Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021

Nhận diện chiêu trò chống phá Quốc hội

 

CHỐNG DỊCH CẦN NGĂN CHĂN QUYẾT LIỆT HƠN NỮA NHẬP CẢNH TRÁI PHÉP

 Trong những ngày gần đây dịch bệnh bùng phát tại Việt Nam số ca lây nhiễm trong cộng đồng gia tăng có nhiều nguyên nhân, nhưng suy cho cùng nguyên nhân chính là không ngăn chặn kịp thời những kẻ vì lợi ích cá nhân lợi dụng kẽ hở tiếp tay cho nhập cảnh trái phép, mặc dù những kẻ đó biết là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình. Vì vậy mong mọi người không bao che, tố giác kịp thời để đưa những kẻ đó ra tòa trừng trị thích đáng.

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

Mỹ kêu gọi đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng vaccine trên toàn thế giới .

Chiến dịch tiêm chủng ngừa COVID-19 của thế giới cần phải được tăng tốc để đối phó với các biến chủng mới và Mỹ đang tìm cách để hỗ trợ công cuộc này nhiều hơn nữa. Ngày 6/5, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nhận định chiến dịch tiêm chủng ngừa COVID-19 của thế giới phải tăng tốc để đối phó với các biến chủng mới và Mỹ đang tìm cách để hỗ trợ công cuộc này nhiều hơn nữa. Theo phóng viên TTXVN tại Mỹ, phát biểu trong khuôn khổ chuyến thăm Ukraine, Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh rằng nếu thế giới không nỗ lực nhiều hơn nữa thì đến năm 2024, việc tiêm chủng cho toàn dân trên thế giới sẽ không thể hoàn tất. Hiện Mỹ đã cam kết chia sẻ khoảng 60 triệu liều vaccine AstraZeneca với các nước và ngày 5/5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng tuyên bố ủng hộ việc miễn trừ bản quyền trí tuệ đối với các loại vaccine ngừa COVID-19. Ngoại trưởng Blinken cũng cho rằng không có ai có thể hoàn toàn an toàn nếu thế giới không nỗ lực tiêm chủng được cho càng nhiều người càng tốt, đồng thời đề cập tới khả năng việc miễn trừ bản quyền sáng chế sẽ giúp tăng đáng kể việc sản xuất và phân phối vaccine cho người dân. Những động thái trên được đưa ra trong bối cảnh tình hình dịch bệnh ở Ấn Độ diễn ra nghiêm trọng với số ca mắc mới tại quốc gia Nam Á này chiếm tới 46% tổng số ca nhiễm mới trên toàn thế giới. Đáng lo ngại hơn, có nhiều dấu hiệu cho thấy đại dịch đang bùng phát rộng ở Nepal, Sri Lanka và các khu vực lân cận khác. Cũng liên quan đến vấn đề này, phát biểu trước Hạ viện Canada ngày 6/5, Bộ trưởng phụ trách thương mại quốc tế của Canada, bà Mary Ng, cho biết nước này sẽ tham gia các cuộc đàm phán của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) để xem xét việc từ bỏ các quy tắc được áp dụng trên quy mô toàn cầu nhằm bảo vệ bí mật thương mại đối với vaccine phòng COVID-19. Theo phóng viên TTXVN tại Ottawa, về lý thuyết, việc từ bỏ Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), sẽ giúp các nước đang phát triển nhập khẩu công nghệ, thiết bị và thành phần cần thiết để sản xuất vaccine của riêng mình một cách dễ dàng hơn. Bà Mary Ng nhấn mạnh Canada sẽ tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán để hướng tới miễn trừ bản quyền sáng chế đối với vaccine phòng COVID-19 trong khuôn khổ của hiệp định TRIPS của WTO. Trong khi đó, ngành dược phẩm Canada kiên quyết phản đối ý tưởng từ bỏ bản quyền trí tuệ, điều mà họ cho rằng sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn và sẽ làm suy yếu sự phát triển của các loại thuốc tiên tiến. Nhóm vận động hành lang có tên là Innovative Medicines Canada nhận định việc từ bỏ bản quyền trí tuệ sẽ tạo ra sự không chắc chắn và khó đoán định hơn liên quan đến quá trình sản xuất, chất lượng và sự sẵn có của vaccine phòng COVID-19. Theo trang thống kê Our World in Data, phần lớn trong số 624 triệu người đã được tiêm ít nhất một liều vaccine phòng COVID-19 sống ở các nước giàu có hơn./.

MƯU ĐỒ XẤU ĐẰNG SAU NHỮNG TỪ "TỰ DO", "ĐỘC LẬP"

Điều 10 Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như thế có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của công đoàn trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong đó, nhiệm vụ “đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” được đặt lên hàng đầu đối với tổ chức công đoàn. Thế nhưng, trong thời gian qua, một số tổ chức nước ngoài, một số cá nhân có quan điểm chống đối Đảng, Nhà nước ta đã phủ nhận hoàn toàn vai trò và những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Công đoàn Việt Nam gần 92 năm qua. Đặc biệt, là sau khi Bộ luật Lao động 2019 được thông qua, không ít tổ chức từ nước ngoài đã tài trợ tiền bạc, tán phát nhiều thông tin xuyên tạc để thúc đẩy việc thành lập cái gọi là các "công đoàn độc lập", hay "nghiệp đoàn độc lập", "nghiệp đoàn tự do", dưới chiêu bài là để bảo vệ quyền lợi cho công nhân, người lao động. Có tổ chức phản động đã lên kế hoạch các bước để thành lập "nghiệp đoàn độc lập". Mới đây, một trang tin nước ngoài đưa bài viết của “nhà quan sát hiện sống tại Đức” tuyên bố rất sai trái rằng: “Nghiệp đoàn” tự thân nó là phi chính trị, là đồng hành với người lao động”. Nghiệp đoàn phải độc lập với đảng chính trị cầm quyền, phải độc lập với nhà nước thì mới bảo vệ được quyền lợi cho người lao động. “Nhà quan sát” này cố ý quên rằng, Công đoàn Việt Nam vẫn là pháp nhân đang tồn tại độc lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là một đoàn thể chính trị và là tổ chức đại diện người lao động. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công đoàn, vì Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại Điều 4 đã quy định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo công đoàn, nhưng không làm thay hay can thiệp công đoàn mà luôn tôn trọng công đoàn, tạo điều kiện để công đoàn hoàn thành sứ mệnh. Độc lập với Nhà nước nhưng Công đoàn Việt Nam phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, phối hợp với Nhà nước để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động với tư cách là một bên trong quan hệ lao động ba bên (Nhà nước, giới sử dụng lao động, đại diện người lao động). Chính phủ cũng không làm thay hay can thiệp công đoàn, mà chỉ phối hợp để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn. Phải chăng “nhà quan sát” có dụng ý đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập” nhằm hình thành một lực lượng chính trị đối lập nhân danh dân chủ, nhân quyền và vì quyền lợi người lao động để không tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, chống phá cách mạng Việt Nam? Có thể thấy rằng, mưu đồ muốn thành lập “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” nói trên, đặt chúng ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chống lại cách mạng Việt Nam là hết sức nguy hiểm. Không một quốc gia nào chấp nhận một tổ chức hoạt động trên lãnh thổ nước mình mà lại không tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó!

