Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Để thực hiện tốt quan hệ dân tộc ở Việt Nam cần nắm vững những đặc điểm dân tộc hiện nay

 


 Các dân tộc ở Việt Nam có dân sổ không đồng đều  

Hiện Việt Nam có 54 thành phần dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 86,4% dân số cả nước; 53 dân tộc thiều s chiếm 13,6% dân số. Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cùng không đồng đều, có dân tộc số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Hmông), nhưng có dân tộc số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, ơ đu). Dân số không đều giữa các dân tộc đang là vấn đề đặt ra trước yêu cầu giải quyết hợp lý số dân cho từng dân tộc. Thực tế ở Việt Nam, nếu một dân tộc mà s dân chỉ có hàng trăm thì rất khó cho việc tổ chức cuộc sng, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi. Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc có số dân quá ít phải trở thành quốc sách, một nhiệm vụ có tính thời sự của quốc gia.

 Các dân tộc ở Việt Nam cư trú rất phân tán và xen kẽ nhau, không có vùng lãnh thổ riêng cho một dân tộc.

Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc khu vực Đông Nam Á, đó là các dòng chuyển cư từ Nam lên, Tây sang và chủ yếu từ Bắc xuống. Qua các đợt chuyển cư đã có nhiều dân tộc định cư lâu dài ở Việt Nam. Các dòng chuyển cư đến đầu tiên định cư ở các thung lũng, chân núi; các đợt đến sau định cư ở rẻo giữa và các đợt sau nữa lấy rẻo cao làm nơi sinh sống. Tính chất chuyển cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán, xen kẽ. Đây là một đặc điểm nổi bật về bức tranh phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cũng chính tình hình cư trú phân tán, xen kẽ đã làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng. Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn.

Tính chất cư trú của các dân tộc ở Việt Nam một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, phát triển tinh thần đoàn kết, tương trợ; mặt khác, nếu không giải quyết tốt và kịp thời mối quan hệ giữa các dân tộc, thì dễ xảy ra mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị của đất nước.

 Các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam phân bổ chủ yếu trên các địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, môi trường sinh thái

Về phương diện kinh tế, miền núi - địa bàn phân bố chủ yếu của các dân tộc thiểu số là nơi chứa đựng hầu hết trữ lượng khoáng sản của đất nước

Từ nhiều thế kỷ qua, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự nhiên. Những vùng đất phì nhiêu ở khu vực này rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè... Những vùng đất rộng lớn của miền núi là tiềm năng để xây dựng các trang trại, nông trại. Rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng trồng cây lấy gỗ sẽ là nguồn tài sản quý báu của đất nước. Như vậy, miền núi Việt Nam chẳng những có khả năng phát triển nông lâm nghiệp kết hợp, mà còn có khả năng phát triển công nghiệp hiện đại, làm cơ sở để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Về phương diện chính trị, địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt quan trọng, nhiều dân tộc sinh sống đọc biên giới, tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Ở Việt Nam, một số tộc người như Mường, Chứt, Thổ, Bana, Cơ ho... chủ yếu cư trú trên lãnh thổ Việt nam, các tộc người khác (Hmông, Dao, Thái, Khơ me..) có một bộ phận sinh sống ở Việt Nam còn lại cư trú ở nước khác. Trong đó, một số dân tộc còn là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế mà hoạt động của họ có liên quan tới sự ổn định chính tri, xã hi ở Viêt Nam.

về phương diện quốc phòng, miền núi luôn là phên dậu vững chắc của quốc gia. Địa thế xung yếu, hiểm trở của miền núi và lòng yêu quê hương đất nước của nhân dân các dân tộc sinh sống ở đây làm cho miền núi trở thành nơi tụ nghĩa của nghĩa quân (nghĩa quân Lam Som), căn cứ địa cách mạng và kháng chiến (chiến khu Việt Bắc), nhiều khi là mồ chôn quân xâm lược (ải Chi Lăng ở Lạng Sơn thời chống Minh, Điện Biên Phủ thời chống Pháp hay Buôn Ma Thuột thời chống Mỹ.).

Từ sự phân tích tầm quan trọng của địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số Việt Nam, có thể dễ dàng nhận thấy vì sao Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và miền núi. Vì vậy, có thể hiểu tại sao trong lịch sử dựng nước và giữ nước tư tưởng “Một tấc không đi, một ly không dời, quyết tâm bám gi bản làng đã khắc sâu vào tâm khảm các dân tộc Việt Nam.

 Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều.

Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sng, quan hệ xã hội ca các dân tộc thiểu số rất khác nhau về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau. Một sổ ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm đoạt, khai thác của cải sẵn cỏ trong tự nhiên. Tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang kinh tể sản xuẩt, của cải vật chất nuôi sổng con người ngày được làm ra nhiều hơn.

Xuất phát từ trình độ phát triển về kinh tể - xă hội không đều nhau gia các dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương thực hiện bình đẳng dân tộc, xem đó là một nguyên tăc cơ bản trong chỉnh sách n tộc. Muốn thực hiện bình đảng dân tộc thì phải từng bước giảm, tiến tới xoả bỏ khoảng ch giữa các dân tộc về phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nội dung quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam để cảc dàn tộc thiều sổ tiến kịp dân tộc đa số. Trong quá trình xoá bỏ sự chênh lệch này, sẽ từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc. Hiện nay chủ trương của Đảng là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông; thôn, miền núi nhằm để tiến tới xoá bỏ sự chênh lệch nói trên trong sự phát triển của các đàn tộc. Một khi quyền bình đẳng được thực hiện không chi trên văn bản pháp lý mà còn trong thực tế cuộc sống thì sẽ là ca sở để củng cố, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa các dân tộc, đồng thời tạo sự đồng thuận và sức mạnh để chổng lại sự chống phá của các thế lực thù địch có thể lợi dụng vấn đề dân tộc đề phá hoại thành quả cách mạng nước ta.

