Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021

Đập tan âm mưu lợi dụng chính sách đối với người có công của các thế lực thù địch .

Trong thời gian qua, đã xuất hiện một số cá nhân lợi dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về chính sách đối với người có công, mạo danh, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để thành lập “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” hoạt động trái phép và tìm cách phát triển tổ chức, tuyên truyền, lôi kéo người tham gia, trong đó có cả cựu sỹ quan, tướng lĩnh quân đội, cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu, trí thức, hội viên các hội quần chúng… Cựu Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Luận thường xuyên tự xưng là giáo sư, tiến sĩ đã bị cơ quan công an triệu tập làm rõ động cơ lập "Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam". (Ảnh do Cục Bảo vệ An ninh Quân đội cung cấp) Với tính chất hoạt động phức tạp, tinh vi của “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” (Ban liên lạc) do ông Nguyễn Ngọc Luận, sinh năm 1942, là Thượng sỹ quân đội, nguyên giáo viên quân sự Trường Cao cấp nghiệp vụ ngân hàng đã nghỉ hưu nhưng tự xưng là Giáo sư, Tiến sỹ, Đại tá quân đội, đã đứng ra thành lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội đầu năm 2018. Ban liên lạc có ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động ra các địa phương trên cả nước nên đã ra văn bản số 01/BLL gửi tới các Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nội dung giới thiệu về tôn chỉ, mục đích hoạt động về đề nghị tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ để triển khai thành lập các “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kèm theo văn bản này là một số tài liệu, trong đó đáng chú ý có nội dung: “Năm 2018, Thường trực Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam tiếp tục hướng dẫn để người có công trên toàn quốc đăng ký hội viên sáng lập Hội người có công Việt Nam, ra mắt Ban liên lạc người có công trên toàn quốc…”. Hoạt động của một số kẻ cầm đầu “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” có nhiều dấu hiệu lừa đảo, tính chất phức tạp nhằm trục lợi, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để hoạt động. Ngày 6/1/2018, “Ban liên lạc” ra văn bản có nội dung “Tôn vinh đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng là trưởng ban liên lạc danh dự” và công bố danh sách 89 người tham gia, trong đó có Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc Phòng; Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV; Thiếu tướng Nguyễn Thành Định, nguyên Phó Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Công binh; ông Dương Minh Đỗ, nguyên Phó Cục trưởng Cục người có công, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, thực tế, các đồng chí trên đều không biết và không tham gia “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam”. Qua đấu tranh, cơ quan công an đã làm rõ cơ cấu tổ chức, tính chất hoạt động của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” là tổ chức tự xưng, chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Thành Luân đã thừa nhận hành vi sai trái của mình và của “Ban liên lạc” để tuyên bố giải tán, chấm dứt hoạt động của “Ban liên lạc” ở các cấp, xóa bỏ các chức danh tự phong, giao nộp con dấu của “Ban liên lạc” cho cơ quan công an. Đến nay, tổ chức của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã bị phá rã, không thực hiện được ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động, thành lập các tổ chức tại các địa phương khác trên cả nước./.

Cảnh giác với nguy cơ dịch bệnh COVID-19 xâm nhập qua biên giới .

Sau khi ghi nhận 2 trường hợp nhập cảnh trái phép từ Campuchia về Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế Long Bình dương tính với SARS-CoV-2 (BN2746 và 2747), ngày 15/4, Ban Chỉ đạo Phòng, chống dịch COVID-19 tỉnh An Giang đã bàn giải pháp phòng, chống dịch COVID-19 trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp phía bên kia biên giới. Báo cáo nhanh của Trung tâm Y tế huyện An Phú, tỉnh An Giang cho biết kết quả điều tra có tổng cộng 11 trường hợp tiếp xúc gần với 2 bệnh nhân nêu trên. Tất cả các trường hợp này khi tiếp xúc gần đều mang khẩu trang, ngồi giữ khoảng cách trên 2m và cán bộ y tế có mặc đồ bảo hộ. Trung tâm Y tế huyện An Phú cũng ghi nhận 141 trường hợp F2. Hiện các trường hợp F1 đã được Đội đáp ứng nhanh của huyện An Phú, tỉnh An Giang đã phối hợp Trung tâm y tế xã Khánh An và Thị trấn Long Bình cách ly ngay và tiến hành lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 theo quy định. Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh An Giang Phạm Thanh Tâm đề nghị tiến hành phun khử khuẩn xe chuyên chở đối tượng, Đồn biên phòng Cửa khẩu Long Bình, trạm kiểm dịch y tế và phòng ở của trường hợp nghi nhiễm COVID-19. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình đánh giá cao các lực lượng chức năng huyện An Phú đã kịp thời cách ly, khoanh vùng, truy vết kịp thời các trường hợp tiếp xúc gần 2 ca mắc COVID-19; yêu cầu ngành y tế tỉnh đẩy nhanh xây dựng nhanh Bệnh viện dã chiến tại huyện Châu Thành để phục vụ tốt công tác cách ly, điều trị; tránh bị lây nhiễm chéo trong các cơ sở y tế. Sở Y tế phải có sự hỗ trợ kịp thời cho Trung tâm Y tế huyện An Phú về trang thiết bị, kinh nghiệm điều trị bệnh COVID-19... Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang cũng yêu cầu lực lượng biên phòng chủ trì cùng lực lượng quân sự và công an xây dựng lực lượng dự phòng, sẵn sàng thay thế cho lực lượng tuyến đầu để đảm bảo tốt cho công tác phòng, chống dịch COVID-19, trong đó lực lượng biên phòng là nồng cốt và các xã, phường các huyện biên giới cần chú trọng xây dựng lực lượng tình nguyện để cùng phòng, chống dịch… Chiều 15/4, Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã bàn giao 1 đối tượng buôn lậu, tiếp xúc với những người nhập cảnh trái phép từ Campuchia về Việt Nam đi cách ly y tế phòng, chống dịch COVID-19 theo quy định. Trước đó, Công an huyện Hớn Quản phối hợp Phòng Cảnh sát giao thông, Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an tỉnh Bình Phước tiến hành tuần tra, kiểm soát chống buôn lậu trên tuyến Quốc lộ 13. Đến địa phận xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản, lực lượng chức năng phát hiện ôtô biển kiểm soát 51A-087.95 có dấu hiệu nghi vấn nên dừng phương tiện tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định. Quá kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe vận chuyển 6.500 bao thuốc lá nhập lậu nhãn hiệu JET và HERO. Đối tượng khai nhận tên Dương Hoàng Nhân (51 tuổi, ngụ Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Dương Hoàng Nhân khai nhận điều khiển xe ôtô từ Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực biên giới Việt Nam-Campuchia (thuộc huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước) mua thuốc lá nhập lậu về bán kiếm lời. Tại đây, Nhân tiếp xúc với các đối tượng vận chuyển thuốc lá lậu trái phép từ Campuchia về Việt Nam. Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 tại nước bạn Campuchia, Công an huyện Hớn Quản đã bàn giao đối tượng Dương Hoàng Nhân cho Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 huyện Hớn Quản đi cách ly y tế theo quy định; đồng thời, phối hợp ngành y tế truy vết, phun thuốc khử trùng hàng hóa, phương tiện vận chuyển, những nơi đối tượng đã đến. Vụ việc đang được Công an huyện Hớn Quản điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật./.

Nâng cao kỹ năng vận động tranh cử của nữ ứng cử viên .

Ngày 15/4, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nhóm nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam phối hợp với Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội và Ban Công tác đại biểu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức hội thảo “Nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và việc thúc đẩy bình đẳng giới” khu vực miền Nam. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng vận động bầu cử cho các nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân, qua đó tăng cường tiếng nói và sự tham gia của nữ giới trong Quốc hội nói riêng và các cơ quan dân cử nói chung. Tại hội thảo, các nữ ứng cử viên được cung cấp thông tin cơ bản về Quốc hội, tình hình kinh tế-xã hội, một số chính sách pháp luật kinh tế-xã hội và bình đẳng giới mà cử tri quan tâm, chia sẻ kinh nghiệm, thực hành các kỹ năng tiếp xúc cử tri, vận động tranh cử, xây dựng chương trình hành động... Đồng thời, các ứng cử viên được các đại biểu, nguyên đại biểu Quốc hội hướng dẫn về các kỹ năng tiếp xúc cử tri, vận động tranh cử, xây dựng chương trình hành động, xây dựng hình ảnh xuất hiện trước các phương tiện truyền thông, tạo quan hệ với báo chí. Chia sẻ về kinh nghiệm tiếp xúc cử tri, vận động tranh cử, bà Nguyễn Thị Hoài Thu, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XI cho rằng, nữ ứng cử viên cần trang bị cho mình sự tự tin và khả năng giao tiếp, thuyết phục, ứng biến trong vận động cử tri. Thực tế cho thấy nhiều chị em còn rụt rè khi thực hiện vận động tranh cử hoặc lúng túng khi gặp những câu hỏi khó từ báo chí, cử tri. Nhằm khắc phục vấn đề này, nữ ứng cử viên cần thu thập đầy đủ thông tin về tình hình địa phương nơi mình ứng cử để xây dựng chương trình hành động sát với thực tế; nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan; tự hoàn thiện các kỹ năng lắng nghe, giao tiếp, trình bày, thuyết phục của bản thân; nắm bắt những vấn đề cử tri đang quan tâm, thể hiện sự dễ gần và gắn bó với cử tri... Bà Nguyễn Thị Hoài Thu cũng lưu ý các nữ ứng cử viên chuẩn bị chương trình hành động thật rõ ràng, đúng trọng tâm trước khi tiếp xúc cử tri, tránh dàn trải; cần thận trọng, cân nhắc khi đưa ra lời hứa với cử tri, tránh “hứa suông,” “hứa nhiều” hơn khả năng có thể thực hiện. Đặc biệt, nữ ứng cử viên không nên tỏ ra mệt mỏi, thờ ơ thiếu tập trung lắng nghe trong khi tiếp xúc cử tri hay tỏ thái độ mất bình tĩnh trong trường hợp cử tri chưa hiểu đúng về mình. Trong việc tiếp xúc với báo chí, truyền thông, nhà báo Nguyễn Vĩnh Quyên, Phó Giám đốc Kênh truyền hình Quốc hội (Đài Tiếng nói Việt Nam) cho biết, báo chí là nguồn cung cấp thông tin để các ứng cử viên nắm rõ tình hình địa phương, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là phương tiện hữu hiệu để các ứng viên bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình đến công chúng. Các ứng cử viên nên chủ động trong mối quan hệ với các nhà báo và cơ quan báo chí, coi đây là mối quan hệ hai chiều, cởi mở, thân thiện; cố gắng đáp ứng yêu cầu phỏng vấn của báo chí nhưng thận trọng khi trả lời, đối với các câu hỏi “nhạy cảm” có quyền từ chối đưa ra ý kiến... Bà Lê Thị Nguyệt, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết, xác định bình đẳng giới là mục tiêu, nhân tố góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam luôn quan tâm tới việc thúc đẩy bình đẳng giới và sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị. Thời gian qua, hiến pháp, hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới đã tạo khung pháp lý để phụ nữ phát triển, tham gia hoạt động chính trị. Nhiều nữ đại biểu Quốc hội đã thể hiện vai trò, bản lĩnh, trí tuệ, sự tận tụy trong công việc và có nhiều đóng góp vào thành tựu phát triển chung của đất nước. Trong hoạt động lập pháp, các nữ đại biểu Quốc hội đã tham gia nhiệt tình, có trách nhiệm trong việc thảo luận, đóng góp ý kiến vào việc sửa đổi văn bản pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV mới chỉ đạt 26,72%, còn tỷ lệ nữ Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 ở cả 3 cấp cũng chưa đạt chỉ tiêu 30% theo như mong muốn dù đều cao hơn khóa trước. Theo bà Lê Thị Nguyệt, còn hơn một tháng nữa, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sẽ diễn ra. Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tỷ lệ nữ ứng cử viên phải bảo đảm tối thiểu 35%. Để đạt được tỷ lệ này là thách thức rất lớn, đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực của chính các nữ ứng cử viên bằng cách nâng cao kỹ năng vận động tranh cử, thuyết phục cử tri của bản thân. Cuối buổi hội thảo, các nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã được Ban tổ chức chia thành nhiều nhóm nhỏ để cùng thảo luận những băn khoăn, trăn trở trong quá trình vận động bầu cử của mỗi người, đồng thời chia sẻ các giải pháp hoàn thiện kỹ năng tranh cử. Ý kiến của các ứng cử viên sẽ được tổng hợp theo nhóm và thuyết trình cho Ban tổ chức vào ngày 16/4 để nhận giải đáp và góp ý./.

