Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

Nâng tầm vị thế Việt Nam


Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác đối ngoại đã có những bước phát triển vượt bậc, đóng góp lớn vào sự nghiệp đổi mới, hội nhập và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Ấn Độ Phạm Sanh Châu, đại biểu dự Đại hội đã trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam về những thành tựu trong công tác đối ngoại nhiệm kỳ Đại hội XII và những kỳ vọng ở nhiệm kỳ Đại hội XIII sắp tới.

Chú thích ảnh
Đại sứ Phạm Sanh Châu trả lời phỏng vấn của TTXVN. Ảnh: Huy Lê/Pv TTXVN tại Ấn Độ

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Ngoại giao lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2016-2020, ngành Ngoại giao đã chủ động triển khai các nhiệm vụ đối ngoại và đạt được những kết quả nổi bật. Đại sứ đánh giá thế nào về quá trình này?

Trong 5 năm qua, đối ngoại đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, giúp củng cố an ninh quốc gia, tạo điệu kiện thuận lợi để kinh tế phát triển và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Đại hội XII của Đảng tháng 1/2016 đã xác định ba nhiệm vụ chính của nền ngoại giao đất nước. Một là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Hai là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Ba là nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, đồng thời góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành Ngoại giao cùng các bộ, ngành liên quan luôn chủ động, quyết liệt và sáng tạo trong triển khai các nhiệm vụ lớn để tạo ra nhiều đột phá, là một trong những điểm sáng trong toàn bộ các thành tựu chung của đất nước. Nhìn lại kết quả 5 năm triển khai Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XXVII của Đảng bộ Bộ Ngoại giao, tôi thấy ngành Ngoại giao đã làm được 8 việc lớn sau:

Một là, ứng phó tốt với những biến động của thế giới, tạo ra thế và lực mới để giữ vững chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển, xử lý ổn thỏa các vấn đề phát sinh. Trên thực tế, ngành đã đảm nhận tốt vai trò chủ công, là tuyến đầu của công tác đối ngoại góp phần bảo vệ Tổ quốc từ xa và giữ nước từ khi nước còn chưa nguy.

Hai là, quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, khu vực và các nước lớn tiếp tục được củng cố và đi vào chiều sâu, thực chất, tạo dựng được khuôn khổ quan hệ ổn định, bền vững. Rà soát lại quan hệ của Việt Nam với các đối tác chủ chốt, có thể thấy chưa bao giờ ta có nhiều bạn, nhiều đối tác tin cậy như ngày hôm nay. Sự kết nối của nước ta về kinh tế, chính trị - an ninh, văn hóa - xã hội với khu vực và thế giới ngày càng được củng cố, tạo ra cầu nối quan trọng để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Ba là, đối ngoại đa phương có bước chuyển biến quan trọng, nâng tầm cả về chính sách và triển khai thực tiễn, từ tích cực tham gia sang chủ động tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương quan trọng. Việt Nam đã chủ trì, thúc đẩy nhiều chuỗi sự kiện đối ngoại quan trọng với tiếng vang lớn như: Chủ tịch APEC Việt Nam năm 2017, Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018, Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên lần 2 năm 2019.

Năm 2020, chúng ta đã đảm nhiệm rất thành công vai trò kép, Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều sáng kiến được ghi nhận và đưa vào triển khai thực hiện trong bối cảnh thế giới quay cuồng với đại dịch COVID-19. Năm 2019, Việt Nam trúng cử Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu cao kỷ lục 292 phiếu ủng hộ trong tổng số 293 quốc gia bỏ phiếu. Điều đó cho thấy, sự ủng hộ, niềm tin của quốc tế đối với Việt Nam nói chung và nền ngoại giao của chúng ta nói riêng.

Bốn là, hội nhập quốc tế và công tác ngoại giao kinh tế được đẩy mạnh, thu hút thêm nhiều nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Điểm sáng quan trọng trong 5 năm qua là Việt Nam đã thúc đẩy kết thúc đàm phán, ký kết và và triển khai hiệu quả Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); thúc đẩy đàm phán và chủ trì vận động chính trị - ngoại giao để ký chính thức và phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVIPA).

Năm 2020, dưới vai trò Chủ tịch Việt Nam, các nước châu Á-Thái Bình Dương đã kết thúc đàm phán và ký kết thành công Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (RCEP). Ngoại giao đã thực sự biến nguy thành cơ và chuyển cơ hội thành lợi thế thực sự cho đất nước.

Năm là, công tác bảo hộ công dân và vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai kịp thời, hiệu quả. Đây là công tác ta đã làm tốt trong nhiều năm, và làm đặc biệt tốt trong năm 2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 tạo ra nhiều khó khăn, thách thức cho người Việt Nam trên toàn cầu.