 Các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết gn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc - quốc gia thống nhất

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trài qua nhiều cuộc chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Trong bối cảnh chịu sự chi phối mạnh mô của điều kiện tự nhiên và sự tác động của sự kiện lịch sử, các dân tộc đã sớm có ý thức tự giác, chung sống trong một quốc gia dân tộc. Mặc dù trình độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán có điểm khác nhau, thời điểm cư trú ở Việt Nam cũng không hoàn toàn giống nhau, song các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc đa số đã đoàn kết, tương trợ cùng nhau đấu tranh cùng chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, là một trong những nguyên nhân và động lực quan trọng, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng trong nhiều giai đoạn lịch sử. Nhờ có sức mạnh đoàn kết dân tộc, các dân tộc thiểu số cũng như đa số đã liên kết, hợp sức để khai phá đất hoang, xây dựng các hệ thống thủy lợi nhằm phát triển sản xuất; đánh thắng mọi kẻ thù xâm ỉược để giành lại độc ỉập thống nhất cho Tổ quốc.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, các dân tộc ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trong quan hệ giữa các tộc người, đoàn kết là xu hướng chủ đạo, là sức mạnh, là truyền thống, là điều kiện tồn tại của mỗi tộc người, của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân, trên từng địa bàn, nhiều nhân tố tiềm ẩn tác động không nhỏ vào truyền thống đoàn kết. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam đòi hỏi các dân tộc thiểu số cũng như đa số phải ra sức phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, giữ gìn và tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

 Mỗi dân tộc đều cỏ bản sắc văn hóa riêng góp phần làm nên sự phong phủ, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc dù có số dân ít hay nhiều, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hay thấp cũng đều có những sác thái văn hóa độc đáo riêng góp phần làm phong phú, đa dạng cho nền văn hóa

Về phương diện ngôn ngữ, các dân tộc ở Việt Nam tuy thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ vàn hóa khác nhau. Trong đó tiếng Việt được dùng làm phương tiện giao tiếp chung cho tất cả các dân tộc - ngôn ngữ phổ thông, là công cụ xây dựng ý thức dân tộc thống nhất. Tuy nhiên, tiếng nói riêng (tiếng mẹ đẻ) của mỗi dân tộc vẫn được duy trì trong nội bộ từng dân tộc, vẫn là công cụ xây dựng ý thức riêng của từng tộc người. Cùng với tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ do điều kiện sổng xen kẽ và nhu cầu giao tiếp, nhiều dân tộc đã sử dụng song hay đa ngữ trong giao tiếp.

Trong hoạt động sản xuất, mỗi vùng, mỗi dân tộc đều gắn với điều kiện tự nhiên và tập quán riêng. Nhà cửa các dân tộc ở Việt Nam có nhiều loại, tiêu biểu là nhà sàn và nhà đất Trang phục của mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng, thể hiện qua các kiểu áo, quần, váy, cách trang trí hoa văn...

Tổ chức xã hội ở mỗi dân tộc có những sắc thái riêng, là môi trường lưu giữ được nhiều tri thức văn hóa dân gian, dân ca, dân vũ có giá trị nghệ thuật cao tạo nên những bản sắc văn hóa riêng, phong phú, đa dạng. Song các dân tộc ở Việt Nam đều gắn bó trong quá trình dựng nước và giữ nước, có ý thức về quốc gia chung, có sự đóng góp vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

Tâm lý chủ quan, ý thức trách nhiệm kém còn hiện hữu ở một số người dân hiện nay trong chống dịch COVID-19

 


Hiện nay dịch COVID-19 đã bắt đầu bùng phát trở lại Việt Nam. Với quyết tâm cao nhất của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn dân phải nhanh chóng truy vết, tìm hiểu để xác định những người liên quan. Những ngày vừa qua, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đồng bộ các giải pháp, cho đến hôm nay đã truy vét và xét nghiệm số người nghi lây nhiễm bệnh nhưng không có ai có nguy cơ lây nhiễm. Tuy nhiên đây mới chỉ là biện pháp bước đầu. Hiện nay tâm lý chủ quan, cùng với ý thức kém của một số người lad tác nhân, nguy cơ cao để dịch bùng phát trở lại. Ngay ở Hà Nội, qua theo dõi mấy ngày vừa qua, mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh đã có dịch COVID-19 bùng phát trở lại, thấy rằng phần lớn nhân dân đã có ý thức hơn trong đeo khẩu trang, tuy nhiên ở một số người vẫn còn tâm lý chủ quan và ý thức trách nhiệm còn hạn chế nên không đeo khẩu trang. Nếu tình trạng này không được duy trì nghiêm túc, trong mấy ngày tới dịch bùng phát trở lại chúng ta sẽ có lượng người mắc rất lớn dịch COVID-19.

Việt Nam thực hiện tốt mối quan hệ tộc người xuyên/liên biên giới

 


Các quan hệ tộc người xuyên biên giới hiện nay chủ yếu là quan hệ nội tộc người, nhưng có điểm khác biệt so với các mối quan hệ nội tộc người ở trong nước là tính chất xuyên/liên quốc gia. Những mối quan hệ đồng tộc, thân tộc này có nhiều mặt tích cực song cũng ẩn chứa nhiều yếu tố tiềm ẩn, dễ bị các thể lực thù địch lợi dụng, đánh tráo những khái niệm giữa vấn đề lãnh thổ tộc người, vùng cư trú của tộc người và biên giới quốc gia.

