Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

 

Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

 “Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta xác định là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Do vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là công cuộc “giữ nước” trong thời bình của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một nhiệm vụ cấp bách, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách _Ảnh: Tư liệu

Tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa

“Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Dù số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ chưa rõ nét. Một số tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc cũng như xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận, nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện đại, có biểu hiện lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn. Một số tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tính giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự có hiệu quả. Trước tình hình này, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

Xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng nhằm phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong những năm qua, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng đạo đức, lối sống được ban hành và triển khai thực hiện, như Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12-1-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”; Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27-7-2010, của Ban Bí thư về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… Trong đó, đặc biệt, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, xác định sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là bước chuyển trực tiếp đến “diễn biến hòa bình”, làm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh, cần chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân tự soi, tự sửa và giám sát người khác; qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống đúng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm, tránh chung chung. Thực trạng “vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên” chưa được ngăn chặn, đẩy lùi kịp thời đã ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây cũng là điểm cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng để bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. 

Để đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động tham mưu và ban hành, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, như tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg, ngày 29-3-2017, về “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 9-2-2018, của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang”; Nghị định số 110/2018/NĐ-CP, ngày 29-9-2018, “Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội”; Nghị định số 122/2018/NĐ-CP, ngày 17-9-2018, “Quy định về xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa””

Cùng với việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng triển khai xây dựng các đề án, đề tài, hội thảo khoa học để nghiên cứu những giá trị văn hóa tốt đẹp cần phát huy và những hủ tục, những biểu hiện văn hóa lai căng, không phù hợp cần được loại bỏ nhằm hướng tới xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam, như các đề án, đề tài về tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam; vai trò của hương ước, quy ước đối với xây dựng đạo đức lối sống hiện nay; bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình; xây dựng mô hình cưới văn minh tiết kiệm, phù hợp với phong tục, tập quán; văn hóa ứng xử trong lễ hội…

Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể triển khai nhiều hoạt động thực tiễn; phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức các đợt phát động sáng tác tranh cổ động, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị được giao; tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, góp phần xây dựng con người Việt Nam yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân, viên chức, lao động... Phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng chương trình đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nam, nữ thanh niên về trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức trách nhiệm cho thanh, thiếu niên về giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng gia đình no ấm; xây dựng con người tiến bộ, hạnh phúc, có lòng yêu nước, có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... triển khai các chương trình phối hợp trong xây dựng đạo đức, lối sống trong các lĩnh vực, địa bàn công tác có liên quan; phát huy hiệu quả phối hợp giáo dục của 3 môi trường “gia đình - nhà trường - xã hội”; nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cũng như hiệu quả công tác quản lý và tổ chức lễ hội…

Thông qua phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, nhiều giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc được gìn giữ và phát huy (Trong ảnh: Lễ hội Gò Đống Đa, Hà Nội) _Ảnh: Tư liệu

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng lồng ghép, triển khai các nội dung tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh trong việc việc cưới, việc tang và lễ hội với các phong trào khác, như phong trào xây dựng gia đình hạnh phúc, xây dựng gia đình nông dân sản xuất giỏi, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; đồng thời tổ chức thực hiện Chương trình khoa học và công nghệ cấp bộ “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trước tác động của phương tiện truyền thông mới” gồm 8 đề tài; thực hiện đề tài khoa học cấp quốc gia “Hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”; thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Phát huy vai trò của hương ước, quy ước trong xây dựng đạo đức, lối sống trong giai đoạn hiện nay”; triển khai thực hiện Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030 gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình gắn với chủ đề “Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”.

Nhìn chung, các văn bản, chỉ thị về văn hóa được ban hành kịp thời, phát huy được những hiệu quả, hiệu lực quản lý nhất định, góp phần đề cao vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa đã trở thành hiện thực trong đời sống, trở thành nền nếp, tạo ra những giá trị mới phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đồng thời, góp phần thúc đẩy, vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam trong tình hình mới, đẩy lùi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng “hệ giá trị văn hóa tư sản”. Nền văn hóa truyền thống, cách mạng giữ gìn được bản sắc dân tộc, phát huy được giá trị tinh hoa trong quá trình đổi mới và hội nhập. Với các chủ trương, đường lối kịp thời của Đảng và Chính phủ, đời sống mọi mặt của đất nước ổn định, phát triển bền vững, mối đoàn kết toàn dân tộc được giữ vững.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên lĩnh vực văn hóa. công tác xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam còn có hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, những tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi các giá trị xã hội, định hướng chuẩn mực đạo đức trong mỗi con người. Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tốt đẹp của dân tộc bị biến đổi, mai một, thậm chí bị lấn át bởi quan hệ kinh tế, lợi nhuận. Hệ giá trị mới với các chuẩn mực cụ thể về đạo đức, lối sống chưa được tập trung xây dựng; những giá trị mới hình thành chưa bền vững nên chưa có tác động tích cực đối với định hướng giá trị nhân cách con người. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa giáo dục đạo đức và pháp luật chưa tốt; sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc tham gia xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam chưa được phát huy. Tình trạng lai căng sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các tệ nạn xã hội và sự xâm nhập các sản phẩm, dịch vụ độc hại, chủ nghĩa cá nhân vị kỉ, đang làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là giới trẻ hiện nay. Hoạt động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật có lúc còn thiếu sắc bén, thiếu tính thuyết phục và tính chiến đấu. Việc ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa thực sự hiệu quả, kịp thời.

Một số giải pháp thời gian tới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó, việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén, góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một lànâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao.

Hai là, công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn. Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa.

Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự có hiệu quả.

Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.