Sáu là, chủ động, kiên quyết đấu tranh trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, đồng thời chủ động, tích cực đối thoại nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau và thu hẹp bất đồng, vượt qua khác biệt. Ngày càng ít tiếng nói phê phán và nhiều thêm các quan điểm hiểu biết, ủng hộ với vai trò lãnh đạo của Đảng và mô hình quản trị, phát triển của đất nước.

Bảy là, đã có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức trong công tác ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại, nâng cao hiệu quả, hiệu ứng quảng bá, tuyên truyền về đất nước, con người, hình ảnh Việt Nam. Trong bối cảnh khó khăn của đại dịch, Việt Nam ngày càng được quốc tế chú ý, nghiên cứu và đề cao. Mặc dù Việt Nam là trường hợp hiếm hoi vừa chống dịch thành công, vừa duy trì được đà phát triển kinh tế, nhưng tiếng lành đồn xa không chỉ nhờ “hữu xạ tự nhiên hương” mà cả cách thức xây dựng và truyền thông về hình ảnh, con người và mô hình quản lý đất nước.

Tám là, ngành Ngoại giao đã làm tốt vai trò chủ trì và điều phối triển khai các hoạt động đối ngoại, đảm bảo sự vận hành cơ bản thống nhất đồng bộ giữa các kênh song phương và đa phương; giữa các loại hình đối ngoại nhà nước, đối ngoại Đảng, đối ngoại Quốc hội và đối ngoại nhân dân; giữa trụ cột ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa các bộ, ngành, cơ quan và địa phương để thúc đẩy nền ngoại giao toàn diện và hiện đại.

Những thành quả quan trọng này có 6 nguyên nhân chính: Một là đường lối đối ngoại đúng đắn từ sự kết tinh trí tuệ dân tộc. Hai là sự chỉ đạo sát sao của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với công tác đối ngoại. Ba là truyền thống tốt đẹp của ngành Ngoại giao được hình thành qua một quá trình lịch sử lâu dài, luôn có sự kế thừa, bổ sung và phát triển.

Bốn là sự chủ động, tích cực và sáng tạo trong quá trình triển khai đối ngoại của các bộ, các ngành và địa phương liên quan. Năm là vai trò điều phối của ngành Ngoại giao để bám sát các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đã đặt ra, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược. Sáu là công tác nghiên cứu, tham mưu đã có bước phát triển mới về chất lượng, giúp nhận thức sát hơn về tình hình và có các khuyến nghị đúng và trúng.

Đại sứ đánh giá thế nào về nội dung công tác đối ngoại thời gian tới, được nêu trong dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng?

Nội dung công tác đối ngoại thể hiện trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục kế thừa trí tuệ của Ðảng ta qua các kỳ đại hội trước, đồng thời có những bước phát triển phù hợp với thế và lực mới của đất nước, thực tiễn phức tạp và khó lường của tình hình thế giới, khu vực và môi trường đối ngoại của đất nước ta hiện nay.

Tôi thấy, dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII được xây dựng khoa học, công phu, tập hợp được sức mạnh trí tuệ của toàn Đảng và toàn dân qua nhiều vòng lấy ý kiến.

Điểm quan trọng là dự thảo đã nhấn mạnh vai trò nòng cốt và đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước, lần đầu tiên khẳng định“vai trò tiên phong” của đối ngoại đối với ba mục tiêu căn bản: tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.

Một điểm phát triển quan trọng trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIII là “bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia - dân tộc”, xác định lợi ích quốc gia - dân tộc là kim chỉ nam trong triển khai hoạt động đối ngoại. Đồng thời, ta cũng xác định rõ lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam không dựa trên chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tôi cho rằng, đây là quan điểm tiến bộ, là chủ trương hợp tình, hợp lý để phát triển một chính sách đối ngoại cân bằng và đảm bảo lợi ích dài hạn của đất nước, không bị sa đà vào việc xử lý tình huống và một chiều.

Dự thảo thảo đã tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng và nhu cầu nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ trương này đã được đề cập trong Đại hội XII và tiếp tục được phát triển trong Đại hội XIII để phản ánh đúng mối quan hệ biện chứng giữa đối ngoại và với vị thế, uy tín của đất nước. Bản thân đối ngoại đa phương không mới mà là một thực tiễn đã được triển khai mạnh trong những năm qua, song trong dự thảo lần này đã được đặt vào một vị trí quan trọng, song hành cùng đối ngoại song phương. Theo đó, dự thảo lần này không chỉ nhấn mạnh Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy” mà còn “là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Nếu như Đại hội XII đề ra định hướng “nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, dự thảo Văn kiện Đại hội XIII khẳng định thêm bước phát triển mới “triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Bổ sung thêm hai yêu cầu "đồng bộ" và “sáng tạo” để tránh không chồng chéo, cản trở lẫn nhau, đồng thời đề cao tính chủ động thích ứng, linh hoạt xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề nảy sinh.