KHÔNG CÓ CHUYỆN CÔNG ĐOÀN NÉ ĐẤU TRANH

Ý kiến cho rằng, công đoàn hiện nay "không còn đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động" là hết sức xằng bậy. Việc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của công nhân và người lao động được tổ chức công đoàn các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục, từ việc đấu tranh trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, đến tham gia và có tiếng nói mạnh mẽ ở Hội đồng tiền lương quốc gia cho tới những sự vụ thương lượng, đối thoại đấu tranh trực tiếp với người sử dụng lao động để đòi quyền lợi cho người lao động tại từng doanh nghiệp. Chúng tôi đã có mặt tại TP Bắc Ninh ngày 22-4-2021 để chứng kiến lễ ký kết Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc. Tham gia lễ ký có nhóm 7 doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc (ban đầu có 13 doanh nghiệp tham gia) đang hoạt động tại tỉnh Bắc Ninh, trong đó có các doanh nghiệp thuộc tổ hợp Samsung Việt Nam. Thỏa ước lao động tập thể này được ký kết sau thời gian dài thương lượng với nhiều phiên họp hết sức gay cấn, mang lại lợi ích cho khoảng 80.000 công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp nói trên. Thỏa ước lao động tập thể này có 19 điều, trong đó quy định cụ thể từ lương thử việc, các chế độ phúc lợi với người lao động, các hình thức trợ cấp, hỗ trợ người lao động với mức hơn hẳn so với các quy định cũ. Theo bà Nguyễn Thị Vân Hà, Chủ tịch Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Bắc Ninh, để ký được Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp này, LĐLĐ tỉnh đã phải kiên trì tiếp xúc, thương lượng, thuyết phục lãnh đạo các doanh nghiệp trong hơn một năm trời. “Đơn giản nhất như, để thuyết phục được 7 doanh nghiệp nói trên hỗ trợ tiền ăn ca chính lên tối thiểu 20.000 đồng/người là không hề dễ dàng, mặc dù phần lớn các doanh nghiệp đã hỗ trợ tiền ăn ca chính là 18.000 đồng/người. Bởi chi thêm 2000 đồng/người/bữa ăn cho hàng vạn lao động thì số tiền sẽ bị tăng lên rất lớn”, bà Nguyễn Thị Vân Hà chia sẻ. Ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, Tổng LĐLĐ Việt Nam rất khuyến khích LĐLĐ các tỉnh, thành phố ký kết với các doanh nghiệp các thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) nhóm doanh nghiệp như trên. Vì điều này sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho cả người lao động và doanh nghiệp như: Tạo mặt sàn cơ bản về lợi ích nhưng xu hướng chung là người lao động được hưởng các chế độ phúc lợi theo quy định của doanh nghiệp tốt nhất trong nhóm. Doanh nghiệp sẽ tránh được nguy cơ dịch chuyển lao động, ổn định được sản xuất. Trong giai đoạn 2018-2020 của nhiệm kỳ Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, các cấp công đoàn đã ký mới được 6.113 bản TƯLĐTT doanh nghiệp, gấp 4,6 lần so với cả nhiệm kỳ Đại hội XI, nâng tổng số TƯLĐTT đã ký kết lên 34.989 bản. Nội dung của các bản thỏa ước tập trung vào những cam kết thiết thực, có lợi hơn cho người lao động như vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, bảo đảm việc làm, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, thực hiện chính sách bình đẳng giới... Cùng với đó, theo Tổng LĐLĐ Việt Nam, trong giai đoạn 2018-2020, các cấp công đoàn đã chủ động, tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn. Tổng Liên đoàn đã có hơn 300 văn bản tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật về quyền lợi của người lao động. Nếu công đoàn không đấu tranh cho người lao động thì làm sao có Bộ luật Lao động 2019 với nhiều điểm rất có lợi cho người lao động, mà để đạt được điều đó đại diện công đoàn đã nhiều lần phát biểu rất mạnh mẽ, thấu tình, đạt lý để góp ý cho dự thảo Bộ luật. Theo đó, trong Bộ luật Lao động 2019, khung giờ làm thêm được giữ nguyên như quy định hiện hành là 300 giờ/năm, để bảo đảm sức khỏe và đời sống của người lao động, mặc dù trước đó ý kiến của các doanh nghiệp muốn tăng giờ làm thêm lên tối đa tới 400 giờ/năm, thậm chí có hiệp hội đề nghị tăng lên 600 giờ/năm. Đồng thời, cũng trong bộ luật này, người lao động sẽ có thêm một ngày nghỉ lễ nữa trong dịp Quốc khách 2-9 hằng năm. Cuộc đấu tranh của công đoàn nhằm giảm giờ làm chính thức cho người lao động tuy chưa được chính thức hóa thành quy định của bộ luật nhưng với kiến nghị quyết liệt, mạnh mẽ từ phía Tổng Liên đoàn, Quốc hội đã đưa vào Nghị quyết kỳ họp, yêu cầu “Căn cứ tình hình phát triển kinh tế-xã hội, nghiên cứu đề xuất giảm giờ làm việc bình thường đối với người lao động thấp hơn 48 giờ/tuần và báo cáo Quốc hội vào thời điểm thích hợp”. Nếu công đoàn không đấu tranh, bảo vệ quyền lợi cho người lao động thì liệu lương tối thiểu vùng có được tăng đều đặn các năm, để trong giai đoạn 2015-2020 đã tăng 51,4%? Trong các phiên họp của Hội đồng tiền lương quốc gia, các thành viên từ Công đoàn Việt Nam đã rất quyết liệt, kiên trì, đưa ra nhiều lập luận mang tính thuyết phục cao, đôi khi là những tranh luận gay gắt với giới sử dụng lao động, khi mà nhiều thành viên khăng khăng với việc không tăng lương, để rồi sau đó hằng năm lương tối thiểu đều tăng từ 5,3% đến 14%, góp phần cải thiện đời sống công đoàn viên, người lao động, thu hẹp khoảng cách giữa tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu.

Xác định các giải pháp trọng tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới .

