.

 “Kiệm” theo Hồ Chí Minh là tiết kiệm, sử dụng có kế hoạch và có mục đích, không xa xỉ hoang phí, phô trương hình thức. Theo Người, để xây dựng cuộc sống mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta không những phải tiết kiệm tiền bạc, sức lực mà còn phải biết tiết kiệm cả thời gian. Khi nói đến mối quan hệ giữa “cần” và “kiệm” Hồ Chí Minh cho rằng, nếu cần mà không kiệm thì như thùng không đáy; còn nếu kiệm mà không cần thì lấy gì mà kiệm.

 “Liêm” là luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân, sống trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.

 “Chính” theo Hồ Chí Minh “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình, không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người, không nịnh hót người trên; không xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà; không dối trá, lừa lọc. Người chính thấy “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh”.

 Chí công vô tư là “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn tới chí công vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính./.

 


Hướng tới kỷ niệm 200 năm Ngày sinh Ph. Ăngghen (28/11/1820 - 28/11/2020)- Nhà lý luận và chiến sỹ cách mạng vĩ đại

Ph. Ăngghen là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người đã cùng Các Mác xây dựng nên lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Ph. Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 trong một gia đình chủ xưởng dệt ở thành phố Barơmen, vương quốc Phổ (ngày nay là nước Đức). Ông sinh sống, thâm nhập thực tiễn vào phong trào cách mạng ở nhiều nước khác nhau để tìm hiểu cuộc sống người dân. Xuất thân từ một gia đình tư sản, nhưng Ph. Ăngghen đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, Ông là người bạn, người đồng chí gần gũi nhất của C. Mác, đã cùng C. Mác xây dựng nên chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Trong nhiều thập kỷ, Ph. Ăngghen ra sức nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại, mà trước hết và trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp. Quá trình nghiên cứu lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Từ đó, Ông đã cùng với Mác, xây dựng nên một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, bao gồm triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Cái đặc sắc nhất là hai ông đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; xây dựng lý luận giá trị thặng dư chỉ ra các quy luật chi phối sự vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Đây chính là vũ khí tư tưởng cho giai cấp công nhân; là những trụ cột của cả một hệ thống đồ sộ!

Rất nhiều tác phẩm cơ bản của chủ nghĩa Mác là do Mác và Ăngghen cùng viết. Tiêu biểu nhất là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Nhiều công trình nghiên cứu của Ăngghen là sự phát triển những tư tưởng hình thành trong quá trình trao đổi thường xuyên với C. Mác. Về phía mình, nhiều tác phẩm của C. Mác được viết với những ý tưởng và kiến thức của Ăngghen. Lênin cho rằng: “Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ăngghen”. Ăngghen còn sát cánh cùng C. Mác trong truyền bá tư tưởng cách mạng, xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân, trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước châu Âu ở nửa cuối thế kỷ XIX. Lênin kết luận: “Sau bạn ông là Các Mác, Ph. Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh”.

Ăngghen được ngưỡng mộ, kính trọng không chỉ bởi trí tuệ của một nhà bác học, lòng dũng cảm, nhiệt huyết của một chiến sỹ cách mạng vĩ đại, mà còn bởi phẩm chất cao cả thể hiện trong tình bạn, tình đồng chí khăng khít, thủy chung, cảm động, hiếm có với Mác. Người tự nhận mình là “cây vĩ cầm số 2” bên cạnh Mác. Lênin khẳng định: “Giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng tạo của hai nhà bác học kiêm chiến sỹ mà tình bạn đã vượt xa tất cả những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa kể về tình bạn của con người”.

Sau khi Mác qua đời, Ăngghen đã tập trung thời gian, công sức để thực hiện một công việc vô cùng nặng nề, hết sức khó khăn, mà chỉ Ông mới có thể làm được, đó là chỉnh lý, biên tập và cho xuất bản tiếp tục các bản thảo còn lại của bộ “Tư bản”- tác phẩm lớn nhất, vĩ đại nhất của Mác. Lê-nin cho rằng, thông qua công việc quan trọng này: “Ăngghen đã dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỷ niệm trang nghiêm, trên đó Ăngghen cũng không ngờ là đã khắc luôn cả tên mình bằng những chữ không bao giờ phai mờ được”. Ngoài ra, Ông còn tiếp tục truyền bá sâu rộng những tư tưởng của Mác, đấu tranh bảo vệ và phát triển học thuyết Mác...

Từ khi xuất hiện, chủ nghĩa Mác đã luôn bị các trào lưu tư tưởng đối lập phê phán, đả kích. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các thế lực thù địch coi đây là thời cơ lớn, đẩy mạnh tấn công, xuyên tạc, vu cáo, bác bỏ... Điều này không có gì là khó hiểu! Vì thế, phải bằng tinh thần khoa học và cách mạng, chúng ta tiếp tục đấu tranh bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của mình, phù hợp với tinh thần mác-xít, phù hợp với tính chất, đặc điểm mới của thời đại!

Ngày nay, mặc dù tình hình có nhiều thay đổi so với thời điểm đó, nhưng tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng và hành động cho các Đảng Cộng sản trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi “Chủ nghĩa Mác - Lênin là cái cẩm nang thần kỳ”; luôn vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là bằng chứng hùng hồn, khẳng định sự đúng đắn, vai trò và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Ăngghen là một trong những lãnh tụ sáng lập. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập trung xây dựng Đảng thật trong sạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, vì vậy việc học tập, noi gương nhân cách người chiến sĩ cộng sản mẫu mực của Ph. Ăngghen càng có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao đạo đức cách mạng của người đảng viên, góp phần giữ vững bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản, vì nhân dân mà phục vụ./.

 

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 – ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại

 

Cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng mang sứ mệnh khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực - một kiểu phát triển xã hội mới, công bằng và dân chủ hơn cho thế giới. Đến nay, dấu ấn 103 năm trôi qua vẫn không làm phai nhạt sức sống trường tồn, giá trị khai mở và tinh thần khai sáng cho nhân loại.

 Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Cách mạng Tháng Mười Nga đã xóa bỏ giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, một thời đại mới mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong lịch sử nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới” . Cách mạng Tháng Mười đánh dấu bước chuyển biến về chất chủ nghĩa xã hội khoa học: từ lý luận đã trở thành hiện thực sinh động. V.I.Lênin từng nhận định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu cho “một thời đại mới trong lịch sử loài người”, “một sự nghiệp mới mẻ sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp nămchâu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” . Như vậy, Cách mạng Tháng Mười có ý nghĩa khai mở một thời đại mới trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga “là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Bônsêvích lãnh đạo. Cách mạng Tháng Mười Nga đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” . Nhưng khoảnh khắc của sự thật là ở chỗ nó là một sự kiện thay đổi có ý nghĩa lịch sử thế giới, làm thay đổi nước Nga và toàn thế giới. Nghiên cứu về hiện tượng và những hệ quả của sự kiện này vẫn sẽ luôn là tâm điểm chú ý của các nhà sử học, các chính trị gia, công chúng rộng rãi của Nga và quốc tế.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và cung cấp những bài học lịch sử vô giá cho các cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng vĩ đại này, từ thực tiễn cách mạng đã làm sáng tỏ, chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin là thống nhất về bản chất, về những đặc trưng, thuộc tính phản ánh bản chất - xét về mặt lý luận, học thuyết. Đó là bản chất khoa học,cách mạng và nhân văn. Đó là đặc trưng, thuộc tính biện chứng về phát triển. Cách mạng Tháng Mười Nga, thực tiễn lịch sử của đấu tranh cách mạng đã cung cấp những kinh nghiệm và bài học để khẳng định giá trị khoa học và ý nghĩa sáng tạo, cách tân, đổi mới trong các luận thuyết của Lênin. Hồ Chí Minh đã nhận xét, Cách mạng Tháng Mười là “một cuộc biến đổi long trời lở đất”. Và lịch sử thế giới đã xác nhận Cách mạng Tháng Mười là một sự kiện lớn, chân dung lớn của thế kỷ XX, có ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển tiếp theo của xã hội loài người. Điều đó vẫn mãi mãi sẽ là như thế và do đó những giá trị của nó cũng trường tồn.

Cách mạng Tháng Mười Nga thức tỉnh hàng triệu quần chúng nhân dân lao động tự khẳng định mình, tự mình sáng tạo xây dựng một xã hội giàu có, công bằng, dân chủ và văn minh. Cách mạng Tháng Mười Nga ngay từ đầu đã phản đối các cuộc chiến tranh giữa các dân tộc, ủng hộ việc thiết lập hòa bình trên trái đất. Không có nghi ngờ gì nữa về một thực tế của những thay đổi thực sự mang tính cách mạng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nga vào năm 1917 và trong thời kỳ tiếp theo (sự thay đổi chế độ chính trị và hệ tư tưởng thống trị, sự tháo dỡ hệ thống kinh tế-xã hội và xây dựng một hệ thống mới không có sở hữu tư nhân, một cuộc "cách mạng văn hóa" và v.v..).

Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa lịch sử và tính chất quốc tế vô cùng sâu rộng; không một cuộc cách mạng nào trong thời đại ngày nay lại không chịu ảnh hưởng sâu xa của Cách mạng Tháng Mười Nga. Qua đó cho thấy: trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, công bằng, bình đẳng và văn minh. Chính Cách mạng Tháng Mười Nga đem đến giá trị hiện thực bằng thành tựu nổi bật của một thế kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự lớn mạnh nhanh chóng, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội và sự xuất hiện nhiều mô hình xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Chủ nghĩa xã hội từ sau chiến tranh thế giới II (1939 - 1945) đã trở thành một hệ thống thế giới mang tính đối trọng với chủ nghĩa tư bản đế quốc và là một con đường phát triển, một hình mẫu của tổ chức xã hội mang lại tự do, công bằng và hạnh phúc cho đa số nhân dân. Sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đã trở thành một xu thế lớn (thời kỳ này đã có 26 nước định hướng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa). Chủ nghĩa xã hội hiện thực từ thắng lợi ở một nước đã phát triển trở thành hệ thống thế giới trong thế kỷ XX.       

Trong Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Tổng thống Nga V. Putin từng phát biểu: “Những ai muốn phủ nhận hoàn toàn những thành quả của chế độ Xô-viết, người ấy không có trái tim”. Khi được hỏi vì sao ông ủng hộ việc sử dụng phần nhạc của Quốc ca Liên Xô cho bản Quốc ca mới của Liên bang Nga, Tổng thống Putin đã trả lời: "Nếu chúng ta xoá bỏ mọi điều đã có từ trước và sau tháng 10/1917, thì có nghĩa chúng ta đã công nhận rằng, cha ông ta đã sống một cuộc đời hoàn toàn vô nghĩa lý. Bằng cả trái tim và trí tuệ, tôi không thể nào đồng ý thế được". Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cuộc cách mạng vĩ đại, thay đổi tận gốc nước Nga và có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới.

Hiện nay, kế thừa những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, Việt Nam luôn kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và  lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Nhân dân Việt Nam kiên định sự nghiệp đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng và hướng tới là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Để đạt tới mục tiêu cao cả đó, tất yếu phải trải qua nhiều chặng đường khó khăn, gian khổ với những bước đi, hình thức phù hợp trong thời kỳ quá độ.  Lý tưởng và tinh thần của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn tiếp tục là ngọn cờ dẫn đường cho cuộc đấu tranh cho nhân dân lao động toàn thế giới trong thế kỷ XXI. Nhiều chính phủ ở các quốc gia, nhất là ở Châu Mỹ Latin đã tuyên bố sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. Hiện thực sinh động của những nước đang kiên định theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trong đó có Việt Nam, càng khẳng định giá trị khai mở, tinh thần khai sáng và sức sống trường tồn của tinh thần Cách mạng Tháng Mười Nga trong hiện tại và tương lai./.   

 

Hãy cảnh giác, đừng lầm tưởng để tự phá hoại bình yên của chính mình

 Trong chiến lược "diễn biến hòa bình", chiêu thức thường được các thế lực thù địch tận dụng tối đa nhằm làm sụp đổ một quốc gia là tìm cách bôi nhọ chế độ xã hội hiện tại, thổi phồng những mặt trái của xã hội đó để gây tâm lý bất mãn rồi kích động sự phản kháng trong xã hội.