Đáng chú ý, yếu tố con người trong triển khai công tác đối ngoại cũng rất được coi trọng và được xem là nền tảng quan trọng cho việc triển khai hiệu quả công tác đối ngoại của đất nước. Dự thảo đã làm rõ các yêu cầu đối với đội ngũ làm công tác đối ngoại trong tình hình mới, đó là bản lĩnh, tri thức, năng lực, chuyên nghiệp, đổi mới, sáng tạo, chủ động và thích ứng. Tôi tin chúng ta có thể xây dựng được một đội ngũ cán bộ như vậy và đầu tư cho yếu tố con người là đầu tư xây dựng nền móng cho ngoại giao thời kỳ mới - đó là “nền ngoại giao hiện đại, chủ động, sáng tạo và hiệu quả”.

Theo Đại sứ, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động phức tạp, khó lường, ngành Ngoại giao có những giải pháp gì để tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước?

Nhìn xuyên suốt lịch sử nền ngoại giao Việt Nam, nhất là nền ngoại giao hiện đại, chúng ta có thể thấy nhiều bài học quý giá về vai trò và ý nghĩa của sự tiên phong của nền ngoại giao. Tôi nhớ khi tôi còn rất nhỏ, theo ba mẹ đi công tác ở nước ngoài. Lúc đó, cuộc chiến chống Mỹ xâm lược đang ở giai đoạn quyết liệt, tôi thường xuyên phải ở nhà một mình để ba mẹ tôi đi vận động bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam. Đó là một trong những hoàn cảnh thực tiễn mà tôi thấm thía từ khi còn rất nhỏ về vai trò của ngoại giao trong việc tạo ra một môi trường hòa bình cho đất nước.

Ngoại giao đã giúp cách mạng Việt Nam vượt qua những tình huống hiểm nghèo, trở thành mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong đường lối cách mạng. Đến thời kỳ sau chiến tranh, ngoại giao cũng đã đi tiên phong trong đấu tranh đưa nước ta thoát khỏi thế bị cô lập về chính trị, bao vây cấm vận về kinh tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển đất nước.

Tôi nghĩ thời gian tới, ngành Ngoại giao sẽ tiếp tục thảo luận để cụ thể hóa chính sách đối ngoại mà Đại hội đề ra. Từ góc độ của người làm ngoại giao lâu năm, tôi cho rằng để phát huy được vai trò tiên phong của nền ngoại giao Việt Nam, cần thực hiện được bốn điều cơ bản.

Một là, luôn thấm nhuần quan điểm chỉ đạo, tìm mọi cách tối ưu hóa lợi ích quốc gia-dân tộc. Trong ba lợi ích an ninh, phát triển và vị thế, ta cần đặt ưu tiên vào lợi ích phát triển, tận dụng mọi cơ hội để xây dựng đất nước giàu mạnh. Tôi rất mừng dự thảo Văn kiện Đại hội XIII đặt ra mục tiêu cho từng mốc thời gian. Cụ thể đến năm 2025, nước ta sẽ trở thành là nước phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức trung bình thấp, 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trên cơ sở tầm nhìn đó, ngành Ngoại giao sẽ xây dựng các chiến lược và định hướng chính sách cụ thể.

Hai là, cần đảm bảo quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại. Nước ta có nguồn lực hạn chế lại phải đối phó với nhiều thách thức cùng một lúc nên phải đề cao tính hiệu quả và đồng bộ. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế vừa là mệnh lệnh, vừa là yêu cầu của thực tế.

Ba là, quán triệt phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tình hình thế giới luôn biến động nhanh chóng và bất thường, nên ngành Ngoại giao phải luôn linh hoạt, sáng tạo, chủ động thích ứng để hóa giải các khó khăn, thách thức của đất nước. Ngoại giao có thể được coi là “người chèo lái” con thuyền của đất nước trong tiến trình hội nhập, nên luôn phải có tầm nhìn xa, kiên định về nguyên tắc, nhưng đủ can đảm và khéo léo để đưa con thuyền vượt qua sóng gió. Không ra khơi thì sao bắt được cá lớn.

Bốn là, xây dựng một đội ngũ cán bộ ngoại giao thực sự chuyên nghiệp, có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, nhạy bén và sáng tạo. Bác Hồ đã nói “cán bộ là gốc của mọi công việc”. Cũng tương tự, nhà ngoại giao giỏi là gốc của nền ngoại giao hiện đại. Xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngoại giao vững vàng về chính trị, nhạy bén về tư duy, sâu sắc về chuyên môn thì chắc chắn ngoại giao nước ta sẽ thực hiện được vai trò tiên phong của mình.

Trân trọng cảm ơn Đại sứ!

