Năm 2021 là năm đầu tiên của nhiệm kỳ lãnh đạo mới của Đảng và Nhà nước, do đó, đây là năm được kỳ vọng sẽ có nhiều bước đi mới, chính sách mới và hành động cụ thể để phát triển kinh tế-xã hội.
Năm 2020, Việt Nam nằm trong số ít có tăng trưởng kinh tế dương
Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô
Quý 4 và cả năm 2020 do Viện nghiên cứu chính sách kinh tế (VEPR) vừa mới công
bố mới đây, trước ảnh hưởng nghiêm trọng của COVID-19 lên kinh tế toàn cầu,
Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có mức tăng trưởng kinh
tế dương trong Quý 4/2020, đạt 4,48%. Tính chung năm 2020, cả nước có 134,9
nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là hơn 2.235,6
nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.043 nghìn lao động, giảm 2,3% về
số doanh nghiệp, tăng 29,2% về vốn đăng ký và giảm 16,9% về số lao động so với
năm 2019. CPI bình quân năm tăng 3,23%, nằm trong mức mục tiêu. Tỷ giá trung
tâm có xu hướng giảm trong suốt Quý 4/2020, kết thúc quý ở mức 23.131 VND/USD.
Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng giảm nhẹ, kết thúc ở 23.215 VND/USD.
Nhìn chung, giá vàng trong nước đang theo sát những bước tiến của giá vàng thế
giới. Với triển vọng kinh tế toàn cầu ảm đạm, dự báo trong quý tới giá vàng
trong nước có thể vẫn ở mức cao.
Kinh tế Việt Nam trong năm
2020 là điểm sáng trong khu vực, tăng 2,91% - mức tăng trưởng dương hiếm hoi,
đứng vào nhóm tốt nhất so với các nước trong khu vực và thế giới. Những yếu tố
có thể hỗ trợ cho tăng trưởng bao gồm: Chính phủ kiểm soát tốt dịch bệnh từ
giai đoạn sớm giúp duy trì hoạt động kinh tế trong nước, kỳ vọng về triển vọng
kinh tế do việc hoàn tất ký kết Hiệp định thương mại tự do và bảo hộ đầu tư
giữa Việt Nam và EU (EVFTA và IPA) đem lại; tiến độ giải ngân và thi công các
dự án đầu tư công trọng điểm được đẩy nhanh hơn; làn sóng dịch chuyển đầu tư và
thương mại nhằm phân tán rủi ro từ cuộc xung đột thương mại Mỹ - Trung; môi
trường vĩ mô ổn định, lạm phát kiểm soát được ở mức chấp nhận được, tạo môi
trường cho việc thực thi các chính sách hỗ trợ tăng trưởng. Tuy vậy, Việt Nam
cũng đang gặp nhiều rủi ro và thách thức trong một môi trường kinh tế thế giới
bất trắc.
Sự tái bùng phát của
COVID-19 tại nhiều nước đi kèm với các biện pháp phong tỏa tiếp tục kéo dài
thời gian đứt gãy của chuỗi cung ứng trong năm 2021 khiến sức chịu đựng của
doanh nghiệp ngày càng yếu hơn; xung đột địa chính trị giữa các nước lớn có thể
khiến một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam đối diện những rủi ro bất ngờ.
Bên cạnh đó, điểm yếu của kinh tế Việt Nam còn đến từ các rủi ro nội tại như
mất cân đối tài khóa lớn, tốc độ và mức độ đầu tư phát triển, đặc biệt là hạ
tầng, còn chậm cho hiệu quả quản lý thấp; sức khỏe hệ thống ngân hàng – tài
chính tuy dần được củng cố nhưng còn dễ tổn thương; sự phụ thuộc nặng nề của tăng
trưởng vào khu vực FDI, thiếu tự chủ công nghệ và nguyên liệu; chất lượng lao
động thấp và chậm cải thiện; hiệu quả đầu tư công thấp và tình trạng nhũng
nhiễu của bộ máy công quyền còn nặng nề; tiến trình cổ phần hóa DNNN bị ngưng
trệ, môi trường và thể chế kinh doanh dù từng bước được cải thiện nhưng về căn
bản chưa giải phóng được sức mạnh của doanh nghiệp.