 Quan hệ về nguồn gốc lịch sử: Trong số các dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là các tộc người cư trú ở vùng biên giới thường có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng, di cư đến Việt Nam vào những thời điểm và bởi các nguyên nhân khác nhau, trong đó có một bộ phận các dân tộc sau khi đến nước ta lại tiếp tục di cư sang quốc gia khác hoặc ngược lại di cư đến quốc gia khác rồi mới đến Việt Nam. Do đó, có tình trạng một số tộc người tuy hiện cư trú ở những quốc gia khác nhau, nhưng ngoài các mối tương đồng về đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng bào vẫn giữ được ý thức về nguồn gốc tộc người, tập tục thờ cúng tổ tiên chung và quan hệ dòng tộc của mình thông qua các câu chuyện huyền thoại, biểu tượng vật tổ hay tô tem và nghi lễ thờ cúng. Tuy nhiên, mối quan hệ này mang nhiều sắc thái và mức độ khác nhau giữa các dân tộc.

 Quan hệ kinh tế. Nhờ có mối quan hệ đồng tộc, thân tộc nên các cá nhân thường qua lại hai bên biên gii buôn bán, tìm cơ hội việc làm ăn, nhưng thường không thông qua kiểm soát của Nhà nước như tiếp nhận tiền và quà biếu tặng, hỗ trợ đầu tư sản xuất của các cá nhân, hoặc các tổ chức ở nước ngoài. Trong các hoạt động sản xuất, những người đồng tộc, thân tộc cũng thường xuyên giúp đỡ, trao đổi hoặc mua bán các giống cây trồng, vật nuôi, công cụ sản xuất, nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày và hỗ trợ nhân lực khi cần thiết. Việc trao đổi, mua bán giúp đỡ nhau này diễn ra hết sức linh hoạt ở các tộc người và tùy theo từng mối quan hệ, có thể tiến hành ờ các chợ cửa khẩu, các chợ địa phương ở vùng biên hai nước, tại các quầy hàng của gia đình hay đem đến tận các thôn bản.

 Quan hệ xã hội. Có thể nói, mối quan hệ này ngày càng phát triển, nhất là trong hôn nhân, gia đình và dòng họ. Trong quan hệ hôn nhân, các tộc người ở hai bên biên giới thường kết hôn với người cùng tộc, đa phần là nông dân và không cách trở nhiều về địa lý môi trường nên cũng ít gặp phải các trở ngại về ngôn ngữ, tập quán xã hội, sinh hoạt văn hóa, hoạt động sản xuất tại nơi ở mới.

Không chỉ trong hôn nhân, hầu hết các tộc người sinh sống ở vùng biên giới với Trung Quốc, Lào và Cămpuchia đều ngày càng tăng cường các mối quan hệ với những người đồng tộc, thân tộc ở bên kia biên giới. Trong đó, một bộ phận không nhỏ còn lợi dụng những mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới để thực hiện các hoạt động phi pháp, làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội, như: bắt cóc, lừa gạt và buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới; buôn bán hàng lậu; vận chuyển, mua bán ma tuý, vũ khí, tài liệu phản động; tiếp tay cho thổ phỉ hoặc tập hợp lực lượng nhằm mục đích ly khai, tự trị...

 Quan hệ văn hóa về cơ bản, mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới của các tộc người trên lĩnh vực văn hóa không diễn ra thường xuyên, chỉ có một số người có quan hệ máu mủ, thông gia, bạn bè thân thiết... sinh sống liền kề nhau dọc biên giới thi thoảng sang tham dự các lễ hội hay nghi lễ chung của dòng họ hay cộng đồng, mục đích chính vẫn là thăm viếng, thực hiện nghĩa vụ tâm linh truyền thống.

Tuy nhiên, thời gian gần đây thường xuyên xuất hiện việc lợi dụng quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới để qua lại đường biên bất hợp pháp nhằm vận chuyển, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, tài liệu tôn giáo và truyền đạo trái pháp luật. Đặc biệt trong mấy thập kỷ qua, hiện tượng một bộ phận người dân Hmông, Dao và của một số ít các dân tộc khác chuyển đổi sang theo đạo Tin Lành đã bắt đầu hình thành một xu hướng mới ưong quan hệ nội tộc người giữa những người có cùng tôn giáo. Như vậy, bên cạnh quan hệ đồng tộc, thân tộc truyền thống còn có thêm quan hệ về tôn giáo. Mối quan hệ này không chỉ diễn ra trong nội tộc người ở trong nước mà còn diễn ra giữa các đồng tộc, thân tộc ở nước ngoài và bộ phận tín đồ của các tộc người ở trong và ngoài nước.

Có thể nói, hiện nay các mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới ở nước ta đang ngày càng trở nên sâu rộng, tạo thêm nhiều cơ hội mới trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, khoa học, tình cảm, tâm linh... nhưng cũng làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề phức tạp, nhất là ở khu vực đa tộc người, đa tôn giáo vùng biên giới. Đặc biệt quan hệ đồng tộc, thân tộc, tôn giáo của một số tộc người đã vượt khỏi tầm quốc gia để có thể bị lợi dụng thành vấn đề quốc tế.