 Những vụ việc cụ thể, có tính cá biệt, những sai phạm của cá nhân, thường được các thế lực thù địch nâng lên thành bản chất của chế độ xã hội. Đáng tiếc là vẫn có không ít người nhẹ dạ, thiếu thông tin, thiếu tầm nhìn, không tự phát hiện được sự thật đằng sau những luận điệu kích động đó, họ vô tình tự cướp đi bình yên của chính mình.

Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ...

Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria...  Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn... Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác.

Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”.

Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.

Khi xảy ra những trận thiên tai, bão lũ, thảm họa ở bất kỳ khu vực nào thì cả nước đều quan tâm, theo dõi, lo lắng rồi chung tay, quyên góp cùng địa phương đó kịp thời khắc phục hậu quả, giúp người dân ổn định cuộc sống. Các lực lượng chức năng, trong đó quân đội là lực lượng nòng cốt, được huy động để giúp đỡ người dân khẩn trương thu hoạch mùa màng, dựng lại nhà cửa, dọn dẹp vườn ruộng, đường xá, trường học, bệnh viện sau bão. Các hoạt động ấy vừa là nhiệm vụ được cấp trên giao phó nhưng cũng xuất phát từ trái tim. Bởi dân tộc Việt Nam, xã hội Việt Nam là một xã hội hướng thiện, yêu thương đùm bọc nhau đã là truyền thống từ xưa tới nay: “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”... Khi nền kinh tế phát triển thường sẽ kéo theo những sự phát triển không đồng đều vì đặc điểm địa lý, lợi thế của mỗi vùng miền, rồi khả năng của mỗi con người cũng khác nhau. Nhận thấy nguy cơ này, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm để thiết kế các chế độ, chính sách thúc đẩy sự phát triển của vùng sâu, vùng xa, giúp đỡ người nghèo vươn lên theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Đất nước Việt Nam đang trên con đường phát triển, do đó còn nhiều vấn đề đặt ra, còn những mặt trái trong xã hội. Vì vậy, muốn đất nước phát triển thì mọi người cần bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận đúng mọi vấn đề xung quanh mình, nỗ lực đóng góp sức mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đừng vì những mặt trái hiện có trong xã hội mà thất vọng, chán nản, để rồi dễ bị lợi dụng, bị kích động, tự mình phá hoại sự ổn định của đất nước mình, sự bình yên, hạnh phúc của bản thân mình.

 

BÔI ĐEN HIỆN THỰC; CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC.


Trước tình hình thiên tai, bão lụt xảy ra tại các tỉnh miền Trung, Đảng, Nhà nước, Công an, Quân đội, các đoàn thể chính trị - xã hội, các nhà hảo tâm đang tận dụng từng thời khắc để chung tay, giúp đỡ, hướng về miền Trung ruột thịt. Tất cả đang tranh thủ từng giờ, từng phút để cứu trợ đồng bào. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình này, nhiều đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã tuyên truyền, chia sẻ bài viết, video bịa đặt, cóp nhặt hoặc tự dựng lên để xuyên tạc tình hình, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều này thêm gây khó khăn cho chính đồng bào các tỉnh miền Trung và công tác phòng, chống lũ lụt, khắc phục thiên tai của Đảng, Nhà nước ta. Đây là những luận điệu, hành vi với ý đồ gây nhiễu loạn thông tin rất đáng lên án và cần phải hết sức cảnh giác. Thủ đoạn của các đối tượng là: - Lợi dụng tình hình lũ lụt đang diễn ra đã có hành vi chia sẻ bài viết mang tính cóp nhặt những hình ảnh lấy từ những nguồn thông tin không chính xác trên mạng và đổ lỗi cho đồng bào miền Trung. Họ cho rằng, đồng bào miền Trung đã quay lưng một cách đáng trách với những việc làm từ thiện của nhân dân cả nước (vứt quần áo, bánh chưng cứu trợ...). Bên cạnh đó, các đối tượng còn vu cáo cho người dân vùng lũ khi cho rằng đồng bào nơi đây đã có những hành vi cướp đồ cứu trợ, mất trật tự, tranh giành, cãi cọ nhau. Mục đích của việc này là để tạo nên sự kì thị, vẽ nên bức tranh rất xấu về hình ảnh người dân vùng lũ, nhằm khoét sâu vào tâm lý, tư tưởng, thái độ và cách nhìn nhận của những người đã và đang có ý định làm từ thiện sẽ suy nghĩ lại, thậm chí dừng hành động cứu trợ của mình. Đây thực chất là thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây khó khăn, cản trở cho công tác khắc phục hậu quả thiên tai mà các lực lượng chức năng, những nhà hảo tâm đang hướng về miền Trung ruột thịt. Trong khi chính nhân dân vùng lũ đang gặp rất nhiều khó khăn. - Có một số đối tượng đã xây dựng những tiểu phẩm, đoạn video ngắn bày tỏ quan điểm phản đối, lên án chính quyền, có ý kiến đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước khi thiên tai xảy ra. Những video này sau khi chia sẻ, đăng tải đã thu hút khá nhiều sự quan tâm, chú ý của cộng đồng mạng. Đáng chú ý là những video sau khi được sự cổ súy của một số người, hùa vào lên án, đả kích chế độ, miệt thị, hoài nghi các cơ quan chức năng trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên, môi trường, công tác cứu trợ đồng bào. Mục đích của những video này nhằm tác động trực tiếp vào tư tưởng, tâm lý tò mò, đổ lỗi cho chính quyền và một bộ phận người dân. Thông qua việc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ này, các đối tượng ý đồ tập hợp một bộ phận quần chúng nhân dân thiếu hiểu biết, nhận thức sai lệch để hình thành những lực lượng chống Đảng, Nhà nước sau này. - Các trung tâm tuyên truyền phá hoại tư tưởng, chống đối Việt Nam có lịch sử hình thành từ lâu. Đứng đằng sau những trung tâm này là cả một bộ phận chuyên trách, có "kinh nghiệm" thông qua các cá nhân, những đối tượng chống đối, có “quan điểm chính trị khác biệt” trong nước thu thập tin tức nhằm mục đích bôi nhọ, hạ bệ Việt Nam trên không gian mạng và diễn đàn quốc tế. Đặc biệt những nội dung thông tin tuyên truyền vô căn cứ, cắt gọt, thêu dệt đó sẽ tác động trực tiếp đến những người thiếu thông tin. Một trong những đối tượng mà các trung tâm này hướng đến thấy rõ nhất chính là cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại. Lợi dụng đợt lũ lụt lịch sử miền Trung vừa mới diễn ra, các trang, trung tâm phá hoại tư tưởng chuyên nghiệp này cũng ngay lập tức không bỏ qua cơ hội để thực hiện hoạt động chống phá của mình. Chúng đã dẫn dắt các phát biểu được cho là của những người có học thức trong nước với các chức danh như phó giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ hay một cụm từ mà các trung tâm này hay sử dụng là “chuyên gia trong nước” hay “chuyên gia chuyên nghiên cứu về Việt Nam” để dẫn dắt dư luận, tạo độ tin cậy cho những thông tin mà chúng đưa ra. Mục đích của chúng, ngoài chống phá Đảng, Nhà nước thì còn nhằm cung cấp những thông tin thiếu chính xác, tiêu cực về tình hình trong nước đối với cộng đồng người dân nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại nói riêng. Đây là những đối tượng có sự quan tâm nhất định đối với diễn biến tình hình trong nước. Từ phân tích trên, chúng ta thấy được âm mưu ẩn đằng sau những hoạt động mà các cá nhân, tổ chức chống phá đã thực hiện. Mục tiêu của chúng là nhằm gây khó khăn, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, muốn hướng đến mục tiêu chính trị nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chính quyền cơ sở. Đặc biệt là người dân vùng lũ, những người thân của họ đang phải chịu những mất mát không gì bù đắp được. Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng lại phải làm như vậy? Đây là câu hỏi ít người để ý hoặc có xuất hiện nhưng lại chưa kịp trả lời mà thay vào đó đã bị những luận điệu kích động làm nhiễu thông tin. Bên cạnh ý thức, thái độ với Đảng, Nhà nước thì đằng sau đó là lợi ích, là vật chất, tiền bạc, là những gì lợi lộc mà các đối tượng nhận được từ các tổ chức, đối tượng và thế lực chống đối bên ngoài. Đây như một hình thức "trả công" cho những kẻ tay sai vốn dĩ từ lâu đã làm thuê bằng hoạt động chống phá Việt Nam. Vì lợi ích vật chất, vì động cơ cá nhân mà chúng không từ bất cứ một sự kiện nào diễn ra trong xã hội, kể cả lũ lụt đau thương đang diễn ra tại miền Trung để kích động chống phá. Nói tóm lại, ngoài mục đích, ý đồ chống phá thì đây còn là một cơ hội “kiếm ăn” đối với những kẻ đi ngược lại với lợi ich quốc gia, dân tộc./. Theo ĐẤT MẸ VIỆT NAM