Việt Đức/TTXVN 

Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân

 

Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước. Người Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã khẳng định như vậy. Chủ tịch

Hồ Chí Minh cũng cho rằng, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Mọi việc đều bắt nguồn từ dân, lấy dân làm gốc,… là bài học lớn được đúc kết suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc được Đảng ta vận dụng thành công trong 90 mùa xuân qua. Có Đảng mở đường, chỉ lối, cách mạng mới thành công. Chính nhân dân và chỉ có nhân dân mới là người hiện thực hóa được mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đề ra, đã làm nên bao kỳ tích vĩ đại. Không có nhân dân sẽ không bao giờ có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận rõ chân lý ngàn đời ấy. Cuối năm 1946, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc.”.

Phảng phất âm hưởng Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là tiếng gọi non sông, mang hào khí của một dân tộc anh hùng. Hưởng ứng lời hiệu triệu của Người, đồng bào cả nước đồng lòng đi kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vang dội. Cũng tinh thần ấy, khí phách ấy, chúng ta lại “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thu giang sơn về một mối. Bao chiến thắng lẫy lừng đó là chiến thắng của nhân nghĩa, của khát vọng hòa bình và cũng là chiến thắng của sức dân, triệu người như một.

Việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được Đảng ta coi trọng. Một trong năm bài học mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đúc kết là “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng T.Ư Đảng, năm 2016, tr.69). Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước đạt được sau gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là công lao của gần 100 triệu người dân Việt Nam yêu nước. 

Trong những ngày này, trên khắp các nẻo đường của đất nước chúng ta đang thấy một không khí thi đua sôi nổi của toàn Đảng, toàn dân và toàn Quân ta để lập thành tích cao nhất chào mừng Đại hội lần thứ XIII của Đảng; với một niểm tin tưởng tuyệt đối, chúng ta càng thấy được vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân và với niềm tin tưởng đó chắc chắn Đại hội sẽ thành công tốt đẹp./.