Việt nam coi trọng và thực hiện tốt quan hệ giữa các tộc người thiểu số

 


Về cơ bản các tộc người ở Việt Nam đều đề cao tính cộng đồng tộc người, dòng họ và thân tộc. Quan hệ với các tộc người khác chỉ diễn ra một số lĩnh vực như sinh hoạt kinh tế và xã hội chung.

+ Quan hệ kinh tế

Với đặc điểm cư trú xen cài và nông nghiệp nặng tính tự cung tự cấp nên mối quan hệ kinh tế được thể hiện giữa các gia đình mang tính chất láng giềng, giữa bản làng này với cộng đồng cư trú liền kề khác. Quan hệ kinh tế giữa các tộc người hiện nay có phần được đẩy mạnh hơn trước do điều kiện cư trú xen kẽ ngày càng gia tăng, nhất là việc một bộ phận người Kinh di cư lên miền núi và vùng dân tộc thiểu số khác đã có tác động đẩy mạnh khai hoang phục hóa đất đai và thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa các hình thức sản xuất nông nghiệp và trao truyền các kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất cho đồng bào các dân tộc; đồng thời, người Kinh cũng phải học tập kinh nghiệm lâu đời của người dân tộc để sản xuất hiệu quả ở vùng đất mới...

Tuy nhiên, trong quá trình đó, cũng không tránh khỏi những bất đồng xảy ra liên quan đến lợi ích giữa các cộng đồng dân cư tại chỗ và bộ phận mới đến, nhất là quyền lợi trong các mối quan hệ đất đai. Các mối quan hệ này vừa mang tính trực tiếp vừa gián tiếp, biểu hiện rất đa dạng ở từng vùng, từng tộc người. Nếu như trong thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp, quan hệ kinh tế giữa các tộc người tại các địa phương diễn ra theo xu hướng ngày càng xích lại gần nhau, bởi tính chất cơ bản của nền kinh tế thời bấy giờ là cùng làm ăn chung theo mô hình hợp tác xã thì hiện nay một số địa phương đang diễn ra xu hướng và biểu hiện có phần ngược lại. Quan hệ này ngày càng trở nên bức xúc do xuất hiện thường xuyên hơn các mâu thuẫn liên quan đến tranh chấp đất đai.

Quan hệ kinh tế giữa các tộc người cho đến nay chủ yếu diễn ra các hoạt động nông nghiệp và trao đổi mua bán truyền thống, phần lớn mang tính tự phát giữa người dân với nhau, nhất là ở khu vực đa dân tộc sống xen cư xen canh, những gia đình có quan hệ hôn nhân, kết nghĩa anh em. Do đó, cn đẩy mạnh hơn nữa các mối quan hệ kinh tế khác, nhất là phải tăng cường sự định hướng, tổ chức của Nhà nước, chính quyền và đoàn thể địa phương.

+ Quan hệ chính trị xã hội:

Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ giữa các tộc người còn liên quan mật thiết đến sự trỗi dậy ngày càng manh mẽ về ý thức tự giác của nhiều dân tộc, nhất là trong đội ngũ trí thức và cán bộ địa phương. Có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú ý là cùng với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế là việc tăng cường các chính sách ưu tiên đầu tư phát triển, Nhà nước hỗ trợ cho các tộc người có số dân ít, sinh sống ở các địa bàn khó khăn đã góp phần làm trỗi dậy ý thức tự giác tộc người tạo nên "điểm nóng" ở một số tộc người tại một số địa phương; tâm lý mong muốn có người của mình tham gia vào hệ thống chính trị các cấp; được hưởng đầy đủ các chính sách ưu tiên của Nhà nước như cử tuyển con em vào các trường đại học cao đẳng, gửi con em vào các trường nội trú ở địa phương... Tình trạng này dẫn đến việc một số nhóm tộc người muốn tách ra thành một dân tộc riêng, một số khác lại muốn đổi tên gọi (Người Pu Nà ở tỉnh Cao Bằng đòi được đổi tên là người Quý Châu, dân tộc Khơ Mú ở Nghệ An và người Hmông (trước đây) cũng đề nghị được xem xét thay đổi tên gọi... Tất cả những động thái này đã và đang làm ảnh hưởng tiêu cực không chỉ trong nội bộ tộc người, mà còn giữa các tộc người và khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới.

+ Quan hệ văn hóa: Mối quan hệ này phát triển tương đối toàn diện, các tộc người không chỉ học hỏi nhau cách thức ăn, mặc, ở và đi lại mà còn giao lưu, tiếp thu các yếu tố phù hợp trong đời sống tâm linh, thông qua việc tổ chức lễ hội và các thực hành tín ngưỡng, tạo nên những đặc trưng văn hóa mang đậm dấu ấn tộc người thể hiện nét văn hóa liên tộc người hay văn hóa vùng. Trong đó, đáng chú ý là việc một số tộc người sử dụng ngôn ngữ của các tộc người có dân số đông trong vùng đóng vai trò quan trọng, thể hiện nhu cầu phát triển các mối quan hệ giữa các tộc người. Chẳng hạn, ngoài tiếng Kinh thì đa số các dân tộc vùng Tây Bắc có thể sử dụng được tiếng Thái, ở vùng Đông Bắc là tiếng Tày, không chỉ để giao tiếp với người Thái, ngưòi Tày mà còn giao tiếp với nhau thông qua ngôn ngữ thứ ba.

Như vậy, để có thể phát triển mối quan hệ giữa các tộc người thông qua văn hóa, các dân tộc cần hiểu biết, tôn trọng tập quán, lối sống, hệ giá trị của các tộc người láng giềng, không ngừng nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống, tổ chức các sinh hoạt văn hóa chung bổ ích để tạo điều kiện cho các dân tộc có thêm nhiều cơ hội giao lưu, hòa hợp, xích lại gần nhau.

- Quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số

Mối quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số mang tính cơ bản, liên thông với các quan hệ khác và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

+ Quan hệ kinh tế: Ngoài yếu tố giao lưu, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong sản xuất, tạo ra được các quan hệ tích cực trong hoạt động kinh tế giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, trong đó người Việt giữ vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong việc truyền bá khoa học kỹ thuật và đẩy manh hệ thống thương mại, dịch vụ ờ vùng các tộc người thiểu số, thì mối quan hệ này đã nảy sinh một số mâu thuẫn trong làm ăn, buôn bán, nhất là ở các khu vực cửa khẩu hoặc vùng cỏ điều kiện phát triển kinh tế. Sự phân hoá xã hội, trong đó phân hoá giữa nhóm tộc người có khả năng phát triển nhanh với nhóm chậm phát triển dưới tác động của kinh tế thị trường, đang làm nảy sinh tâm lý so bì đố kỵ giữa các tộc người ờ một số nơi. Định kiến của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh do sự gia tăng những tiêu cực trong làm ăn, buôn bán của một bộ phận người Kinh đối với họ. Ngược lại, đó là sự kỳ thị của người Kinh với các dân tộc thiểu số, sự so bỉ của người Kinh, nhất là người Kinh di dân tái định cư theo kể hoạch ở vùng núi, với đồng bào các tộc thiểu sổ về các chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà nước đối với các tộc người thiểu số Đặc biệt, nảy sinh ngày càng nhiều và sâu sắc mâu thuẫn, tranh chấp đất đai giữa một bộ phận người dân tộc tại chỗ với bộ phận người Kinh mới nhập cư, nhất là di cư theo kế hoạch của Nhà nước. Mâu thuẫn về đất đai đôi khi căng thẳng tới mức đã gây ra xung đột cục bộ giữa một bộ phận người dân tại chỗ với người Việt mới nhập cư tại một số địa phương trong những năm gần đây, nhất là các tỉnh có mức độ di cư và tái định cư cao như vùng Tây Nguyên, Tây Bắc...

+ Quan hệ chính trị xã hội: Hoà hợp giữa các tộc người, nhất là giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số được thể hiện ở sự gia tăng về mức độ cư trú xen kẽ, sự tăng cường các mối quan hệ thuê mướn lao động, việc sử dụng song ngữ, hôn nhân hỗn hp giữa các tộc người, về cơ bản, quan hệ giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số ở nước ta vẫn đảm bảo bình đẳng, tôn trọng, hoà hợp và giúp đỡ lẫn nhau. Người Kinh vẫn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và đảm bảo đoàn kết dân tộc, thể hiện rõ nét trên các lĩnh vực một đội ngũ cán bộ công chức đông đảo và trình độ chuyên môn cao của người Kinh đang phục vụ ở các vùng đồng bào dân tộc, đại đa số giáo viên, nhân viên y tế, khoa học kỹ thuật ở vùng miền là người Kinh; tỷ lệ kết hôn hỗn hợp giữa người Kinh với các tộc người thiểu số ở khắp mọi vùng miền ngày càng trở nên phổ biến.

Tuy vậy, ngoài những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển kinh tế, chính trị xã hội, an ninh, quc phòng và củng cố tình đoàn kết giữa nhân dân các tộc người, ở các địa phương ngày càng có nhiều người Kinh, kể cả cán bộ, viên chức Nhà nước có những hành vi tiêu cực, gây tổn hại  cho quan hệ lâu đời giữa các dân tộc. Cụ thể là sự xuất hiện ngày càng nhiều trường hợp người Kinh cho người dân tộc thiểu số vay nặng lãi, bán chịu giá cao, mua bán ép giá. Một số khác có chức, quyền đã dưa con em, họ hàng đến lập nghiệp, lấn chiếm những nơi thuận tiện giao thương, chủ yếu là các khu đt ven trụ sở ủy ban xã, trung tâm cụm xã, chợ, trường học, thị tứ, thị trấn, ven những con đường và công trình công cộng mới được xây dựng. Chưa kể một số doanh nghiệp người Kinh làm chủ đến vùng dân tộc thiểu số thực hiện các dự án, hoạt động du lịch, buôn bán, khai thác tài nguyên... ngoài việc lợi dụng tính thật thà của các tộc người thiểu sổ để khai thác tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của họ, mà còn tìm nhiều cách xâm hại đến hạnh phúc gia đình họ.

Những việc làm không tốt đẹp này đang diễn ra ngày càng nhiều, làm cho các tộc ngưòi thiểu số ở nơi này nơi kia có tâm lý ác cảm và quay lưng dần với người Việt. Đặc biệt, một số tộc người tại một số địa phương còn hình thành tâm lý và dư luận cho rằng người Kinh lên chiếm đất đai của cha ông để lại cho họ. vấn đề này càng bộc lộ rõ hơn trong thời gian gần đây khi chúng ta triển khai các khu tái định cư, giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình, dự án phát triển quốc gia. Lợi dụng vấn đè này, một số học giả phương Tây và các thế lực phản động đã xuyên tạc, bịa đặt hòng chi rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Như vậy, trong quan hệ chính trị - xã hội giữa các tộc người, giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu s đã xuất hiện tư tưởng ly khai, tự trị. Các biểu hiện này nếu không được giải quyết thỏa đáng sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu bất đồng, mâu thuẫn, gây ra các “điểm nóng” về chính trị và xã hội.