Vững vàng vượt qua đại dịch, thiên tai

“Chúng ta đã từng bước kiểm soát thành công đại dịch Covid-19”, luận điểm đó trong dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng được đông đảo nhân dân và bạn bè quốc tế thừa nhận, đánh giá cao.

Tuy nhiên, một số “học giả” quốc tế và “nhà dân chủ” tự phong người Việt lại hậm hực đăng đàn cho rằng “Việt Nam ăn may nhờ chế độ độc đảng toàn trị nên đã thắt chặt kiểm soát, khoanh vùng dịch bệnh”...

Sau một thời gian dài rêu rao “Việt Nam giấu dịch” bất thành, ra sức “tạo sóng cồn trong chậu nước” nhưng dư luận chẳng mấy quan tâm, mấy “nhà dân chủ" tự phong và vài ba “học giả” quốc tế đã “tắt điện toàn tập” trước sự thật về thành công của công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam. Vừa rồi, nhân sự kiện Đảng ta công bố, lấy ý kiến của nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, họ lại lợi dụng điều này, hy vọng “vớt vát” sự chú ý của dư luận vào những phân tích vô lối, ngụy khoa học trước đó. Bằng những luận điệu “nhai đi, nhai lại”, họ nói: “Cộng sản Việt Nam đã ăn may quá lớn. Bộ máy cai trị độc đảng bỗng phát huy giá trị khi phát đi những mệnh lệnh thắt chặt kiểm soát quyền con người”; “tư tưởng phong kiến, tư duy bảo thủ, lạc hậu, sự tách biệt với thế giới giúp cộng sản Việt Nam chống dịch Covid-19 dễ hơn các nước phương Tây và các nước Đông Á”.

Luận điệu đó chỉ là những tiếng nói yếu ớt của một số nhà phân tích và bình luận phương Tây, với định kiến vốn có về chủ nghĩa xã hội và các đảng cộng sản. Thành công của Việt Nam trong phòng, chống đại dịch Covid-19 đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đánh giá cao.

Cho đến nay, trong khi đại dịch Covid-19 vẫn hoành hành trên thế giới, nhiều quốc gia bắt buộc phải tái phong tỏa trở lại thì Việt Nam vẫn vững vàng, gần 70 ngày không có ca mắc mới trong cộng đồng. Nhân dân ta vừa phòng, chống đại dịch Covid-19, vừa chung tay phòng, chống thiên tai và sạt lở đất chưa từng có ở miền Trung; đồng thời ra sức phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với tình hình dịch bệnh; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống của nhân dân, là một trong số ít quốc gia có kinh tế tăng trưởng dương năm 2020.