Tạo “sức đề kháng” và “tự miễn dịch” trước thông tin xấu độc

Internet và các tiện ích, công nghệ của tự bản thân nó đã và đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử. Kéo theo sự phát triển đó là quá trình phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội. Tất nhiên đi liền với nó là tính chất hai mặt, bao gồm cả tích cực và tiêu cực. 1. Mặt tích cực là sự phong phú, đa dạng, nhiều màu, nhiều vẻ của các thông tin được cập nhật liên tục với lượng dữ liệu khổng lồ, giúp ích cho công chúng khai thác, tìm kiếm thông tin. Mặt tiêu cực của nó là các thông tin xấu độc, trong đó rất đáng quan ngại là các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng và chế độ. Với tính đặc thù tự bản thân mạng Internet khó có thể kiểm soát, ngăn chặn các thông tin xấu độc. Cuộc đấu tranh địch - ta trên không gian mạng của trận địa tư tưởng tuy thầm lặng nhưng ngày càng khốc liệt hơn. Đối phó, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái trên mạng xã hội là lâu dài. Chúng ta cũng cần khách quan, nhìn nhận nó theo hướng tăng cường đối phó, đấu tranh, ngăn chặn để giảm thiểu tác hại, chứ không thể tiêu diệt nó một cách triệt để. Nhận thức như vậy, để thấy, chúng ta trong môi trường thông tin số, “sống chung với lũ”, thích ứng với nó và có giải pháp căn cơ, bền vững, lâu dài là tư duy đúng đắn nhất. Tư duy đó cần phải được mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân với tư cách công dân mạng của chúng ta hiểu đúng, chỉ có hiểu đúng mới giúp chúng ta có chiến lược, có giải pháp khả thi, hữu hiệu để đẩy lùi quan điểm sai trái, thông tin xấu độc. Chính vì vậy, “vác xin” quan trọng là cần cung cấp thông tin chính thống để nâng cao nhận thức, tri thức giúp cộng đồng mạng đủ sức nhận thức, phân biệt đúng - sai, tích cực - tiêu cực, xấu - tốt, từ đó, đủ sức đề kháng, dần dần hình thành cơ chế “tự miễn dịch” trước thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Đây vẫn là chìa khóa căn cơ lâu dài để tăng sức đề kháng cho công dân mạng, nhất là thanh thiếu niên; là giải pháp bền vững nhất để đẩy lùi, giảm thiểu các tác hại từ những quan điểm sai trái, thông tin xấu độc trên mạng xã hội hiên nay. 2. Câu hỏi đặt ra là giải pháp nào để nâng cao “sức đề kháng”, “tự miễn dịch” để đẩy lùi, giảm thiểu tác hại từ các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc? Trong khuôn khổ bài viết này, có thể tiếp cận vấn đề dưới góc độ tuyên truyền ở một số giải pháp trọng tâm sau: Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giúp cộng đồng mạng nhận diện rõ bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch. Nhiệm vụ của báo chí chính thống là tạo dòng thông tin chủ đạo, chi phối để cộng đồng mạng nhận diện rõ bản chất các quan điểm sai trái; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân - với tư cách công dân mạng có thể nhận thức, nhận diện thông tin xấu độc, hiểu rõ thế nào là quan điểm sai trái, thế nào là quan điểm thù địch. Khi đã nhận thức đúng - sai của thông tin xấu độc, sai trái, thù địch thì mỗi công dân mạng sẽ có nhãn quan chính trị, tự giác phòng chống và chủ động đấu tranh, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan báo chí phải chủ động phân tích, làm rõ nội hàm, bản chất quan điểm sai trái, quan điểm thù địch ở từng cấp độ thông tin khác nhau. Có những hệ thống thông tin ở mức độ tổng quan, phân tích bài bản âm mưu, thủ đoạn khái quát từ hệ thống các quan điểm sai trái, thù địch. Có những thông tin phân tích trực diện, cụ thể, kịp thời đối với từng loại thông tin sai trái, thù địch. Báo chí chính thống cần trang bị tri thức cho cộng đồng mạng nhận diện rõ mục tiêu của các thế lực phản động là nhằm làm tan rã niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ta, kích động nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng chuyển hóa chế độ. Làm rõ phương thức, thủ đoạn mới nhất hiện nay của chúng. Đó là triệt để lợi dụng những “khuyết tật”, yếu kém, tham nhũng, tiêu cực, nhất là các vụ đại án lớn hiện nay để xuyên tạc, nói xấu Đảng, chế độ ta. Thủ đoạn của chúng là viện cớ những yếu kém, tiêu cực đó để “bình luận”, tham chiếu, coi đó là nguyên nhân, hệ lụy của việc níu kéo, vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin lỗi thời, lạc hậu vào con đường phát triển của Việt Nam. Cũng từ đó, các tổ chức phản động ở nước ngoài tung hứng, ra yêu sách đòi Đảng ta từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi đa nguyên, đa đảng. Cần nâng cao nhận thức cho cộng đồng mạng về thủ đoạn tận dụng các tiện ích, công nghệ mới của Internet để phát tán các thông tin sai trái, thù địch, lôi kéo sự tò mò của công dân mạng, nhất là lớp trẻ tham gia đối thoại trực tiếp, bình