+ Quan hệ văn hóa: Có thể nói ngày càng phổ biến xu hướng giao lưu, hợp tác về mọi mặt, trong đó có yếu tố văn hóa là xu hướng chủ đạo trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Chẳng hạn như tiếng Việt ngày càng đóng vai trò to lớn và là một trong những tiêu chí cơ bản nói lên xu hướng giao lưu hòa hợp này. Đến nay, hầu hết các tộc người thiểu số đều biết sử dụng tiếng và chữ viết của người Kinh ở những mức độ khác nhau để giao tiếp, học tập, làm ăn kinh tế.. Ngược lại ở rất nhiều nơi vùng cao biên giới, một bộ phận người Kinh đã tích cực học tiếng của các tộc người thiểu số trong vùng để giao tiếp và làm ăn, sống trong các ngôi nhà sàn, uống rượu cần, làm nương rẫy... như các tộc người thiểu số trong vùng.  

Để giữ vững và phát triển quan hệ tốt đẹp giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số cần kiên quyết chống tư tưởng dân tộc lớn, tránh sự áp đặt. Ngược lại, các tộc người thiểu sổ do trình độ phát triển còn nhiều hạn chế nên dễ có những tư tưởng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cục bộ địa phương. Do vậy, để đoàn kết giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu sổ cần phát triển sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, hẹp hòi, địa phương, bản vị và đẩy nhanh phát triển bền vững kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường vùng đồng bào dân tộc thiểu sổ.

Quyết liệt, thần tốc trong chống dịch COVID-19 ở Việt Nam

 


Trong những ngày vừa qua Việt Nam chúng ta lại có ca mắc mới dịch COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây có thể nói là vấn đề rất nghiêm trọng trong tình hình hiện nay.

Quyết liệt hơn, thần tốc hơn nữa trong phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay. Đây là sự quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân Việt Nam trong chống dịch COVID- 19 hiện nay.

Từ một trường hợp có thức kém trong cách ly, hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ rất lớn bùng phát dịch trở lại nếu như không ngăn chặn kịp thời. Hiện nay các cấp, các ngành, các lực lượng ở thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác phải coi đây là một vấn đề rất nghiêm trọng, cần thực hiện nhanh, gọn và đồng bộ các giải pháp. Bởi vì nếu chần chừ chỉ một hai ngày tới việc lây nhiễm phi mã dịch COVID- 19 sẽ sảy ra. Cho nên hiện nay phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt là vấn đề truy quét dịch của chuyên môn bộ y tế và sự khai báo trung thực của người dân. Hiện nay nếu chúng ta thực hiện tốt được hai vấn đề này chắc chắn chúng ta sẽ kiểm soát được dịch

Việt Nam thực hiện tốt mối quan hệ trong nội bộ từng tộc người

 


Quan hệ này được thể hiện chủ yếu thông qua các mối quan hệ trong gia đình, giữa các gia đình trong dòng họ và cộng đồng (láng giềng), giữa các dòng họ, giữa các làng bản đồng tộc. Trong đó, các yếu tố nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng, quan hệ họ tộc, sinh kế vừa là các thành tố văn hoá tộc người, vừa là những nhân tố cố kết các thành viên và bảo vệ bản sắc văn hoá của tộc người.

 Quan hệ về nguồn gc lịch sử tộc người: Các thành viên trong một tộc người đều có chung nguồn gốc, có thể sinh sống lâu đời hay mới di cư đến, cư trú cùng nhau hoặc phải phân ly do quá trình tộc người và biến đổi lịch sử, có thể cùng kết hôn hay kết nghĩa và nhận con nuôi... nhưng hầu hết các thành viên đều có ý thức về cội nguồn dân tộc, từ đó lưu giữ mối quan hệ đồng tộc. Có thể nói, tất cả các tộc người đều có ý thức về cội nguồn của mình, tâm lý gắn kết các thành viên cùng tộc, nhất là cùng dòng họ rất cao. Chẳng hạn như người Hmông, dù ở đâu cũng luôn coi người cùng họ (không nhất thiết phải cùng huyết thống) là anh em ruột thịt có thể sống, chết trong nhà của nhau; quan hệ giữa các thành viên cùng tộc người, mặc dù không được chặt chẽ như cùng họ, nhưng cũng luôn bền chặt bởi tâm lý chung của người Hmông là hướng nội, ưu tiên các quan hệ trong nội bộ tộc người.

 Quan hệ kinh tế: Từ trước đến nay, các gia đình thành viên nội tộc người, nhất là xóm giềng thân thiết, họ hàng thân thích gặp khó khăn luôn hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong các hoạt động sinh kế, về nhân lực thì đổi công, giúp công; về vật lực thì giúp giống cây con, đất đai, công cụ sản xuất, lương thực, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và các sản vật khai thác từ tự nhiên. Những quan hệ kinh tế này thường được thực hiện một cách vô tư, nhất là trước đây khi một gia đình gặp phải khó khăn như neo đơn, ốm yếu, đói kém.. sẽ nhận được sự giúp đỡ mà không cần phải hoàn trả, cho vay tiền không phải trả lãi, đất đai có thể cho mượn sử dụng hoặc cho luôn... Đến nay, cùng với quá trình phát triển của xã hội và chủ yếu là tác động của nền kinh tế thị trường, trong các mối quan hệ kinh tế nội tộc người đã xuất hiện tình trạng phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội ngày càng rõ rệt; quan hệ kinh tế sòng phẳng có đi có lại, trong đó nổi lên hình thức thuê mướn nhân công ngày càng phổ biến. Ngoại trừ có quan hệ thân tộc, bạn bè thân thiết còn giữ được hình thức giúp đỡ vô tư như trước, nếu không phổ biến là vay mượn phải trả lãi xuất, thiếu đất đai và công cụ sản xuất thì phải mua hoặc thuê, giúp công thì phải trả công hoặc bằng tiền hay vật chất theo thỏa thuận...