Để xác định đúng và trúng các giải pháp trọng tâm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, cần thiết phải xác định chính xác những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện giải pháp. . Tiếp tục phát triển các quan điểm của Đảng về cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, kế thừa, phát triển các quan điểm của Đảng ghi trong Nghị quyết số 35 - NQ/TW, ngày 28/11/2018 của Bộ Chính trị, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục khẳng định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Để xác định đúng và trúng các giải pháp trọng tâm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị,cần thiết phải xác định chính xác những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện giải pháp. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có “mục đích kép”, đó là: 1) Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự toàn vẹn, thống nhất của quốc gia dân tộc. 2) Đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, các phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất. Hai mục đích này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa “xây” và “chống”, thể hiện quy luật tồn tại và phát triển của hệ tư tưởng XHCN. Mục đích bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ đạt đượckhi chúng ta kiên định nền tảng tư tưởng đã xác định, phát triển và vận dụng sáng tạo, thực hiện thành công nền tảng tư tưởng đó trong thực tiễn cách mạng; đồng thời, khi chúng ta thực hiện thành công cuộc đấu tranh phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, cũng như âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng, xuyên tạc, bịa đặt tình hình đất nước. Không thể nói rằng công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tách rời, độc lập với cuộc đấu tranh phản bác, phê phán quan điểm sai trái, thù địch. Không thể cho rằng “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, sự hiện diện của quan điểm sai trái, thù địch là “báo động giả” như quan niệm mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác của một số người nào đó. Ngược lại, cũng không thể phiến diện, cực đoan, tả khuynh cho rằng đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch là mục đích tối thượng của cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta hiện nay. Bản chất, nội dung của cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa là xây dựng chế độ XHCN, trong đó có xây dựng kiến trúc thượng tầng XHCN về mặt hình thái ý thức, là làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta trở thành nhân tố chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội. Cuộc cách mạng XHCN trong lĩnh vực tư tưởng - văn hóa có mục đích phát triển, sáng tạo, hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.Trong quá trình này, việc phủ định, đấu tranh phản bác các quan điểm trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật là quy luật phát triển của chính chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, chính sách, pháp luật.Chính vì vậy, trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc xác định các phương hướng, nhiệm vụ, quan điểm, giải pháp cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo kết hợp giữa “xây”và “chống”, trong “xây” có “chống”, trong “chống”có “xây”, “xây” để “chống”, “chống” để “xây” và “xây” là mục đích cao nhất. Mặt khác, công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch có “đối tượng kép”. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có đối tượng khác với đấu tranh phê phán, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch chỉ rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đây là chỉ dẫn cô đọng về đối tượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Còn trong cuộc đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch - một phương diện của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - đối tượng đấu tranh, phản bác, phê phán gồm: Chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch trong các nước tư bản chủ nghĩa, giới nghiên cứu lý luận phục vụ chính giới của các nước này; các phần tử phản động chống đối Đảng, chống đối chế độ, người Việt Nam lưu vong ở nước ngoài có hận thù với cách mạng Việt Nam; các phần tử cơ hội, một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân trong đó có một số nhà văn, nhà báo, trí thức, văn nghệ sĩ có nhận thức sai lệch về chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình đất nước hiện nay cũng như lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng. Rõ ràng, mỗi đối tượng tác động của hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có mục đích khác nhau, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay trong nhận thức cũng như trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ “bảo vệ” và “đấu tranh”, có lúc, có nơi,chúng ta chưa phân biệt tường minh các nhóm đối tượng khác nhau, chưa có phương pháp, nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh, xử lý khác nhau, phù hợp. Do đó, phương pháp, nhiệm vụ, giải pháp chưa có những đặc thù phù hợp các nhóm đối tượng đặc thù, tương ứng với mục tiêu đặt ra trong các nhóm đối tượng ấy. Chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, của chủ nghĩa đế quốc có mầm mống từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà chủ nghĩa đế quốc thừa nhận rằng đòn tiến công quân sự không thể tiêu diệt được các nước XHCN. Họ nhận thấy rằng,có thể thực hiện một cuộc tấn công hòa bình ngay trong lòng chủ nghĩa xã hội (CNXH)để làm sụp đổ các nước XHCN. Chính vì vậy, chủ nghĩa đế quốc đã nâng “diễn biến hòa bình” từ biện pháp hỗ trợ bổ sung cho hành động quân sự thành chiến lược toàn diện chống CNXH với mục tiêu là thủ tiêu CNXH hiện thực, xóa bỏ các nước XHCN. Để thực hiện mục tiêu này, họ xây dựng một lộ trình gồm các bước, các giai đoạn hết sức cụ thể để đến cuối thế kỷ XX, “chiến thắng không cần chiến tranh”. Trước đây, nhằm mục tiêu xóa bỏ CNXH hiện thực ở Liên Xô, các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây đã thực hiện lộ trình để từng bước làm tan rã về tư tưởng và tổ chức, về đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cụ thể là đã sử dụng “tam đoạn thức siêu vi trùng”với ba bước cơ bản: sửa chữa những sai lầm trong quá khứ; làm gay gắt thêm những sai lầm đó; cuối cùng là phá hoại. Kết quả là cuối năm 1991, Góoc - ba - chốp tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô, giải tán Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết. Ở nước ta hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang thực hiện giai đoạn thâm nhập với những bước cụ thể như: 1) Thông qua các quan hệ hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo,…tăng cường lôi kéo, mua chuộc đội ngũ cán bộ chủ chốt.Thủ đoạn này được gọi là “làm xanh hóa những cái đầu đỏ”. 2) Triển khai hoạt động hỗ trợ giáo dục - đào tạo trên diện rộng, trên nhiều lĩnh vực nhằm tạo ra một lớp người “thân” phương Tây, sùng bái chủ nghĩa tư bản, lớp người này dần dần thay thế lớp cán bộ mà phương Tây cho là “bảo thủ” ở Việt Nam. 3) Ra sức truyền bá tư tưởng, lối sống, văn hóa tư sản, đề cao chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, tạo ra một thế hệ mới lai căng, mất gốc, đua đòi, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc… Có thể nói, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động xây dựng chiến lược và có lộ trình cụ thể để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nước ta. Trước đây, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta,đứng đầu là Chủ tịch Hồ ChíMinh đã xây dựng đường lối chiến lược, sách lược, cụ thể hóa đường lối chiến lược thành các chính sách cụ thể, các bước, các giai đoạn và chỉ đạo việc thực hiện nghệ thuật biết giành thắng lợi từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc rằng,đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng là một tất yếu, một quy luật sinh tồn. Do đó, Đảng ta đã có nhiều quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, văn bản và tổ chức thực hiện vấn đề cốt yếu, sinh tử này. Ngay trong thời kỳ 1930-1945, Đảng ta đã tiến hành đấu tranh với các phần tử Tờrốtski trong Đảng thông qua tác phẩm “Tờrốtski và phản cách mạng” của Hà Huy Tập, “Tự chỉ trích” của Nguyễn Văn Cừ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1945-1975), trong điều kiện chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại âm mưu chống lại chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Đảng ta đã kiên trì bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê nin. Tháng 12/1963, Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa IIIvề“Tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng” để khẳng định lập trường kiên định và kiên quyết bảo vệ sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin.Từ năm 1986 đến nay, Đảng ta có nhiều văn bản nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch như: Nghị quyết Trung ương 7 khóa VI về "Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”, Nghị quyết 01 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về “Công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”; Nghị quyết 09 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về “Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”; Nghị quyếtTrung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gần đây nhất là Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phê phán quan điểm sai trái, thù địch”. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa các nghị quyết trên thành chiến lược đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì chưa được quan tâm xây dựng sớm và tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, trong nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, của các nhà nghiên cứu lý luận, các giải pháp đưa ra thiên về những vấn đề cụ thể trước mắt, dù đó là vấn đề cụ thể trước mắt cấp thiết, mà chưa có tính chiến lược, lâu dài để định hướng nhận thức và hành động, tầm nhìn trong thời gian dài, có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng không chỉ cho giai đoạn trước mắt mà còn cho lộ trình dài hơi, trong khoảng thời gian một vài thập kỷ. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị có nội dung rất toàn diện, từ bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đến bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, từ bảo vệ Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo vệ Nhân dân đến bảo vệ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc đến bảo vệ công cuộc hội nhập quốc tế, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, từ bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Ch Minh, đường lối, chính sách, pháp luật đến việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, các quan điểm xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, của các phần tử cực đoan, cơ hội, thoái hóa, biến chất… Chỉ riêng việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã bao hàm một hệ thống toàn diện các vấn đề: từ các vấn đề lý luận đến các vấn đề phương pháp luận; từ các vấn đề lý luận triết học đến các vấn đề lý luận kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học; từ các vấn đề nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin như học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư và học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản đến nhiều vấn đề khác, hệ trọng liên quan trực tiếp đến đường lối, chính sách, pháp luật như lý luận về đấu tranh giai cấp, về nhà nước và cách mạng XHCN, lý luận về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, lý luận về thời kỳ quá độ, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Có thể nói, tính toàn diện của nội dung bảo vệ nền tảng của Đảng không chỉ do tính hệ thống, toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Ch Minh, đường lối, chính sách, pháp luật, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN… mà còn do kẻ thù tư tưởng triển khaiđồng bộ, tấn công toàn diện vào mọi nội dung cốt lõi của hệ tư tưởng cách mạng mà Đảng ta đã lựa chọn và vào mọi khía cạnh của sự nghiệp cách mạng, từ lý luận dến thực tiễn, từ hiện tại đến quá khứ và tương lai... Chính vì vậy, việc triển khai các nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đòi hỏi các chủ thể phải triển khai toàn diện nhiều nội dung. Mỗi nội dung cũng cần triển khai công tác bảo vệ và đấu tranh bằng nhiều hình thức, phương pháp, nhiều phương tiện một cách đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, có tính đột phá. Mỗi quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, bịa đặt cần được phê phán bởi nhiều lực lượng, dưới nhiều hình thức, bằng nhiều phương tiện: hoạt động tuyên truyền miệng,các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, trong sinh hoạt, hội họp của các tổ chức,các buổi thuyết trình trước một nhóm đối tượng công chúng; từ những tác động vận động, thuyết phục mang tính cá nhân đến những tác động mang tính tập thể và cộng đồng; từ công khai đến nội bộ… Ngoài ra, trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch cần xác định nội dung trọng tâm, đề xuất được các giải pháp mang tính đột phá đối với nội dung đó, phù hợp với tình hình, đặc điểm thời điểm tiến hành các hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Có thể khẳng định, nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng rất toàn diện, nhiều mặt, nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, trên các diễn đàn, trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, còn thiếu vắng những công trình khoa học lớn có nội dung nghiên cứu rộng, đầy đủ, phản bác toàn diện các quan điểm sai trái, các quan điểm xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất.Cần nghiên cứu đầy đủ hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn, đề xuất kiến nghị khả thi hơn và triển khai thực hiện sâu rộng hơn, đồng bộ hơn, hiệu quả hơn đối với công việc hệ trọng này. Trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có một vấn đề khá nhạy cảm, liên quan đến khả năng “tự bảo vệ” của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Trong suốt quá trình cách mạng cũng như trong sự nghiệp đổi mới đất nước, chúng ta nhận thức rõ rằng, cần kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phát triển, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, coi đó là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới thành công. Đồng thời, bước vào giai đoạn đổi mới đất nước, chúng ta đã nhận ra rằng, trong chủ nghĩa Mác-Lênin những nguyên lý lý luận và phương pháp luận nền tảng vẫn còn nguyên giá trị phổ quát. Nhưng trong chủ nghĩa Mác-Lênin,cũng có những luận điểm, quan điểm đã bị thực tiễn vượt qua và có những luận điểm, quan điểm chưa đượcnhận thức đúng và vận dụng sai trong thực tiễn. Một sốnhững luận điểm, quan điểm bị lịch sử vượt qua nhưng chưa được nghiên cứu bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Chính những vấn đề lý luận bị vận dụng sai, kể cả trong quá khứ và hiện tại, đang bị kẻ thù tư tưởng lợi dụng để xuyên tạc, bịa đặt, bài xích, phủ nhận một cách ngang nhiên, thẳng thừng toàn bộ hệ tư tưởng và toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Bên cạnhđó, trong chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng còn một số bất cập, quá trình tổ chức thực hiện còn nhiều lệch lạc. Một số vấn đề trong quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật bị vận dụng lệch lạc, bị tổ chức thực hiện sai hoặc do trình độ, năng lực yếu kém của cán bộ, hoặc do chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm thao túng, do động cơ tham nhũng chi phối. Đây chính là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch ra sức quy chụp, tha hồ bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận trắng trợn hệ tư tưởng của Đảng ta, cũng như những thành tựu được xây đắp bởi công sức, trí tuệ, xương máu, tính mạng của đồng bào, chiến sĩ ta. Đây cũng là một vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thời gian tới.