luận, dẫn dắt thông tin theo ý đồ xấu của chúng. Trong thực tế, thời gian qua không ít thông tin trên mạng thông qua các tiện ích, công nghệ mới, hiện đại trên các mạng xã hội đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, nhất là một bộ phận trí thức và thanh niên, sinh viên - đối tượng thường xuyên tiếp cận với phương tiện này. Cũng từ đó, một trong những hệ quả nguy hiểm của thủ đoạn này là gây mất phương hướng, sa sút niềm tin đối với vai trò lãnh đạo của Đảng... Thứ hai, phát huy vai trò dẫn dắt, chi phối thông tin chính thống của hệ thống báo chí và mạng xã hội của Việt Nam để cộng đồng mạng nâng cao nhận thức, đủ sức “đề kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch Theo đó, báo chí cần tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và hệ thống chính trị vào cuộc để thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết 35 NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã chỉ ra. Đó là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí cần đẩy mạnh tuyên truyền để mỗi công dân mạng tin tưởng về những tiến bộ, thành tựu toàn diện của đất nước. Tăng cường tuyên truyền những thành tựu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức cho mỗi công dân mạng về sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh; việc xử lý các tội phạm trong các vụ đại án tham nhũng thể hiện rõ chủ trương chống tham nhũng không có vùng cấm, bất kỳ người đó là ai. Hệ thống mạng xã hội của Việt Nam tuy mới ra đời nhưng đã có sự ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng mạng. Vì vậy, cần có định hướng rõ ràng để các mạng xã hội có thế mạnh vào cuộc, tham gia một cách chủ động trong gợi mở, định hướng, dẫn dắt và chi phối thông tin tích cực trên mạng xã hội. Ngoài mạng xã hội VCNet, Mocha, các cơ quan chức năng cần có cơ chế, quy định rõ các chủ thể của các mạng xã hội như Zing.me, Lotus, Nhaccuatui có trách nhiệm trong thông tin mặt tích cực của đời sống xã hội. Đây là cách tốt nhất để thực hiện phương châm “xây” và “chống”, trong đó lấy “xây” là chính, nhằm nhân cái đẹp, dẹp cái xấu, lấy thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin tiêu cực, xấu độc, sai trái, thù địch. Trong thời đại “thế giới phẳng”, “cuộc sống số”, với tính đặc thù của phương thức đấu tranh tư tưởng nói chung và đấu tranh tư tưởng trên mạng Internet nói riêng, vũ khí tối ưu nhất vẫn là tạo “sức đề kháng” cho mỗi cư dân mạng có thể chống đỡ tác động từ thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Vũ khí tối ưu đó chính là cung cấp kịp thời, đầy đủ những thông tin chính thống trên mạng. Khi nhu cầu thông tin được đáp ứng, thì nhu cầu tìm đọc các thông tin không chính thống - thông tin sai trái sẽ hạn chế đi rất nhiều, ngoại trừ những cá nhân do tò mò hay các lý do khác. Thứ ba, các cơ quan chức năng cần ban hành hệ thống văn bản có tính pháp quy, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan báo chí tham gia đấu tranh, phòng chống quan điểm sai trái, thù địch. Hiện nay, hiệu quả cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch còn không ít hạn chế, yếu kém. Chủ yếu mới là lực lượng chuyên trách tham gia đấu tranh. Tình trạng “nói chưa đi đôi với làm”, thờ ơ trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch phát tán trên mạng còn diễn ra khá phổ biến. Vì vậy, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh này là “thuốc” đặc hiệu, là cơ sở quan trọng để lấy lại niềm tin của cộng đồng mạng. Từ niềm tin đó sẽ tạo “sức đề kháng” cho mỗi công dân mạng trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch. Để làm tốt công tác tuyên truyền trên mặt trận đấu tranh này, bản thân các cơ quan báo chí cũng cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên. Đảm bảo để đội ngũ những người làm báo có năng lực chuyên môn, tinh thông nghề nghiệp, vừa có đạo đức trong sáng, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, luôn có ý chí chiến đấu bảo vệ lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng hệ thống tổ chức đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng Internet từ Trung ương đến cấp tỉnh, thành phố, bao gồm đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, am hiểu về thực tiễn. Đặc biệt cần xây dựng tổ chức chuyên trách với lực lượng nòng cốt là các chuyên gia, các nhà lý luận về tư tưởng chính trị chuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái về tư tưởng chính trị trên mạng Internet, bao gồm những chuyên gia giỏi về lý luận, những cây bút sắc bén, am hiểu và ứng dụng tốt công nghệ thông tin. Tổ chức lực lượng trong các cơ quan chính quyền, cơ quan quân đội, công an các cấp và trong các tổ chức chính trị, xã hội... thực hiện thường