 Quan hệ xã hội: Sự đổi mới cơ chế kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng các mối quan hệ xã hội giữa các đồng tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau. Nếu như trước đây, đa số các tộc người sinh sống tương đối tập trung tại những vùng nhất định, thì sau khi thực hiện di dân theo kế hoạch của Nhà nước (theo các dự án phát triển kinh tế, thủy điện, an ninh quốc phòng...) và sau đó là làn sóng di cư tự do của rất nhiều tộc người đã khiến cho bức tranh phân bố các tộc người thay đổi về cơ bản. Một trong những đặc điểm của các tộc người ở nước ta là dù di cư xa hay gn vẫn giữ mối liên hệ nhiều mặt với họ hàng, đồng tộc nơi quê cũ. Họ liên hệ với nhau không chỉ liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên, phụng dưỡng ông bà, bố mẹ già, mà còn giúp nhau trong quá trình di chuyển cư đến nơi mới hoặc khi trở về quê cũ. Chính các mối quan hệ này đã giúp các tộc người tiếp tục duy trì và củng cố ý thức cội nguồn lịch sử, tăng cường quan hệ giao lưu với mục đích cố kết lại với nhau cùng có lợi.

Tuy nhiên, tình trạng sinh sống phân tán và di cư đến nhiều vùng không có mối quan hệ về địa lý, thường cũng không tránh khỏi thực tế là quan hệ nội tộc người, thậm chí là họ hàng ngày càng lỏng lẻo, do mật độ cư trú xen kẽ và điều kiện giao lưu với các tộc người khác ngày thêm gia tăng, nhất là với các trường hợp hôn nhân hỗn hợp, vay mượn ngôn ngữ, tập quán xã hội, lối sống, chịu ảnh hưởng của đời sống chính trị, xã hội, giáo dục của địa phương nơi họ mới đến sinh sống, làm cho những cộng đồng này bị thu hẹp dần các mối quan hệ xã hội trong nội tộc người, và một bộ phận dân số không thể giữ được quan hệ đồng tộc chặt chẽ như trước đây.

 Quan hệ văn hóa. Các tộc người thiểu số ở Việt Nam tuy có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhất là trong đời sng tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, lễ hội của cộng đồng, dòng họ và gia đình. Tuy nhiên, ở mỗi một tộc người lại có những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo riêng, như quan niệm và nghi lễ thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Hmông khác với thờ cúng Bàn vương của người Dao và cũng khác với nghi lễ thờ cúng ‘Phi’ của người Thái…Đây là các yếu tố quan trọng tạo ra và giữ vững bản sắc văn hóa tộc người, tăng cường tính cố kết cộng dồng, dòng họ và gia đình.

 Hiện nay, do cư trú phân tán ở nhiều vùng miền khác nhau và do tác động cùa nền kinh tế thị trường có nhiều chuyển đổi, sự cố kết xã hội của một bộ phận dân cư ngày càng lỏng lẻo, bản sắc văn hóa tộc người ngày càng mai một, nhất là trong sinh hoạt tín ngưỡng, tập quán và sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống. Đó là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để có biện pháp giải quyết. Những năm gần đây còn xuất hiện xu hướng phân chia, đối lập trong nội bộ một số tộc người do sự khác biệt về tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt là giữa bộ phận dân cư bảo lưu tín ngưỡng truyền thống và nhóm người cải đạo.

Việt nam thực hiện tốt quan hệ giữa các tộc người với quốc gia

 


Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng, Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác xây dựng hệ thống chính trị, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Nhờ có chính sách đúng đắn này, đến nay nhiều địa phương các tỉnh miền núi đã xây dựng được đội ngũ cán bộ dân tộc đông đảo, chất lượng ngày càng được nâng cao, họ là nhân tố quan trọng và là cầu nối giữa người dân với Đảng và Nhà nước. Trong các cơ quan Trung ương, nhiều vị trí chủ chốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành là người dân tộc thiểu số. Đại biểu Quốc hội là người dân tộc cũng chiếm tỷ lệ khá cao và liên tục tăng theo các khóa. Nhiều cơ quan xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở Trung ương và hệ thống chính trị các cấp đều do người dân tộc nắm giữ những trọng trách quan trọng. Tuy nhiên, do trình độ giáo dục có sự khác biệt giữa các tộc người, nên ở một số nơi tỷ lệ cán bộ cấp xã của từng dân tộc không tương xứng với số lượng dân số của dân tộc đó.

Như vậy, có thể thấy mức độ tham gia, đóng góp của các dân tộc trong toàn hệ thống chính trị ngày càng lớn, thể hiện tầm quan trọng và sự bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với hệ thống chính trị cả nước nói chung và với dân tộc đa số - người Kinh nói riêng ngày càng được đề cao. Rõ ràng, đây là cơ sở để xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tin tưởng giữa các dân tộc và của người dân với hệ thống chính trị các cấp.

 Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng và Nhà nước thông qua việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách dân tộc.