CẦN CÓ CHIẾN THUẬT, NGHỆ THUẬT ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN, PHẢN BÁC

Để đạt được âm mưu phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật, những thành tựu của cách mạng nước ta, các thế lực thù địch thường xây dựng, phát triển và cấu kết các lực lượng trong - ngoài với những thành phần sau: 1) Các thế lực đế quốc, phản động quốc tế, các tổ chức phản động của người Việt lưu vong. Các tổ chức này có tôn chỉ, mục đích khác nhau, có thể thay đổi để thích ứng với tình hình hoạt động. Nổi bật lên trong các hoạt động phá hoại của họ là phát triển, mở rộng lực lượng, tăng cường hoạt động móc nối (trong nước và nước ngoài), vận động tài trợ tiền bạc, phương tiện, huấn luyện cách thức chống đối, phá hoại, tuyên truyền xuyên tạc tình hình trong nước, nói xấu một số đồng chílãnh đạo cao cấp của Đảng, thực hiện chống phá trong nước trên lĩnh vực “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo, kích động đa nguyên ch nh trị, đa đảng đối lập… 2) Các tổ chức và cá nhân chống đối trong nước, như các tổ chức: “Nhà nước Đề ga”, “Tin lành Đề ga”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, “Tăng đoàn Thừa Thiên Huế”,…. Các tổ chức và cá nhân được các thế lực thù địch tài trợ về mặt tài chính, phương tiện kỹ thuật, được tư vấn về thủ đoạn thường lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, lợi dụng những sơ hở của ta để mua chuộc, lôi kéo, kích động, tụ tập đông người, tạo cớ, gây sức ép với chính quyền, gây tổn hại đến sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng, Nhà nước ta… 3) Các đối tượng cơ hội chính trị, các phần tử chống đối, những người suy thoái, biến chất, “trở cờ” trong nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị nước ta. Lực lượng này rất dễ bị lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo trở thành công cụ đắc lực của các lực lượng đã kể trên. Trong lực lượng này, bên cạnh việc sử dụng các đòn chiến tranh tâm lý theo diện rộng, các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động, lôi kéo những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cơ hội, hữu khuynh, cực đoan, quá khích. Về phương thức, thủ đoạn: nếu như về mặt tổ chức lực lượng họ triển khai rộng rãi, phối hợp khá chặt chẽ, đồng bộ trong - ngoài, thì về mặt phương thức, thủ đoạn chúng sử dụng nhiều đòn thâm sâu, hiểm độc, đầy đủ các phương tiện tác động tư tưởng cả truyền thống và hiện đại, được thay đổi thường xuyên, liên tục. Rõ ràng, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ này, giải pháp xây dựng lực lượng phải rộng khắp hơn nữa, giải pháp phối hợp lực lượng phải chặt chẽ, đồng bộ hơn. Đặc biệt, phải xây dựng lực lượng có tính toàn dân rộng rãi bởi vì chỉ khi toàn dân tham gia và được lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, được tổ chức chặt chẽ thì sẽ trở thành sức mạnh vô địch. Đồng thời, phải đổi mới phương thức đấu tranh. Trong việc xác định phương thức, phương pháp đấu tranh, cần nhận thức rõ ràng rằng, trong cuộc đấu tranh này, dùng “kỹ thuật” mang tính cá nhân, tác chiến kiểu “đơn phương độc mã”, rời rạc, đơn lẻ, thời vụ thì rất khó giành chiến thắng. Phải dùng chiến thuật linh hoạt, phối hợp và tổ chức lực lượng rộng rãi có tính tập thể, cộng đồng, khoa học, chi tiết, tỉ mỉ, khéo léo, đôi khi phải đạt tới trình độ nghệ thuật như:nghệ thuật biết thắng từng bước, nghệ thuật chọn thời cơ, nghệ thuật chiến tranh nhân dân… mà Đảng ta tổng kết từ hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Vận động những nhà hoạt động xã hội, nhà khoa học nổi tiếng, các nhân sĩ tríthức uy tín trên thế giới có thiện cảm với Việt Nam tham gia ủng hộ sự nghiệp của chúng ta. Đồng thời, phải đa dạng hóa các hình thức, phương pháp đấu tranh trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của nước ta và các nước XHCN trong cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp này. Đặc biệt là phải triệt để sử dụng có hiệu quả mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Việc sử dụng phương tiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có một vấn đề đặt ra là: các sản phẩm truyền thông của chúng ta nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch chủ yếu được tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện truyền thống như trong các lớp học, trên diễn đàn của các hội nghị, hội thảo, trong các hội nghị báo cáo viên hoặc qua sách, báo in, tạp chí in được chuyền tải qua sách điện tử, báo mạng điện tử, báo in, tạp chí xuất bản trên mạng. Theo thống kê năm 2019, Việt Nam có 64 triệu người (chiếm 66% dân số) có sử dụng mạng Internet; 94% người sử dụng mạng Internet có sử dụng hàng ngày và thời gian trung bình cho các hoạt động liên quan đến Internet là 6 giờ 42 phút. Việt Nam còn có 143,3 triệu thuê bao điện thoại (bằng 148% dân số), phần lớn,trong số này sử dụng điện thoại thông minh. Đồng thời, hiện nay, số người có thói quen đọc báo, đọc sách, tạp chí hàng ngày càng ít đi. Chỉ số phát hành tạp chí giấy, báo giấy giảm đi nhanh chóng. Nhiều tờ nhật báo trước đây 15-20 năm, thường phát hành 30 vạn bản một số, nay chỉ còn 3 vạn bản một số, tức là số lượng phát hành chỉ còn một phần mười so với trước. Một viễn cảnh mới được dự đoán, rằng sẽ có rất ít hoặc thậm chí không còn người quan tâm đến việc đọc báo, tạp chí giấy nữa. Tất nhiên, tạp chí giấy, báo giấy chưa thể biến mất khỏi làng truyền thông trong ngày một,ngày hai nhưng tương lai ít người đọc chúng là khó tránh.

