Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020

Tiến tới đại hội XIII của Đảng

 Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đang đến gần. Một trang sử mới của hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ thu hút sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân mà còn "hấp dẫn" cả những người/nhóm người nhân danh dân chủ, giả danh dân chủ, để nhân sự kiện này tăng cường các hoạt động chống phá, với các luận điệu/"thư ngỏ" nhằm xuyên tạc, bịa đặt, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng nói riêng.

Kiên định bản lĩnh chính trị và nâng cao cảnh giác trước các luận điệu phản động của thế lực thù địch

TẠO SỰ THỐNG NHẤT GIỮA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN

 

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Thông báo kết luận số 159-TB/TW ngày 15/1/2020 của Bộ Chính trị về việc thảo luận các văn kiện Đại hội XIII của Đảng tại đại hội Đảng bộ các cấp, gửi lấy ý kiến nhân dân và tổng hợp các ý kiến đóng góp vào văn kiện Đại hội XIII của Đảng và Hướng dẫn số 151-HD/BTGTW ngày 10/9/2020 của Ban Tuyên giáo Trung ương về hướng dẫn việc công bố, thảo luận, lấy ý kiến của nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thời gian xin ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân diễn ra từ 20/10 đến 10/11/2020.

Đây là hoạt động, đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa sâu sắc, qua đó chắt lọc, tiếp thu tinh hoa, trí tuệ nhân dân, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Trong mỗi kỳ đại hội của Đảng, xây dựng văn kiện, đường lối chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Xuất phát từ bản chất của Đảng là bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và thực tiễn hoạt động của Đảng hơn 90 năm qua Đảng, thể hiện rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”(1). Do vậy xin ý kiến nhân dân là việc đặc biệt quan trọng, phục vụ chính lợi ích của nhân dân; thể hiện bản chất cách mạng, trung thành lợi ích nhân dân, ngoài lợi ích tuyệt đối của dân tộc, nhân dân, đất nước, Đảng không có lợi ích nào khác.

Xin ý kiến nhân dân xuất phát từ sự kế thừa truyền thống lịch sử của dân tộc và cũng là của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng “Lấy dân làm gốc”; đồng thời cũng là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng: Dựa vào dân để xây dựng Đảng. Trong đó có xây dựng đường lối chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ. Đường lối chính trị phục vụ nguyện vọng, vận mệnh, lợi ích, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân vì vậy cần thiết lấy ý kiến của chính các tầng lớp nhân dân.

Việc làm quan trọng, cần thiết mà ý nghĩa này cũng thể hiện nền dân chủ xã hội XHCN, đồng thời đó cũng là phương thức, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Thực hành, phát huy dân chủ, bản chất tốt đẹp, nhân văn, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Phát huy tinh thần dân chủ của nhân dân: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát” trong quá trình xây dựng, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động giữa hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, nhân tố quyết định thắng lợi của mọi nhiệm vụ đặt ra.

Bên cạnh đó là xuất phát từ yêu cầu công việc, nhiệm vụ chiến lược, đòi hỏi thực tiễn trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đúng như tinh thần của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc phải vừa mang tính lý luận cao, tính thực tiễn sâu sắc và tính chính trị chỉ đạo cho lâu dài, là một văn kiện tồn tại mãi mãi trong lịch sử của Đảng, của đất nước, do vậy phải có tầm nhìn chiến lược; phải làm cho chặt chẽ, chắc chắn, diễn đạt cho rõ ràng, không được sơ hở gây hiểu lầm”(2). Công bố, xin ý kiến nhân dân là đặc biệt cần thiết và có ý nghĩa to lớn như vậy.

Một trong những điểm mới của lần xin ý kiến rộng rãi nhân dân này là để hoàn thiện các văn kiện trình Đại hội XIII – những văn kiện hết sức quan trọng, xác định đường lối, chiến lược phát triển đất nước trong 5 năm, 10 năm và 25 năm tới, phấn đấu đạt được các mục tiêu chiến lược của từng dấu mốc quan trọng kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước.

Các văn kiện xin ý kiến nhân dân bao gồm: Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng; Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011-2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII.

So với những kỳ đại hội trước, Đảng ta tổ chức xin ý kiến nhân dân vào các văn kiện lần này có muộn hơn, là thời điểm sau đại hội đảng các cấp, sau Hội nghị Trung ương 13 cũng là điểm mới quan trọng, vì: Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư mong muốn tiếp thu một cách triệt để ý kiến góp ý trong Đảng; các văn kiện phải được hoàn chỉnh một bước tương đối đầy đủ, toàn diện nhất, trách nhiệm nhất trước khi đến tay nhân dân để gửi xin ý kiến, thể hiện sự trân trọng, cầu thị, trọng trách của mình trước trước nhân dân, đất nước.

Để việc xin ý kiến nhân dân và tổng hợp góp ý các dự thảo văn kiện trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng được tốt, cần thực hiện hiệu quả, khoa học, thiết thực, đúng tiến độ, chất lượng, quá trình tổ chức tránh hình thức, lãng phí; nhân dân phát huy tinh thần trách nhiệm, tình cảm và tâm huyết đối với Đảng, vận mệnh dân tộc, đất nước và nhân dân; các cơ quan chức năng tổng hợp chắt lọc, khách quan, tiếp thu đầy đủ, đảm bảo ý kiến, tinh thần, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân.