xuyên nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng Internet. Tổ chức các lực lượng kịp thời ngăn chặn không để các quan điểm sai trái phát tán trên mạng Internet có điều kiện tác động vào các tầng lớp nhân dân. Tổ chức đấu tranh trực diện đối với những người cơ hội, lệch lạc về chính trị ngay từ cơ sở. Thường xuyên đổi mới phương thức, phương tiện đấu tranh hiện đại, nhất là các tiện ích mới nhằm thu hút công chúng mạng tham gia chia sẻ, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng hệ thống phương tiện, kỹ thuật đủ sức mạnh, đủ khả năng tham gia vào hoạt động giao lưu thông tin quốc tế trong xu thế “thế giới phẳng”; vừa phải đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin chính thống của nhân dân nói chung, của cư dân mạng nói riêng, vừa phải đủ sức bảo vệ lợi ích kinh tế, định hướng chính trị, những giá trị văn hóa của dân tộc, đồng thời đủ sức chiến đấu, phê phán phản bác các thông tin sai trái, độc hại trên mạng Internet, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, để đẩy lùi, giảm thiểu tối đa tác động từ các thông tin sai trái, thù địch, chúng ta cũng rất cần đổi mới, mở rộng các hình thức, phương tiện đấu tranh. Các cơ quan báo chí có lượng người đọc lớn, có tác động, chi phối thông tin trên mạng cần mạnh dạn tạo các diễn đàn mở để trao đổi trực tuyến các ý kiến, quan điểm khác biệt. Từ đó, triển khai tranh luận, giải thích với những người có ý kiến, quan điểm khác biệt, hoặc phản bác những quan điểm thù địch, chống đối chế độ. Đây cũng là diễn đàn để một mặt chúng ta tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhưng mặt khác, nhân dân có thể tham gia trao đổi - tranh luận hoặc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với hệ thống báo điện tử. Sớm khắc phục tình trạng sai tôn chỉ mục đích, đưa quá nhiều mảng tối của đời sống chính trị, tạo “mảnh đất” để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị dễ dàng lợi dụng, khai thác thông tin, nói xấu chế độ. Các báo điện tử, trang tin điện tử chú trọng đổi mới, xây dựng giao diện app mobile cho điện thoại di động, tạo điều kiện cho số đông cư dân mạng, nhất là giới trẻ thường xuyên truy cập Internet qua mạng di động có thể sử dụng dễ dàng trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin chính thống. Thứ tư, cần sớm có chủ trương, giao các cấp ủy Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội ban hành quy tắc tham gia mạng xã hội. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm và cơ chế khen thưởng, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên… khi tham gia mạng xã hội. Quy định rõ nhiệm vụ của đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, thù địch. Ban hành nghị định với các chế tài cụ thể đối với các hành vi đồng phạm, chủ động phát tán, a dua nói xấu Đảng, bôi nhọ lãnh đạo, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Mặt khác, toàn bộ hệ thống chính trị cần vào cuộc để thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nêu cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, toàn thể cán bộ, đảng viên, công dân tham gia đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng Internet. Đồng thời tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các tầng lớp nhân dân chủ động tiến công, tự giác đấu tranh, phản bác đối với các thông tin xấu độc, sai trái, thù địch phát tán trên mạng. Tăng cường tuyên truyền, cổ vũ, nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể; giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa trong cuộc đấu tranh chống các hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống quan điểm sai trái. Chú trọng việc tổ chức để các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp... tham gia đấu tranh trên mạng Internet đối với những quan điểm và hành động sai trái của các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch. Phối hợp có hiệu quả giữa các lực lượng, binh chủng trong lĩnh vực bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị, đặc biệt là về tư tưởng chính trị trên mạng Internet. Thứ năm, để khuyến khích tinh thần yêu nước, dũng cảm tham gia đấu tranh trên không gian mạng, các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, tạo cơ chế, khuyến khích việc thành lập các tổ chức dưới dạng tự nguyện xung kích. Nếu các tổ chức tình nguyện tham gia đấu tranh trên mạng xã hội xuất hiện càng nhiều, chúng ta càng có lực lượng lớn đủ sức đẩy lùi các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc. Chính vì vậy, các đoàn thể chính trị - xã hội cũng cần nghiên cứu, có cơ chế khen thưởng để cổ vũ, động viên, tập hợp nhiều học sinh, sinh viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng xã hội./.