Đưa phương án 2 kịch bản với kinh tế Việt Nam trong 2021
Cân nhắc những yếu tố tích
cực cũng như tiêu cực đang tác động lên nền kinh tế Việt Nam hiện nay, VEPR đưa
ra các dự báo về tăng trưởng theo các kịch bản khác nhau về tình hình bệnh
dịch. Với điều kiện dịch COVID-19 tiếp tục được khống chế ổn định ở trong nước
và kinh tế thế giới bắt đầu khởi sắc do các biện pháp phong tỏa được dần gỡ bỏ,
dự báo kinh tế Việt Nam năm 2021 có thể đạt mức tăng trưởng trong khoảng 5,6 -
5,8%. Tuy nhiên, nếu dịch bệnh, đặc biệt với biến thể mới, diễn biến phức tạp ở
trong nước khiến hoạt động kinh tế nội địa bị gián đoạn, thì năm 2021 có thể
không đạt được mức tăng trưởng của năm 2020.
Theo đó, với kịch bản cơ
sở: Trong kịch bản này, bệnh dịch không lan rộng trong nước trong phần lớn thời
gian của năm và hoạt động kinh tế nội địa tiếp hoạt động bình thường với sự dần
trở lại trạng thái bình thường của kinh tế toàn cầu. Đặc biệt, bệnh dịch ở
nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới có thể tái xuất
hiện cục bộ trên quy mô nhỏ ở một số quốc gia. Như vậy, mức độ tác động của
COVID - 19 lên các ngành nông lâm ngư nghiệp, sản xuất chế biến chế tạo và các
ngành trong khu vực dịch vụ sẽ không nghiêm trọng hơn so với năm 2020. Tăng
trưởng kinh tế cả năm được dự báo ở mức 5,6 – 5,8%.
Kịch bản bất lợi: Ở kịch
bản này, bệnh dịch trong nước bùng phát với biến thể mới của virus COVID-19
trong năm 2020 khiến hoạt động kinh tế bị gián đoạn. Đồng thời, bệnh dịch ở
nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới không có nhiều cải
thiện, dù các nỗ lực đưa vaccine vào đời sống đã diễn ra, nhưng hiệu quả tới
người dân chưa đạt quy mô lớn. Việc đi lại trên thế giới chưa phục hồi. Do đó,
dịch vụ lưu trú và ăn uống không có động lực hồi phục do thiếu khách du lịch
nước ngoài, trong khi nhu cầu trong nước với các loại hình dịch vụ này cũng bị
hạn chế do tình trạng hạn chế đi lại và sinh hoạt do bệnh dịch. Hệ thống doanh
nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, bắt đầu bộc lộ những tổn thương lớn do khả
năng chống chọi dần suy kiệt. Đầu tư công tiếp tục được thúc đẩy nhằm hỗ trợ
tổng cầu. Tăng trưởng kinh tế cả năm được dự báo ở mức 1,8 - 2,0%.
Tuy nhiên, các chuyên gia
kinh tế vẫn nghiêng về kịch bản cơ sở hơn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Nền
kinh tế Việt Nam nhiều khả năng sẽ đạt mức tăng trưởng trong khoảng 5,6 – 5,8%
trong cả năm 2021. Các chuyên gia cũng đặc biệt lưu ý rằng, cả hai kịch bản nêu
trên đều giả định hệ thống ý tế trong nước vẫn chống chọi được với dịch bệnh
trong nước. Nếu quy mô dịch bệnh vượt quá tải của hệ thống y tế, thì các nỗ lực
thúc đẩy tăng trưởng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, khó dự báo được hậu quả sẽ ra
sao.