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, TẠO ĐỘNG LỰC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NÒNG CỐT

Công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ. Là cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử nên cuộc đấu tranh giai cấp này diễn ra rất khó khăn, lâu dài, phức tạp, quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh này,giai cấp tư sản quốc tếsử dụng toàn bộ hệ thống chính trị, giới chuyên gia lý luận, mọi phương tiện truyền thông hiệu quả nhất, hiện đại nhất, xây dựng lực lượng những người tham gia tinh nhuệ, được đào tạo bài bản, được vũ trang về tư tưởng và phương tiện sắc bén nhất. Họ còn áp dụng những thành tựu khoa học mới nhất, nhất là các lý thuyết truyền thông hiện đại, các nghiên cứu về tâm lý học để thao túng ý thức công chúng. Các sáng tạo, phát minh công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ viễn thông được họ phát minh và áp dụng rất hiệu quả, hiệu nghiệm trong cuộc đấu tranh này. Để đảm bảo giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có trình độ hiểu biết, có năng lực chuyên môn phù hợp, có sự nhạy bén chính trị cao và bản lĩnh chính trị vững vàng, có nhiệt tình và quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đội ngũ chuyên gia, cố vấn trong lĩnh vực này là những người có kiến thức chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực, hiểu biết sâu sắc và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, chính sách, pháp luật, kỹ thuật, công nghệ, các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu và phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Tuy nhiên, trong đội ngũ cán bộ nòng cốt này còn một bộ phận nhỏ có năng lực, hiểu biết hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới. Đó là, hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật có thể mang tính chuyên sâu nhưng thiếu tính hệ thống, tính cập nhật. Kiến thức một số lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn -những lĩnh vực khoa học trực tiếp làm tiền đề khoa học và tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như cho sự phát triển,hoàn thiện không ngừng chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới, còn chưa đủ rộng và sâu. Kiến thức, kỹ năng vận dụng logic học, tâm lý học trong việc phản bác quan điểm sai trái, thù địch còn bất cập. Một số cán bộ chuyên gia lớn tuổi tuy kiến thức uyên thâm, kinh nghiệm nhiều, giàu nhiệt huyết nhưng trình độ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, các phương tiện truyền thông mới rất hạn chế…Những nguyên nhân này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tham gia tác chiến trên không gian mạng. Đối diện với kẻ thù tư tưởng được tổ chức khá chu đáo, được trang bị vũ khílý luận và tư tưởng, khoa học công nghệ và phương tiện hiện đại, có âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, cần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có trình độ hiểu biết sâu sắc đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật. Có trình độ, hiểu biết đối với khoa học công nghệ áp dụng trong lĩnh vực truyền thông như công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, công nghệ số, về cách mạng 4.0; các kiến thức về tâm lý học truyền thông và lý thuyết truyền thông hiện đại; các kiến thức về quản trị mạng và xử lý khủng hoảng truyền thông; các kiến thức về pháp luật Việt Nam và quốc tế; các kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù của quân đội, công an và ngành thông tin truyền thông… Cần tạo lập cơ chế, chính sách tạo động lực để đội ngũ cán bộ nòng cốt nhiệt tình, tận tâm công tác, xây dựng quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ của cuộc đấu tranh. Hiện tại, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng lực lượng và tổ chức bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, tác chiến trên lĩnh vực này, đã ban hành các văn bản bảo đảm chế độ, chính sách cho những người tham gia.

HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TOÀN DIỆN, HIỆU QUẢ

Trong số các phương tiện truyền tải thông tin, quan điểm sai trái, thù địch (gồm phương tiện truyền thông cá nhân, phương tiện truyền thông nhóm, phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống và phương tiện truyền thông mới), kẻ thù tư tưởng lựa chọn mạng xã hội như một công cụ phổ biến nhất và hữu hiệu nhất để tác chiến. Với ưu thế tác động nhanh, trên diện rộng, có sự tương tác đa chiều, mạng xã hội có thể truyền bá, phát tán một khối lượng thông tin khổng lồ đến mọi đối tượng cần tác động bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức mà các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội để phá hoại cách mạng nước ta về hệ tư tưởng, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, các nhà khoa học, các cán bộ thực tiễn cũng đề xuất nhiều giải pháp về công nghệ như: tăng cường hoạt động quản lý, giám sát đối với các trang mạng xã hội, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật lọc bỏ, gỡ bỏ hoặc ngăn chặn có hiệu quả việc truy cập vào các trang mạng độc hại. Tích cực, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, nắm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn, mạng xã hội, xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn truy cập có thời hạn vào các trang mạng độc hại trong một thời gian nhất định. Đồng thời, chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, áp dụng các giải pháp tiến bộ khoa học, công nghệ để ngăn chặn triệt để, lọc bỏ, gỡ bỏ các tin tức xấu, độc trên các trang mạng. Vấn đề này cần trở thành những đề xuất giải pháp công nghệ tíchcực nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các mũi tấn công tư tưởng thâm sâu của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, các giải pháp công nghệ trên đâythường gặp rào cản từ phía luật pháp quốc tế, luật pháp của nước ngoài và sự phản ứng từ phía nhà cung cấp dịch vụ, sự chống đối của các thế lực thù địch, các phần tử cực đoan, hoặc rào cản, khó khăn về kỹ thuật, công nghệ. Mặt khác, các thế lực thù địch vốn nắm giữ các phát minh, sáng chế về công nghệ nhất là công nghệ thông tin, công nghệ số đã có những hình thức, biện pháp công nghệ tinh vi, xảo quyết. Ví dụ, chúng lợi dụng chức năng quay phim và đăng tải trực tuyến trên mạng xã hội facebook, youtube để tường thuật trực tiếp sự việc, chuẩn bị sẵn lực lượng ở nhà để tiếp nhận video. Điều này đòi hỏi, cần phải xây dựng nội lực về công nghệ, về an ninh mạng thông qua việc trang bị phương tiện kỹ thuật và đào tạo cơ bản, chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ sử dụng công nghệ tận tâm, tận lực cuộc đấu tranh này. Song song với đó, tính chất, bối cảnh của mặt trận đấu tranh bằng biện pháp công nghệ đòi hỏi chúng ta phải có những nỗ lực lớn hơn, toàn diện hơn trong hợp tác quốc tế nhằm đảm bảo an ninh quốc gia về mặt thông tin, tư tưởng.Vấn đề hợp tác quốc tế trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch cần được triển khai trên phạm vi rộng hơn, với nhiều đối tác, bằng nhiều nội dung phong phú hơn, hình thức đa dạng hơn như: trong các nước tương đồng về thể chế chính trị; trong phạm vi khu vực, trên diễn đàn mang tính toàn cầu; thông qua các cuộc hội nghị, hội thảo, diễn đàn song phương, đa phương, ở cấp độ chính phủ và doanh nghiệp, giữa Chính phủ Việt Nam và các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nước ngoài…Ngoài ra, cần tăng cường vận động, thuyết phục cá nhân các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội có uy tín, các nhân sĩ trí thức trên thế giới có thiện cảm với Việt Nam, vận động hành lang các nghị sĩ, các chính khách nước ngoài tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động truyền thông, vận động ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, bảo vệ, minh chứng cho tính khoa học, cách mạng, tiến bộ, nhân văn, nhân đạo của hệ tư tưởng cách mạng của Việt Nam. Tựu trung lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần tiến hành đồng bộ hệ thống giải pháp trọng tâm sauđây: Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự tham gia của toàn dân thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội -nghề nghiệp. Thứ hai, tiếp tục phát triển, vận dụng sáng tạo, truyền bá sâu rộng, bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đồng thời thiết kế phương thức triển khai các nội dung đấu tranh phản bác trực diện quan điểm sai trái, thù địch một cách kịp thời, hiệu quả, toàn diện và có trọng tâm. Thứ ba, đa dạng hóa phương thức xây dựng, phát triển, tổ chức, phối hợp các chủ thể, các lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Thứ tư, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ, phát triển, mở rộng lực lượng chuyên trách, kiện toàn và đổi mới hoạt động của Ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành, nhất là ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thứ năm, coi trọng phát triển các nền tảng công nghệ, mạng xã hội, nhất là các mạng xã hội nội địa, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hiện đại cho công cuộc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị.

Liên hợp quốc cảnh báo khủng hoảng lương thực trầm trọng tại khu vực Trung Mỹ .

Tại Guatemala, chỉ từ tháng 11/2020 đến nay, hơn 3,7 triệu người đã rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng, trong đó 428.000 người cần phải cứu trợ khẩn cấp. Liên hợp quốc (LHQ), Liên minh châu Âu (EU) và một số tổ chức nhân đạo quốc tế cảnh báo cuộc khủng hoảng lương thực tại khu vực Trung Mỹ đã trở lên trầm trọng hơn, đặc biệt tại Guatemala và Honduras, khi số người rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng trong năm 2020 đã tăng lên 11,8 triệu người, tăng hơn 3,7 triệu so với năm 2019. Theo phóng viên TTXVN tại Trung Mỹ, trong báo cáo “Khủng hoảng Lương thực Toàn cầu 2021”, các tổ chức đa phương đã chỉ ra rằng hiện tượng biến đổi khí hậu, những cơn bão mạnh và tác động của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất an ninh lương thực. Tại Guatemala, chỉ từ tháng 11/2020 đến nay, hơn 3,7 triệu người đã rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng, trong đó 428.000 người cần phải cứu trợ khẩn cấp. Sự tàn phá của các cơn bão mạnh Eta và Iota vào tháng 11 năm ngoái đã làm trầm trọng thêm tình trạng đói nghèo tại quốc gia này. Trong khi đó, tính đến cuối năm ngoái, Honduras có gần 3 triệu người ở tình trạng mất an ninh lương thực, trong đó có hơn 600.000 người trong tình trạng khẩn cấp về thiếu ăn. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, các hộ gia đình nông thôn ở các quốc gia thuộc Vành đai khô hạn ở Trung Mỹ, gồm El Salvador, Guatemala, Honduras và Nicaragua, chịu tác động nặng nề nhất khi các trận hạn hán năm 2019 và mùa bão năm 2020 ảnh hưởng đến thu nhập và mùa màng. Trước tình trạng này, Liên hợp quốc kêu gọi chính phủ các nước trong khu vực và các tổ chức lương thực và nhân đạo quốc tế cần hành động ngay để ngăn chặn cuộc khủng hoảng biến thành đại dịch đói./.