Lựa chọn, lập danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu QH, HĐND .

Các địa phương tiếp tục tổ chức hội nghị hiệp thương để lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2021-2026. Ngày 16/4, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Long An và Khánh Hòa đã tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2021-2026. Việc tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử đại biểu Quốc khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình khóa XV, nhiệm kỳ 2016-2021 bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng luật, đúng tiến độ thời gian theo kế hoạch. Sau khi thảo luận, 100% đại biểu dự hội nghị đã biểu quyết nhất trí lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại tỉnh Ninh Bình gồm 8 người; danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình khóa XV, nhiệm kỳ 2021-2026 gồm 85 người. Danh sách những người ứng cử đảm bảo về cơ cấu, thành phần theo quy định. Ngay sau Hội nghị hiệp thương lần 3, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Ninh Bình sẽ phối hợp với các đơn vị, địa phương, tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử cho những người ứng cử. Trong khi đó, theo Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 13/4, 100% Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã đã tổ chức xong Hội nghị lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú, nơi công tác đối với người được giới thiệu ứng cử, tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Kết quả, 10 người được giới thiệu ứng cử được cử tri tín nhiệm đạt 100%; 2 người tự ứng cử đều có tỷ lệ tín nhiệm thấp. Đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, có 95 người đạt tín nhiệm 100%; 1 người đạt tín nhiệm 99,2%; 1 người đạt tín nhiệm 98,7%; 1 người đạt tín nhiệm 96%; 1 đạt tín nhiệm 93% và 1 người đạt tín nhiệm dưới 50%. Qua thực hiện các bước quy trình hiệp thương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tiếp nhận đơn xin rút khỏi danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội của 2 người, 2 người không đạt tỷ lệ tín nhiệm của cử tri theo quy định; 14 người xin rút khỏi danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Các đại biểu đã thảo luận, biểu quyết thống nhất lập danh sách 8 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV với cơ cấu: nữ 62,5%, ngoài Đảng 12,5%, trẻ tuổi 12,5%. Danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 gồm 85 người, với cơ cấu nữ đạt 44,7%, trẻ tuổi 37,6%, ngoài Đảng 12,9%, dân tộc 2,4%. Tại tỉnh Phú Thọ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ ba, thống nhất danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV gồm 10 người (chưa tính 3 người do Trung ương giới thiệu). Cơ cấu, thành phần người ứng cử đại biểu Quốc hội gồm 6 người là nữ, 6 người là người dân tộc thiểu số, người trẻ dưới 40 tuổi là 7 và 4 người ngoài Đảng. Hội nghị cũng thống nhất danh sách chính thức những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIX, nhiệm kỳ 2021-2026 gồm 113 người với cơ cấu, thành phần gồm 46 nữ, 12 người ngoài Đảng, 34 người dưới 40 tuổi, 12 người dân tộc thiểu số và 3 người tôn giáo. Tỉnh Khánh Hòa lập danh sách chính thức gồm 10 người do địa phương giới thiệu đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và 84 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026. Ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với 10 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV, 8 người có số phiếu tín nhiệm đạt 100%, 2 người có số phiếu tín nhiệm trên 98%. Trong số 10 ứng cử viên, có 3 nữ (tỷ lệ 30%), 1 người dân tộc thiểu số (tỷ lệ 10%), 1 người dưới 40 tuổi và 1 người tái ứng cử. Ngoài ra, tỉnh Khánh Hòa có 3 ứng cử viên do Trung ương giới thiệu. Đối với 87 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2021 – 2026, qua lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú, có 86 người đạt tín nhiệm 100%, 1 người đạt tín nhiệm trên 90%. Tuy nhiên, có 3 người xin rút khỏi danh sách ứng cử vì lý do cá nhân và được chấp thuận. Danh sách ứng cử chính thức còn 84 người; trong đó có 27 nữ (tỷ lệ 32,14%), 5 người dân tộc thiểu số (tỷ lệ 5,95%), 9 người ngoài Đảng (tỷ lệ 10,71%), 18 người tái cử (tỷ lệ 21,42%), 24 người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi), chiếm tỷ lệ 28,57%. Căn cứ kết quả Hội nghị hiệp thương lần thứ hai, tỉnh Long An có 14 người giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn đã tổ chức 14 hội nghị lấy ý kiến tín nhiệm của cư tri nơi cư trú. Kết quả, 13/14 người ứng cử đạt 100%, 1 người đạt 98,5% sự tín nhiệm của cư tri nơi cư trú. Tất cả đều đủ điều kiện ứng cử theo điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba tổ chức ngày 16/4 đã nhất trí đơn xin rút, không tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội của 3 người, biểu quyết thống nhất thông qua danh sách 11 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, 112 người ứng cử đạt 100% sự tín nhiệm của cư tri. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba đã nhất trí đơn xin rút, không tham gia ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của 14 người; biểu quyết thống nhất thông qua danh sách 98 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026./.

Mệnh lệnh của trái tim: “Đảng là đầy tớ của dân” .