Cần đồng bộ chính sách và giải pháp hỗ trợ thúc đẩy hỗ trợ tăng
trưởng
Căn cứ vào các phân tích từ
thực tiễn và trên kinh nghiệm quốc tế, các chuyên gia kinh tế phân tích, trong
năm 2020, Ngân hàng nhà nước đã ba lần hạ các công cụ lãi suất điều hành. Bên
cạnh đó, gói hỗ trợ tín dụng 250 nghìn tỷ VND vẫn đang được các ngân hàng
thương mại triển khai. Tuy nhiên, không gian chính sách không còn rộng rãi như
vậy trong năm 2021. Điều ấy khiến chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh
tế và an sinh xã hội sẽ gặp nhiều hạn chế hơn. Do nguồn lực tài khóa hạn hẹp
sau nhiều năm thâm hụt ngân sách, cùng với việc chính sách tiền tệ bị ràng buộc
với các mục tiêu về lạm phát và tỷ giá, Việt Nam không thể theo đuổi các chính
sách vĩ mô theo cách tương tự như các nước khác trên thế giới, ví dụ như nới
lỏng tiền tệ quy mô lớn.
Thêm vào đó, việc phòng
chống dịch COVID-19 và trợ cấp an sinh xã hội do ảnh hưởng của dịch bệnh cũng đang
tạo áp lực lớn lên cán cân ngân sách. Ưu tiên hàng đầu lúc này là đảm bảo an
sinh xã hội, giữ ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, giảm gánh nặng cho các doanh
nghiệp phải tạm dừng hoạt động và hỗ trợ các doanh nghiệp còn hoạt động.
Các chính sách an sinh xã
hội vẫn cần được ưu tiên hàng đầu và cần phải được tiếp tục triển khai nhanh
chóng, đúng đối tượng, trước khi người dân rơi vào những bi kịch không đáng có.
Đặc biệt, việc thực thi chính sách cần quan tâm hơn đến lao động trong khu vực
phi chính thức bởi nhóm này chiếm một tỷ trọng lớn, dễ tổn thương, chịu tác
động nặng nề nhất và đang khó tiếp cận các chính sách hỗ trợ. Trong khi đó, các
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần tiếp tục được thực hiện theo hướng khẩn
trương, tập trung, đúng đối tượng và thực chất hơn, theo sát với nhu cầu của
doanh nghiệp. Việc khoanh/ngưng, miễn giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp
như lãi vay, tiền thuê đất cần tiếp tục được triển khai, bên cạnh đó cần cân
nhắc cắt giảm kinh phí công đoàn để hỗ trợ doanh nghiệp. Với nhóm doanh nghiệp
không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh hoặc có hướng chuyển đổi hiệu quả, nên khuyến
khích tín dụng, tạo điều kiện về môi trường thể chế và chính sách ngành. Trong
trường hợp có các ý tưởng chính sách để hỗ trợ đặc biệt cho các doanh nghiệp cụ
thể, thì các chính sách này cần đi theo hướng kích cầu, hỗ trợ người tiêu dùng
thanh toán chi phí mua sản phẩm/dịch vụ của hãng, thay vì tài trợ trực tiếp cho
hãng.
Báo cáo của VEPR cũng cho
rằng việc giãn/giảm thuế, nếu có, chỉ nên được áp dụng với thuế VAT thay vì
thuế TNDN, vì giảm thuế TNDN chỉ hỗ trợ được số ít doanh nghiệp không bị ảnh
hưởng hoặc đang hưởng lợi từ các tác động của dịch bệnh, chứ không giúp được đa
số các doanh nghiệp đang gặp khó khăn. Từ đó, việc giảm thuế TNDN còn có nguy
cơ tạo ra bất bình đẳng sâu sắc hơn trong môi trường kinh doanh, ảnh hưởng
không tốt đến việc phục hồi kinh tế sau đại dịch.
Điều đáng lo ngại nhất hiện
nay là khả năng giải ngân các gói cứu trợ xã hội, do mạng lưới thực thi kém
hiệu quả và thủ tục hành chính phức tạp, khó tiếp cận. Việc thiết kế lại kế
hoạch thực thi chính sách là vô cùng cần thiết để các gói cứu trợ thực sự có
hiệu quả. Thực tế, gói cứu trợ lần hai ở thời điểm này là không cần thiết, bởi
khi gói cứu trợ lần một còn chưa được giải ngân một cách hiệu quả thì gói cứu
trợ lần hai nhiều khả năng chỉ gây thêm gánh nặng cho ngân sách thay vì thực sự
tạo được ảnh hưởng tích cực trong nền kinh tế.