Phê phán các luận điệu xuyên tạc về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam

 Sự chống phá điên cuồng, xuyên tạc sự thật của các thế lực cơ hội, thù địch về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam là sự tiếp nối của cuộc đấu tranh ý thức hệ trong điều kiện mới nhằm phá hoại, làm mất ổn định, phát triển đất nước. Những luận điểm này tuy không có ý nghĩa gì về tri thức, lý luận, nhưng chúng ta không được coi nhẹ, phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phê phán.

Xuất bản sách phục vụ trực tiếp cuộc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 Thực hiện các nghị quyết của Đảng, việc xuất bản sách phục vụ trực tiếp cuộc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng đã đạt được những thành tựu nhất định.

Tỉnh táo trước các hoạt động chống phá trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 

Theo kế hoạch,Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sẽ diễn ra từ ngày 25/1/2021 đến ngày 2/2/2021 tại Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lớn lao đối với con đường phát triển của đất nước trong thời gian tới. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân rất kỳ vọng, đặt nhiều niềm tin vào Đại hội XIII và tin tưởng rằng Đại hội sẽ sáng suốt lựa chọn những cán bộ vừa có đức vừa có tài để lãnh đạo đất nước, đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

 Tuy nhiên, càng đến gần Đại hội thì các hoạt động chống phá của các thế lực phản động, thù địch, những kẻ cơ hội chính trị tiếp tục tìm mọi cách chống phá Đảng, Nhà nước bằng nhiều thủ đoạn, hình thức khác nhau, đặc biệt là vấn đề nhân sự luôn trở thành trọng tâm của sự chống phá. Từ việc nói xấu, đặt điều, vu khống về các đồng chí lãnh đạo cấp cao, đến việc xuyên tạc tình trạng mâu thuẫn trong nội bộ, nhất là thủ đoạn dựng lên các câu chuyện về “phe cánh”… 

Những thủ đoạn này không chỉ xuất hiện ở trước kỳ Đại hội này mà luôn diễn ra cả ở những kỳ Đại hội trước. Thực chất, chúng tự xuyên tạc, bịa đặt, tung tin, dựng chuyện nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo; những thông tin thất thiệt đó lại được một số người nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác, hoặc vì những động cơ xấu đã phát tán, chia sẻ, lan truyền. Không ít người cho rằng, mạng xã hội (MXH)là môi trường “ảo” nên cứ thoải mái phát ngôn, tự do thông tin. Trong khi những hành động, lời lẽ thiếu suy nghĩ của họ đã vô tình tiếp tay để các thế lực thù địch, chống đối suy diễn, lợi dụng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận Nhân dân.

Theo các quy định của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc sử dụng các phương tiện truyền thông để đăng phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ nhằm xâm hại lợi ích của tổ chức, cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật. Mặt khác, về góc độ đạo đức, những biểu hiện xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, hạ thấp uy tín cán bộ thông qua MXH, thông qua đơn thư nặc danh, mạo danh là việc làm mờ ám, vụng trộm, lén lút với động cơ, mục đích đen tối, không nhân văn giữa con người với con người.

Như vậy, những thông tin xấu độc cần phải được nhận diện và đấu tranh phản bác; cùng với các cơ quan chức năng đấu tranh, ngăn chặn, mỗi tổ chức, cá nhân cần nâng cao hơn nữa ý thức, tinh thần trách nhiệm công dân của mình; đồng thời cần tỉnh táo mỗi khi định chia sẻ thông tin trên MXH, nhất là những thông tin có liên quan đến Đại hội XIII của Đảng, đừng để mình trở thành “con rối”, bị lợi dụng để tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch./.

 

Nhận diện chiêu trò chống phá hoạt động của Quốc hội nước ta hiện nay

 


           Các kỳ họp Quốc hội là nơi đại biểu Quốc hội thay mặt cử tri và nhân dân cả nước bàn bạc, quyết sách những vấn đề quan trọng của đất nước. Đây cũng là lúc những kẻ núp bóng “dân chủ, nhân quyền” không từ mọi thủ đoạn để suy diễn, xuyên tạc. Những chiêu trò đó cần nhận diện như sau:

 Thứ nhất, họ ra sức xuyên tạc vị trí, vai trò, chức năng của Quốc hội, xuyên tạc, vu khống Quốc hội hoạt động không hiệu quả, thậm chí họ xem các kỳ họp Quốc hội là không cần thiết, cố tình xóa bỏ những kết quả trong hoạt động của Quốc hội. Mặt khác, phủ nhận mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội, đòi hỏi Quốc hội là tổ chức độc lập. Thậm chí, họ cho rằng Đảng hoạt động ngoài hiến pháp và pháp luật, yêu cầu phải xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp nước ta.

Thứ hai, hạ thấp uy tín, bôi nhọ danh dự, phủ nhận những đóng góp của các đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu Quốc hội giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước.

 Thứ ba, lợi dụng các phiên chất vấn, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội để cố gắng làm “méo mó”, “biến dạng” các vấn đề thảo luận giữa các đại biểu, hướng lái, công kích dư luận theo cách diễn giải theo mưu đồ của họ. Tìm mọi cách khoét sâu vào những khó khăn, bất cập cần tháo gỡ để vu khống, với phương châm: “Nói không thành có, đổi trắng thay đen”, lấy hiện tượng để quy thành bản chất và quy kết đó là do những hạn chế hoạt động của Đảng, Nhà nước.

 Thứ tư, sử dụng các trang mạng xã hội như: YouTube, Facebook, Blog… với tính năng lan tỏa nhanh tác động tiêu cực đến nhận thức nhân dân; phát tán các bài viết, hình ảnh, video với thông tin sai lệch, trái chiều, không đúng sự thật. Đặc biệt họ cố tình cắt ghép, pha trộn, chỉnh sửa các bài tranh luận, phát biểu của các đại biểu Quốc hội để tuyên truyền chống phá các hoạt động của Đảng, Nhà nước.