Bên cạnh đó, các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên, cấp ủy, cơ quan tổng hợp nêu cao tinh thần cảnh giác đối với các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lợi dụng góp ý để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn hành vi lợi dụng diễn đàn thảo luận, lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng để kích động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống phá Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Công bố, xin ý kiến góp ý dự thảo các văn kiện là dịp để các tầng lớp nhân dân phát huy trí tuệ, tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của Đảng và đất nước; thông qua đó phát huy dân chủ trong Đảng và toàn xã hội, tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân; giúp các cấp ủy nắm được xu hướng tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Nhân dân thể hiện tinh thần xây dựng, trách nhiệm, tình cảm, tâm huyết đối với Đảng, đất nước, góp phần tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động và ý chí quyết tâm trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đúng như tinh thần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo: Trân trọng, chắt lọc, tiếp thu ý kiến xác đáng, trách nhiệm của nhân dân, tạo sự thống nhất giữa ý Đảng - lòng Dân./.

Nguồn: Nhân dân.

—————————————————


Tỉnh táo trước các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái

 

Trong bối cảnh đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn vì dịch Covid-19, vì bão lũ đang tàn phá các tỉnh thành miền Trung, thế nhưng các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội chính trị lại tiếp tục các hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng và Nhà nước ta, lôi kéo, tập hợp lực lượng và kích động tư tưởng chống đối; chia rẽ nội bộ Đảng với nhân dân. Đặc biệt, trong thời điểm tiến tới Đại hội XIII của Đảng, các hoạt động chống phá này càng được gia tăng, nhất là trên các trang mạng xã hội.

Chống phá Đảng, đòi đa nguyên đa đảng, bêu rếu, nói xấu Đảng, nói xấu cán bộ… là một trong những hoạt động trọng tâm của các thế lực thù địch. Âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là xóa bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, làm lu mờ và tiến tới xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Trắng trợn phủ nhận những thành quả của toàn Đảng, toàn dân ta.

Thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng ta đã đạt được nhiều thành tựu lớn: dẫn dắt Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất châu Á, trở thành “hình mẫu”, được các nước và các tổ chức quốc tế đánh giá cao.

Song, các đối tượng chống phá lại cho rằng Đảng ta đang lúng túng trước sự phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội Liên Xô và Đông Âu; cho rằng Đảng ta đưa ra khẩu hiệu “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chẳng qua chỉ là chiêu bài mị dân, vì thực chất “đã là kinh tế thị trường thì không thể có chủ nghĩa xã hội”, hoặc “việc thực hiện kinh tế thị trường ở Việt Nam khẳng định chủ nghĩa tư bản đang diễn ra một cách cuồng nhiệt”… Chúng cao giọng cảnh báo đất nước đang bên bờ vực suy tàn và người dân lao động là những người chịu thiệt thòi nhất, từ đó hô hào nhân dân đứng lên chống Đảng, chính quyền. Chúng cố tình, trắng trợn phủ nhận những thành quả của toàn Đảng, toàn dân ta.

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta đặc biệt chú trọng việc vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy dân chủ, quán triệt và thực hiện nghiêm túc bài học “Lấy dân làm gốc”. Một minh chứng là, dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII được công khai lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận lớn trong xã hội.

Thời gian gần đây, các đối tượng lại đẩy mạnh sử dụng những lời lẽ vu khống, bịa đặt thông tin về tình hình Đại hội XIII của Đảng và những vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ TPHCM. Chúng rêu rao rằng “cần thay đổi toàn bộ khung, sườn” (tức là: xóa bỏ chế độ “độc tài toàn trị của Đảng Cộng sản”, thực thi “xã hội dân chủ”), đừng trông chờ vào đường lối Đại hội XIII của Đảng.

Vu khống, bịa đặt thông tin nhân sự cấp cao.

Để chuẩn bị cho nhân sự Đại hội XIII, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, thực hiện nhiều biện pháp, bước đi thích hợp nhằm lựa chọn những người đủ uy tín, năng lực, phẩm chất đạo đức… Song, các đối tượng lại tiến hành công kích về tình hình nhân sự cấp cao tại Đại hội Đảng lần thứ XIII sắp tới, tung ra thông tin vu khống, bịa đặt trắng trợn. Một số website của các đài như RFA, FFI, BBC thường xuyên có các bài bàn về cơ cấu Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, việc sắp xếp “cánh” Bắc - Nam…

Chúng còn cho rằng “các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về nhân sự đều rất đúng đắn, nhưng trong quá trình thực hiện đã bị biến tướng trở thành công cụ bè phái, lợi ích hoặc triệt hạ lẫn nhau”, đồng thời xuyên tạc “Đảng sử dụng ngân sách nhà nước tổ chức đại hội gây lãng phí, tốn kém”, hoặc vu khống việc tổ chức đại hội các cấp là một màn “diễn” hoàn hảo nhằm cướp, lừa tiền của dân.

Lợi dụng phát biểu của cử tri tại buổi tiếp xúc cử tri của đoàn đại biểu Hà Nội (24-6-2020) là “mong muốn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước thêm một nhiệm kỳ nữa”, các đối tượng đã xuyên tạc, phủ nhận những thành quả đấu tranh chống tham nhũng của Đảng, bôi nhọ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trong khi thực tế đã cho thấy cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả nổi bật, niềm tin của nhân dân ngày càng được củng cố mạnh mẽ, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay”./.