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên về nâng cao ý thức “Đảng là người đày tớ của dân”. Đó luôn là một mệnh lệnh, một tiêu chí bắt buộc, một phẩm chất, lý tưởng cao đẹp trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong mỗi cán bộ Đảng viên. .Dảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển, luôn rất chú trọng xây dựng Đảng trên cả hai phương diện: vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ (người phục vụ) trung thành của nhân dân. Đây là hai nội dung có nội hàm khác nhau về mặt bản chất, nhưng đối với Đảng ta, do ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, được nhân dân ủy thác sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, nên giữa hai nội dung đó có mối liên hệ thống nhất, gắn bó, bổ trợ và có tầm ảnh hưởng lẫn nhau. Trong quan điểm Hồ Chí Minh và Đảng ta, đây là một luận điểm vừa thể hiện quan điểm cách mạng vô sản vừa có ý nghĩa cơ bản và sâu sắc về quan hệ giữa cơ quan lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Nếu không đồng thời làm trọn cả hai nội dung này thì Đảng sẽ thất bại và ắt sẽ bị thời đại và nhân dân đào thải. Ở bài viết này, xin không bàn về vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của công tác lãnh đạo, chỉ xin đề cập một nội dung liên quan đến việc nâng cao ý thức “Đảng là người đày tớ của dân” mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng giáo dục và thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”(1). Với tầm nhìn chiến lược và lo xa công việc của Đảng, ngay từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám 1945 mới thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài huấn thị “Chính phủ là công bộc của dân” đăng trên báo Cứu quốc số 46 ngày 19-9-1945, chỉ rõ: “Các công việc Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên, Chính phủ bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy”(2). Tiếp ngay sau đó, Người gửi thư cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, nêu rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân...”(3) và Người khẳng định: “Dân là chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng”(4). Đây chính là một luận điểm được phát triển sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng mác xít ở nước ta; đồng thời, thể hiện rõ sự khác biệt về bản chất của Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong Thời đại Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó, trở thành phương châm, đạo lý và tôn chỉ hành động trong công tác của Đảng, giúp Đảng ta bước lên vũ đài chính trị với tinh thần cách mạng và nhân văn cao cả. Năm 1951, trong bài phát biểu tại lễ ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(5). Như một sự cam kết với dân tộc, với nhân dân, Hồ Chí Minh suốt cả cuộc đời đã vất vả, chăm lo cho sự nghiệp cách mạng theo tinh thần đó. Hằng ngày, hằng giờ, Người là biểu tượng mẫu mực, nêu tấm gương cao quý ấy. Khi coi Đảng cũng như bản thân mình là đày tớ, là công bộc của nhân dân, Hồ Chí Minh đã không làm mất đi vị thế lãnh đạo mà còn để lại một sự nghiệp, một tư tưởng, đặc biệt là một nhân cách lớn - Nhân cách Hồ Chí Minh không lẫn vào ai - một nhân cách cao cả, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội của dân tộc, của đồng bào Việt Nam và của sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Nhân cách ấy thấm sâu trong hệ tư tưởng của Đảng, làm sâu sắc thêm tính tiên phong, cách mạng, dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực tiễn gần 90 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng đã chứng minh, sự toàn tâm toàn ý xây dựng Đảng ta vì lợi ích của nhân dân. Ngoài lợi ích cao cả đó, Đảng không có lợi ích nào khác. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn coi sứ mệnh phục vụ nhân dân là tôn chỉ hoạt động cơ bản của Đảng. Tất cả vì nhân dân, tất cả dựa vào dân là đường lối số một trong hoạt động của Đảng. Từ nhân dân mà ra, hòa mình vào nhân dân là phương pháp cơ bản nhất của Đảng. Sự tín nhiệm và ủng hộ của quần chúng nhân dân là thước đo tối cao đánh giá tất cả giá trị các mặt công tác của Đảng. Những phương châm cơ bản ấy, đã giúp cho Đảng ta đứng vững trên vũ đài chính trị mà không có một lực lượng nào hòng có thể thay thế. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên thực tế, có nhiều lúc, nhiều nơi chúng ta làm chưa tốt công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên nêu cao ý thức là công bộc, là đày tớ của dân, dẫn đến một bộ phận không nhỏ cán bộ trong Đảng, nhất là những người có chức, có quyền đã quên mất vị trí, vai trò của mình, tạo nên sự “đổi ngôi” chủ - tớ, tự cho mình cái quyền đứng trên dân, gây nên nhiều hậu quả trong Đảng. Trong điều kiện lịch sử mới, đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác nhiều so với trước đây trong chiến tranh, Đảng phải lãnh đạo một khối lượng công việc khổng lồ để cải biến xã hội. Theo đó, cán bộ đảng viên cũng được giao nhiều trọng trách, nắm giữ, thực thi nhiều chính sách và quản lý, thu chi khối lượng lớn tài nguyên, tài sản xã hội nếu không có ý thức là công bộc, là đày tớ của dân, không có thái độ làm việc vì nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm trên hết thì rất dễ bị tha hóa, đổ gục trước những cám dỗ về danh lợi, vật chất. Trên thực tế, điều đó đã xảy ra, là bài học rất đau xót, gây nên nhiều hậu quả trong Đảng và trong xã hội Chúng ta cũng không khỏi lo lắng khi biết rằng, số cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý kỷ luật ngày càng tăng. Theo Báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng, xử lý kỷ luật 53.107 cán bộ, đảng viên, hàng chục ngàn đảng viên bị khai trừ khỏi Đảng. Trong số các bị cáo bị các cơ quan chức năng điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về tham nhũng, kinh tế có hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 13 ủy viên Trung ương, nguyên là ủy viên Trung ương bị thi hành kỷ luật; một ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị bị khai trừ đảng. Những con số nêu trên cùng với nhiều vụ việc khác từ những hoạt động của các “nhóm lợi ích” không chỉ trong kinh tế mà cả trong công tác cán bộ, đào tạo; cùng với hơn 30% cán bộ, công chức, viên chức làm việc không có chất lượng, hiệu quả đang gây nhiều hậu quả trong Đảng và trong xã hội, có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chắc chắn đều có chung một nguyên nhân sâu xa từ sự đánh mất ý thức trách nhiệm là “người đày tớ trung thành của nhân dân”. Có thể thấy, công tác xây dựng Đảng có nhiều nội dung, nhưng gọn lại trọng tâm nằm ở tổ chức Đảng và mấu chốt nằm ở con người, ở cán bộ, đảng viên. Sau khi đường lối chính trị được xác định, cán bộ, đảng viên chính là nhân tố quyết định thực hiện thành công đường lối đó. Nếu chỉ có đường lối đúng mà không có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giàu phẩm chất đạo đức, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng làm “trâu ngựa của dân”, phục vụ nhân dân hết lòng hết sức, thì không thể thực hiện được mục tiêu to lớn của Đảng. Ý thức đó cần phải được tất cả cán bộ, đảng viên, nhất là những người có trách nhiệm từ trên xuống dưới trong bộ máy của Đảng và của Nhà nước nêu cao. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đồng thời gắn với triển khai thực hiện Quy định nêu gương mới được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa XII ban hành. Những công việc đó đã và đang tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong nội bộ của Đảng. Hơn lúc nào hết, ý thức “Đảng là người đầy tớ của dân” phải được sốc lại như một mệnh lệnh, một tiêu chí bắt buộc, một phẩm chất, lý tưởng cao đẹp trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và trong mỗi cán bộ, đảng viên. Làm đúng vai trò ấy, thì tinh thần nêu gương sẽ trở nên dễ dàng, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, đảng viên, và cũng mới có thể thực hiện được trọn vẹn di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc thiêng liêng, bất hủ của Người: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(7). Đây là công việc lâu dài, khó khăn, phức tạp nhưng là trách nhiệm, bổn phận và đạo lý của người cán bộ, đảng viên. Nhìn rộng ra, nó còn là một phương thức lãnh đạo của Đảng, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cũng như mong đợi của nhân dân. Nếu thực hiện tốt cả hai vế: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân thì hiệu quả vô cùng to lớn, bởi nó không chỉ đưa con tàu cách mạng đi đúng hướng mà còn thuyết phục quần chúng bằng sức mạnh của niềm tin, sự yêu mến và tinh thần cảm phục. Ngược lại, chỉ thiếu một trong hai vế đó, thì hậu quả vô cùng nguy hại đối với Đảng, với dân tộc. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cùng với ý thức tu dưỡng, rèn luyện của đa số cán bộ, đảng viên, nhất định cái xấu, các ác sẽ dần bị loại trừ, Đảng sẽ giành được những thành quả to lớn trong công cuộc đổi mới, phát triển theo nhịp bước của thời đại./.

Ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức trong xã hội: Tiếp cận từ văn hóa .

Đạo đức xã hội xuống cấp là vấn đề đáng lo ngại ở nước ta hiện nay. Chúng ta đều nhận thức được tác hại khôn lường của nó đối với sự phát triển của dân tộc. Đặt câu hỏi sự xuống cấp đó từ đâu mà ra thì hẳn là có rất nhiều câu trả lời và câu trả lời nào cũng có những lý do và giải pháp cơ bản. Tuy nhiên giải pháp nào cũng khó mà thực hiện một cách thấu đáo, bền vững. Từ cách tiếp cận của văn hóa cũng như vậy. . NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa là sản phẩm của một xã hội. Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều phản ánh vào văn hóa. Sự xuống cấp đạo đức cũng nằm trong một bối cảnh chung như thế. Xét theo chiều lịch đại, chúng ta thấy sự thay đổi nhanh chóng của xã hội Việt Nam. Nhiều thành tựu chính trị, kinh tế, xã hội và cả văn hóa đã được người dân chứng kiến, đặc biệt từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc Đổi mới. Tuy nhiên, không có bất cứ thứ gì không có mặt trái của nó. Sự mở cửa về kinh tế, xã hội, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông, bên cạnh những tác động tích cực, cũng để lại rất nhiều hệ quả. Ở góc độ văn hóa, sự thay đổi xã hội khiến cho lôgic vận hành của văn hóa thay đổi, bao gồm những vấn đề của định hướng giá trị, thói quen và phong tục, tập quán của một xã hội đang trên đà chuyển đổi. Với định hướng giá trị, thì đó là những giá trị cũ, có những thứ không còn thích hợp thì chưa mất hẳn, còn những giá trị mới, phù hợp hơn thì chưa thực sự định hình. Có những tấm gương đạo đức trước kia có tác dụng rất lớn, giờ không còn đóng đúng vị trí của nó nữa! Xã hội rơi vào tình trạng khủng hoảng giá trị. Từ khủng hoảng giá trị dẫn đến mất niềm tin và định hướng trong xã hội, đó là lý do quan trọng của tình trạng xuống cấp đạo đức vì xung đột và khủng hoảng giá trị và niềm tin. Kể cả những nghề được xã hội coi trọng, xem là cao quý như nghề giáo và nghề y đang chứng kiến nhiều hiện tượng xuống cấp đạo đức cũng chính vì những lý do này. Sự thay đổi thói quen, phong tục, tập quán cũng trong vòng quay như vậy. Những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc giờ đây bị thách thức bởi những thói quen mới được ra đời từ cuộc sống giàu sang và tiện nghi hơn, bị quyến rũ bởi những thông tin về cuộc sống xa lạ ở các xã hội xa lạ. Điều này dường như còn được làm đậm hơn bởi những “người của công chúng” khi đưa ra những ca khúc phản cảm với những ca từ nhảm nhí, lối sống tạo scandal để nổi tiếng bằng mọi giá, bất chấp những giá trị đạo đức của dân tộc. Tất cả khiến cho nhiều chủ nhân tương lai của xã hội (thế hệ trẻ) lạc lối trong cách xác định lý tưởng sống cũng như phong cách sống. Những lối sống mới xa lạ, đua đòi, những phong cách thời trang, nghệ thuật không phù hợp với chuẩn mực đạo đức dân tộc đã khiến cho xã hội trở nên hỗn loạn hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự xuống cấp đạo đức trong xã hội xét từ cách nhìn văn hóa. Các phương tiện truyền thông đang khiến cho những giá trị phản văn hóa được dung dưỡng, lan truyền bằng những thông tin thiếu định hướng. Việc xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới với internet và điện thoại di động thông minh, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách, đặc biệt trong tầng lớp thanh, thiếu niên. Thế giới ảo nhưng tác động thực là những thứ mà xã hội chúng ta chưa từng chứng kiến và chưa có giải pháp hữu hiệu để đối phó. Trào lưu cá nhân hóa khác rất nhiều so với lối sống vì cộng đồng từng phổ biến trong xã hội truyền thống. Các cá nhân tưởng tượng mình vô danh trên thế giới ảo, có thể thể hiện ý kiến (kể cả bức xúc) của mình theo cả những cách tiêu cực nhất. Và khi chính sự tự kiểm soát bản thân không thể thực hiện được trên môi trường mạng, cái xấu sẽ lan tràn ra toàn xã hội. Đó là những điều chúng ta thực sự lo ngại. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI Chắc sẽ còn nhiều hơn nữa những lý do giải thích cho sự xuống cấp đạo đức, nhưng câu trả lời cho giải pháp nào để giúp giảm bớt và tiến tới loại trừ hẳn hiện tượng tiêu cực này có lẽ sẽ quan trọng hơn việc mải miết đi tìm nguồn gốc mà không đưa ra những cách làm hữu hiệu để loại bỏ nó. Dưới đây là một vài gợi ý nhỏ cho một vấn đề lớn được tiếp cận từ góc độ văn hóa: Thứ nhất, cần quan tâm hơn đến vai trò của nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng con người mới, xác định những giá trị xã hội mới được xã hội tôn vinh. Trước kia, cha ông chúng ta chỉ sử dụng các loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương, sử dụng tục ngữ, dân ca để chuyển tải các thông điệp nhân văn, mà giáo huấn được cả xã hội đi theo tiếng gọi của lương tri, đạo đức. Bối cảnh xã hội hiện nay không cho phép chỉ sử dụng những biện pháp cũ, nhưng nếu chúng ta cho nghệ thuật, hình thành những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, thu hút sự quan tâm của nhiều người dân trong xã hội, thì sức lan tỏa của các thông điệp từ nghệ thuật có tác dụng cao hơn nhiều lời hiệu triệu. Chứng kiến cả chục ngàn người đứng lên hát vang quốc ca trong một trận đấu bóng đá và cả nước hân hoan, vẫy cờ, ào xuống phố một cách trật tự, văn minh cùng với niềm vui chiến thắng của dân tộc, cũng là lúc chúng ta hiểu thêm những giá trị tốt đẹp mà văn hóa đem lại cho cả xã hội. Từ những niềm vui tinh thần do văn hóa mang lại đó, bầu không khí xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn, thuận tiện hơn để cả dân tộc có thể tạm quên đi những khó khăn, tiếp bước trên hành trình vinh quang của mình. Thứ hai, xây dựng và củng cố hệ thống các quy tắc đạo đức trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi viết cuốn sách “Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản”, Max Weber đã nhấn mạnh đến khía cạnh dẫn dắt sự phát triển của xã hội từ các giá trị đạo đức. Theo đó, chính các giá trị đạo đức đã có tác dụng vừa ổn định xã hội, vừa tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Muốn làm được như vậy, xã hội cần hình thành hệ thống các quy tắc đạo đức ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Nghề giáo, nghề y hay bất kỳ một ngành nghề nào cũng có một bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Bộ quy tắc đạo đức ấy sẽ giúp đạo đức xã hội được ổn định trong từng nhóm nhỏ, rồi từ đó lan ra toàn xã hội (việc Hội Nhà báo Việt Nam vừa cho ra đời Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam là một ví dụ cho thấy, chúng ta cần có thêm các bộ quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức cho các lĩnh vực khác nhau để bảo đảm sự ổn định, rõ ràng trong hành vi ứng xử của từng nhóm xã hội trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể). Thứ ba, phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông trong việc truyền đi thông điệp tích cực về những lối sống đẹp, những tấm lòng nhân ái trong xã hội, và hình thành một dư luận xã hội ủng hộ các giá trị chân - thiện - mỹ. Về bản chất, xã hội là tốt và con người là hướng thiện. Vì thế, để cái tốt và lòng hướng thiện lan tỏa trong xã hội sẽ khiến cho cuộc sống đẹp hơn. Chính cái thiện, cái đẹp của văn hóa trong xã hội sẽ góp phần đẩy lùi tệ nạn và cái xấu, đạo đức tốt đẹp trong xã hội sẽ dần trở lại. Từ đó, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, là hệ điều tiết cho sự phát triển xã hội./.