 Vì vậy, cần nhìn nhận các vấn đề trên như sau:

 Trước hết, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội được Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành Hiến pháp và pháp luật, thành các quy định chung mang tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp trong xã hội.

Ở nước ta,“tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Như vậy, nhân dân là chủ thể mang quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, muốn sử dụng quyền lực Nhà nước của mình, nhân dân phải được tổ chức lại dưới hình thức Nhà nước. Quốc hội chính là cơ quan Nhà nước cao nhất, thông qua đó nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước của mình. Quốc hội là nơi ý chí của nhân dân trở thành ý chí của Nhà nước thể hiện bằng các đạo luật mang tính bắt buộc chung. Do đó, Quốc hội nước ta có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng, chức năng, nhiệm vụ được quy định rõ ràng.

 Hai là, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của Việt Nam (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013).

 Thứ ba, Hiến pháp đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Điều này không hề làm mất đi vai trò của Quốc hội. Bởi quyền lực nhà nước ở nước ta là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng đó là sự lãnh đạo có nguyên tắc và theo quy định. 

 “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội là mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ, hai chiều, nghĩa là Đảng lãnh đạo hoạt động của Quốc hội, nhưng sự lãnh đạo đó vẫn phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, Đảng không thể đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp và pháp luật. 

 Đảng lãnh đạo nhưng luôn tôn trọng và phát huy vai trò của Quốc hội, không áp đặt, không làm thay, mà định hướng nội dung và phương thức hoạt động của Quốc hội. Đảng lãnh đạo, chứ Đảng không điều hành công việc của Quốc hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua phát huy vai trò của tổ chức Đảng, đảng viên hoạt động trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

 Thứ tư, thực tiễn đã chứng minh, trải qua 74 năm, Quốc hội đã luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, không ngừng phát huy vai trò, vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của đất nước, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Về hoạt động lập hiến, từ khi ra đời đến nay, Quốc hội đã xây dựng và ban hành 5 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013. Đây là những đạo luật gốc, đạo luật cơ bản của Nhà nước, cơ sở để tạo lập nền tảng chính trị, pháp lý cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước, quy định những vấn đề quan trọng nhất về quyền lực Nhà nước; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động của bộ máy Nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. 

 Qua các kỳ họp Quốc hội, không khí dân chủ, đoàn kết, cởi mở, thẳng thắn trên tinh thần xây dựng, phát triển, với phương châm “nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật”, điều đó khẳng định vai trò của các đại biểu Quốc hội không ngừng được thể hiện rõ nét, nhất là trong các phiên chất vấn và trả lời chất vấn, chất lượng các kỳ họp Quốc hội vì thế không ngừng được nâng lên.

Thứ năm, diễn biến, tiến trình các kỳ họp Quốc hội luôn được phát thanh, truyền hình trực tiếp, được báo chí trong nước và quốc tế đưa tin, thu hút sự quan tâm theo dõi, đánh giá, góp ý của cử tri và nhân dân cả nước. Việc tranh luận được khuyến khích khiến vấn đề chất vấn được làm rõ ràng hơn, nhất là các mặt hạn chế, trách nhiệm cán bộ và nêu rõ giải pháp. 

Tại các kỳ họp Quốc hội, nhiều vấn đề quan trọng, cấp thiết được tranh luận, chất vấn và trả lời chất vất sôi nổi, nhiệt thành, có chất lượng. Sau phiên chất vấn, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về các nội dung này, từ đó có cơ sở để theo dõi vấn đề đã được đặt ra và giám sát lời hứa hẹn của những người trả lời chất vấn. Việc Quốc hội tăng cường hoạt động chất vấn khiến cho những người giữ các chức danh mà Quốc hội bầu, phê chuẩn luôn phải nỗ lực thể hiện rõ trách nhiệm của mình, không thể lơ là.

 Thứ bảy, các đại biểu Quốc hội là đại diện do cử tri cả nước bầu ra. Nếu trong quá trình trình thực hiện trọng trách dân tộc giao phó, không đáp ứng được sự mong mỏi, kỳ vọng của nhân dân thì sẽ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và cử tri cả nước, có thể bị miễn nhiệm, thôi giữ cương vị đại biểu Quốc hội. 

 Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, song song với việc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy Nhà nước nói chung, Quốc hội cũng rất kiên quyết chống tiêu cực trong đội ngũ của mình. 

Quốc hội khóa XIV cho thấy có đại biểu Quốc hội phải rời vị trí khi chưa hết nhiệm kỳ và có đại biểukhông được công nhận tư cách đại biểu Quốc hội do vi phạm pháp luật. 

Chính vì thế, việc gương mẫu xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của số đại biểu trên cho thấy, Quốc hội luôn tự đổi mới, tự chính đốn mọi hoạt động, cũng như đội ngũ của mình, làm cho vị thế, uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao trong lòng nhân dân.

 Tất cả những vấn đề trên đã khẳng định vị trí, vai trò của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Mọi chiêu trò hạ thấp, bôi nhọ uy tín, danh dự của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội hiện nay không ngoài mục đích phá hoại sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay.

                                                                                      Nguồn: CAND

 

TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH.

 


 


NHỮNG BIỂU HIỆN CHÍNH.

Biểu hiện thứ nhất là: Sự thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trong xã hội có một số người cho rằng: sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước có nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Biểu hiện thứ hai là: Đòi đổi mới quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng mạnh ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ về vũ khí trang bị, đổi mới quân đội theo hướng quân đội nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này nghĩa là đã ngả sang thế lực thù địch, đến giai đoạn tiếp tay cho các thế lực thù địch phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.

Biểu hiện thứ ba là: Xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước. Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” mọi chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và về quốc phòng, an ninh nói riêng. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của LLVT... họ đều tìm cách để xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và LLVT, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và LLVT.

Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa là họ đã đứng hẳn về phía các thế lực thù địch, đi ngược lại với quyền lợi của dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một bộ phận không nhỏ người này, họ thường lợi dụng vào lòng yêu nước của nhân dân ta để ra sức công kích vào những quan điểm, đường lối lãnh đạo, đối sách của Đảng về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thỉnh thoảng họ lại tổ chức các buổi tụ tập, diễu hành, hòng kích động nhân dân, nhất là vào những dịp lễ hội lớn, các sự kiện quan trọng của đất nước, hoặc mỗi khi trên Biển Đông có những biến động phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải nhận rõ các biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn của họ, để có lập trường cứng rắn, kiên quyết đấu tranh và phê phán./.

 

 

KHÔNG HÙA THEO NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

 Vì nhiệm vụ ứng cứu nhân dân trong bão lũ, vì sự bình yên của Tổ quốc mà vừa qua ở vùng lũ dữ miền Trung đã có 33 cán bộ, chiến sĩ quân đội hy sinh. Có đồng chí là cán bộ cấp tướng, có những chiến sĩ mới ở tuổi đôi mươi...

Phòng tránh các hoạt động lừa đảo qua không gian mạng

 Một là, đề cao cảnh giác khi nhận các cuộc gọi đến bằng điện thoại cố định, người gọi tự xưng là cán bộ các cơ quan nhà nước, đặc biệt là lực lượng Công an để thông báo, yêu cầu điều tra vụ án qua điện thoại; không cung cấp thông tin cá nhân, số điện thoại, địa chỉ nhà ở,... cho bất kì đối tượng nào khi chưa biết rõ nhân thân và lai lịch của người đó.

VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH CHỐNG THẾ LỰC TỜ-RỐT-XKÍT (1930 - 1945) VÀO PHÒNG, CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI, CHỦ NGHĨA DÂN TÚY HIỆN NAY

 TCCS - Cuộc đấu tranh quyết liệt với thế lực tờ-rốt-xkít để bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng thời kỳ 1930 - 1945 diễn ra với nhiều hình thức đa dạng, từ bí mật đến công khai trên các diễn đàn, tại các cuộc mít-tinh, biểu tình, đến các cuộc vận động bầu cử, những cuộc bút chiến trên mặt báo. Cuộc đấu tranh ấy để lại nhiều kinh nghiệm quý, có giá trị và cần được vận dụng sáng tạo trong cuộc đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay.

Kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo đấu tranh chống thế lực tờ-rốt-xkít (1930  - 1945)

Những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, tại châu Âu, một bộ phận trí thức người Việt chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tờ-rốt-xkít và gia nhập nhóm tờ-rốt-xkít tại Pháp - nhóm Tả Đối lập (Opposition de Gauche). Tiêu biểu trong số này có Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương. Năm 1930 từ Pháp về, nhóm tờ-rốt-xkít này kết nối với một số nhóm có khuynh hướng tờ-rốt-xkít ở Sài Gòn. Vì có nhiều bất đồng về quan điểm nên nội bộ những người tờ-rốt-xkít đã phân hóa thành ba nhóm chính(1). Mặc dù mỗi nhóm đều có lãnh tụ, hội viên, xuất bản báo chí riêng... nhưng về mặt tư tưởng, các nhóm này đều tuyên bố tin theo học thuyết “Cách mạng thường trực”, chống Đảng Cộng sản Đông Dương, phá hoại cuộc vận động dân sinh, dân chủ, tiến tới thành lập Mặt trận dân chủ thống nhất của quần chúng nhân dân. Cuộc đấu tranh của Đảng Cộng sản Đông Dương với thế lực tờ-rốt-xkít thời kỳ 1930 - 1945 nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng đã diễn ra mạnh mẽ trên một số phương diện chủ yếu sau:

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo khi xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp (Trong ảnh: Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930) _Nguồn: TTXVN

Thứ nhất, đấu tranh bảo vệ đường lối, chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo khi xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nhưng với những lập luận riêng dựa trên lý luận của “Cách mạng thường trực”, nhóm tờ-rốt-xkít đã đề ra những chủ trương đối lập về chiến lược, sách lược với Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu Đảng ta chủ trương làm cách mạng dân chủ tư sản nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến (phản đế và phản phong), coi đây là giai đoạn thứ nhất của cách mạng để tạo điều kiện tiến lên giai đoạn xã hội chủ nghĩa, thì nhóm tờ-rốt-xkít cho rằng, sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân có giá trị như một cuộc cách mạng tư sản. Họ khẳng định, đây chính là yếu tố dẫn đến sụp đổ chế độ phong kiến và tạo tiền đề cho chủ nghĩa tư bản phát triển...  nên cách mạng Đông Dương không phải là cách mạng giải phóng dân tộc mà chỉ có thể là cuộc cách mạng vô sản, dẫn đến thành lập chính phủ công nhân. Trong Luận cương về Cách mạng thường trực, nhóm tờ-rốt-xkít Tháng Mười nhận định: “Chưa giải phóng sự sanh sản khỏi những quan hệ phong kiến, chưa làm cách mạng điền địa, chưa làm cách mạng dân tộc, ấy nghĩa là xứ Đông Dương chưa làm cách mạng tư sản dân quyền của nó”(2). Thậm chí, họ còn cho rằng, nếu Đông Dương thực hiện chiến lược cách mạng tư sản dân quyền thì là “dốt” và “duy tâm”:  “Trong quá trình của lịch sử tiến hóa, phái Staline đặt xứ Đông Dương ở giai đoạn phong kiến, đã kết luận rằng cuộc cách mạng ở xứ nầy là một cuộc tư sản dân quyền cách mạng. Nhưng lập luận như thế là tỏ cái dốt và cái duy tâm của họ”(3).