Huyện đảo Trường Sa sẽ tổ chức bầu cử sớm tại 20 khu vực bỏ phiếu

Sau khi kiểm tra, giám sát công tác chuẩn bị bầu cử tại tỉnh Khánh Hòa, ngày 7/5, tại thành phố Nha Trang, Đoàn giám sát, kiểm tra công tác bầu cử của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia do Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Phó Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh, Ủy ban bầu cử tỉnh Khánh Hòa. Tại buổi làm việc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Tấn Tuân đã báo cáo với đoàn công tác về tình hình triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 của tỉnh. Theo đó, Ủy ban bầu cử tỉnh Khánh Hòa đã kịp thời tham mưu, triển khai đồng bộ và có hiệu quả các văn bản hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan trung ương liên quan đến công tác triển khai chuẩn bị tổ chức bầu cử. Việc tổ chức các hội nghị hiệp thương, thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, lập và niêm yết danh sách cử tri, danh sách những người ứng cử ở đơn vị bầu cử; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về công tác bầu cử; công tác tuyên truyền, chuẩn bị cơ sở vật chất… đều được triển khai theo đúng quy trình, tiến độ luật định, đồng bộ, thống nhất và chặt chẽ. Tỉnh Khánh Hòa có 13 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV (trong đó có 3 người được Trung ương giới thiệu), để bầu 7 đại biểu; 84 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, để bầu 52 đại biểu; 479 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, để bầu 290 đại biểu; 5.387 người được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã (trong đó có 10 trường hợp tự ứng cử) để bầu 3.211 đại biểu. Theo số liệu thống kê, tỉnh Khánh Hòa có tổng số trên 977 nghìn cử tri. Tỉnh đang triển khai tổ chức cho người ứng cử tiếp xúc, gặp gỡ cử tri và thực hiện quyền vận động bầu cử. Đối với huyện đảo Trường Sa, Hội đồng bầu cử quốc gia đã đồng ý cho phép tỉnh Khánh Hòa tổ chức bầu cử sớm tại 20 khu vực bỏ phiếu ở các điểm đảo thuộc thị trấn Trường Sa, xã Sinh Tồn, xã Song Tử Tây vào ngày 16/5. Riêng khu vực bỏ phiếu thuộc đảo Trường Sa Lớn, thị trấn Trường Sa và 3 khu vực bỏ phiếu còn lại thuộc huyện Trường Sa nằm trên đất liền vẫn tiến hành bầu cử theo đúng thời gian quy định là ngày 23/5. Phát biểu tại buổi làm việc, Đại tướng Đỗ Bá Tỵ đã ghi nhận và biểu dương những kết quả tỉnh Khánh Hòa đã đạt được trong công tác chuẩn bị cho ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, cơ bản bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, đáp ứng các yêu cầu đặt ra tại địa phương. Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, thời gian đến ngày bầu cử không còn nhiều, Khánh Hòa cần triển khai đồng bộ các phần việc còn lại để đảm bảo kịp thời, toàn diện cho công tác bầu cử. Tỉnh cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo trên cơ sở quán triệt các chỉ thị của Trung ương về công tác bầu cử, đảm bảo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, an toàn và đúng pháp luật; quy trình bầu cử đảm bảo chặt chẽ, thống nhất. Đồng thời Khánh Hòa cần chú trọng hơn nữa công tác phòng, chống dịch COVID-19, không được lơ là, chủ quan; tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, vận động cử tri đi bỏ phiếu, chuẩn bị tốt cơ sở vật chất cho các điểm bỏ phiếu; nêu cao tinh thần cảnh giác, nắm chắc tình hình, không để bất ngờ trong mọi tình huống, bằng mọi giá phải giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khoảng thời gian trước, trong và sau ngày bầu cử.

BẢO ĐẢM QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP CÓ CƠ CẤU HỢP LÝ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC BẦU CỬ CỦA NƯỚC TA BẢO ĐẢM Ý CHÍ CỦA NHÂN DÂN VÀ PHÙ HỢP VỚI XU HƯỚNG TIẾN BỘ XÃ HỘI

Họ cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng. Thậm chí, có đối tượng còn đói xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản chủ nghĩa. Bản chất Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta khác với các nước tư bản chủ nghĩa. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Khoản 1, Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”. Chính vì thế trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần có cơ cấu hợp lý, đại diện cho các giai tầng trong xã hội, có ­người ngoài Đảng, nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tỷ lệ này là tỷ lệ đã được đặt ra từ các cuộc bầu cử trước đây và cố gắng phấn đấu đạt tỷ lệ ấy. Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: Cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội. Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

MỌI CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỀU CÓ QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Ngay trong bản Hiến pháp năm 1946, Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định rõ quyền bầu cử và ứng cử. Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Trên thực tế, kể từ khi tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội khóa I (06/01/1946) đến nay, mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện đều có quyền bầu cử và ứng cử và thực hiện dân hiện dân chủ thật sự, không có chuyện “hình thức” như một số người lu loa. Thật ra, không phải trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 họ mới lu loa, mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn đã lu loa từ nhiều kỳ bầu cử trước đây. Chẳng hạn, trong cuộc bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, đã xuất hiện một “làn sóng” tự ứng cử của những người tự xưng là “nhà dân chủ”. Họ bị loại qua các vòng hiệp thương và rêu rao những luận điệu hết sức sai trái, như: Chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, v.v... Họ đã quá sai, Hiến pháp đã hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Họ không theo Đảng Cộng sản thì họ theo ai? Đảng không cản trở bất cứ ai, tôn trọng quyền bầu cử và ứng cử của những người đủ tiêu chuẩn và điều kiện, không chấp nhận những người không đủ tiêu chuẩn. Từ trước đến nay vẫn thế. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIỚI THIỆU NHỮNG NGƯỜI ĐỂ BẦU LÀM ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP LÀ ĐÚNG THẨM QUYỀN

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội, trong đó có lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị”[2]. Các nước tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị đều cử người của đảng mình tham gia tranh cử vào thượng viện, hạ viện, tham gia tranh cử bầu tổng thống, thủ tướng, v.v... Tại sao lại cho rằng ở Việt Nam lại “Đảng cử - dân bầu”? Trên thế giới đều “đảng cử - dân bầu”. Vấn đề quan trọng nhất là “cử” ai. Những người có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị và các văn bản khác, như Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14 về Quy định chi tiết, hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở xã, ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ sung; Nghị quyết số 1187/NQ/UBTVQH14 về Hướng dẫn việc xác định cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Nghị quyết số 41/NQ-HĐBCQG về việc hướng dẫn mẫu hồ sơ ứng cứ, mẫu phiếu bầu cử, nội dung phòng bỏ phiếu và các mẫu văn bản sử dụng trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đều thể hiện rõ những vấn đề cơ bản nhất: Một là, xác định rõ tiêu chuẩn đối với ứng viên: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cậy quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ học vấn, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, v.v... Hai là, thể hiện tính dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CUỘC BẦU CỬ LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, được nhân dân thừa nhận, được hiến định trong các bản Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013. Khoản 1, Điều 4, Hiếp pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên việc Đảng lãnh đạo cuộc bầu cử là tất yếu khách quan, là hợp hiến, hợp pháp. Để cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp thành công tốt đẹp, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Hiện nay, các nước dù theo thể chế chính trị nào đều có đảng chính trị. Các nước theo chế độ đa đảng, các đảng chính trị đều lãnh đạo các cuộc bầu cử.

Những điểm mới về công tác tư tưởng trong Văn kiện Đại hội XIII .