Các đối tượng còn lợi dụng một số vụ việc phức tạp xảy ra để vu cáo, nói xấu Đảng. Gần đây nhất, khi TAND TP Hà Nội tuyên án tử hình 2 bị cáo Lê Đình Công, Lê Đình Chức (đều là con trai ông Lê Đình Kình) vì phạm tội “Giết người” với những chứng cứ, lập luận không thể chối cãi, các bị cáo cũng đã nhận tội, thì một số báo, đài và trang mạng xã hội phản động đã đăng những bài viết như “Dư luận phản ứng mạnh mẽ trước bản án nặng nề”, “Vụ án Đồng Tâm gây tâm lý bất lực, sợ hãi trong giới trẻ Việt”. Chúng còn kêu gọi thành lập nhóm “Công dân hành động”, thu thập chữ ký phản đối bản án. Có cá nhân ở nước ngoài đã xuyên tạc rằng “các nhà lãnh đạo Việt Nam nhất quyết muốn tỏ ra cứng rắn tối đa với dân làng Đồng Tâm, vì họ sợ rằng thách thức từ cộng đồng này sẽ lan ra những nơi khác, nếu không xử nặng”…

Tại TPHCM, trong khi các cấp, các ngành thành phố đang tích cực phối hợp với các cơ quan trung ương để xử lý những vi phạm và các vấn đề còn tồn tại, thì các đối tượng lại tập trung xuyên tạc, vu cáo các vụ việc phức tạp tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2); khu đất công cộng phường 6, quận Tân Bình; vụ khởi tố các bị can từng là lãnh đạo cao cấp của thành phố như Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Hữu Tín… Đặc biệt, các tài khoản Facebook: Duy Quách, Khương Tiến Dũng, A Nguyen Quang, Lưu Trọng Văn… thường xuyên đăng các bài viết trên trang “Chống tham nhũng, tiêu cực” chửi bới, bôi nhọ nhiều cán bộ lãnh đạo.

Bên cạnh đó, khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện cách ly ngừa bệnh và giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh hiệu quả, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân, các đối tượng lại xuyên tạc, vu cáo cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, can thiệp thô bạo vào quyền đi lại, tự do của mỗi công dân…

Trên tinh thần xây dựng đất nước, mỗi người dân Việt Nam đều có quyền bảy tỏ lòng yêu nước của mình, góp ý, phản biện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Thế nhưng, việc phát ngôn tự do, vô lối, xuyên tạc, kích động, phủ nhận những thành quả của Đảng, của dân tộc ta cùng những hành động gây rối, đập phá tài sản, vi phạm pháp luật là những hành động đáng lên án, cần phải ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh.

“Cần chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, xác định đúng đắn mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, khả thi để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”./.

Nguồn: Tạp chí cộng sản.


Quân đội đi đầu trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và gương mẫu chấp hành pháp luật

 

Ngày 29-12, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (PB, GDPL) Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2020 và triển khai nhiệm vụ năm 2021 dưới sự chủ trì của Trung tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch hội đồng.

Nhận diên các phương thức chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, cả trước đây cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TTVH) là một “mũi đột phá” và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Trong cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, R.Nixon đã xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!".

Thực hiện mũi tiến công trên lĩnh vực TTVH hiện nay, cùng với việc thực hiện những phương thức, thủ đoạn quen thuộc, các thế lực thù địch luôn quan tâm đổi mới cách thức, thủ đoạn tiến công để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, làm nhụt ý chí, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện để cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của xã hội ta, nhằm đạt tới mục tiêu là xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong đó, chúng tập trung tiến công vào một số nội dung chủ yếu như:

 

Một là, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm giảm niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu, tham vọng: “Giải thể ý thức hệ cộng sản!". Chúng coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm chủ quan của Mác, đồng thời cho rằng, những người cộng sản kế tục Mác nhưng không hiểu thực chất các luận điểm của Mác, nên đã vận dụng một cách giáo điều, dẫn đến sai lầm cả trong đường lối và cả trong tổ chức thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)! Chúng trắng trợn vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm!". Chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng “vạn năng” của chủ nghĩa tư bản. Bằng nhiều thủ đoạn mới hết sức thâm độc, các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với CNXH, từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản. Mặt khác, chúng còn hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường “CNXH dân chủ”, “CNXH nhân văn”, “nhân bản”, mà thực chất là từ bỏ CNXH khoa học.

 

Hai là, tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong khi toàn thể dân tộc và nhân loại đều khẳng định công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thế lực thù địch lại lớn tiếng xuyên tạc: Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm! Rằng “Con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH!". Chúng xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”, trong đó, dựng chuyện bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng còn dùng thủ đoạn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin!

Ba là, xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN; đồng thời, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản. Nhận rõ vai trò to lớn của văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay, nhất là trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ra sức xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay; đồng thời, ra sức tuyên truyền, quảng bá, tìm cách du nhập văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta. Coi đây là một vấn đề then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa hiện nay.

 

Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ (VHVN) hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước, đối với VHVN, tìm cách lôi kéo các văn nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị “dân chủ”, “tự do” tư sản; làm tha hóa thế hệ trẻ bằng “văn hóa, tư tưởng, lối sống Mỹ”, nhằm tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển. Thông qua các quan hệ giao lưu văn hóa, chúng tìm mọi cách để tuyên truyền xuyên tạc làm cho tư tưởng, lối sống tư sản xâm nhập vào đời sống xã hội ta, lấn át các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp. Các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa một số lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc, tán phát trên internet có nội dung phản động, đồi trụy. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên internet, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa, lối sống của nhân dân ta.