Cùng với việc phủ nhận chiến lược giải phóng dân tộc, nhóm tờ-rốt-xkít Việt Nam còn phủ nhận cả chiến lược giải phóng giai cấp trong đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên tờ La Lutte số 13, nhóm tờ-rốt-xkít cho rằng giai cấp vô sản Đông Dương “không phải làm nhiệm vụ lịch sử của các giai cấp xã hội khác” (nghĩa là không cần phải thực hiện các nhiệm vụ dân chủ, bao gồm cả cách mạng điền địa). Tháng 4-1937, Hồ Hữu Tường phản đối Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) về chủ trương các đảng cộng sản lập Mặt trận nhân dân chống phát-xít, đòi giải tán Mặt trận bình dân ở Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc, phản đối Mặt trận dân chủ ở Đông Dương. Cũng trong tháng 4-1937, với luận điệu “tả” khuynh, Tạ Thu Thâu chủ trương ở Đông Dương không nên lập Mặt trận dân chủ: Giai cấp vô sản không cần và cũng không có thời giờ đâu mà lo cho các giai cấp khác. Luận điệu này như thể đề cao giai cấp vô sản, nhưng trên thực tế là trái với mục tiêu cách mạng của giai cấp vô sản mà C. Mác và V.I. Lê-nin đã đề ra. Các lực lượng tờ-rốt-xkít đều phản đối và ra sức ngăn cản cuộc vận động, tập hợp quần chúng nhân dân làm cách mạng của Đảng Cộng sản...

Trong bối cảnh đó, năm 1937, Tổng Bí thư Hà Huy Tập với bút danh Thanh Hương đã viết cuốn “Tờ-rốt-xky và phản cách mạng” để phân tích rõ những quan điểm phản động của nhóm tờ-rốt-xkít cũng như sự nguy hại của luồng tư tưởng này đối với cách mạng Đông Dương và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế: “Chủ nghĩa của Tờ-rốt-xky là một chi nhánh của chủ nghĩa phát-xít. Đệ tứ quốc tế là đội tiên phong của giai cấp tư bản tài chính phản cách mạng. Đệ tứ của Tờ-rốt-xky rất mật thiết liên lạc với hết các đảng phái phản động ở thế giới và nhất là với tụi phát-xít Đức và Nhật để chia rẽ công nhân vận động, phá rối các phong trào Mặt trận bình dân dự bị đế quốc chiến tranh âm mưu đánh đổ Liên bang Xô-viết là xứ dân chủ hơn hết trong thế giới, xứ độc nhất ủng hộ chính sách hòa bình một cách cương quyết và triệt để”(4).

Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, Nghị quyết của toàn thể Hội nghị của Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 3-1938) đã xác định: Tranh đấu chống lại “bọn khiêu khích tờ-rốt-xkít” là nhiệm vụ chính trị quan trọng ở thời điểm này, trong đó cần phải chú trọng hơn nữa công tác đấu tranh với nhóm tờ-rốt-xkít trên báo chí công khai, tiếp xúc với quần chúng nhân dân để làm cho họ hiểu rõ bản chất của những người tờ-rốt-xkít, nghiên cứu kỹ sự khác nhau giữa chủ nghĩa tờ-rốt-xkít và chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tẩy sạch những phần tử tờ-rốt-xkít lọt vào trong Đảng. Dân chúng là tờ báo công khai, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương, ra số đầu vào ngày 22-7-1938, đã tập trung đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng. Báo Dân chúng số ra ngày 5-10-1938 đã vạch trần bộ mặt thật của tờ-rốt-xkít là “điên cuồng, cách mạng rồ, khí khái ngông!”(5).

Thứ hai, đấu tranh với quan điểm của thế lực tờ-rốt-xkít khi phủ nhận tính dân tộc và tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của các dân tộc Đông Dương trong tiến trình cách mạng.

Phát huy tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Nhưng đối với các nhóm tờ-rốt-xkít thì nhân danh việc đề cao “tình cảm đối với giai cấp vô sản toàn thế giới” họ đã chối bỏ, không thừa nhận những giá trị của các cụm từ “yêu nước”, “tổ quốc”, “độc lập”, “đồng bào”,... Trên báo La Lutte, số ra ngày 13-4-1935, họ công khai tuyên bố: “Đã lâu rồi, sợi dây yêu nước trong tâm hồn chúng tôi không còn rung động nữa”. Do coi nhẹ yếu tố dân tộc nên nhóm tờ-rốt-xkít chủ trương xây dựng “Liên bang xã hội chủ nghĩa châu Á” (Les Etats Unis socialistes d’Asie). Thực ra, mô hình Liên Á này là sản phẩm của học thuyết “Cách mạng thường trực” khi cho rằng, cách mạng phải thành công ở nhiều nước chứ không thể thành công ở một nước riêng lẻ. Đây là học thuyết và quan điểm trái ngược với học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Nhằm vạch trần và đấu tranh với tư tưởng “chủ nghĩa hư vô dân tộc”  của nhóm tờ-rốt-xkít, trên tờ La Lutte số 148, ra ngày 13-5-1937, đồng chí Hà Huy Tập đã viết: “Chính thái độ biệt phái đó Thâu hoàn toàn không nói gì đến những nhiệm vụ giải phóng dân tộc của các dân tộc Đông Dương. Xóa bỏ các quyền lợi dân tộc là làm cho giai cấp vô sản bị cô lập, mà cũng là phản bội chủ nghĩa quốc tế”. Khẩu hiệu “Liên Á” của phái tờ-rốt-xkít được đánh giá là một ảo tưởng, một sai lầm và là một phương hướng chiến lược nguy hại. Việc coi nhẹ vấn đề dân tộc càng là sai lầm trong tư duy chính trị, rất nguy hại đến việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, đặc biệt là sự chủ động, tích cực của các dân tộc trong chuẩn bị “lực”, “thế” và tranh thủ chớp thời cơ giành chính quyền khi đã hội đủ các điều kiện chín muồi.