Trên phương diện sản xuất,
cả khi bệnh dịch trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và
sản xuất ra xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài một khi bệnh dịch còn
chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế – tài chính quan trọng trên thế
giới. Do vậy, đẩy nhanh đầu tư công, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia,
đã được phê duyệt và đã được bố trí vốn thực hiện trong các tháng còn lại của
năm là việc nên làm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Việc chia nhỏ ra làm nhiều
gói thầu và thực hiện rải rác ở nhiều địa phương để tạo sự lan tỏa tốt hơn cũng
có thể được cân nhắc. Đồng thời, cắt giảm ngân sách thường xuyên tối thiểu 10%
nên được thực hiện một cách cương quyết nhằm dành nguồn lực cho việc khắc phục
những hậu quả do bệnh dịch gây ra, đồng thời chia sẻ với nhân dân cả nước trong
giai đoạn khó khăn.
Chính sách tiền tệ, cụ thể
là công cụ lãi suất trong năm 2021 sẽ giảm hiệu quả đáng kể. Đặc biệt, cần lưu
ý tình trạng bong bóng tài sản đang hình thành trên thị trường chứng khoán và
thị trường bất động sản. Thực tế thì trong năm 2020, các thị trường tài sản đã
có sự tăng trưởng đáng kể, chủ yếu vì đó là nơi trú ẩn cho khoản tiền nhàn rỗi
của nhà đầu tư và hộ gia đình. Điều này có thể hiểu được trong giai đoạn khủng
hoảng. Tuy nhiên, việc lãi suất huy động tiền gửi liên tục hạ do cầu tín dụng
giảm, đang đẩy dòng tiền tiết kiệm ra khỏi ngân hàng ngày càng nhanh hơn. Thêm
vào đó, khi mức tăng giá trên các thị trường tài sản đủ lớn để tạo ra hiệu ứng
của cải (wealth effect) thì mức tiêu dùng sẽ tăng đối với các mặt hàng không
phải thiết yếu. Điều này dẫn tới sự lan tỏa của sự tăng giá từ thị trường tài
sản sang thị trường tiêu dùng, dù chậm chạp, nhưng có thể cảm nhận được. Đây
cũng là một biểu hiện của hiện tượng tăng giá khi chính sách nới lỏng tiền tệ
được theo đuổi trong thời gian đủ dài. Đây là thời điểm khó khăn trong chính
sách tiền tệ vì việc thắt chặt trở lại trong bối cảnh nền sản xuất vẫn chưa có
cải thiện ở cấp độ căn bản (fundamentals), sẽ dẫn tới khó khăn hơn nữa cho khu
vực doanh nghiệp thực.
Trong mọi tình huống, ổn
định kinh tế vĩ mô, cụ thể là lạm phát, lãi suất và tỷ giá cần được duy trì ổn
định, là hết sức cần thiết để chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi sau bệnh dịch. Đa
dạng hóa thị trường xuất/nhập khẩu cũng cần được chú trọng hơn nữa nhằm tránh
phụ thuộc nặng nề vào một số đối tác kinh tế lớn. Trong khó khăn, nhiều bất cập
trong việc điều hành chính sách kinh tế cũng đã bộc lộ nên các nỗ lực cải thiện
thủ tục hành chính, môi trường kinh doanh cần tiếp tục được duy trì.
Hơn nữa, các chính sách hữu
ích nhất trong bối cảnh hiện nay là các chính sách trọng cung, nhằm củng cố các
yếu tố nền tảng của nền kinh tế. Cụ thể, đó là các chính sách cải cách hành
chính, nâng cao chất lượng bộ máy quản lý nhà nước, đặc biệt ở địa phương, nhằm
cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp và người dân. Bên cạnh đó là
những nhóm chính sách vẫn được kêu gọi cần thực hiện trong suốt những năm qua
nhưng chưa được thực hiện quyết liệt và hữu hiệu, từ lĩnh vực giáo dục cho tới
tài chính-ngân hàng, từ khoa học-công nghệ đến cơ sở hạ tầng, từ chính sách
ngành tới cải cách doanh nghiệp nhà nước … đều cần tiếp tục thúc đẩy với một
tinh thần mới và phương pháp mới, tôn trọng thị trường nhiều hơn, đặt người dân
vào trung tâm, và tôn trọng các xu thế phát triển mới./.