 

Bốn là, sử dụng các cách thức, biện pháp, phương tiện để đưa TTVH, lối sống tư sản xâm nhập vào Việt Nam. Để thực hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền phản động, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, như: Sách, báo, phim ảnh, internet, mạng xã hội… để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Chúng sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các tờ báo và tạp chí tiếng Việt, các nhà xuất bản ở nước ngoài để tuyên truyền chống phá ta trên mặt trận TTVH. Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hóa để tiếp xúc, mời các nhà văn, các đoàn nghệ thuật sang thăm, học tập, “trao đổi” văn hóa; đặc biệt quan tâm tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ để tác động, làm cho họ nhanh chóng quên đi lý tưởng xây dựng XHCN và say mê với lối sống, văn hóa phương Tây. Thúc đẩy việc truyền bá văn hóa phương Tây đối với học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất để chuyển hóa TTVH, thực hành “diễn biến hòa bình” đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa với “giá rẻ”, mà hiệu quả đạt được lại cao, “một đô la cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng"./.


NGĂN CHẶN SỰ HOÀNH HÀNH CỦA THÔNG TIN XẤU ĐỘC

 Đại đa số người dân khi gặp phải những thông tin thất thiệt, xấu độc đều rất bất bình. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta rất tâm huyết, trách nhiệm trước sự kiện lớn của Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, có một điều rất đáng lưu tâm là ngay trong nội bộ ta xuất hiện những cán bộ suy thoái, cơ hội chính trị, tham vọng cá nhân. Họ tìm cách tiến thân nhưng không bằng sự nỗ lực phấn đấu, cống hiến, không bằng uy tín của cá nhân mình mà lại tìm mọi cách hạ uy tín đồng chí, đồng nghiệp mình. Chính những con người này cũng tung tin bóp méo, xuyên tạc sự thật, vu khống, gửi đơn thư nặc danh, mạo danh hoặc sử dụng mạng xã hội để tạo "sóng" dư luận, nhằm động cơ cá nhân. 

THỰC TẾ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 Những thông tin xấu độc, sai trái, lệch lạc được chúng tung ra vào thời điểm này là nhằm gây sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc hoài nghi, tạo rối loạn trong nhận thức của nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, kích động tạo mâu thuẫn để từ đó dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo điểm nóng về chính trị nhằm phá hoại Đại hội XIII của Đảng ta. Nhưng bằng chiêu trò gì đi chăng nữa chúng cũng không thể phủ nhận được sự thật. 

CHIÊU TRÒ NGUY HIỂM

 Các thế lực thù địch, phản động coi sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội XIII là thời cơ để tiến hành các hoạt động chống phá. Bóp méo, thổi phồng, xuyên tạc, tung tin xấu độc là một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch tăng cường sử dụng để chống phá Đại hội XIII của Đảng. 

Sự mâu thuẫn của một âm mưu thâm độc

 Trong những luận điệu chống phá mà các thế lực thù địch, phản động thực hiện trước thềm Đại hội XIII của Đảng tathì luận điệu “Đại hội XIII cần bỏ cụm từ “nền tảng tư tưởng, cứ lý thuyết nào đúng thì theo”là một ví dụ về âm mưu thâm độc của chúng.

Phê phán quan điểm “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

 

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là công việc rất cần thiết. Mỗi quốc gia, dân tộc cần biết mình đang sống trong thời đại gì và bối cảnh thế giới nào, với những tính chất, đặc điểm, nội dung và xu thế phát triển ra sao.

Bộ Chính trị sẽ xem xét kỹ lưỡng ,nhiều mặt về trường hợp nhân sự đặc biệt




Những trường hợp nhân sự đặc biệt tham gia Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Bộ Chính trị sẽ cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng, nhiều mặt và thông qua quy trình chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, trước khi trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định.

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ CÁI GỐC ĐỂ ĐẤU TRANH

 

Trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, đội ngũ cán bộ bao giờ cũng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, là nhân tố trực tiếp quyết định sự thành bại của cách mạng. V.I.Lênin - lãnh tụ thiên tài của gia cấp vô sản đã chỉ rõ: “Trong lịch sử, chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng để tổ chức và lãnh đạo phong trào”.

Vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ được biểu hiện ở mối quan hệ giữa cán bộ với đường lối chính trị, với tổ chức và với phong trào cách mạng của quần chúng. Đường lối chính trị đúng là cơ sở, phương hướng để xây dựng một đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ khả năng hoàn thành yêu cầu nhiệm vụ mà đường lối chính trị đề ra, đường lối chính trị đúng là nhân tố quyết định đường lối công tác cán bộ và phương hướng tiến hành các mặt công tác cán bộ. Ngược lại cán bộ chính là người góp phần tham gia xây dựng đường lối và trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, đồng thời thông qua quá trình hoạt động thực tiễn mà góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình  của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” và Người cũng khẳng định: “Bất cứ chính sách, công tác gì, có cán bộ tốt thì thành công không có có cán bộ tốt thì hỏng việc” và vì thế Người luôn nhắc nhở Đảng ta trong bất cứ hoàn cảnh điều kiện nào cũng phải coi: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

  Trong thực tiễn hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã khảng định: sau khi có đường lối chính trị đúng đắn, sáng tạo thì cán bộ và công tác cán bộ là nhân tố có ý nghĩa quyết định thành bại của sự nghiệp cách mạng; gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ. Vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, coi trọng toàn bộ các khâu của công tác cán bộ như chăm lo tạo nguồn, lựa chọn, đào tạo bồi dưỡng, quản lý, sử dụng và xây dựng chính sách đãi ngộ…bảo đảm cho đội ngũ cán bộ của Đảng luôn có sự phát triển và nối tiếp vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.

Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực chủ yếu của Đảng, của Nhà nước, của chế độ. Cán bộ trong lực lượng vũ trang là những người được Đảng giáo dục, rèn luyện và giao cho trách nhiệm tập hợp, đoàn kết cán bộ, chiến sĩ; tổ chức lãnh đạo và chỉ huy họ thực hiện thắng lợi mọi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Thông qua đội ngũ cán bộ mà Đảng thực hiện việc lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về mọi mặt đối với quân đội. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trung thành, có phẩm chất, năng lực để lãnh đạo, tổ chức chỉ huy lực lượng vũ trang là vấn đề hết sức căn bản của cách mạng, là một mặt quan trọng trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang.

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc

Thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Chính sách còn nguyên giá trị Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó đã luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán. Cũng có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá sôi động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Cùng với sự phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc Chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Ảnh minh họa. TTXVN. Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào, dù là nội sinh hay truyền từ nước ngoài, tôn giáo đã ổn định hay mới được công nhận, miễn sao hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dư luận của tuyệt đại bộ phận chức sắc, tín đồ cũng thừa nhận rằng, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, không có cản trở nào trong các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo của họ. Sự thật là thế, vậy mà những năm gần đây, trong các báo cáo tự do tôn giáo của một số nước lại đề cập đến Việt Nam với những thông tin sai lệch, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp một số tín đồ tôn giáo. Bên cạnh đó, còn một bộ phận nhỏ chức sắc, tín đồ của một số tôn giáo cho rằng họ không được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; rêu rao rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, Nhà nước Việt Nam xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của giáo hội... Những đánh giá ấy chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà thậm chí cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất đây không chỉ là những nhận thức sai lệch, mà xuất phát từ âm mưu, mục đích chính trị, nhằm lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta và chính quyền các cấp. Phải có hàng rào pháp luật Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, chứ không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc. Và dĩ nhiên, ở Việt Nam cũng vậy! Nói về điều này, trước hết phải nhắc lại Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó nêu rõ, quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác. Nói cách khác, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp. Cần phải thấy rằng, quyền tự do tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội ở từng quốc gia cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Trên phương diện đối ngoại giữa các quốc gia, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo. Trở lại với âm mưu, luận điệu vu cáo rằng Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, một lần nữa cần nhìn vào thực tế để thấy mặt thật của vấn đề. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành truyền vào Việt Nam như Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, Tân Thiên Địa... Hoạt động của đa phần các tổ chức này đều trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, hoạt động lén lút, có dấu hiệu trục lợi và nhìn chung là vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án. Tuy nhiên, đối với các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo như vậy, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật. Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều đáng mừng là trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chúng ta đã có thêm nhiều kênh quan trọng để đưa ra tiếng nói và khẳng định thực tế tình hình tự do tôn giáo ở đất nước mình. Thông qua các cơ chế và diễn đàn song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, có một sự thật rõ ràng đang được thừa nhận, đó là Việt Nam đang tích cực cùng các quốc gia khác trên thế giới đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và vẫn sẽ kiên trì bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này. Nguồn: QĐND.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tên Người sống mãi với non sông