Thứ ba, đấu tranh với thế lực tờ-rốt-xkít lợi dụng những thời điểm lịch sử có tính chất bước ngoặt để bóp méo, xuyên tạc bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản, chia rẽ và làm suy yếu sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đến năm 1936, trước những biến chuyển của tình hình thế giới, gắn với yêu cầu của thực tiễn cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định chuyển cách mạng Việt Nam sang giai đoạn vận động dân sinh, dân chủ. Lợi dụng thời điểm cách mạng đang đứng trước những bước ngoặt lớn, ẩn chứa nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, nhóm tờ-rốt-xkít đã tuyên truyền rằng, việc Đảng Cộng sản chuyển sang đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ là sự “phản bội nguyên lý của chủ nghĩa Mác”, “từ bỏ học thuyết đấu tranh giai cấp”, “đi theo chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa tân lập hiến”. Họ còn tuyên bố, Đảng Cộng sản Đông Dương là “Cộng sản giả”(6). Từ lập luận đó, nhóm tờ-rốt-xkít phản đối việc thành lập một mặt trận dân chủ rộng rãi lôi kéo các giai tầng trong xã hội vào cuộc đấu tranh chung và họ chủ trương thành lập “Mặt trận vô sản”. Nếu như Đảng chủ trương “lập các hội ái hữu rộng lớn”, “ủng hộ Chính phủ bình dân Pháp” thì nhóm tờ-rốt-xkít lại cho rằng, “ái hữu giết chết công hội” và kêu gọi “đánh đổ giai cấp vô sản Pháp”,...

Đồng chí Hà Huy Tập, với trách nhiệm của mình, đã đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, phản động của nhóm tờ-rốt-xkít. Với bút danh HONG-QUI-VIT, đồng chí Hà Huy Tập đã viết bài trên La Lutte, ngày 13-5-1937, phê phán quan điểm của tờ-rốt-xkít về vấn đề mặt trận: “Mặt trận nhân dân Đông Dương không nên thu hẹp thành mặt trận vô sản, như Thâu đã đề nghị, vì đó là một xu hướng cô lập giai cấp vô sản. Trái lại, Mặt trận nhân dân Đông Dương phải tập hợp được những tầng lớp dân chúng rộng rãi từ những người lao động cho đến những tầng lớp tự do của các giai cấp có của, qua những giai cấp trung gian và như thế không phân biệt những xu hướng chính trị, tôn giáo, giới tính, dân tộc, chủng tộc”(7). Đồng chí Hà Huy Tập chỉ rõ bản chất của thế lực tờ-rốt-xkít là “xét lại” chủ nghĩa Mác và kết luận: “Các bạn sẽ không rơi vào “chủ nghĩa lập hiến mới” khi tham gia Mặt trận nhân dân và đấu tranh chống sự cô lập hóa giai cấp vô sản, chống sự bỏ rơi các tầng lớp xã hội khác và quên đi những nỗi lo quốc kế dân sinh. Trong trường hợp khác, các bạn sẽ là kẻ theo chủ nghĩa Mác - mới, xét lại, mà lúc này là có tội”(8).

Với hiểu biết sâu sắc về học thuyết Mác  - Lê-nin, nhận thức rõ sứ mệnh của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với cách mạng, Nguyễn An Ninh đã thể hiện rõ quan điểm thẳng thắn, khách quan trong diễn đàn đấu tranh tư tưởng với nhóm tờ-rốt-xkít. Trong bài Trả lời cho ông Tạ Thu Thâu trên báo La Lutte ngày 27-3-1937, Nguyễn An Ninh đã khẳng định sự cần thiết phải đoàn kết rộng rãi nhằm cô lập các lực lượng phản động: “Chắc Thâu cũng đoán được câu trả lời của tôi. Hẳn làm mặt trận với đại biểu của các đảng vô sản, với đại biểu của các giai cấp trung gian, với những người trí thức tự do, với tất cả những ai có tham gia hay tỏ ý có cảm tình với cuộc vận động của Đông Dương đại hội (...). Một mặt trận nhân dân Đông Dương có thể sẽ khác với mặt trận nhân dân Pháp về thành phần tập hợp”(9). Những hoạt động này của các trí thức yêu nước đã tác động đặc biệt mạnh mẽ đến dư luận, góp phần định hướng tư tưởng cho quần chúng nhân dân ở thời điểm lịch sử này.  

Trong tác phẩm Tự chỉ trích xuất bản năm 1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ dành một mục để bàn về Đừng khinh thường nạn tờ-rốt-xkít, trong đó chỉ rõ sai lầm của một số đồng chí ta là coi thường tầm ảnh hưởng của tờ-rốt-xkít, kêu gọi toàn Đảng không vì thất bại (trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ tại quận 2, năm 1939) mà hoảng hốt bi quan: “Bọn tờrốtkít, xét đến cốt tủy của chúng thì chúng chỉ gồm những cặn bã của phong trào nhóm họp nhau để chống cộng sản, chống cách mệnh, chia rẽ và phá hoại phong trào quần chúng. Nhưng vì chế độ áp bức, bóc lột tàn nhẫn của bọn tư bản phản động, nhờ những câu “cách mệnh cực tả”, nhờ che đậy bằng trăm nghìn mặt nạ nên bọn tờrốtkít có thể phỉnh phờ lừa gạt được một số trí thức tiểu tư sản, mà ngay cả một số thợ thuyền quá nóng nẩy”(10). Chúng còn “núp dưới bóng cờ cộng sản”, “nhiều khi mạo nhận là cộng sản để chia rẽ”, cần phải vạch trần mưu mô khiêu khích của phái tờ-rốt-xkít,... “Tự chỉ trích” đã định hình những nguyên tắc căn bản trong sinh hoạt đảng, đặc biệt là thực hành tự phê bình và phê bình..., góp phần quan trọng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự thống nhất, đoàn kết trong nội bộ Đảng trước sự tấn công của các thế lực thù địch.