Nêu cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời việc bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước .

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. . Như vậy, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước là một trong các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, đó cũng là một nội dung trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, kịp thời ngăn chặn biểu hiện này không chỉ là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng mà còn là biện pháp để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong các lãnh tụ tiền bối, người bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt nhiều nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng bịa đặt, Hồ Chí Minh thực chất chỉ là người “dân tộc chủ nghĩa”(!). Chúng xuyên tạc tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh là “phi nhân tính”(!). Chúng suy luận: “Nhân dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh là sai lầm, là đi vào ngõ cụt”(!). Chúng còn dựng những câu chuyện hoang đường về thân thế, đời tư của Người cùng với việc vẽ lên “chân dung” người cộng sản không có tình cảm, tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em; công khai mục tiêu phá bỏ thần tượng Hồ Chí Minh. Để tăng cường xuyên tạc, vu cáo, các thế lực thù địch đã tổ chức một số cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn quốc tế ở các nước có đông bà con Việt kiều sinh sống và làm việc như: Australia, Mỹ, Canada... rồi gửi thư ngỏ, tài liệu truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng trong nước, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Qua đó, chúng ra sức rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, lạc hậu, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới. Sự chống phá của các thế lực thù địch quyết liệt là vậy, nhưng thực tế đã cho thấy, thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là một di sản quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, nhiều công trình khoa học, chương trình nghiên cứu, bài nói, bài viết của các học giả, nhân sĩ, trí thức, nhà chính trị… trong và ngoài nước đã công bố là minh chứng rõ nét. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh được toàn thể nhân dân Việt Nam qua nhiều thế hệ và nhiều tổ chức, cá nhân có lương tri trên thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh. Trong đó, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), năm 1987, đã ra Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong đó, đánh giá Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Với ý nghĩa đó, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã trở thành giá trị văn hóa có sức thẩm thấu và lan tỏa mạnh mẽ; là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển; cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các vị lãnh tụ tiền bối khác cũng bị bôi nhọ, xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo. Điển hình như, ngày 27-9-2018, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt (thành phố Cần Thơ) đã xét xử sơ thẩm bị cáo Bùi Mạnh Đồng (“tự” Beo, 40 tuổi, ngụ quận Thốt Nốt) về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Theo đó, từ năm 2017 đến tháng 7-2018, Bùi Mạnh Đồng đã lấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trên mạng internet, sau đó chèn chữ vào hình ảnh, tạo nên nội dung xuyên tạc, vu khống, nhằm bôi nhọ lãnh tụ. Qua đó, đã tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước chống phá chế độ; gây khó khăn cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Không chỉ lãnh tụ tiền bối, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn bị bịa đặt, vu cáo. Thủ đoạn của chúng là tạo hàng loạt bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc để đăng tải trên tất cả các mạng xã hội. Điển hình như Nguyễn Chí Khương (23 tuổi, trú tại Bến Tre) quay và đăng tải lên Facebook đoạn clip bịa đặt “Đoàn xe Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân về thăm Bến Tre”. Clip cho thấy sự xuyên tạc trắng trợn khi ngày hôm đó (27-10-2016), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đang điều hành phiên họp Quốc hội tại Hà Nội. Thực chất, đoạn clip mà Khương quay và tải lên mạng xã hội là đoàn xe của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đơn vị chức năng của tỉnh Bến Tre tham gia diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2016. Nhìn chung, hành động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch tuy không mới nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc hoang mang, sự nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tác động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hành vi tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã được một số nước xếp ngang với những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất. Chính phủ Anh xếp loại tội phạm này ngang hàng với tấn công khủng bố, tấn công bằng vũ khí hóa học. Trên tinh thần đó, đối với các cơ quan pháp luật Việt Nam, dù đề cao tính giáo dục thuyết phục nhưng phải chủ động trong đấu tranh, phòng ngừa và đẩy lùi các hoạt động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phải kết hợp chặt chẽ nhiều biện pháp trong đó có cả biện pháp xử lý hành chính, xử lý hình sự. Đặc biệt, với những kẻ cố tình xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo vì động cơ chính trị, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự an toàn xã hội cần được xử lý một cách kiên quyết, nghiêm minh. Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1-1-2019 là cơ sở pháp lý và là biện pháp răn đe đủ mạnh để xử lý các đối tượng tung tin, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Đối với đảng viên, bên cạnh việc đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản bác luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch, cần thực hiện nghiêm Quy định số 102-QĐ/TƯ ngày 15-11-2017 của Ban Chấp hành Trung ương quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó áp dụng hình thức cao nhất là khai trừ khỏi Đảng đối với nhiều vi phạm, trong đó có trường hợp bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước… Cuối cùng, để kịp thời ngăn chặn tình trạng bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải chủ động trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng văn hóa nhằm phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá, bịa đặt, vu cáo của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị. Tuy nhiên, phải có phương pháp đấu tranh khoa học; trong phê phán phải lập luận chặt chẽ; phải thể hiện tính chiến đấu, tính sắc bén và tính thuyết phục cao. Bên cạnh đó cần phải kịp thời chấn chỉnh những tư tưởng, quan điểm không đúng, lệch lạc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về biểu hiện bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Làm được như vậy sẽ góp phần thực hiện thành công Nghị quyết hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