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người hội tụ, kết tinh trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh, lương tâm và khí phách của thời đại. Nhà báo người Liên Xô Ô.Man-đen-xtam từng nói: “từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai”(1) – Đó là nền văn hóa độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam và nhân loại! Vì vậy, khi Người đi vào cõi vĩnh hằng, trong Điếu văn, Tổng Bí thư Lê Duẫn đã đọc trước nhân dân: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”(2). Tên Người sống mãi với non sông Việt Nam, trường tồn cùng dân tộc. Người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tận mắt chứng kiến dân tộc Việt Nam chìm đắm trong “đêm trường nô lệ” và các phong trào đấu tranh yêu nước đều lần lượt thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, với lòng yêu nước nồng nàn, nhãn quan chính trị thiên tài, ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc nhận làm phụ bếp trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin, rời Cảng Nhà Rồng với quyết tâm phải tìm bằng được con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hoà mình vào quần chúng cần lao, đến các vùng nông thôn hẻo lánh ở Niu Oóc, Luân-đôn, Pa-ri, Thái Lan, Trung Quốc... để tìm hiểu các phong trào cách mạng thế giới như: cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Người sớm nhận thấy rằng: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp nghĩa là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(3). Tháng 11-1917, cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi, phá vỡ mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa, lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Cuộc cách mạng vĩ đại năm 1917 đã đưa học thuyết cách mạng của Mác-Lênin trở thành hiện thực đầu tiên ở nước Nga Xô-viết, đưa cách mạng thế giới bước vào thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Năm 1920, tại Pa-ri, Pháp đã diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và Chủ nghĩa Mác-Lênin qua Bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lê-nin, đăng trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp. Luận cương của V.I.Lê-nin đã chỉ ra con đường giải phóng dân tộc, nên Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc: “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Người nói: “Đề cương của Lê-nin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên; ngồi một mình trong buồng mà tôi muốn nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(4). Với lập trường yêu nước đúng đắn, Người vạch ra chân lí :“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(5). Và “Chỉ có CNXH, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”(6). Kết luận này khẳng định sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy của Nguyễn Ái Quốc, từ người yêu nước chân chính trở thành người cộng sản - người đảng viên cộng sản đầu tiên của Việt Nam; Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp; hình thành con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật trở về Quảng Châu (Trung Quốc). Trên cương vị mới, Người vừa làm phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-din - cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Quốc dân đảng - vừa phụ trách mục tuyên truyền trong tờ báo Canon Gazette - Báo viết bằng tiếng Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Đây là điều kiện thuận lợi nhất để Người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Người tiếp xúc với những thanh niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm Tâm Xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong... Tháng 5-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí Trung Quốc, Hội bí mật đưa một số thanh niên trong nước sang Quảng Châu tham gia các lớp học chính trị. Hội ra tờ Báo Thanh Niên, bí mật truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân. Qua đó, Người tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một đảng mác-xít ở Việt Nam. Khi Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thật sự thâm nhập sâu vào phong trào công nhân và chiếm ưu thế trong phong trào yêu nước Việt Nam, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời, khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Trước yêu cầu lịch sử, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày… đã thể hiện rõ mục tiêu duy nhất của cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản”(7). Lần đầu tiên, cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị phản ánh đúng tình hình và quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại: “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”(8). Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, liên tiếp giành thắng lợi trong các giai đoạn 1930-1931, 1936-1939, tạo ra thế và lực mới, giành thắng lợi khi có thời cơ. Nguyễn Ái Quốc luôn theo sát từng bước phát triển của cách mạng Việt Nam, tìm mọi cách đề nghị với Quốc tế cộng sản bố trí công tác phù hợp để tham gia trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương”. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng, thời điểm khảo sát, tiếp cận và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho cuộc “đột nội”, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108, biên giới Việt - Trung thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Người đứng lặng hồi lâu bồi hồi, xúc động trào dâng “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ, hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình”… Sự kiện lịch sử này đã được thực tiễn cách mạng minh chứng, Cao Bằng, nơi có suối Lê-nin, núi Các Mác đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là trung tâm đầu não của phong trào cách mạng cả nước, mở ra một tương lai sán lạn của cách mạng nước nhà. Người quyết định chọn Cao Bằng là điểm đặt chân đầu tiên và làm trung tâm “cơ quan đầu não” chỉ đạo cách mạng Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi Sau khi khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tình hình, ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nậm, Pác Pó, Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Trên cơ sở đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong Hội nghị Trung ương 6 và 7, Hội nghị Trung ương 8 phát triển và hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến và các nhiệm vụ dân chủ khác phải rải ra thực hiện từng bước. Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Vì vậy, “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”. Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược. Đảng ta khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Hội nghị Trung ương 8 của Đảng là sự gặp gỡ giữa tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc với chủ trương giải phóng dân tộc của Trung ương Đảng. Đường lối này không những khắc phục quan điểm về đấu tranh giai cấp, mà còn tạo điều kiện cho tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác Hồ tiếp tục phát triển, đưa lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Cũng từ đây, Mặt trận Việt Minh ra đời - một chủ trương mang tính chiến lược, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhằm đoàn kết hết thảy các lực lượng yêu nước không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, giai cấp, là người Việt Nam đoàn kết trong một mặt trận để cứu nước, giải phóng dân tộc. Thể hiện rõ chính sách “dân tộc tự quyết”, hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc đấu tranh chung của toàn thế giới chống phát xít xâm lược, bảo đảm cho cách mạng Đông Dương thành công. Trước sự biến đổi sâu sắc của tình hình, Đảng và Bác Hồ đã đưa ra một vấn đề hết sức cần kíp lúc này là chuẩn bị các lực lượng cách mạng. Trong đó, hướng phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và đưa Đảng vào hoạt động bí mật, các đội Cứu quốc quân I, II, III lần lượt ra đời, khẩn trương triển khai xây dựng các đội tự vệ, du kích, huy động nhân dân quyên góp tiền của để mua sắm vũ khí. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt, Nà Ngần. Chiến thắng đầu tiên của Đội cùng với những thắng lợi của Cứu quốc quân, các đội du kích, tự vệ ở các địa phương đã góp phần củng cố, mở rộng khu căn cứ cách mạng Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên, cổ vũ, động viên toàn dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng Đồng minh. Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Trong nước, Chính phủ tay sai Trần Trọng Kim tê liệt, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ. Đêm 13-8-1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 - hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Lúc Bác ốm nặng ở lán Nà Lừa và đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một vùng lên “chớp thời cơ ngàn năm có một” giành chính quyền về tay mình. Từ ngày 19-8-1945 đến ngày 28-8-1945, chính quyền trên cả nước đã hoàn toàn về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh! Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ mới ra đời, vận mệnh nước ta lại rơi vào tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế đó, với nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã bình tĩnh, sáng suốt phân tích tình hình, đề ra đường lối đúng đắn và những cách thức hành động khôn khéo, mềm dẻo, từng bước giải quyết giặc đói, thanh toán giặc dốt, nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân. Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, Người trực tiếp ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước Việt - Pháp 14-9-1946, đuổi nhanh quân Tưởng về nước, buộc Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do, có chủ quyền, tạo thời gian hòa hoãn cần thiết để xây dựng và phát triển lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho toàn quốc kháng chiến. Những quyết định lịch sử sáng suốt, vừa có tính nguyên tắc, vừa mềm dẻo và linh hoạt của Hồ Chí Minh giúp dân tộc vượt qua thời đoạn hiểm nghèo đã bước đầu phản ánh tầm ảnh hưởng cũng như vai trò dẫn đường của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Trong hai cuộc kháng chiến, Người đã xác định đúng kẻ thù cơ bản, đánh giá đúng so sánh lưc lượng giữa ta và địch. Trong tầng tầng, lớp lớp kẻ thù núp dưới danh nghĩa Đồng minh kéo vào nước ta sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng nhận ra kẻ thù cơ bản, chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Người đề nghị quốc dân đồng bào: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”(9). Cũng vì thế Người đã sớm kêu gọi “Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu!”(10). Hồ Chí Minh và Đảng ta đã hoạch định đường lối kháng chiến đúng đắn, phát huy sức mạnh tổng hợp, duy trì và dẫn dắt hai cuộc kháng chiến phát triển tới thắng lợi hoàn toàn. Đó là đường lối “kháng chiến, kiến quốc” không chỉ soi đường, dẫn lối cho cách mạng nước ta từng bước xây dựng mọi tiềm lực, đẩy lùi “giặc đói”, chống “giặc dốt”, mà còn làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động đại cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng do Hồ Chí Minh khởi xướng tại Đại hội III, sau đó cũng đóng vai trò quyết định, dẫn dắt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tới thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện chiến lược cách mạng XHCN giúp xây dựng được hậu phương miền Bắc XHCN vững chắc, đóng vai trò quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến. Tiến hành chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã trực tiếp quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chủ trương thắng từng bước với việc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” là phương hướng kết thúc chiến tranh trong quan điểm chủ đạo của Người. Quan điểm của Người đã dẫn đường cho cách mạng Việt Nam từng bước giành được những thắng lợi vững chắc nhất, làm cho quá trình đi tới thắng lợi hoàn toàn của dân tộc trong mùa Xuân năm 1975 như một tất yếu lịch sử không thể đảo ngược. Thắng lợi vĩ đại của các cuộc kháng chiến, với việc hiện thực hóa mục tiêu độc lập, tự do và CNXH, một lần nữa khẳng định vai trò dẫn đường cùng sức sống mãnh liệt và giá trị trường tồn của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người soi sáng con đường cách mạng Việt Nam Cả cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân, Người đã hiến dâng trọn vẹn cho dân, cho nước. Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Người để lại cho dân tộc Việt Nam căn dặn những vẫn đề cốt yếu của cách mạng Việt Nam, trong đó đặc biệt quan tâm đến xây dựng Đảng và con người. “Trước hết nói về Đảng”, “theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng” và “Đầu tiên là công việc đối với con người”(11) là hai nội dung trọng yếu, bức thiết và có mối quan hệ biện chứng được Người đề cập trong Di chúc. Vì vậy, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong mỗi bước của dân tộc, hình ảnh, tư tưởng, tấm gương đạo đức sáng ngời của Người luôn là niềm tin vững chắc, soi sáng con đường đi lên của đất nước. Tại Đại hội VII, Đảng ta đã chính thức đưa vào văn kiện: Lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Nhân kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2007), Đảng ta phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến nay Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó tạo chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng đã có sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội, định hướng tư tưởng, hành động và bước đầu giành được kết quả cao. Nội dung “làm theo” tư tưởng, đạo đức, tác phong của Bác được biểu hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong công việc, trong đời sống thường ngày “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng “Ý Đảng, lòng dân” trở thành sức mạnh vật chất và tinh thần trong sự nghiệp thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược “xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Tư tưởng, phong cách, tấm gương đạo đức sáng ngời của Người luôn soi sáng con đường đi lên của dân tộc, là niềm tin vững chắc để Đảng và nhân dân ta tiếp tục con đường Người đã lựa chọn, xây dựng đất nước ta “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như sinh thời Bác hằng mong muốn. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng và dân tộc ta, mà còn “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(12). Hơn ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, đất nước ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”(13). Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên CNXH của đất nước ta mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn là “phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(14). Điều đó chứng tỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là người tìm đường, mở đường, dẫn đường mà tư tưởng của Người mãi mãi soi đường, chỉ lối cho cách mạng Việt Nam trong cuộc hành trình tới độc lập, tự do và CNXH, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Nhân dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tất cả niềm tin yêu và lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - soi sáng con đường chúng ta đi, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường Thời đại Hồ Chí Minh - Đó là cách học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thiết thực nhất, cụ thể nhất và hiệu quả nhất. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải biến những điều tiếc nuối, những ham muốn tột bậc, điều mong ước cuối cùng của Người trong Di chúc thành hiện thực, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn: Xây dựng Đảng.