Từ tháng 6-1939, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết hàng loạt bài đăng trên Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta) với bút danh P.C.LIN và LIN về chủ đề tờ-rốt-xkít: Từ đặc điểm của những người tờ-rốt-xkít đến cuộc đấu tranh chống tờ-rốt-xkít của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong Thư từ Trung Quốc đăng trên báo Notre Voix, ngày 7-7-1939, Nguyễn Ái Quốc đề cập đến hoạt động của phái tờ-rốt-xkít ở Trung Quốc và chỉ rõ: “Bọn tờ-rốt-xkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”(11). Trong tài liệu “Những chỉ thị tôi nhớ và truyền đạt”, Nguyễn Ái Quốc đề nghị các đồng chí trong Đảng cần phải cảnh giác đối với những phần tử tờ-rốt-xkít: “Đối với bọn tờ-rốt-xkít, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát-xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”(12).

Cùng với những hoạt động đấu tranh chống thế lực tờ-rốt-xkít, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng đến với các tầng lớp nhân dân; đã có 20 đầu báo ra đời để thực hiện nhiệm vụ chính trị này. Cùng với báo Dân chúng phải kể đến báo Le Travail, báo Lao động, báo Tin tức, báo Việt Nam Độc lập,...

Việc huy động đội ngũ trí thức yêu nước để mở rộng mặt trận đấu tranh là kinh nghiệm quý báu của thời kỳ 1930 - 1945 và cần được vận dụng sáng tạo trong giai đoạn hiện nay (Trong ảnh: Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tham quan trưng bày hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ tại Lễ kỷ niệm 90 năm ngành tuyên giáo của Đảng) _Ảnh: TTXVN

Như vậy, tờ-rốt-xkít là xu hướng và lực lượng phản cách mạng mang nhiều biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy đã công khai chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương, làm rạn nứt sự gắn bó, đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, với dân tộc... Quá trình Đảng lãnh đạo đấu tranh chống thế lực tờ-rốt-xkít thời kỳ 1930 - 1945 đã để lại một số kinh nghiệm có giá trị và cần được vận dụng sáng tạo trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể là: Cần luôn đề cao cảnh giác và tăng cường nhận thức về mục tiêu, bản chất, thủ đoạn của các lực lượng cơ hội chính trị, kích động và lôi kéo quần chúng; coi trọng nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chủ trương, đường lối của Đảng để giữ vững niềm tin, lý tưởng cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng xây dựng, huy động lực lượng đủ “tâm”, đủ “tầm” để trở thành những “chiến sĩ tiên phong” trên mặt trận đấu tranh chống các lực lượng phản động và định hướng tư tưởng cho quần chúng; coi trọng nâng cao hiệu quả của phương tiện truyền thông, đặc biệt là báo chí cách mạng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng; tiến hành đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần được tiến hành đồng thời với việc triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng vì mục tiêu độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Vận dụng kinh nghiệm của Đảng vào đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa” có hệ thống lý luận,... mà chỉ tồn tại dưới dạng quan điểm, tư tưởng và biểu hiện ở phát ngôn, hành động của một số người, một số nhóm, phần tử cơ hội chính trị. Dù chưa điển hình và chưa trở thành trào lưu chi phối đời sống chính trị - xã hội, nhưng những biểu hiện của nó đã tạo ra nhiều nguy cơ và hệ lụy cho sự phát triển chung. Có thể nhận diện những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay trên một số khía cạnh sau:

Một là, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những khó khăn, khuyết điểm trong quá trình đổi mới đất nước... một bộ phận cán bộ, đảng viên mất niềm tin vào lý tưởng của Đảng, thậm chí còn xuyên tạc, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Nhóm này ẩn chứa nhiều nguy cơ chuyển biến thành các phần tử cơ hội chính trị, chủ nghĩa dân túy. Một số nhóm còn cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị tham gia xuyên tạc, bóp méo tình hình, cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, lợi ích nhóm,...

Hai là, các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực phản động tập trung tuyên truyền chống phá, lôi kéo, kích động quần chúng, như: Đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi tự do, dân chủ không giới hạn; lạm dụng và lợi dụng vấn đề “tự do”, “dân chủ” để đưa ra những chương trình hành động có tính mị dân, không đúng với chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, tranh thủ dư luận xã hội để chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ; sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại kích động tâm lý bất mãn; từ đó, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, cổ vũ tụ tập đông người với những khẩu hiệu “bất tuân dân sự” gây sốc nhằm huy động lực lượng chống phá, gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội... Hiện nay, có hàng trăm tổ chức phản động đang ráo riết hoạt động chống phá công cuộc đổi mới đất nước, kích động gây chia rẽ, mất đoàn kết dân tộc... Các  lực lượng này đều được gán với những từ đầy mỵ dân như: “bảo vệ tự do”, “cách mạng”, “dân chủ”, “dân tộc”, “yêu nước”,... để đánh bóng hình ảnh, tập hợp lực lượng.