THAM NHŨNG VÀ HỆ LỤY

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[1](nhưng bài viết này chỉ giới hạn ở những người có chức quyền, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị). Đặc điểm chung của tham nhũng là người thực hiện hành vi có chức quyền, sử dụng chức quyền như một phương tiện để trục lợi cho mình, gia đình mình hoặc cho người thân về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Theo Bộ Luật hình sự, Luật PCTN (năm 2005) và Luật PCTN năm 2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019), các hành vi tham nhũng bao gồm: "1. Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; đ) Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; g) Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; h) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; k) Nhũng nhiễu vì vụ lợi; l) Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; m) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. 2. Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi"... Thực tế cho thấy, các hành vi tham nhũng nêu trên đã và đang xảy ra không chỉ ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn có giá trị hàng ngàn tỷ đồng (tham nhũng lớn) mà còn xuất hiện nhiều tại các bệnh viện, các cơ quan công quyền ở cơ sở,v.v.. nơi hằng ngày trực tiếp giải quyết những công việc liên quan lợi ích của nhân dân (tham nhũng vặt). Diễn ra càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích - “tham nhũng lớn” hay “tham nhũng vặt” - những hành vi tham nhũng của những người đang chịu trách nhiệm thực thi công vụ, quản lý trong một tổ chức có động cơ, lợi ích cá nhân, trục lợi trên cương vị của mình, sẵn sàng “ăn không từ thứ gì” cũng đều gây hậu quả nặng nề, cũng đều là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong đó, “tham nhũng lớn” bị phát hiện ngày càng tăng về số lượng, mức độ thiệt hại, số tiền và tài sản thất thoát và rất rất nhiều vụ “tham nhũng nhỏ” diễn ra công khai cũng từng bước được “chỉ mặt vạch tên”. Tham nhũng không chỉ xảy ra trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai,v.v.. mà còn lan rộng sang các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao; trong các chương trình trợ cấp cho thương binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách; trong các chương trình cứu trợ cho đồng bào gặp thiên tai; trong quá trình xét duyệt công nhận di tích lịch sử, văn hoá, thi đua khen thưởng,v.v... Tham nhũng làm thay đổi mọi lĩnh vực trong trong đời sống xã hội như kinh tế, luật pháp, dân chủ, luân lý, giáo dục... đã xâm phạm, thậm chí làm xê dịch, thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức trong hệ thống các cơ quan công quyền, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Tham nhũng không chỉ làm xói mòn niềm tin của người dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn "tiếp tay" cho các thế lực thù địch, phản động trong việc bôi nhọ, hạ uy tín, vị thế của Đảng trong phạm vi quốc gia cũng như trên trường quốc tế. Tham nhũng - những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được đã khiến nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao “không giữ được mình”, không gương mẫu trong thực thi trọng trách được giao, nói một đằng, làm một nẻo, không còn xứng đáng với vai trò tiền phong. Họ đã bất chấp việc vi phạm pháp luật mà làm trái công vụ, trái lương tâm, đạo đức nghề nghiệp…để vụ lợi, trục lợi cho mình, người thân, cánh hẩu của mình, nhóm lợi ích của mình... dẫn đến làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây bất bình, bức xúc, thậm chí phản ứng của nhân dân đối với các cơ quan công quyền. Vì vậy, bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ[2]; “là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta… làm hỏng tinh thần trong sạch, ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”[3]. Tuy các tệ nạn này biểu hiện trong đời sống xã hội dưới nhiều dạng khác nhau, song các hành vi tham ô, tham nhũng dù là “lớn’ hay “vặt” cũng đều là “ăn cắp của công làm của tư”, “đục khoét của nhân dân”, “ăn bớt của bộ đội”, “tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình”, “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[4]…, cho nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải “- Chống nạn tham ô, - Chống nạn lãng phí, - Chống bệnh quan liêu”[5]. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng, chừng nào và ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó ắt có tham ô, lãng phí và nơi nào bệnh quan liêu càng nặng, thì ở đó càng nhiều lãng phí, tham ô, càng nhiều hiện tượng tham nhũng từ nhỏ đến lớn. Tất cả những tệ nạn đó, các hành vi đó, dù xảy ra ở cấp Trung ương hay tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở cũng đều là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân, chúng đều “xâm phạm đến lợi ích của nhân dân”, đều “là kẻ thù của nhân dân và của Chính phủ”. Do đó, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng rất cần thiết, “quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”- mặt trận tư tưởng và chính trị. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Thực hiện theo chỉ dẫn của Người, trong những năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là trong thời kỳ miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội để làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, công tác phòng và chống tham ô, tham nhũng, quan liêu - chống thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm” đã được thực hiện, với quyết tâm chính trị cao. Từ Trung ương đến các địa phương đều thống nhất triển khai chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu với tinh thần: 1) “Phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sự sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ”[6]; 2) “Phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí” trong “những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn” và “không thể tha thứ cho những việc phô trương, lãng phí như vậy”[7]; 3) Chấm dứt cái thói vô Chính phủ như “xem thường phép luật, chính quyền”, “hy sinh lợi ích của nước nhà để lên mặt mình khảng khái” của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức quyền; 4) Phải chống nạn ăn cắp của công mà các cơ quan quen gọi trộm cắp “đường hoàng” vì “đó là một điều đáng chú ý, một điều đáng nguy hiểm”; đồng thời, cũng phải chống bọn “trộm cắp kín đáo”, “bọn trộm cắp tinh vi”, để chúng “không sống còn được” [8]… Khi cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, tình trạng tham nhũng bộc lộ ngày càng rõ nét, diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp và có nguy cơ lan rộng, làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Mặc dù Đảng đã có Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí", song hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế. Số vụ việc về tham nhũng được phát hiện còn chưa cao so với tình hình thực tế. Một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm; trong đó, có việc thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm PCTN của Đảng và Nhà nước. Đánh giá thực trạng và dự báo tình hình tham nhũng ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xác định: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xẩy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”[9]. Trước tình hình đó, Hội nghị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (Ban Chỉ đạo) trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo; lập lại Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy là cơ quan tham mưu cho cấp ủy về công tác nội chính và PCTN. Trong đó, Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo PCTN, nhằm tạo bước chuyển mới, mạnh mẽ hơn trong công tác đấu tranh PCTN. Tiếp đó, ngày 7/12/2015, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 50-CT/TW về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng"; đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy, địa phương, đơn vị gắn tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị với công tác đấu tranh PCTN… Trong đó, nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, cơ quan, đơn vị “phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; chủ động tự phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực, trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu”... Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, nghị quyết về PCTN, công tác PCTN đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực rõ rệt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Báo cáo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN ngày 25/6/2018 khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng được chỉ đạo thực hiện ráo riết, quyết liệt, đạt nhiều kết quả tích cực, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá tích cực. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”. Theo đó, nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành về PCTN vừa có tác dụng giáo dục, răn đe, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử lý các sai phạm… Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN … Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng và 35 nghìn đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái”. Nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị đã bị kỷ luật; trong đó có cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, cả trong lực lượng vũ trang,v.v.. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn; có lý, có tình, thể hiện rõ quan điểm “nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền”, góp phần nâng cao uy tín, sức chiến đấu của Đảng và cũng là biện pháp cảnh tỉnh, răn đe có hiệu quả (vụ án Dương Chí Dũng; vụ án Vũ Quốc Hảo; vụ án Huỳnh Thị Huyền Như; vụ án Phạm Công Danh; vụ án Hà Văn Thắm; vụ án Giang Kim Đạt; vụ án Đinh La Thăng; vụ án Trịnh Xuân Thanh; vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm); vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc); vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc xảy ra tại Phú Thọ và một số địa phương;... Việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao (vụ Giang Kim Đạt hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỉ đồng; vụ Đinh La Thăng hơn 20 tỷ đồng; vụ Trịnh Xuân Thanh hơn 45 tỷ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng... Đấu tranh PCTN được làm nghiêm từ trên xuống dưới và đó chính là bước đột phá trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với lĩnh vực này, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PCTN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu… Trong khi đó, không chỉ các vụ “tham nhũng lớn” mà ngay cả “tham nhũng vặt” trong khu vực hành chính, dịch vụ công vẫn còn nhiều, gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, việc chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện nghiêm đã tạo “kẽ hở” cho việc lạm quyền để trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu rèn luyện đạo đức, tham lợi, vụ lợi bất chính...

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH PCTN - MỘT NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG CỦA ĐẢNG CẦM QUYỀN

Để phòng ngừa và đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng không chỉ cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân mà còn là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và mỗi người dân về quyết tâm của Đảng, Nhà nước đối với cuộc đấu tranh PCTN; đưa nội dung đấu tranh PCTN vào sinh hoạt định kỳ của các tổ chức Đảng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Trong đó, các tổ chức Đảng tăng cường chỉ đạo quyết liệt công tác giáo dục, phòng ngừa tham ô, tham nhũng; các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về PCTN. Đồng thời, nâng cao và phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng trong thwucj thi trọng trách được giao gắn với đấu tranh PCTN theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường phối hợp và kịp thời cung cấp, công khai thông tin, định hướng tuyên truyền về PCTN, để một mặt tạo sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị; mặt khác thông qua đó, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch lợi dụng PCTN để chống phá Đảng, Nhà nước. Chủ động thông tin về kết quả kiểm tra, thanh tra, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, bất kể là ai, giữ chức vụ gì; về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm trong đấu tranh PCTN đi liền cùng với việc chủ động tuyên truyền gương người tốt, việc tốt; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng. Thông qua tuyên truyền về kết quả đấu tranh PCTN, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật và đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm, góp phần làm trong sạch bộ máy, tạo động lực, khí thế, sự thống nhất cao về ý chí và hành động để cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Thứ ba, tiếp tục gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ" với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và với các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”… Qua đó, mỗi người hằng ngày đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng trực lợi và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, lạm dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”,v.v.. Coi đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi cá nhân trong công tác giáo dục và tự giáo dục, vừa đấu tranh và tự đấu tranh để thiết thực phòng và chống 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ nói chung, về đấu tranh PCTN nói riêng. Thứ tư, phải công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,v.v.. nhà nước nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện chức trách, công vụ theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Việc công khai, minh bạch không chỉ góp phần để những người "có chức quyền" hiểu rằng mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để vụ lợi, trục lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý mà còn để người dân nhận biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật cũng như đòi hỏi các cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các quy định đó. Theo đó, cần công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức theo quy định,v.v.. đó là “những chìa khóa then chốt” để bảo đảm đấu tranh PCTN hiệu quả, thành công. Thứ năm, tham khảo kinh nghiệm PCTN của một số nước trên thế giới, để có thể vận dụng trong quá trình xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, hoàn thiện thể chế, phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong đấu tranh PCTN. Bổ sung một số hành vi tham nhũng thuộc tội phạm tham nhũng; ban hành các quy định về bảo vệ, khen thưởng người có thành tích trong công tác PCTN, nhất là người tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng; đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/2/2018. Đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ PCTN; tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng đi liền cùng với đó là cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. để góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTN. Đồng thời, cùng với quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, trước mắt, phải xây dựng và hoàn thiện chế tài pháp lý để mỗi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức quyền tại các cơ quan công quyền trong hệ thống chính trị “không thể tham nhũng” và “không dám tham nhũng”./.

Sự thật không thể phủ nhận .