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021

 

QĐND Online - Sáng 29-12, Ban Chỉ đạo (BCĐ) 35 Quân ủy Trung ương (QUTƯ) tổ chức Hội nghị tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021. Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT), Phó trưởng ban Thường trực BCĐ 35 QUTƯ chủ trì hội nghị.

Năm 2020, BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ luôn quán triệt sâu sắc sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là QUTƯ, BCĐ 35 Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, đạt hiệu quả thiết thực.

BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, QUTƯ các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội; ban hành các văn bản chỉ đạo, kế hoạch, hướng dẫn; biên soạn các chuyên đề, tài liệu chuyên khảo phục vụ công tác thông tin tuyên truyền trước các sự kiện chính trị của đất nước, công tác phòng, chống dịch Covid-19, các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên một số địa bàn; một số vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, giữ vững sự ổn định trong đơn vị; chủ động thông tin tích cực, đẩy mạnh tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, kịp thời phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, thông tin xấu độc.

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
 
Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
Các đại biểu tham dự hội nghị.

Cơ quan chức năng và các đơn vị đã quán triệt, thực hiện nghiêm các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của trên, duy trì hoạt động nền nếp; chủ động nhạy bén nắm tình hình, tập trung tham mưu và chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh; tích cực, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trên mặt trận tư tưởng, văn hóa.

Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình quân đội đã bám sát nhiệm vụ chính trị, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương mở rộng các chuyên trang, chuyên mục, triển khai đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận kịp thời, hiệu quả…

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
Cán bộ Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương dự hội nghị.