Ba là, một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, thiếu gương mẫu và có quan điểm, lời nói, hành động không đúng với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Phong cách lãnh đạo không chuẩn mực, thiếu gương mẫu, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, “nói một đằng, làm một nẻo”; “tư duy nhiệm kỳ”, đề cao lợi ích trước mắt, cục bộ, địa phương, “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền. Có người lợi dụng các diễn đàn công khai để lớn tiếng tỏ vẻ mình là người “bảo vệ nhân dân”, “cải cách triệt để”, công kích các cơ quan nhà nước hoặc các chính sách khi thực hiện gặp rào cản, khó khăn, qua đó đánh bóng tên tuổi, gây ảnh hưởng trong xã hội. Chủ nghĩa cơ hội, dân túy còn ẩn dấu dưới dạng “theo đuôi quần chúng”, nhân danh “quần chúng” mà bỏ qua các nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,...

Như vậy, những biểu hiện, tác động của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay đang có diễn biến phức tạp, đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị - xã hội. Do đó, những kinh nghiệm của Đảng ta trong đấu tranh chống thế lực tờ-rốt-xkít thời kỳ 1930 - 1945 vẫn giữ nguyên giá trị, cần được vận dụng sáng tạo, phù hợp trong đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy trong bối cảnh hiện nay. Cụ thể là:

Thứ nhất, coi trọng công tác nghiên cứu, tuyên truyền để nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với những biểu hiện, mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy.

Thực tế cho thấy, những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy đang tìm cách len lỏi, đan xen trong nền chính trị - xã hội của nước ta, đặc biệt là trong một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Đối với các tổ chức, thế lực phản động thì chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy được biện hộ bằng những khẩu hiệu, nội dung tuyên truyền, kích động mang tính mị dân... Đây là hiện thực gây khó khăn trong nhận diện và tiến hành các giải pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay. Do đó, đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền để đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân biết rõ các biểu hiện cụ thể, thủ đoạn, bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy; từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng là nhiệm vụ cấp bách đang đặt ra. Cùng với đó, cần chú trọng phát huy hơn nữa vai trò của các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu, các nhà khoa học, các đơn vị truyền thông, lực lượng chuyên trách, chuyên sâu đấu tranh tư tưởng, lý luận ở các cấp, các ngành, các địa phương,... trong thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Thứ hai, triệt để phòng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng và cải tiến phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa  XII, ngày 30-10-2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong quá trình cụ thể hóa các tiêu chí gắn với 27 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết nêu ra, các cấp ủy cần nghiên cứu và chỉ rõ những biểu hiện nào liên quan và là biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy xuất hiện trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng và phong cách lãnh đạo. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình, phê bình, công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân; phòng, chống tư tưởng cơ hội chính trị và các phần tử cơ hội trong nội bộ. Đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện, các phần tử suy thoái, biến chất, cơ hội chủ nghĩa, như “chạy tuổi”, “chạy bằng cấp”, “chạy khen thưởng”, “chạy chức”, “chạy quyền”, “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm”,... xuất hiện trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. 

Thứ ba, chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt để bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng trước sự tấn công của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy.

Với tính chất phức tạp về biểu hiện và tác động nguy hiểm nhiều chiều của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, cần xây dựng lực lượng nòng cốt từ chính đội ngũ cấp ủy các cấp và lực lượng này có trách nhiệm kết nối với nhân dân để hình thành mặt trận đấu tranh rộng khắp. Thông qua sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở các cấp,... lực lượng nòng cốt này sẽ có điều kiện phát hiện và đấu tranh trực diện từng ngày, từng giờ với chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy đang len lỏi trong nội bộ Đảng hiện nay.  

Kinh nghiệm của Đảng thời kỳ 1930 - 1945 cũng cho thấy, cần thúc đẩy hơn nữa việc xây dựng đội ngũ các nhà khoa học, nhà lý luận có hiểu biết sâu rộng về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chủ trương, đường lối của Đảng, có tư duy, lập luận sắc bén... Họ sẽ là “lực lượng chủ công” trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc huy động đội ngũ trí thức yêu nước để mở rộng mặt trận đấu tranh là kinh nghiệm quý báu của thời kỳ 1930 - 1945, và cần được vận dụng sáng tạo trong giai đoạn hiện nay. Nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học lý luận chính trị tại các trường đại học, các viện nghiên cứu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh... là yêu cầu cấp bách đặt ra để góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.  

Các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá công cuộc đổi mới đất nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân (Trong ảnh: Bộ đội Biên phòng Lai Châu hướng dẫn đồng bào dân tộc Mảng ở xã Nậm Ban, huyện Nậm Nhùn trồng lúa nước) _Nguồn: bienphong.com.vn

Thứ tư, đa dạng hóa các phương thức đấu tranh, coi trọng sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để thực hiện các mục tiêu chống phá công cuộc đổi mới đất nước, làm phân hóa nội bộ Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân... Do đó, hơn lúc nào hết, cần đa dạng hóa các phương thức đấu tranh, tăng cường tận dụng công nghệ truyền thông hiện đại để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với những luận điệu, hành động chống phá của các lực lượng phản động. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền của ban tuyên giáo các cấp; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; huy động các tổ chức chính trị - xã hội tham gia tích cực, có hiệu quả trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận... là những giải pháp hữu hiệu trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ năm, đẩy mạnh phát triển kinh tế  - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy thường gây tác động mạnh nhất khi cách mạng bước vào những giai đoạn có tính chất bước ngoặt, ẩn chứa nhiều khó khăn, thách thức. Trong giai đoạn hiện nay, việc thổi phồng những yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, kích động nhân dân, nhất là trong bối cảnh đời sống các tầng lớp nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn... là những thủ đoạn căn bản mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện để chống phá công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo. Lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên hết, trước hết... là giải pháp có tính quyết định, là “kháng chất” quan trọng để phòng, chống những quan điểm, tư tưởng, hành động phản động của các thế lực thù địch, trong đó có chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa dân túy./.

Theo: tapchicongsan.org.vn

-----------------