Bảo đảm cho mọi công dân được hưởng các quyền của mình và có cơ hội phát triển toàn diện, xây dựng kinh tế để cuộc sống toàn dân ngày càng nâng cao, chú trọng bảo đảm an sinh xã hội… đó là những thành tựu có ý nghĩa to lớn mà Đảng, Nhà nước cùng nhân dân Việt Nam đã luôn nỗ lực phấn đấu đạt được. . Những thành tựu đó là không thể phủ nhận, và là bằng chứng cụ thể bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, vu khống, xuyên tạc, bịa đặt về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Từ ngày 21-1-2019 đến 1-2-2019, tại Phiên họp thứ 32 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), Nhóm làm việc về Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) tiến hành rà soát tình hình về nhân quyền ở 14 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và trong phiên họp ngày 22-1-2019, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung dẫn đầu đã trình bày Báo cáo quốc gia về bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III. Tiếp đó, tại khóa họp lần thứ 125 của Ủy ban nhân quyền LHQ về Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc dẫn đầu đã trình bày báo cáo Phúc trình lần thứ ba về các nội dung liên quan trong hai ngày 11 và 12-3-2019. Các báo cáo của Việt Nam tại hai kỳ họp đã nêu bật những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đạt được trong các năm qua, thẳng thắn chỉ rõ một số hạn chế còn tồn tại, bảo đảm Nhà nước Việt Nam sẽ khắc phục hạn chế trong thời gian sớm nhất và tiếp tục nỗ lực bảo vệ, phát triển quyền con người. Chính vì thế, báo cáo của Việt Nam đã được thành viên tham dự các kỳ họp đánh giá cao, và bày tỏ hy vọng Việt Nam sẽ đạt nhiều thành tựu hơn nữa về nhân quyền. Tuy nhiên, trước, trong và sau hai kỳ họp nêu trên, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã phát động chiến dịch vu cáo, vu khống, bịa đặt, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, nhằm tác động tiêu cực tới dư luận quốc tế, làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam, đồng thời bảo vệ một số cá nhân vốn lâu nay vẫn được họ gán nhãn hiệu là “người bảo vệ nhân quyền, tù nhân lương tâm, nhà báo tự do”… Nổi lên trong số các tổ chức tham gia những hoạt động này có Theo dõi nhân quyền (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF), Nhà tự do (FH), Ân xá quốc tế (AI), tổ chức khủng bố “Việt tân” và một số tổ chức kỳ quái như “ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Hà Lan”, “liên hội người Việt tị nạn tại Đức”, với sự phụ họa của BBC, VOA, RFA, RFI… Điểm chung dễ nhận thấy nhất của các tổ chức, cơ quan truyền thông này là hoàn toàn không khảo sát thực tế nhân quyền ở Việt Nam, chỉ khai thác, dựa trên các loại tin giả, tin bịa đặt, cố tình bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen được các thế lực thù địch với Việt Nam tạo dựng, truyền bá trên internet (in-tơ-nét); đồng thời tảng lờ mọi thành tựu nhân quyền mà Việt Nam đạt được; đánh tráo khái niệm để bảo vệ một số người vi phạm pháp luật, bị tòa án xét xử… Nhưng “bàn tay không che nổi mặt trời”, dù những đối tượng trên điên cuồng chống phá như thế nào cũng không thể phủ nhận được sự thật đang hiện hữu hằng ngày trên đất nước Việt Nam. Liên tục suốt những năm qua đất nước luôn phát triển nhanh chóng, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế, đời sống, thu nhập người dân thay đổi rõ rệt. Mọi người dân đều được bảo đảm và hưởng các quyền chính đáng của mình, cùng có cơ hội phát triển, cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng một nâng cao… Vì mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm quyền phát triển, quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương, quyền của người lao động, Nhà nước Việt Nam đã ban hành, nỗ lực triển khai nhiều chương trình quốc gia trọng điểm để giảm nghèo bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng, thúc đẩy nông nghiệp bền vững, chăm sóc sức khỏe cho người dân, xây dựng nông thôn mới, mang lại hiệu quả xã hội tích cực. Tới cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước còn 5,35% (giảm 1,35% so với cuối năm 2017); góp phần tăng thu nhập của hộ nghèo từ 15 đến 20%; thu nhập của dân cư nông thôn được cải thiện, bình quân theo đầu người/năm tăng từ 18,6 triệu đồng (năm 2012) lên 32 triệu đồng (năm 2017). Đến tháng 3-2018, hơn 570 nghìn hộ nghèo ở nông thôn được hỗ trợ về nhà ở; hơn 14 nghìn hộ nghèo tại miền trung được hỗ trợ xây dựng nhà ở để phòng chống bão, lụt; 982 dự án với quy mô 190.841 hộ thuộc chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn thành… Đáng chú ý là hằng năm, Nhà nước đã chi ngân sách hàng chục tỷ đồng để mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế; đến năm 2017, cả nước có hơn 34,2 triệu người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới sáu tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế; riêng năm 2017 có hơn 66 triệu lượt người nghèo, hơn 15 triệu lượt người cận nghèo khám, chữa bệnh với tổng chi phí được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán khoảng 45 nghìn tỷ đồng. Và cần đề cập các thành tựu khác liên quan khu vực nông thôn, như đến ngày 31-12-2017: 99,4% số xã trên cả nước đã có đường ô-tô tới trung tâm xã, 100% số xã và 97,8% số thôn được điện lưới quốc gia bao phủ; 99,7% số xã có trường tiểu học, trường mẫu giáo; 99,5% số xã có trạm y tế xã; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hóa… Trên phạm vi rộng hơn, ở Việt Nam, mọi quyền khác của con người cũng được bảo đảm, hỗ trợ, tạo điều kiện tồn tại, phát triển. Xin dẫn thí dụ từ chính các lĩnh vực mà các thế lực thù địch thường tập trung vu cáo, bịa đặt: - Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tạo khuôn khổ pháp lý để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Hiện có: 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hòa Hảo. Đến năm 2017, tổng diện tích đất các cơ sở tôn giáo sử dụng là 14.850 ha, thuộc 7.102 tổ chức, cơ sở tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để tích cực tham gia hoạt động xã hội, thành lập hơn 450 cơ sở y tế, 270 trường mầm non và 1.000 nhóm, lớp mầm non; hỗ trợ chăm sóc 11.800 đối tượng bảo trợ xã hội. Có 12 báo và tạp chí liên quan tôn giáo được xuất bản, phần lớn tổ chức tôn giáo đều có website riêng. Chỉ tính trong bốn năm (2015 - 2019) đã có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều loại ngôn ngữ. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn đã được tổ chức thành công ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản VESAK 2014, 500 năm Cải chánh đạo Tin lành 2017, sắp tới là Đại lễ Phật đản VESAK 2019. Với sự hỗ trợ của Nhà nước, năm 2017 Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer ở Cần Thơ. Tại các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước, hiện có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm. Tại Tây Bắc, đến ngày 30-6-2018, đã có 693 điểm nhóm Tin lành và tám Hội thánh cơ sở được thành lập. Ngoài ra, còn nhiều điểm nhóm đăng ký sinh hoạt tập trung của người các dân tộc thiểu số như Hội Liên hữu Baptist Việt Nam, Hội thánh Lutheran, Liên đoàn Truyền giáo Phúc âm Việt Nam, Hội thánh Truyền giảng Phúc âm Việt Nam… Rất nhiều cơ sở tôn giáo trên cả nước nói chung, của người Chăm nói riêng đã được Nhà nước hỗ trợ để trùng tu, tôn tạo đẹp đẽ, khang trang. - Về quyền tự do ngôn luận, báo chí: Luật Báo chí năm 2016 xác định rõ quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; nhấn mạnh quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin và tiếp cận thông tin báo chí, góp ý kiến phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí, bổ sung quy định về liên kết hoạt động báo chí. Cũng như Luật Xuất bản năm 2012, Luật Báo chí 2016 khẳng định nguyên tắc Nhà nước không kiểm duyệt trước khi in, đăng, phát sóng; đồng thời Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các hình phạt đối với các tội “xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin”. Có thể khẳng định chưa bao giờ ở Việt Nam báo chí phát triển như hiện nay và thực tế đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội và nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân và lợi ích của xã hội, hỗ trợ kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. Đến tháng 6-2018, cả nước đã có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm; 195 cơ quan báo và tạp chí điện tử; 67 đài phát thanh, truyền hình ở Trung ương và địa phương với 184 kênh; đến tháng 6-2018, 1.510 trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép; khoảng 650 triệu bản báo được xuất bản hằng năm; 18 nghìn nhà báo được cấp thẻ; 60 nhà xuất bản; 91 kênh truyền hình trên cáp truyền hình trả tiền, internet và vệ tinh, trong đó có 58 kênh nước ngoài; 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú ở Việt Nam. Đáng chú ý, sự phát triển rất nhanh chóng của internet đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa. Theo WeAreSocial (công ty thống kê, đánh giá thông tin kỹ thuật số, di động và các lĩnh vực liên quan), năm 2018 tại Việt Nam đã có 64 triệu người sử dụng internet, 58 triệu tài khoản Facebook, trung bình mỗi người dành 6 giờ 52 phút để truy cập internet…

Đừng lầm tưởng để tự phá hoại bình yên của chính mình

Trong chiến lược "diễn biến hòa bình", chiêu thức thường được các thế lực thù địch tận dụng tối đa nhằm làm sụp đổ một quốc gia là tìm cách bôi nhọ chế độ xã hội hiện tại, thổi phồng những mặt trái của xã hội đó để gây tâm lý bất mãn rồi kích động sự phản kháng trong xã hội. .Những vụ việc cụ thể, có tính cá biệt, những sai phạm của cá nhân, thường được nâng lên thành bản chất của chế độ xã hội. Đáng tiếc là vẫn có không ít người nhẹ dạ, thiếu thông tin, thiếu tầm nhìn, không tự phát hiện được sự thật đằng sau những luận điệu kích động đó, họ vô tình tự cướp đi bình yên của chính mình. NGỘ NHẬN VÀ BẤT MÃN DỂ BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ... Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội. Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ. Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria... Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn... Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác. Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”. Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận. LIỆU CÓ MỘT XÃ HỘI HOÀN HẢO HAY KHÔNG? Để nhận thấy sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề trong xã hội, có thể nhìn sang quốc gia hùng mạnh nhất thế giới là nước Mỹ. Năm 2004, siêu bão Charley quét từ vịnh Mexico qua Florida đến Đại Tây Dương, tàn phá một số vùng của nước Mỹ, làm 22 người chết và thiệt hại 11 tỷ USD. Điều đáng nói, sau cơn bão này, người dân Mỹ mới nhận ra những điều bất ổn trong xã hội mình. Đó là nhân việc bão quét sạch mọi thứ, nhiều doanh nghiệp đã nâng giá bán với mức cắt cổ để kiếm lợi. Máy phát điện từ 250 USD tăng lên 2.000 USD; nước đá từ 2 USD được nâng lên 10 USD; một gia đình muốn dọn hai cây đổ vào nóc nhà thì phải trả giá là 23.000 USD (khoảng 530 triệu VNĐ). Đỉnh điểm là câu chuyện một cụ bà 70 tuổi chạy bão với người chồng và cô con gái khuyết tật đã phải trả 160 USD (khoảng 3,7 triệu VNĐ) một đêm cho buồng trọ giá bình thường chỉ 40 USD. Tờ USA Today khi đó đã bức xúc chạy dòng tít: “Kền kền sau bão” để phê phán thực trạng lợi dụng thảm họa, lợi dụng sự khổ đau của người khác để ép giá cắt cổ. Thế nhưng, điều đáng nói hơn là một số nhà kinh tế tại Mỹ lại phản đối tờ USA Today và cho rằng việc tăng giá như thế là bình thường, vì trong một nền kinh tế thị trường có quy luật cung cầu, cầu tăng mà nguồn cung giảm thì ắt giá sẽ tăng, chứ không có khái niệm “giá cắt cổ”. Nhìn vào sự việc trên để thấy sự khác biệt ở Việt Nam. Khi xảy ra những trận thiên tai, bão lũ, thảm họa ở bất kỳ khu vực nào thì cả nước đều quan tâm, theo dõi, lo lắng rồi chung tay, quyên góp cùng địa phương đó kịp thời khắc phục hậu quả, giúp người dân ổn định cuộc sống. Các lực lượng chức năng, trong đó quân đội là lực lượng nòng cốt, được huy động để giúp đỡ người dân khẩn trương thu hoạch mùa màng, dựng lại nhà cửa, dọn dẹp vườn ruộng, đường xá, trường học, bệnh viện sau bão. Các hoạt động ấy vừa là nhiệm vụ được cấp trên giao phó nhưng cũng xuất phát từ trái tim. Bởi dân tộc Việt Nam, xã hội Việt Nam là một xã hội hướng thiện, yêu thương đùm bọc nhau đã là truyền thống từ xưa tới nay: “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”... Khi nền kinh tế phát triển thường sẽ kéo theo những sự phát triển không đồng đều vì đặc điểm địa lý, lợi thế của mỗi vùng miền, rồi khả năng của mỗi con người cũng khác nhau. Nhận thấy nguy cơ này, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm để thiết kế các chế độ, chính sách thúc đẩy sự phát triển của vùng sâu, vùng xa, giúp đỡ người nghèo vươn lên theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Luận bàn về bản chất của quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội .

Hiện nay, một số người đang cổ súy cho cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội; kiến nghị đòi “trao quyền kiểm soát Quân đội” cho Quốc hội, Nhà nước và Chính phủ”, cho rằng “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, không phục tùng luật Đảng”(!). Vậy đâu là bản chất của những luận điểm như vậy? . 1. Quan điểm trên thể hiện sự áp đặt luật pháp tư sản vào nước ta Họ đã lấy luật pháp nhà nước tư sản làm “thước đo”, “tiêu chí” pháp lý cho mọi nhà nước, chế độ xã hội. Đó là thứ “triết lý” về chế độ “dân sự quản lý quân sự của nhà nước tư sản”, theo Khoản 8, Điều I, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Ở đó, không có điều luật nào dành cho các nhánh hành pháp và tư pháp quyền ban hành luật pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Đó là sự vay mượn triết lý luật pháp về “chia tách” quyền lực quân sự (một dạng quyền hành pháp) với quyền lập pháp và tư pháp, bằng trích dẫn Khoản 1, Điều II quy định: “Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ”; Khoản 2, Điều II quy định: “Tổng thống sẽ là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của các lực lượng dự bị ở một số bang”. Còn những người có quyền ban hành pháp luật, thì họ dựa vào Khoản 6, Điều I quy định: “Trong thời gian được bầu làm Thượng nghị sĩ hoặc Hạ nghị sĩ, không một ai sẽ được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hòa Kỳ. Trong thời gian đó,... không một ai đang đảm nhiệm một chức vụ dân sự nào trong chính quyền Hoa Kỳ được bầu vào Quốc hội”. Đó cũng là sự vin mượn tinh thần pháp lý quân sự tư sản: quá trình bổ nhiệm quan chức quân sự, chỉ đi một hướng từ dân sự sang quân sự mà không có chiều ngược lại; vào Chỉ thị 1344.10 của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, quy định thành viên quân đội không thể “Là ứng cử viên hay nắm giữ bất kỳ chức vụ nào trong bộ máy dân sự”. Năm 2008, luật pháp của Hoa Kỳ quy định, người rời khỏi quân đội ít nhất 7 năm mới được làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Họ cũng dựa vào Điều lệ Nữ Hoàng (Vương quốc Anh), quy định: Nghiêm cấm các thành viên quân đội nắm giữ các vị trí hoạt động tích cực trong các tổ chức chính trị; đồng thời, hạn chế chặt chẽ việc bổ nhiệm vào các vị trí này trong và sau thời gian quân ngũ”, v.v. Tuy nhiên, điều đã được nhân loại thừa nhận là: luật pháp của một chế độ nhà nước phải do ý chí, nguyện vọng của nhân dân (chủ thể quyền lực của nhà nước đó) quyết định và chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia đó. Do vậy, việc lấy luật pháp của nước này áp đặt cho nước khác là hoàn toàn phi lý. Không thể dùng pháp luật của nhà nước tư sản soi chiếu sang pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, hai loại nhà nước khác nhau về bản chất. Cũng giống như không thể áp đặt luật pháp của Việt Nam lên nhà nước tư sản. Như vậy, quan điểm “dân sự hóa” Quân đội ở Việt Nam là không phù hợp. 2. Bản chất “dân sự hóa” quân đội ở các nước tư sản Dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, những người có quyền lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của ba nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” (dân quản quân) đã được ghi tạc, ban hành trong luật pháp thì “chắc chắn” việc của quân đội tất yếu là việc của phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng phái nào, phái quân sự nào! Tuy nhiên, trái ngược với những tư tưởng “tam quyền phân lập”, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy một nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” về nó. Muôn vàn ví dụ về quản lý nhà nước đối với quốc phòng của Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ điều này. Trên thực tế, dù luật pháp của Hoa Kỳ có chặt chẽ đến đâu thì các chính đảng vẫn can thiệp cả vào lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Hoa Kỳ đã trải qua 45 đời tổng thống, chỉ có tổng thống đầu tiên là G. Washington không thuộc đảng phái nào; còn 44 tổng thống khác đều là người đứng đầu hay đại diện cho các đảng phái khác nhau. Hầu hết các Tổng thống Hoa Kỳ đều nhất quán thực thi đường lối của đảng đã cử mình làm đại diện tranh cử. Ví dụ như, trong quá trình tranh cử, ông Đô-nan Trăm (ứng cử viên đại diện cho Đảng Cộng hòa) tuyên bố sẽ rút quân đội khỏi Trung Đông nếu trúng cử. Và giờ đây khi là tổng thống, Ông đã thực thi đường lối quân sự đó. Như vậy, tư tưởng, đường lối nhất quán của một chính đảng và một tổng thống đắc cử đã thực thi. Do đó, không có cái gọi là “dân quản quân”, mà thực chất là “đảng quản quân”. Một vài ví dụ khác, năm 1950, Tổng thống Mỹ Truman chọn Thống tướng Lục quân G. Marshall mới nghỉ hưu được hơn 5 năm làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong khi Luật An ninh quốc gia Mỹ năm 1947 quy định: “Bộ trưởng phải được chỉ định từ giới dân sự. Đối với cựu quân nhân Mỹ, họ chỉ có thể được đảm đương chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sau 10 năm kể từ khi họ giải ngũ”. Mới đây, ông J. Mattis, Đại tướng, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ, mới nghỉ hưu năm 2013 vẫn được Tổng thống Đô-nan Trăm đề cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng viện phê chuẩn ngày 20-01-2017, trong khi luật pháp Hoa Kỳ năm 2008 quy định: “người rời khỏi quân đội ít nhất 7 năm mới được làm bộ trưởng quốc phòng” và “quá trình bổ nhiệm quan chức quân sự, chỉ đi một hướng từ dân sự sang quân sự, không có chiều ngược lại”. Điều trên cho thấy nguyên tắc “dân quản quân” đã không được thực hiện triệt để. Nhiều nước trên thế giới, như: Nga, U-crai-na, Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia,… Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thường là quân nhân. Ở Nga, đến năm 2001 mới có ông S. B. I-va-nốp là người dân sự đầu tiên làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng đến năm 2012, Tổng thống V. Putin sử dụng lại người nhà binh, bổ nhiệm Đại tướng S. Sôigu làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Quyết định đó được các chuyên gia quân sự đánh giá cao, cho rằng, người đứng đầu quân đội phải nắm rõ việc quân sự, phải có uy với cấp dưới, khi cần quản lý nhà nước đã có cố vấn, thư ký hỗ trợ; nếu người dân sự làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì sẽ khó thể hiện tính quyết đoán, nhất là giải quyết những vấn đề đột xuất, đòi hỏi quyết đoán nhanh trong điều kiện khó khăn, căng thẳng. Có thể thấy, bản chất chế định pháp lý người đứng đầu quân đội (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) ở Mỹ và một số quốc gia khác không phải là quân nhân, mà là dân sự, đó không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội mà là sử dụng con người dân sự cụ thể để quản lý công việc quân sự. Tuy nhiên, chế định này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Vì vậy, quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội ở Việt Nam, cho rằng “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, không phục tùng luật Đảng” chỉ là sự thiếu hiểu biết về tri thức pháp lý và quản lý nhà nước về quốc phòng của một số người mà thôi. 3. Thực chất mục đích của quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội là kết hợp “diễn biến hòa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam Với việc đưa ra quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội, một số người đã đánh tráo khái niệm “dân sự quản lý quân sự” với “dân sự hóa” Quân đội; họ đánh đồng việc dân sự quản lý quân sự với biến việc của quân sự thành việc của dân sự, làm cho người khác hiểu sai về bản chất vấn đề. Mặc dù chế định “dân sự quản lý quân sự” ở các nước tư sản không thực hiện được (như đã đề cập ở trên), song những người đưa ra quan điểm “dân sự hóa” Quân đội không bao giờ đề cập tới sự thật này. Họ ra sức ca ngợi và cổ súy cho pháp lý và đời sống luật pháp tư sản theo hướng cái gì cũng “tốt đẹp”, “thiên đường”; làm cho người ta tưởng việc “dân sự hóa” quân đội của nhà nước tư sản là tốt đẹp, dễ làm, nhà nước xã hội chủ nghĩa cứ theo thế mà làm. Đây là thủ đoạn chính trị tinh vi, kết hợp giữa “diễn biến hóa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Thực chất mục đích của quan điểm cổ vũ “dân sự hóa” Quân đội theo hướng pháp lý “dân sự quản lý quân sự” của nhà nước tư sản là nhằm tác động, thay đổi đường lối, cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; nguyên tắc hoạt động quốc phòng là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, mục đích chính trị cuối cùng của quan điểm cổ súy “dân sự hóa” Quân đội, không phải cái gì khác hơn là nhằm loại bỏ quyền lãnh đạo Quân đội và hoạt động quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước hiến định. Đây là một âm mưu, thủ đoạn nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch - một thủ đoạn, âm mưu tinh vi, xảo quyệt, từ đánh tráo khái niệm, đến tiêm nhiễm, thẩm thấu tư tưởng, chuyển hóa cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và hoạt động quốc phòng, cuối cùng là kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Bởi vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ mưu đồ của họ; cảnh giác, đề phòng, ngăn ngừa, đấu tranh bác bỏ tư tưởng, quan điểm sai trái này.

Phòng, chống sự tha hóa quyền lực .