Năm 2021, BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ xác định triển khai toàn diện các nhiệm vụ, trọng tâm là quán triệt và thực hiện Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; trong đó tập trung định hướng tuyên truyền tạo sự thống nhất cao, niềm tin vào tính đúng đắn của con đường cách mạng Việt Nam do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nhất là các nội dung kế thừa đổi mới, sáng tạo thể hiện trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, các tiêu chí, chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới; đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng chào mừng Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội Khóa XV, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; chủ động phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa phát biểu kết luận hội nghị.

BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng bộ đội và nhân dân trước các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong nước, khu vực và quốc tế; chủ động bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiệp vụ; phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, đa dạng hóa các nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, xứng đáng vai trò nòng cốt trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; tổ chức duy trì nền nếp hoạt động của BCĐ, cơ quan chức năng, lực lượng chuyên môn nghiệp vụ, thống nhất định hướng tư tưởng, triển khai các biện pháp tuyên truyền phù hợp, hiệu quả. Chủ động nắm chắc tình hình cơ sở, địa bàn, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ; phối hợp với các cơ quan chức năng quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, các ấn phẩm văn hóa, văn nghệ, ngăn chặn sự thẩm lậu của tài liệu, sản phẩm độc hại vào đơn vị.

Quan tâm xây dựng, củng cố các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, không để diễn biến tư tưởng tiêu cực và đơn thư khiếu nại tố cáo nặc danh, mạo danh với dụng ý xấu trong nội bộ; quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của bộ đội; phát huy tốt vai trò của các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường, cơ quan báo chí trong biên soạn, phát hành các loại tài liệu, tư liệu về công tác thông tin tuyên truyền giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Nguồn: Quân đội nhân dân.

Bốn chuyến bay đưa hơn 1.000 người Việt về nước

 

Trong 2 ngày 28 và 29-12, đã có 4 chuyến bay đưa khoảng 1.050 người Việt về nước tại các sân bay Tân Sơn Nhất, Vân Đồn, Đà Nẵng.

Trong các ngày 27 đến 29-12, các cơ quan chức năng Việt Nam, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Canada, hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã phối hợp với các cơ quan chức năng sở tại đưa gần 360 công dân Việt Nam về nước an toàn. Hành khách trên chuyến bay bao gồm trẻ em dưới 18 tuổi, người cao tuổi, người ốm đau, du học sinh đã hoàn thành chương trình học không có nơi lưu trú do ký túc xá đóng cửa và các trường hợp đặc biệt khó khăn khác.

Bốn chuyến bay đưa hơn 1.000 người Việt về nước - Ảnh 1.

Người Việt làm thủ tục tại sân bay Toronto

Đại sứ quán Việt Nam tại Ottawa và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Vancouver đã tích cực hỗ trợ công dân trong đó có nhiều người ở xa, người cần sự hỗ trợ đặc biệt di chuyển tới các điểm tập trung tại sân bay quốc tế TP Toronto và Vancouver; đồng thời, cử các cán bộ trực tiếp tới sân bay để hỗ trợ công dân hoàn tất các thủ tục và quá trình lên máy bay diễn ra nhanh chóng, an toàn.

Với mục tiêu đảm bảo sức khỏe cho công dân, ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh, hãng hàng không đã thực hiện nghiêm túc các biện pháp về an ninh, an toàn và vệ sinh dịch tễ trong suốt chuyến bay. Ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (TP HCM), những người tham gia chuyến bay đã được giám sát y tế và cách ly tập trung theo đúng quy định.

Bốn chuyến bay đưa hơn 1.000 người Việt về nước - Ảnh 2.

Người Việt làm thủ tục tại sân bay Vancouver

Trước đó, trong ngày 28-12, đã có 3 chuyến bay đưa người Việt Nam về nước.

Chuyến bay của Vietnam Airlines đã đưa hơn 350 công dân Việt Nam từ Nhật Bản về nước đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh).

Hai chuyến bay của hãng hàng không Pacific Airlines đã đưa hơn 340 công dân Việt Nam từ Đài Loan (Trung Quốc) về nước tại sân bay quốc tế Đà Nẵng (TP Đà Nẵng), những người tham gia các chuyến bay đã được giám sát y tế và cách ly tập trung theo đúng quy định.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết trong năm 2020, một nhiệm vụ hết sức quan trọng của lực lượng làm công tác đối ngoại là bảo hộ công dân trong tình hình mới, khi Covid-19 xảy ra trên thế giới và khu vực khiến nhu cầu bảo vệ, bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài lớn chưa từng có. Chỉ riêng số lượng công dân chúng ta hỏi về các lĩnh vực liên quan đến bảo hộ người dân ở nước ngoài thông qua tổng đài điện thoại bảo hộ công dân đã tăng gần 200% các cuộc gọi trong năm 2020.

Điều đó nói lên nhu cầu bảo hộ công dân ở bên ngoài rất lớn. Nhưng điểm lớn nhất là việc trong Covid-19, Việt Nam có thể nói là một trong số ít các nước đã có các chuyến bay đưa công dân Việt Nam học tập hoặc thăm viếng ở nước ngoài bị mắc kẹt muốn về nước. Chỉ riêng trong năm 2020, chúng ta đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73 ngàn công dân Việt Nam ở 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới về nước một cách an toàn.

Thời gian tới, việc đưa công dân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nước sẽ được sắp xếp theo nguyện vọng của công dân, phù hợp với tình hình dịch bệnh và năng lực cách ly trong nước.

Nguồn: Người lao động.