Phát huy sức mạnh tổng hợp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, kỹ thuật số, Internet vạn vật đòi hỏi cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, tạo lập và phát triển thế trận lòng dân để thiết lập và giành thế chủ động trên mặt trận thông tin, phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo sức mạnh tổng hợp các binh chủng lực lượng và các tầng lớp nhân dân trên không gian mạng. 1. Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhân dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 đạt mức tăng 5,98%; tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hồ tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản... đứng nhóm hàng đầu thế giới. Năm 2020, nước ta thuộc số ít quốc gia trên thế giới đạt mức tăng trưởng dương (đạt 2,91%) bất chấp tác động của đại dịch COVID-19, kinh tế vĩ mô ổn định, nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước được tổ chức thành công, năm Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN 2020 với nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực… Những kết quả đạt được đã minh chứng, khẳng định sự đúng đắn về đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Đó cũng là câu trả lời đanh thép, rõ ràng, cụ thể đáp trả lại những tư tưởng, ý kiến đòi “xét lại” lịch sử, xuyên tạc phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới và cách mạng Việt Nam. Việt Nam hiện có khoảng 62 triệu người kết nối Internet, đứng thứ 7 thế giới về số người sử dụng Internet, trong đó hơn 60 triệu tài khoản facebook, với đặc điểm đa số đối tượng kết nối, sử dụng tài khoản mạng xã hội là người trẻ, số người cao tuổi, hưu trí đọc tin bài qua mạng xã hội và Internet có xu hướng tăng nhanh. Đây vừa là thuận lợi vừa là thách thức của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Không gian thông tin được mở rộng không giới hạn thì không gian chống phá cũng mở rộng và lực lượng chống phá ngày càng đa dạng với phương thức, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, hiện đại... 2. Dù được tiến hành với “muôn hình vạn trạng”, các chiêu trò – hình thức, nhưng mục đích cuối cùng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhắm tới vẫn là chống phá Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ, xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ hai mục tiêu lớn này, chúng đưa ra những nội dung, triển khai “đánh” vào nền tảng, đường lối của Đảng, cơ chế chính sách của Nhà nước, vào bản chất chế độ, vào khâu yếu của cán bộ, đảng viên, “đánh” vào hạn chế của thực trạng xã hội... Nội dung và thủ đoạn đánh phá cụ thể của chúng rất đa dạng, lợi dụng diễn biến tình hình, những vụ việc phức tạp, nổi cộm, vấn đề dư luận xã hội quan tâm để suy diễn, quy chụp, khuếch đại, chống phá. Chúng tập trung mũi đột phá tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, phủ định hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử hoặc chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Chúng tấn công vào cơ sở khoa học và lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng, cổ xúy các hoạt động núp dưới bóng “xã hội dân sự”, “bảo vệ nhân quyền”… Chúng triệt để khai thác thông tin sơ hở trên báo chí, truyền thông, phát ngôn của một số đại biểu Quốc hội, lãnh đạo cơ quan, bộ, ngành; khai thác khoảng trống thông tin, vụ việc phức tạp, nhạy cảm để tuyên truyền xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo sự thật. Tận dụng không gian mạng và sự đa dạng của các loại hình dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, chúng ra sức hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước thông qua các ứng dụng, dịch vụ website, blog, Facebook, Twitter, Youtube, Instagram... với thủ đoạn lồng ghép, pha trộn thông tin “thật - giả”, cắt ghép hình ảnh, video về các đồng chí lãnh đạo cấp cao để công kích, xuyên tạc nói xấu; trích dẫn các bài phỏng vấn, ý kiến của các nhân vật nổi tiếng, có tư tưởng bất mãn, cơ hội chính trị để dẫn dụ, thu hút dư luận. 3. Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Trong thời gian tới, nhất là giai đoạn sau Đại hội XIII của Đảng, để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt hiệu quả cao, cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp sau: Thứ nhất, các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị cần đưa nhiệm vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng vào trong các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Coi trọng công tác tư tưởng, quán triệt tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng; tăng cường giáo dục lý luận chính trị, nâng cao phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo các cấp, cán bộ quản lý báo chí, truyền thông có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp, bản lĩnh và kỹ năng đối thoại và phát ngôn khi có những vấn đề nổi cộm đòi hỏi sự lên tiếng và giải quyết của các cơ quan liên quan. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII Thứ hai, tăng cường xây dựng thế trận an ninh thông tin nhân dân trên không gian mạng trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trong hệ thống chính trị. Nâng cao khả năng tự phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các thủ đoạn, hoạt động tuyên truyền tán phát các thông tin xấu độc, sai sự thật, quan điểm sai trái, thù địch. Lấy giáo dục góp phần nâng cao nhận thức và báo chí, truyền thông làm nền tảng, trụ cột để xây dựng thành trì thế trận các tầng lớp nhân dân có sức đề kháng vững chắc, bồi đắp nền tảng tinh thần, lý tưởng cao đẹp, lan tỏa sâu rộng nhân lên những tấm gương, điển hình tập thể, cá nhân tiên tiến. Lấy báo chí, truyền thông làm lực lượng nòng cốt để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng và nhân lên sức mạnh đấu tranh từ tiếng nói chính thống; lan tỏa rộng rãi trên không gian mạng và các tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và bảo vệ môi trường thông tin xã hội lành mạnh, phát triển bền vững. Thứ ba, các cơ quan, bộ, ngành, địa phương, nhất là các cơ quan nghiên cứu lý luận, chú trọng xây dựng hệ thống luận cứ sắc bén phản bác các quan điểm sai trái; bảo vệ và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải chỉ rõ những hành vi, âm mưu chống phá, thủ đoạn xấu độc, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các thông tin sai lệch, tin giả, quan điểm sai trái, thù địch liên quan vấn đề, lĩnh vực quản lý của mỗi cơ quan bộ ngành, địa phương. Từ đó, làm cơ sở chủ động công tác đấu tranh, phản bác có sức thuyết phục sâu sắc. Thứ tư, các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương vào cuộc chỉ đạo xây dựng trận địa thông tin và hợp đồng binh chủng các lực lượng, đặc biệt là các lực lượng công tác tuyên giáo các cấp. Quan tâm xây dựng các lực lượng chuyên nghiệp nắm vững quan điểm, đường lối, được đào tạo bài bản về công nghệ, về các kỹ năng thủ thuật thông tin, truyền thông. Phát huy vai trò của mỗi cấp, mỗi cơ quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng và tổ chức đào tạo, tập huấn. Công tác đào tạo tập huấn bao gồm cao cấp lý luận chính trị và đào tạo đặc biệt, trang bị kiến thức lý luận và thực tiễn một cách trực tiếp và cụ thể, phải đào tạo kỹ năng phương pháp đấu tranh nhạy bén, sáng tạo trong những tình huống cụ thể, vấn đề cụ thể hoặc tiêu biểu, liên hệ và vận dụng trên thực tế. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt. Thứ năm, xây dựng thế trận lòng dân trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và cơ chế bảo vệ lực lượng, bảo vệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, bảo vệ những điều tốt đẹp, bảo vệ người tốt, việc tốt và đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, xấu độc. Để xây dựng thế trận lòng dân, trước hết cần phát huy vai trò cấp ủy, người đứng đầu vừa chỉ đạo thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị vừa chỉ đạo lấy công tác tuyên truyền, vận động đi tiên phong, làm nòng cốt trong xây dựng và tăng cường niềm tin của nhân dân; làm sống động và lan tỏa những mô hình hay, gương người tử tế, nhất là những tấm gương lãnh đạo các cấp, cán bộ, đảng viên hy sinh, tận tụy với công việc, gần dân, giúp đỡ dân. Thứ sáu, Đảng cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực hiệu quả của hệ thống chính trị, chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý theo hiệu quả công việc, chất lượng và số lượng sản phẩm công việc. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất, trình độ trí tuệ và năng lực thực tiễn là nhiệm vụ “then chốt của then chốt” để xây dựng và bảo vệ Đảng trong sạch, vững mạnh và làm trụ cột gây dựng, phát triển thế trận lòng dân. Tiếp tục chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; từng bước chuẩn hóa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, phát triển, ủng hộ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm cán bộ vì người mà không vì công việc./.