Quyền lực càng cao, càng tuyệt đối, sẽ tha hóa càng lớn nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Sự tha hóa quyền lực, dù lớn hay nhỏ đều gây tác hại cho xã hội và ảnh hưởng xấu đến uy tín, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của đảng cầm quyền và sự quản lý của Nhà nước. .SỰ THA HÓA QUYỀN LỰC TINH VI, PHỨC TẠP Thực tiễn cho thấy, sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở nước ta thời gian qua diễn ra bằng nhiều phương thức rất đa dạng, tinh vi, phức tạp, từ việc dùng quyền hạn của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực nhằm trục lợi cho mình và nhóm lợi ích… Hầu hết sai phạm đều có liên quan đến cán bộ, đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong việc quyết định chủ trương, chính sách, cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ… Không chỉ có cán bộ lãnh đạo, quản lý tha hóa quyền lực mà cả những công chức, viên chức trong đó có cán bộ tham mưu, giúp việc, trợ lý, thư ký riêng… cũng lợi dụng vị trí công tác được phân công để trục lợi cá nhân, phe nhóm, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, sự tha hóa quyền lực vừa trắng trợn vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ “trên - dưới”, “trong - ngoài” bằng “luật ngầm” đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều ngành. Thậm chí, trong chừng mực nhất định, đã xuất hiện dấu hiệu tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên gắn với tội phạm có tổ chức. Điều đáng lưu tâm là, sự tha hóa quyền lực đã có nhiều dư luận, nhiều người biết, nhưng để phòng, chống được các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực lại không hề dễ dàng, vì sự đan xen trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ gắn với người có chức vụ, có quyền hạn ở các cấp, các lĩnh vực. Ranh giới giữa khuôn khổ quyền hạn được giao và sự năng động, sáng tạo rất mong manh và những tình huống trong thực tiễn rất đa dạng, phong phú. Nếu không làm rõ được vấn đề này cộng với “cách nhìn” phiến diện rất dễ dẫn đến “chụp mũ” cho cán bộ, đảng viên năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, làm lợi cho Đảng, cho dân nhưng nhiều khi lại bị cho là lạm quyền, lộng quyền hoặc cố ý làm trái, dẫn đến làm thui chột động lực phát triển. Mặt khác, việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa quyền lực thường rất khó khăn, phức tạp, vì nó gắn với người có chức vụ, có quyền hạn nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng, có trường hợp bao che, phản kích quyết liệt lại lực lượng kiểm tra. Thực tế, chủ yếu các vụ việc tha hóa quyền lực đều nhằm trục lợi - tức là tham nhũng, nên nảy sinh sự cấu kết rất chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ, bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bất chấp cả đạo lý. Những vụ việc tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là của cán bộ lãnh đạo, quản lý biểu hiện rất đa dạng, tinh vi, theo từng vụ, việc và thường “vây quanh” một số cá nhân nhất định. Lợi dụng tính thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức lợi dụng kẽ hở trong các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước để trục lợi. Sự tha hóa quyền lực có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa đã và đang tác động làm nảy sinh, phát triển sự tha hóa quyền lực của cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng với diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý. Chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đủ rõ, chưa phù hợp, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp còn đan xen, nhiều kẽ hở, dễ bị lợi dụng... Nội dung các quy định của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực, nhất là những nội dung về tính chất, mức độ và mối quan hệ giữa các biểu hiện của sự tha hóa quyền lực của cán bộ chưa được phân tích, làm rõ một cách đầy đủ, sâu sắc. Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ”, “nể nang, né tránh, ngại va chạm”, “dễ người dễ ta”, “dĩ hòa vi quý”, tâm lý làng, xã, đồng hương cộng với tư duy tiểu nông đã ăn sâu trong nhiều người Việt, tạo ra một tâm lý xã hội ngại đấu tranh, ngại nói thẳng, hoặc có việc dính dáng đến bản thân, gia đình là đi “nhờ vả”,… đã tạo điều kiện để một số cán bộ, đảng viên thực thi công vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi. Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu về phòng, chống sự tha hóa quyền lực chưa sâu sắc, toàn diện hoặc chưa đủ rõ. Chủ nghĩa cá nhân, tham vọng danh lợi, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức. Không ít cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, tinh thần hy sinh cống hiến vì sự nghiệp của Đảng, lười học tập, xem nhẹ việc học tập lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nghiêm, thiếu công tâm, khách quan; vẫn còn mang nặng tư duy nhiệm kỳ, “lợi ích nhóm”, né tránh, thoả hiệp hoặc áp đặt độc đoán, mất dân chủ, chưa gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, sợ trách nhiệm, lấy tập thể làm bình phong cho những ý đồ cá nhân. Công tác cán bộ, quản lý đội ngũ cán bộ chậm đổi mới, một số khâu chưa được chuẩn hóa, còn sơ hở và thiếu tính khoa học, quá nhiều tiêu chuẩn kiểu định tính mà ít tiêu chuẩn mang tính định lượng; phương pháp, quy trình tuyển chọn, quy hoạch, bố trí, sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, nhất là việc thay thế cán bộ có biểu hiện tha hóa quyền lực, yếu kém, miễn nhiệm, cho từ chức đối với cán bộ không đủ tiêu chuẩn chậm được thực hiện. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn lúng túng trong xác định mô hình tổ chức, bố trí cán bộ, nhất là chưa chuyển trọng tâm từ xử lý vấn đề lịch sử chính trị sang nắm bắt, giải quyết và xử lý những vấn đề chính trị hiện nay. Vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên ở không ít nơi chưa được phát huy, chưa có cơ chế nêu cao vai trò, trách nhiệm của báo chí, các cơ quan truyền thông trong kiểm soát quyền lực. Chưa coi trọng việc sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận về kiểm soát quyền lực nói chung, phòng, chống sự tha hóa quyền lực nói riêng, đến Đại hội XII của Đảng, vấn đề này mới được đặt ra một cách quyết liệt. Công tác kiểm tra, giám sát còn chưa bảo đảm hiệu lực, liệu quả, còn biểu hiện trên nóng, dưới lạnh. Việc xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên tha hóa quyền lực trong không ít trường hợp chưa kịp thời, nghiêm minh, đồng bộ, triệt để, dứt điểm nên tính phòng ngừa, răn đe và giáo dục chưa cao.

PHẢI KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ ĐƯỢC QUYỀN LỰC

Để phòng, chống sự tha hóa quyền lực, tức là phải kiểm soát chặt chẽ được quyền lực, trước hết là quyền lực của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi. Trong phạm vi bài viết, xin nêu một số giải pháp chính sau đây: Một là, cụ thể hóa các biểu hiện tha hóa quyền lực đối với từng vị trí, lĩnh vực công tác, trước hết là của cán bộ lãnh đạo, quản lý để biết và thực hiện, tự phòng tránh không mắc phải sự tha hóa quyền lực dù là nhỏ nhất là cách tốt nhất để phòng ngừa với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Hai là, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát. Xây dựng quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân, bảo đảm phải rõ quyền, đủ quyền, đúng quyền và thực quyền. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phản biện, chất vấn, giải trình để bảo đảm công khai, minh bạch; xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm hoặc đùn đẩy, né tránh, trả thù, trù dập. Nghiên cứu xây dựng quy định phát huy vai trò, trách nhiệm, quyền của các đại biểu dự đại hội đảng các cấp trong suốt cả nhiệm kỳ, trước hết là quyền chất vấn, kiểm tra, giám sát đối với các cấp ủy viên do mình bầu ra. Xây dựng các quy định về báo cáo công việc liên quan đến công tác cán bộ (tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng....) của cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp. Hoàn thiện và đổi mới các quy định của Đảng, trước mắt cần làm rõ, cụ thể hóa nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng ta. Nâng cao nhận thức để mọi tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ về nội dung, phương thức cầm quyền giống và khác gì nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng để áp dụng thực hiện đúng có hiệu quả. Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mẫu mực, trình độ, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về công tác cán bộ. Khi xem xét về sự tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên đều phải xét từ góc độ hai phía, người có quyền lực và đối tượng chịu sự tác động của quyền lực đó. Trong thực tế, sự tha hóa quyền lực thường xảy ra giữa cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống chính trị, nhất là của người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước với cán bộ, đảng viên dưới quyền thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý mà thường qua đó các bên đều có lợi ích nhất định. Do đó, việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền... từ cấp Trung ương đến cơ sở là cực kỳ quan trọng, quyết định tới kết quả hoạt động của cả hệ thống chính trị theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bốn là, đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Đặc biệt, cần quy định hạn chế cấp hàm và cấp phó tối đa của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là cấp phó trong nội bộ các cơ quan đảng. Nếu quá nhiều cấp hàm và cấp phó sẽ khó cho việc kiểm soát quyền lực mà hiệu lực, hiệu quả công tác sẽ không cao. Đồng thời, rà soát và sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, trong đó cần quy định rõ ràng nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể, của người đứng đầu và từng cấp phó, công chức, viên chức, nhân viên để mọi người thực hiện đúng với vị trí công việc của mình, nhất là ở những nơi “nhất thể hóa” bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc kiểm soát quyền lực. Trong đó, cần đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và cán bộ theo hướng đồng bộ hóa các quy định của Nhà nước theo chủ trương, quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân. Tổ chức tốt việc thu thập và giải quyết đơn thư tố cáo hành vi tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là của cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là người đứng đầu. Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong phát hiện dấu hiệu tha hóa quyền lực để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp đối với việc phòng, chống tha hóa quyền lực, tham nhũng, tập trung thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành kiểm tra Đảng là kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm. Xử lý “công minh, chính xác, kịp thời”, đồng bộ, “không có vùng cấm, không có vùng trống, không có vùng trắng, không có ngoại lệ, không có nhân nhượng, không có điểm dừng” đối với những cán bộ, đảng viên, dù bất kể là ai, giữ cương vị gì có các hành vi tha hóa quyền lực, tham nhũng. Sáu là, tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm về phương thức cầm quyền và việc kiểm soát quyền lực với các đảng cầm quyền trên thế giới. Đảng phải chú trọng xây dựng bộ máy rất tinh gọn, không bao biện, làm thay chính quyền; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy tư tưởng dân chủ chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động của đảng; bảo đảm hoạt động cầm quyền và hiệu quả cầm quyền của đảng phản ánh lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuần tự thúc đẩy dân chủ trong các khâu bầu cử, ra quyết sách, quản lý và giám sát. Lấy phát triển dân chủ trong đảng để dẫn dắt dân chủ trong chính quyền và xã hội. Ngay từ những ngày đầu thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực. Trong bài “Sao cho được lòng dân” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 12-10-1945, với bút danh Chiến Thắng, Người đã viết: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng…”; “Người ta còn bửu môi nói đến bà “thủ trưởng” nọ bận quần áo chẽn, tóc cắt ngắn cưỡi ngựa đi rong khắp chỗ mà chẳng có việc gì, người ta còn thì thào chỉ trỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều”...