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã nhiều lần đề cập đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đánh giá tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện khẳng định đã “đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”(1). Như vậy, Văn kiện đã coi niềm tin của nhân dân là một thành tố trong những thành tựu quan trọng của sự nghiệp đổi mới. Trong 5 bài học kinh nghiệm của 35 năm đổi mới, Văn kiện lần này bổ sung một nội dung mới vào bài học thứ hai là: Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, “củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(2). Trong 12 định hướng chiến lược cho nhiệm kỳ Đại hội XIII và các năm tiếp theo, Văn kiện xác định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”(3). Cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược thành các nhiệm vụ và giải pháp cơ bản, Văn kiện yêu cầu Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải: “Củng cố, tăng cường lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(4). Những dẫn chứng nêu trên cho thấy, trong nhiệm kỳ này, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, sức mạnh niềm tin của nhân dân. Mặc dù, vai trò của nhân dân đã được đề cập xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, nhưng lần này, vai trò đó đã được cụ thể hóa thành niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Vấn đề này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XII, “hợp lòng dân, thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Niềm tin là sợi dây liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; không có niềm tin của nhân dân, Đảng không có cơ sở để tồn tại. Niềm tin vào Đảng đã giúp nhân dân vượt qua mọi hy sinh, gian khổ để một lòng theo Đảng làm cách mạng, lập nên những chiến công trong chiến tranh giải phóng dân tộc; vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX và sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, cũng như những khó khăn, thách thức mà đại dịch COVID-19 đặt ra mới đây. Niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố, từ những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, uy tín của cán bộ, đảng viên, kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Niềm tin đó cũng là một trong những cơ sở quan trọng để “đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. KHƠI DẬY VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH TINH THẦN Trước hết, phải khẳng định rằng, công tác tư tưởng được tiến hành ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, mọi lĩnh vực. Vì vậy, có thể nói, các nội dung đề cập trong Văn kiện đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến công tác tư tưởng, từ lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, cho đến an ninh, quốc phòng, đối ngoại... Trong đó, một số vấn đề nổi bật, có liên quan mật thiết đến công tác tư tưởng được thể hiện cụ thể như sau: Trên cơ sở dự báo tình hình, Văn kiện đã xác định mục tiêu và các quan điểm chỉ đạo cơ bản, trong đó “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(5). Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị giữ vai trò vô cùng quan trọng. Bởi chỉ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng thì mới có sự kiên định trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt, kiên định đi đôi với vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác nghiên cứu lý luận chính trị - một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng. Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo, Văn kiện đã cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong nhiệm kỳ tới. Trong đó, nhiệm vụ đầu tiên cũng liên quan đến trách nhiệm của công tác tư tưởng: “Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tăng cường giáo dục truyền thống văn hoá, lịch sử và cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”(6). Đáng chú ý, Văn kiện Đại hội lần này nhấn mạnh đến việc khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần của dân tộc: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(7). Trong nhiệm vụ, giải pháp cơ bản thứ 3, Văn kiện làm rõ hơn: “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”(8). Một trong những điểm mới trong ba đột phá chiến lược của Văn kiện lần này là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(9). Để khơi dậy và phát huy các giá trị tinh thần quý báu của dân tộc, làm bùng lên khát vọng phát triển đất nước có nhiều biện pháp, trong đó, việc làm rõ hơn nội hàm, giá trị, biểu hiện, đồng thời làm cho mọi người dân hiểu rõ, tự hào, trân trọng những giá trị tinh thần đó và mong muốn đóng góp công sức, trí tuệ của mình để chấn hưng đất nước không có cách nào tốt hơn các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên của công tác tư tưởng. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, những vấn đề liên quan đến công tác tư tưởng, bên cạnh được diễn đạt lại theo hướng chặt chẽ, sâu sắc, khoa học hơn về câu chữ, còn có nhiều điểm mới về nội dung, bám sát thực tiễn và tập trung giải quyết những hạn chế, bất cập của công tác tư tưởng trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Văn kiện Đại hội XIII sử dụng thuật ngữ “công tác tư tưởng” thay cho thuật ngữ “công tác tư tưởng, lý luận” như các nhiệm kỳ trước. Đây là một bước tiến mới về mặt lý luận đối với khoa học công tác tư tưởng. Theo đó, Đảng thừa nhận công tác lý luận là một bộ phận của công tác tư tưởng như quan niệm của Lênin Đánh giá về kết quả công tác tư tưởng của nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện đã bổ sung thêm hạn chế so với nhiệm kỳ Đại hội XII là nhận thức, thái độ của cấp ủy đối với công tác tư tưởng: “Công tác tư tưởng có nơi, có lúc chưa thực sự được cấp uỷ coi trọng, chưa kịp thời, thiếu thuyết phục”(10). Về công tác lý luận, Văn kiện không chỉ khẳng định hạn chế là chưa đáp ứng yêu cầu như trước đây, mà chỉ rõ “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, một số vấn đề mới, khó, phức tạp chưa được làm sáng tỏ”(11). Nếu như Văn kiện Đại hội XII đề cập đến những hạn chế, yếu kém của công tác giáo dục lý luận chính trị, thì Văn kiện lần này nhấn mạnh đến hạn chế của công tác tuyên truyền, cổ động: “Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự quan tâm của nhân dân”(12). Đặc biệt, Văn kiện bổ sung thêm những hạn chế của công tác nghiên cứu định hướng dư luận xã hội và xử lý các tình huống nảy sinh trong công tác tư tưởng: “Công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(13). Về phương hướng nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tới, ngoài việc khẳng định phải tiếp tục đổi mới về nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Văn kiện nhấn mạnh phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa và yêu cầu công tác tư tưởng phải tăng cường tính giáo dục. Để khắc phục những hạn chế trong công tác nghiên cứu, định hướng dư luận xã hội, Văn kiện yêu cầu: “Nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội. Chú trọng nắm bắt, định hướng dư luận xã hội, bảo đảm thống nhất tư tưởng trong Đảng, đồng thuận cao trong xã hội”(14). Trong công tác lý luận, Văn kiện nhấn mạnh đến phát huy dân chủ, tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của các tổ chức và cá nhân trong tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Văn kiện cũng đề cập đến việc sử dụng kết quả nghiên cứu: “sớm kết luận những vấn đề lý luận đã chín, đã rõ, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”(15). Văn kiện Đại hội XIII cũng yêu cầu: “Từng bước đưa hoạt động trao đổi lý luận của Đảng ta với một số đảng cầm quyền, đảng tham chính ở một số nước đi vào chiều sâu, hiệu quả”(16). Văn kiện lần này tách việc học tập quán triệt nghị quyết thành một nội dung riêng: “Tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng bảo đảm thiết thực, hiệu quả”(17). Đây là một quyết định đúng đắn, xuất phát từ thực tiễn. Bởi sau khi có nghị quyết thì việc học tập, quán triệt là khâu đầu tiên để xây dựng niềm tin và đưa nghị quyết vào cuộc sống, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích đang tồn tại khá phổ biến trong công tác tư tưởng hiện nay. Phát huy những thành tựu của công tác giáo dục lý luận chính trị trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện lần này đề cập một cách cụ thể hơn, trong đó coi trọng việc: “Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo tinh thần khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”(18), bảo đảm tính nền nếp, nhất quán và chất lượng hiệu quả, chú trọng duy trì kỷ luật, kỷ cương vốn đang là một khâu yếu hiện nay. Văn kiện Đại hội XIII trình bày công tác tư tưởng theo logic từ “xây” đến “chống” nên đấu tranh tư tưởng được xếp sau cùng. Điểm mới lần này là không đề cập đến chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng chung chung, mà cụ thể hơn theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”(19). TẠO SỰ ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI Để thực hiện được những nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII, cấp ủy các cấp cần nhận thức sâu sắc mục đích của công tác tư tưởng là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Đây là mục tiêu rất cụ thể, rõ ràng nhưng hết sức nặng nề, phức tạp. Trong bối cảnh các thế lực thù địch chống phá quyết liệt; sự nghiệp đổi mới còn những yếu kém, bất cập; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; dịch bệnh COVID-19 diễn biến khó lường; tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất vẫn chưa được ngăn chặn triệt để... thì nhiệm vụ xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ càng khó khăn hơn. Để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, cấp ủy các cấp cần tiến hành một số biện pháp sau đây: Một là, tiếp tục học tập, quán triệt, nghiên cứu sâu sắc các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nhất là những điểm mới về công tác tư tưởng, tạo ra đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp cho toàn Đảng, trước hết là cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ tư tưởng các cấp; từ đó, xây dựng cho được niềm tin, trách nhiệm, nhiệt huyết và sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Hai là, sớm cụ thể hóa những nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII về công tác tư tưởng, gắn với những hạn chế, yếu kém và yêu cầu của địa phương, đảng bộ mình thành những việc làm cụ thể, có thể đo đếm, lượng hóa được kết quả, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích trong công tác tư tưởng. Cấp ủy các cấp cần thực hiện tốt phương châm “nói đi đôi với làm”, làm đến nơi đến chốn bằng cả tinh thần và nhiệt huyết cách mạng, thể hiện quyết tâm “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” như Hướng dẫn về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Trung ương. Để Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống, công tác tư tưởng không chỉ làm nhiệm vụ triển khai nghiên cứu, học tập, quán triệt, cổ vũ, động viên nhân dân mà chính mình phải gương mẫu đi đầu hiện thực hóa những điểm mới mà Văn kiện đã đề ra. Ba là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ tư tưởng có trình độ lý luận thực chất, có niềm tin và phong cách khoa học, hiện đại, nhiệt huyết, dám nghĩ dám làm, lấy hiệu quả công việc để đánh giá phẩm chất, năng lực. Chấp nhận những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác tư tưởng, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm dám đổi mới, dám áp dụng những thành tựu công nghệ thông tin vào công tác tư tưởng. Cán bộ tuyên giáo phải được đào tạo cơ bản, chuyên sâu về lý luận chính trị, có kỹ năng nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa và được bồi dưỡng thường xuyên. Bốn là, đổi mới mạnh mẽ phương thức tiến hành công tác tư tưởng theo hướng dân chủ hóa, hiện đại hóa, tăng cường lắng nghe, chia sẻ, đối thoại với nhân dân. Nội dung công tác tư tưởng phải cụ thể, thiết thực, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với từng đối tượng, không kêu gọi, hô hào chung chung. Cần loại bỏ ngay những hoạt động mang tính phô trương hình thức, sau mỗi hoạt động phải đánh giá kết quả cụ thể so với chi phí bỏ ra. Thường xuyên bám sát thực tiễn, giải quyết ngay những vấn đề tư tưởng nảy sinh, không để tích tụ thành “điểm nóng”, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các sự cố khủng hoảng truyền thông. Cần chú ý tác động đối tượng cả về lý trí và tình cảm, nhất là tình cảm để hình thành niềm tin. Đầu tư để từng bước hiện đại hóa phương tiện, sử dụng mạng xã hội để tiến hành công tác tư tưởng.