Những thành tựu đáng kể nêu trên không chỉ bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc về kết quả phòng, chống đại dịch Covid-19 tại Việt Nam mà còn khẳng định rõ ràng hơn bao giờ hết về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lâu nay, những kẻ thiếu thiện chí với Việt Nam vẫn ra sức khuếch đại luận điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam không có khả năng lãnh đạo phát triển kinh tế”. Tuy nhiên, thành tựu không thể phủ nhận trong gần 35 năm đổi mới, nhất là thành tựu chèo lái đất nước vững bước vượt qua đại dịch toàn cầu đã khẳng định bản lĩnh, tầm nhìn và khả năng lãnh đạo của Đảng ta. Đặc biệt, trong những ngày qua, những đợt bão chồng bão, lũ chồng lũ kèm theo sạt lở đất nghiêm trọng diễn ra ở miền Trung nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đoàn kết muôn lòng như một, vừa kiên cường chống thảm họa, thiên tai, vừa chung tay san sẻ yêu thương; vừa tìm kiếm nạn nhân mất tích, vừa cứu trợ đồng bào trong vùng bị cô lập, nỗ lực khắc phục hậu quả để khôi phục sản xuất, đời sống, quyết không để ai bị tụt lại phía sau.

Đã có nhiều cơ quan báo chí quốc tế đặt câu hỏi: Vì sao Việt Nam tiềm lực không bằng các nước phát triển châu Âu, châu Mỹ mà lại vững vàng trước đại dịch và thiên tai như vậy? Những lời khen ngợi của bạn bè như “kỳ tích”, “bất ngờ”, “bài học quý báu”, “hình mẫu”... chính là những lời phản bác đanh thép nhất dành cho những người thiếu thiện chí với Việt Nam. Hình ảnh những cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an, dân quân tự vệ không ngại gian khổ, hy sinh; có mặt kịp thời để cứu giúp nhân dân trong tâm bão, lũ đã trả lời cho câu hỏi của bạn bè năm châu về sức mạnh nội sinh của Việt Nam. Đại dịch Covid-19 và thiên tai đã gây thiệt hại to lớn về người và của đối với Việt Nam nhưng trong muôn vàn khó khăn và thử thách đó, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc lại được phát huy cao độ. Có thể nói, từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới cho đến nay, chưa bao giờ sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với Đảng lại lớn mạnh như thời điểm này. Đó là nguồn lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ sẽ cuốn phăng mọi âm mưu, luận điệu xuyên tạc lạc lõng về những thành tựu mà nhân dân và đất nước ta đã đạt được trong thời gian qua!

 

Cách mạng Táng Mười Nga - “Ngọn đuốc” vạch thời đại và trách nhiệm của chúng ta

     Từ sau cuộc cách mạng làm “rung chuyển thế giới”, nhân loại đã trải qua hơn 100 năm đầy biến động, thăng trầm. Trong đó, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 là tổn thất vô cùng lớn. Nhưng đó là sự sụp đổ của mô hình cụ thể, chứ không phải sụp đổ hay cáo chung của Chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội như các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, xuyên tạc.

Cách mạng thế giới đã và đang trải qua giai đoạn khủng hoảng, khó khăn nhưng xu thế vận động khách quan của lịch sử mà Cách mạng Tháng Mười Nga vạch ra và tính tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là không thể đảo ngược. Lý tưởng cao đẹp của cuộc cách mạng vĩ đại này vẫn đang được chứng minh sinh động ở các quốc gia, dân tộc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dù còn nhiều sóng gió, thử thách nhưng con đường mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra vẫn là “ngọn đuốc” vạch thời đại, là mục tiêu, lý tưởng, là tương lai tốt đẹp mà các dân tộc hướng tới. Như Đảng ta đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Những luận điệu bóp méo, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc giá trị của cuộc cách mạng vĩ đại với mưu đồ đen tối, không thể dễ dàng làm lung lạc dư luận, càng không bao giờ làm đảo lộn xu hướng phát triển tất yếu của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Quay lưng lại quá khứ và bôi nhọ các giá trị truyền thống cũng chính là hành động phá hoại tương lai.

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao trách nhiệm, cảnh giác, hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn những luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử nói chung trong đó có sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại./.

 

 

Nhận diện phương thức, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch đối với Cách mạng Việt Nam

Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là không thay đổi. Nhằm tạo sự chuyển hóa từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá cả về lý luận, quan điểm, đường lối, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và đòi tước bỏ cơ sở pháp lý đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ”. Thực hiện ý đồ trên, chúng dùng các thủ đoạn, như: móc nối kích động để nhiều người, nhiều đối tượng cùng tham gia viết bài, tuyên truyền đi trái với đường lối, quan điểm của Đảng theo phương châm “mỗi người chỉ là một giọt nước” nhưng nhiều giọt nước sẽ ngấm dần, nhằm phân hóa nội bộ, chuyển hóa dần từ trong Đảng ra ngoài xã hội. Đồng thời, chúng đẩy mạnh tuyên truyền gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản,… qua đó từng bước chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ, quan điểm của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Cùng với các thủ đoạn trên, các thế lực thù địch còn lợi dụng lòng yêu nước cực đoan, hay một số sơ hở, hạn chế của chính quyền cơ sở để tạo “sự kiện”, kích động những người nhẹ dạ, cả tin tuần hành, biểu tình trái luật tạo “điểm nóng” để kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài. Nhìn lại các cuộc biểu tình, đập phá, phá hoại có biểu hiện bạo loạn gần đây như ở tỉnh Bình Dương năm 2014, tỉnh Hà Tĩnh năm 2016 và ở tỉnh Bình Thuận tháng 6-2018, có thể thấy rất rõ các thế lực thù địch đã và đang âm mưu áp dụng những phương thức “bạo loạn chính trị” tại Việt Nam. Đặc biệt, sau khi Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ban hành Luật An ninh mạng, chúng tiếp tục thổi phồng đạo luật này nhằm “lừa bịp nhân dân”, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân và vi phạm chính bản Hiến pháp 2013. Từ đó, chúng kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà chuyển sang dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”. Chúng phát động cái gọi là phong trào “bất tuân dân sự” đối với Luật An ninh mạng và sự quản lý của Nhà nước, v.v. Những sự việc đó nếu không được kiểm soát và ngăn chặn thì các đợt biểu tình, gây rối này sẽ tiếp tục tái phát, thậm chí lây lan, tạo ra hiệu ứng đô-mi-nô trong xã hội. Động cơ, mục đích của các đối tượng gây ra các vụ việc trên là nhằm rối loạn an ninh chính trị để tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Từ những vụ việc trên cho thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị của các thế lực thù địch; bộc lộ rõ lực lượng, phương tiện, phương thức, âm mưu thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm; có lúc công khai, trực diện, có sự hỗ trợ, tham gia của các đối tượng từ nước ngoài, v.v. Từ kích động tuần hành, biểu tình, tạo cớ đẩy lên thành bạo loạn; từ thăm dò phản ứng, hiệu quả ứng phó của cơ quan chức năng, chúng có thể tập dượt để đi tới tổng biểu tình đi kèm bạo loạn lật đổ chính quyền, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

          Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, chúng rêu rao: quân đội nên “trung lập hóa về chính trị”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, quân đội phi giai cấp, do đó quân đội chỉ phục tùng Nhà nước chứ không chịu phục tùng bất cứ chính đảng nào. Thực chất chính là làm cho Quân đội ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; mưu đồ xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Thủ đoạn của chúng là lợi dụng tình hình chính trị, quân sự phức tạp trên thế giới và khu vực; những tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường, vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền,… để tác động vào nhận thức, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Chúng lợi dụng triệt để mặt trái của công nghệ truyền thông và mạng xã hội để viết bài, thông tin tiêu cực, tán phát tài liệu sai trái về Quân đội, từ đó tác động, thẩm thấu vào nhận thức, tình cảm, niềm tin của cán bộ, chiến sĩ, gây hoài nghi về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, làm cho bộ đội dao động tư tưởng, giảm sút ý chí, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, chúng ra sức tìm mọi cách bôi nhọ, làm xấu hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, chia rẽ mối quan hệ quân - dân, kêu gọi thanh niên không nên nhập ngũ. Thủ đoạn của chúng là thường trá hình, mặc quân phục giả danh bộ đội để làm việc xấu; lợi dụng các cuộc tuần hành, biểu tình gây rối, đánh nhân dân để chụp ảnh, ghi hình tung lên mạng xã hội. Gần đây, lợi dụng sự bất cập trong quản lý đất quốc phòng ở một số đơn vị, chúng thổi phồng sự việc và quy chụp rằng: nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là “do một đảng toàn trị, độc tài lãnh đạo quân đội nên quân đội được đặc quyền, đặc lợi mà không ai kiểm soát” (!). Việc làm của chúng không chỉ nhằm bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn làm cho người dân có cái nhìn thiếu thiện cảm về bộ đội, làm suy giảm uy tín, hình ảnh của Quân đội ta, từ đó tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Quân đội.

 Nhận diện những chiêu trò mới về phương thức, thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nói chung, “phi chính trị hóa” Quân đội nói riêng, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ hết sức quan trọng; từ đó, kịp thời có biện pháp đấu tranh phòng, chống hiệu quả. Đây vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là nhiệm vụ, nội dung trọng tâm, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hiện nay.VNĐ

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

HÀNH VI ÉP BUỘC NGƯỜI KHÁC UỐNG RƯỢU, BIA SẼ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH

Việt Nam được liệt vào tốp những nước tiêu thụ rượu bia hàng đầu thế giới. Trong thực tiễn, thói quen lạm dụng và ép buộc nhau uống rượu bia ở Việt Nam đã trở thành phổ biến. Hằng ngày, chúng ta dễ dàng bắt gặp trong các cuộc vui, cuộc nhậu tình trạng nhiều người không muốn hoặc không uống được rượu bia, nhưng vẫn bị người khác lôi kéo, ép buộc. Có khi trẻ em cũng bị người lớn ép buộc uống. Hoặc bạn bè, đồng nghiệp dự cuộc vui, dù không uống được nhưng vẫn bị ép. Có trường hợp trong cùng cơ quan, nhân viên chưa uống xong thì lãnh đạo chưa chịu về. Đi công tác, gặp cuộc nhậu thì những câu nói như "anh không uống là không nể mặt tôi" đã trở thành quen thuộc. Nhiều người dù phải lái xe nhưng vẫn bị bắt uống, dẫn đến nguy cơ không đảm bảo an toàn. Đấy là những hành vi ép buộc, không theo ý muốn tự nguyện của mỗi người. Thực trạng này có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của nhiều người, tạo ra những thói quen không văn minh và nhiều hệ lụy xấu đối với xã hội. Để lên án nhằm giảm bớt tình trạng trên, ngày 28 tháng 9 năm 2020 Chính phủ ban hành Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2020. Theo đó, quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về uống rượu, bia và địa điểm không được uống rượu, bia tại Điều 30 như sau: - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi: Ép buộc người khác uống rượu bia; Uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập. - Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Uống rượu, bia tại địa điểm không uống rượu, bia theo quy định của pháp luật; Xúi giục, kích động, lôi kéo người khác uống rượu bia. - Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng với người từ đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia. Nghị định này thay thế cho Nghị định 176/2013/NĐ-CP và đã thêm hành vi "ép người khác uống rượu bia" vào danh sách hành vi bị xử phạt và mức phạt cao nhất có thể lên tới 3.000.000 đồng. Quy định xử phạt hành vi ép buộc, xúi giục, lôi kéo, kích động người khác uống rượu bia nhằm đảm bảo quyền từ chối các loại đồ uống có cồn của mọi người dân; đồng thời giúp người dân có ý thức rằng đây là hành vi bị pháp luật cấm và không vi phạm. Nếu vi phạm mà bị phát hiện thì những người xung quanh có thể ngăn chặn, tố giác. Và điều quan trọng là những quy định này sẽ góp phần giảm bớt tác hại của rượu bia, định hướng thói quen tiêu dùng rượu bia văn minh, tự nguyện và dần dần tạo thành nếp sống mới trong xã hội. Vậy nên, mỗi người dân cần nhận thức đầy đủ về các quy định của cơ quan chức năng về việc uống rượu bia. Đồng thời, trước nhập cuộc tiệc tùng, chúng ta phải biết kiềm chế, khéo từ chối, không uống rượu bia quá nhiều, không uống khi lái xe và tuyệt đối không lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia, tránh vi phạm dẫn đến hậu quả đáng tiếc.

BIỂU TÌNH VÀ COVID-19

 

Bất chấp số ca nhiễm mới Covid-19 tăng vọt, hàng nghìn người dân ở Mỹ và các nước châu Âu vẫn xuống đường biểu tình phản đối mỗi khi các nước áp dụng các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 của nhà chức trách đề ra.