Chỉ tính từ khi thực hiện đổi mới đến nay, Chính phủ đã triển khai thực hiện khá nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá, nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đặc biệt khó khăn như các chương trình, dự án 327, dự án 661, chương trình 135, chương trình 134 và nhiều chương trình, dự án kinh tế - xã hội khác. Các chính sách, chương trình, dự án này đã và đang tạo cơ sở thực tế cho việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng phát triển của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, chăm lo sức khỏe đối với đồng bào cả nước nói chung và đối với đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng. Các chính sách đó khá toàn diện, từ miễn, giảm học phí, mở rộng hệ thống trường dân tộc nội trú; cử tuyển vào các trường chuyên nghiệp; xây dựng hệ thống y tế địa phương, miễm giảm bảo hiểm y tế

Có thể nói, các chính sách đó rất phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực tiễn của các dân tộc, thực sự đi vào đời sống, góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao ở vùng miền núi và vùng dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hãy chủ động hơn nữa trong chống dịch COVID-19

 


Hiện nay dịch bùng phát trở lại tại thành phố Hồ Chí Minh, nếu chúng ta không ngăn chặn kịp thời dịch sẽ bùng phát trở lại trên toàn quốc. Đây là vấn đề rất hệ trọng và cấp bách hiện nay đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Chúng ta đã thấy việc chống dịch COVID-19 khó khăn đến mức nào, khi lần này là lần thứ ba chúng ta phải đương đầu với bệnh dịch này, cho dù chúng ta đã có nhiều biện pháp quyết liệt. Tuy nhiên gây bệnh lần này lại không ở vấn đề đeo khẩu trang cùng những biện pháp phòng, chống dịch, mà ở đây nguyên nhân gây bệnh lại là một nguyên nhân khác đó là trách nhiệm trong tuân thủ khi cách ly xã hội. Như vậy, nguyên nhân gây bệnh dịch COVID-19 có thể nói là rất đa dạng và tiềm ẩn, có thể lây bệnh bất cứ lúc nào với bất cứ nguyên nhân gì. Do vậy, từ bài học thành phố Hồ Chí Minh, ở các địa phương khác cần chủ động hơn nữa trong phòng, chống dịch COVID-19.

Việt Nam thực hiện tốt quan hệ giữa các dân tộc

 


Quan hệ dân tộc được hiểu là các mối quan hệ, giao lưu, hợp tác gắn bó và tác động lẫn nhau giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, quan hệ dân tộc được đề cập trên hai phương diện: quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, thuật ngữ quan hệ dân tộc thường được hiểu/đồng nhất là quan hệ tộc người. Quan hệ tộc người được hiểu là các mối liên hệ, giao lưu, hợp tác, liên kết, phân ly giữa các cá nhân hay các tổ chức khác nhau trong các cộng đồng của một tộc người hoặc giữa các tộc người. Do đó, khái niệm “quan hệ dân tộc” ở Việt Nam cần phải được hiểu là quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và quan hệ đồng tộc xuyên biên giói. Trên thực tế, quan hệ dân tộc diễn ra ờ mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi trong đời sống của tất cả các tộc người và giữa các tộc người nên rất đa dạng và phức tạp, gồm nhiều chiều, nhiều hình thức, nhiều cấp độ và không gian khác nhau.

Nếu xét theo không gian, các mối quan hệ dân tộc ở Việt Nam diễn ra cả trong vùng nội biênxuyên biên giới. Xuất phát từ đặc điểm cấu trúc dân tộc ở Việt Nam có một tộc ngưòi đa số (người Kinh) và 53 tộc người còn lại là thiểu số (hơn 300 nhóm địa phương), cùng với sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế„ văn hóa, xã hội, quan hệ dân tộc cần được phân biệt/xác định theo các trục quan hệ cơ bản như sau: (1) Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Dân tộc {nation); (2) Quan hệ giữa tộc người đa số (người Kinh) với các tộc người thiểu số; (3) Quan hệ giữa các tộc người thiểu số và trong nội bộ từng tộc người thiểu số; (4) Quan hệ tộc người xuyên biên giới.

Các mối quan hệ này tuy có vị trí và mức độ ảnh hường khác nhau, nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ. Với xu thế cùng cộng cư, hôn nhân hỗn hợp, quan hệ làm ăn và nhiều yếu tổ khác, nhất là dưới tác động của đường lối, chính sách dân tộc tiến bộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đang dần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc. Vì vậy, phạm vi của các mối quan hệ tộc người ở Việt Nam hiện nay không chỉ diễn ra giữa các thành viên trong cùng một tộc người mà cả với các tộc người khác. Trong đó, mối quan hệ giữa người Kinh - tộc người đa số với các tộc người thiểu số được xem là trục quan hệ quan trọng, nhất là sự có mặt của người Kinh ở vùng dân tộc và miền núi hiện nay với số lượng ngày càng gia tăng và có ảnh hường quan trọng đến phát triển bền vững. Bên canh đó, mối quan hệ của từng tộc người với quốc gia dân tộc cũng là nội dung quan trọng cần được nghiên cứu bi nó phản ánh nhận thức, vị thế và sự tham gia của từng tộc người trong sự phát triển chung của quốc gia dân tộc.

Quan hệ dân tộc ở Việt Nam dù trên phạm vi hay lĩnh vực nào cũng luôn hướng tới một hoặc nhiều mục đích: trao đổi kinh tế (bao gồm buôn bán, làm thuê, hợp tác kinh doanh...); duy trì sự gắn kết họ hàng, đồng tộc; chia sẻ các giá trị lịch sử, văn hóa tộc người và các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng; và có thể vì mục tiêu hay lý do chính trị khác...

Thời gian qua, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam, quan hệ dân tộc ở Việt nam mang bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy các dân tộc đã giải quyết tốt các mối quan hệ với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.