“Tự do hoặc chết”, “Covid-19 là trò lừa gạt”… là những câu khẩu hiệu thường thấy xuất hiện trong các cuộc biểu tình.

Biểu tình – Nguy cơ “siêu lây nhiễm” Covid-19: Bác sĩ William Schaffner, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm của Đại học Vanderbilt, Mỹ cho biết: “Một lượng lớn người tụ tập với nhau trong 1 thời gian dài. Họ la hét lớn, họ thở rất mạnh. Có nhiều người nhiễm Covid-19 không triệu chứng và virus có thể lây lan nhanh. Tôi đặc biệt lo lắng về điều này. Chúng tôi không muốn ai bị nhiễm bệnh, rồi mang virus về nhà cho gia đình và người thân. Các cuộc biểu tình có thể làm tăng tốc đợt bùng phát thứ 2 so với những gì chúng ta đã dự đoán”. Nhà nghiên cứu lịch sử y học Howard Markel cảnh báo các cuộc biểu tình hiện nay sẽ giống với các cuộc tuần hành được tổ chức ở các thành phố của Mỹ vào thời điểm xảy ra đại dịch cúm năm 1918 và hậu quả là số ca bệnh đã gia tăng nhanh chóng. Theo ông, việc cảnh sát sử dụng hơi cay để giải tán người biểu tình cũng có thể khiến mọi người ho và tác động đến cả mắt, mũi, miệng, từ đó làm tăng khả năng lây nhiễm Covid-19.

Đám đông người biểu tình tụ tập tại trung tâm thành phố Huntington Beach (California, Mỹ) để phản đối sự giãn cách xã hội và phong tỏa gây suy thoái kinh tế

Nguy cơ vậy, nhưng một bộ phận người dân các nước vẫn tụ tập biểu tình, tự cho đó là quyền tự do dân chủ của họ. Chính quyền các nước đều đưa ra các qui định về yêu cầu tuân thủ biện pháp phòng chống Covid-19 (như qui định giãn cách xã hội, đeo khẩu trang…) với các chế tài xử phạt nghiêm khắc, cũng yêu cầu người dân phải có nghĩa vụ bảo vệ sức khỏe của bản thân và người khác xung quanh, nhưng một khi biểu tình xảy ra người biểu tình vẫn bất chấp không tuân theo, tiếp tục đụng độ xô xát với lực lượng cảnh sát, nhiều nơi vượt tầm kiểm soát. “Họ không chỉ gây nguy hiểm cho sức khỏe của chúng ta, mà còn đe dọa những thành công của chúng ta trước đại dịch”, chính trị gia người Đức Saskia Esken viết trên Twitter.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hoành hành khắp nước Mỹ và các nước châu Âu khốc liệt, người dân vẫn được phép tụ tập biểu tình để cho Covid-19 càng lây nhiễm tràn làn. Với tình trạng như vậy, biết đến bao giờ mới chấm dứt cơn khủng hoảng covid đây, chắc chỉ còn trông chờ vào “thần dược” vắc-xin vậy.

Dân túy, quan túy và thuật “nói vậy mà không phải vậy”.

 Công cuộc “đốt lò” của Đảng nhằm chặn đứng cuộc khủng hoảng niềm tin đã có những chỉ dấu tích cực, những con sâu mọt cộm cán từng khoác lên mình những chức vụ cao cấp bị lôi ra ánh sáng. Những con sâu mọt này khi còn đương chức từng biến hóa, nguỵ trang, khoác lên mình đủ thứ tuyên ngôn hùng hồn tỏ vẻ cần kiệm, sạch sẽ. Khi phanh phui các vụ tham nhũng của những con sâu cộm cán này, tiết lộ một bức tranh đa chiều kích: Nếu như trước đây rộ lên chủ nghĩa “dân túy”, thì song song với nó, chủ nghĩa “quan túy” cũng thịnh hành. Quan túy hay dân túy, tiền đều vào túi quan, và người dân là nạn nhân của họ

            Trong tiếng Việt, tôi cực kỳ ưng một từ mà các tiền nhân đã dịch: từ “populism” được dịch thành “chủ nghĩa dân túy”. Nôm na đại khái là lừa mị đám đông, dân chúng; đánh vào điểm yếu tâm lý của họ để chiều chuộng cảm xúc nhất thời, để lấy lòng hay chiếm cảm tình của họ. Tôi thích được hiểu “dân túy” là chuốc rượu cho dân say (“túy” trong Hán Việt nghĩa là uống rượu say).

        Vậy “quan túy” là gì? Nó là một chiều kích khác của việc “làm say” người đồng hàng ngũ nhằm trục lợi. Nếu dân túy là chọn DÂN làm đối tượng để mị, tìm cách “làm màu”, làm cho dân “say” để lấy được lòng tin của quần chúng, thì quan túy lại chọn QUAN là đối tượng để mị, tìm cách “làm màu”, làm “say” nhằm lấy được lòng tin của đồng chí, đồng đội, cấp trên. Một bên đánh bả lòng tin của đám đông quần chúng, một bên rắc bả mê lú đối với đồng chí, đồng đội, cấp trên.

Tất cả đều toát lên đặc điểm nổi trội của thuật “nói vậy mà không phải vậy”. Trên cùng một trận tuyến, quan chức theo chủ nghĩa quan túy hô hào ủng hộ đồng đội về đấu tranh cho một thế giới tốt đẹp, nhưng kỳ thực lại thọc tay vào túi công sản để tư lợi cho mình. 

     Việt Nam, nếu bậc thầy của chủ nghĩa dân túy là Đinh La Thăng (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải), thì bậc thầy chủ nghĩa quan túy ắt hẳn phải kể đến Nguyễn Bắc Son hay Trương Minh Tuấn (cả hai đều là nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông).

        Chẳng biết từ bao giờ, không ít chính trị gia có xu hướng làm hình ảnh bằng các tuyên ngôn. “Nổ” rằng mình vì dân, “nổ” rằng mình vì Đảng. Nếu như “tín đồ” chủ nghĩa dân túy hô hào rằng “trảm tướng” để chiều chuộng, làm hài lòng đám đông trong phút chốc, thì những “tín đồ” chủ nghĩa quan túy viết sách “chống diễn biến hòa bình”, “chống nói xấu Đảng và Nhà nước” để thu nhận niềm tin của cấp trên, đồng chí, đồng đội. Dù nhắm đến mê mị dân, hay mê mị quan, thì mục tiêu cuối cùng vẫn là rải thảm hoa hồng bằng ngôn từ ngon ngọt trên thảm sự nghiệp chính trị của quan tham.

        Ông Nguyễn Bắc Son, khi còn là Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, đang lúc dư luận râm ran câu chuyện mắc mớ của ông trong thương vụ AVG, ông hùng hồn tuyên bố trên truyền thông, đại loại: Nói xấu quan chức lãnh đạo thì sẽ phải xử lý hình sự. Hay các diễn ngôn về chống lá cải hóa báo chí… vân vân và vân vân. Điều đó hoàn toàn đúng, nếu như nói đi đôi với làm, thay vì nói vậy nhằm tạo lá chắn để ông đút hàng triệu đô-la vào túi cá nhân mình. Nói theo lối “quan túy” thuyết phục và “tài” đến mức khiến tổ chức và đồng chí của mình phải trao cả Huân chương Độc lập hạng Nhì cho ông Son lúc “hoàng hôn nhiệm kỳ” chuẩn bị “hạ cánh”. 

"Dân túy" hay "quan túy" đều nguy hiểm như nhau, việc “làm say” quá trớn người khác thực ra là việc “đánh bả niềm tin” với thuật “nói vậy mà không phải vậy”.

        Còn “đệ” của ông Son, ông Trương Minh Tuấn, cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, là một ví dụ điển hình của mẫu quan chức vừa theo chủ nghĩa quan túy lẫn chủ nghĩa dân túy.

        Về quan túy, ông viết sách dạy đồng chí, đồng đội, thuộc cấp... về “chống diễn biến hoà bình”, lên báo phát biểu “không cho phép ai đến nhà tặng quà Tết”, tỏ ra mình trong sạch, nhưng kỳ thực với sự tham nhũng của mình, ông ta tự lộ ra chân dung là một kẻ “diễn biến” cộm cán, phá tổ chức mạnh mẽ nhất. Ông Tuấn nổi tiếng là “sát thủ” làng báo: mạnh tay phạt, đóng cửa các tờ báo và thu hồi thẻ của các nhà báo. Điều mà chưa Bộ trưởng nào trước đó làm vậy.

Về dân túy, còn nhớ vụ chất độc từ khu công nghiệp Formosa đổ ra biển, dù chưa có điều tra khảo sát mang tính khoa học nào, ông Tuấn dẫn đoàn tùy tùng và các nhà báo thân cận nhiệt thành đi ăn cá để dụ người dân làm theo. Bằng việc này, ông Tuấn muốn thể hiện cho cả quan chức (cấp trên lẫn cấp dưới) và người dân thấy rằng ông là cán bộ mẫn cán, năng nổ. Hành động dân túy này, xui thay, đưa người dân vào vòng nguy hiểm, khi sau đó cơ quan y tế đã xác nhận cá biển thực sự nhiễm độc và nguy hại không được ăn.

        Rõ ràng, dân túy hay quan túy đều nguy hiểm như nhau, việc “làm say” quá trớn người khác thực ra là việc “đánh bả niềm tin” với thuật “nói vậy mà không phải vậy”. 

        Công cuộc “đốt lò” của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước đang gặt hái được những thành tựu lớn, và cần được đồng sức, đồng lòng hơn nữa của cả hệ thống chính trị, để ngăn chặn những kẻ mê “chuốc rượu cho dân/quan say” phải ngừng diễn trò ma quái tinh ranh. Quan chức đích thực luôn phụng sự dân, nói đi đôi với làm, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, thay vì diễn trò mồm miệng để “làm màu”, kiếm chác. Không ai dám chắc bao giờ mới hết những quan chức mê “chuốc rượu” cho người khác “say” để đút tiền vào túi tư lợi; nhưng có một điều chắc chắn, chẳng ai dại dột chìa mãi niềm tin ra để người khác lường gạt./.

    Nguồn: Tạp chí cộng sản. 

Đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

 

Đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Đây là nội dung, nhiệm vụ quan trọng của công tác tư tưởng hiện nay. Theo đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Chỉ thị 823-CT/QUTW, ngày 10-9-2017 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội”.

Kiện toàn tổ chức, phát huy tốt vai trò của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 trong chủ động đấu tranh, phản bác, vạch rõ thực chất của những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; làm cho cán bộ, chiến sĩ có sức đề kháng tốt, không nghe, không theo những thông tin xấu độc, trái chiều. Qua đó, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao về tư tưởng trong Quân đội, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội với Nhân dân của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ tốt trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội và trong Quân đội.

Giáo dục nâng cao cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo, bộ phận chuyên sâu, tổ thư ký, cơ quan giúp việc cấp ủy các cấp và lực lượng nòng cốt đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Các cơ quan báo chí, xuất bản, các học viện, nhà trường, trực tiếp là đội ngũ cán bộ cơ quan chiến lược, cán bộ nghiên cứu khoa học, phóng viên, biên tập viên trong toàn quân tiếp tục nêu cao trách nhiệm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Chủ động phản bác những quan điểm, tư tưởng sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và những phần tử phản động, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, duy trì nghiêm quy định về bảo mật thông tin, quy chế người phát ngôn, cucng cấp thông tin…, quy chế tuyển chọn, bố trí cán bộ, nhân viên, nhất là đối với các cơ quan cơ mật, trọng yếu; không để sơ hở, thiếu sót, vi phạm để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Trong “xây”, cần chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm; đẩy mạnh tuyên truyền gương “người tốt, việc tốt”, nhân rộng điển hình, những cái hay, cái đẹp, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong từng đơn vị và toàn quân; giáo dục ý thức chấp hành nghiêm quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí, sử dụng intetnet, tham gia mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ. Trong “chống”, cần chủ động, nhạy bén và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, phương tiện, nhất là lực lượng nòng cốt trong các đơn vị, các cơ quan báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật; đồng thời, tích cực ứng dụng khoa học - công nghệ, triển khai các giải pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.