Vai trò và ý nghĩa của bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp

Trước hết, bằng bầu cử để hợp pháp hóa chính quyền thuộc về nhân dân. Ở nước ta, bầu cử là việc nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp và ủy thác quyền lực nhà nước của mình cho họ. Như vậy, ý chí của nhân dân thông qua bầu cử là nền tảng của quyền lực nhà nước. Chính vì thế, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình, trước thế giới Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được; để “ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(1). Nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa quan trọng của bầu cử, mặc dù trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, chính quyền non trẻ, ngàn cân treo sợi tóc, tình hình kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước”(2) và tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử, bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(3). Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Hai là, bầu cử là phương thức quan trọng mang tính nền tảng tạo lập nên cơ sở chính trị  - pháp lý vững chắc của đất nước. Bằng bầu cử, không những nhân dân chính thức thừa nhận những người đại diện của mình là lực lượng lãnh đạo xã hội mà còn thông qua bầu cử thể hiện sự đa dạng về giai cấp, tầng lớp, dân tộc, địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi pháp luật về bầu cử ở nước ta được thiết kế phù hợp với kết cấu xã hội mà nó tồn tại. Bầu cử có vai trò là sự “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tri thành các “đại biểu” trong các cơ quan đại diện, là “bức tranh hội tụ” tổng thể hình ảnh của các giai tầng, dân tộc, nhân dân trong cả nước và từng địa phương. Vì vậy, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sau các cuộc bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của đất nước và địa phương - cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân ủy quyền cho các đại biểu dân cử thực hiện quyền lập pháp, lập quy, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và từng địa phương; đồng thời, các đại biểu thực hiện các quyền đó phải phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận người dân trong xã hội, cơ quan dân cử có sứ mệnh hòa giải những nhóm và những cộng đồng khác nhau thông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp(4). Cơ quan đại diện - sản phẩm của bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội trong phạm vi quốc gia hoặc từng địa phương(5). Những quyết định của cơ quan đại diện là sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội, là sự thừa nhận tuyệt đối của nhân dân đối với cơ quan đại diện do mình lập nên. Khi đề cập đến dân chủ nói chung, pháp luật về bầu cử nói riêng, có thể nói rằng, niềm tin về sự đồng thuận xã hội là trái tim của nền dân chủ, đó là niềm tin của các cá nhân đặt vào Nhà nước và hệ thống chính trị. Niềm tin về sự đồng thuận xã hội được hình thành, phát triển trên cơ sở mối quan hệ qua lại giữa hệ thống chính trị thông qua các thiết chế, trong đó có thiết chế là các cơ quan đại điện của nhân dân. Đây là yếu tố rất quan trọng mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử. Trong bầu cử, thông qua lá phiếu của cử tri, nhân dân trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, bầu cử được ví như là một cuộc trưng cầu dân ý về quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, năng lực chính trị của các ứng viên. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 ở nước ta là một biểu hiện điển hình, một bức tranh sinh động về một cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân và “đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam”(6). Ngày nay, niềm tin với nhau giữa Nhà nước nói chung, các thiết chế dân cử nói riêng với nhân dân để cùng nhau gánh vác, sẻ chia, cộng đồng trách nhiệm, sự đồng thuận, đoàn kết các lực lượng trong xã hội là nhân tố cực kỳ quan trọng, tạo nên tính bền vững, ổn định giữa nhân dân và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Ba là, bầu cử là một phương tiện quan trọng để nhân dân giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Bầu cử thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhà nước của nhân dân cho Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính trong việc chuyển giao quyền lực ấy lại phát sinh một hệ lụy mà nhân dân không hề mong muốn rằng, tuy thoát thai từ nhân dân, từ xã hội, nhưng quyền lực nhà nước lại có xu hướng tách ra khỏi xã hội và “tựa hồ như đứng trên xã hội”. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nó lại có thể đi ngược lại chính nhân dân. Do vậy, việc nhân dân phải giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của mình để hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước là cần thiết. Bầu cử chính là một trong những phương tiện để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của mình. Sẽ không sai khi cho rằng: “không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện mà bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước”(7). Sự giám sát, kiểm tra quyền lực nhà nước thông qua bầu cử thể hiện trên hai nội dung là tính định kỳ của các cuộc bầu cử do Hiến pháp và Luật Bầu cử quy định và bãi nhiệm đại biểu nếu họ không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân. Kết thúc mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, quyền lực nhà nước lại trở về với nhân dân. Quyền lực nhà nước không bị chiếm giữ lâu dài hay vĩnh viễn bởi những người được trao quyền. Trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ mới, cử tri lại có quyền đánh giá, bày tỏ sự tín nhiệm về người đại diện và quyết định sự tái cử của họ thông qua phiếu bầu. Nếu quyền lực được trao không được sử dụng đúng đắn hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân thì quyền lực sẽ bị nhân dân thu lại bằng việc lựa chọn và trao lại cho người khác xứng đáng hơn. Quyền bãi nhiệm đại biểu là một nội dung của quyền bầu cử là đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất nhà nước và tính ưu việt của xã hội. Đó là chế tài mang tính chính trị nghiêm khắc nhất đối với đại biểu. Bốn là, bầu cử phản ánh sự quan tâm của nhân dân đối với đời sống chính trị của đất nước và là phương thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào cuộc bầu cử không chỉ đơn giản và đơn thuần là việc đi bỏ phiếu mà là sự tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân từ các công đoạn khác nhau của quy trình bầu cử, như tự ứng cử và giới thiệu người xứng đáng thay mặt mình, ứng cử, nhận xét, đánh giá các ứng viên tại các cuộc họp lấy ý kiến của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; thực hiện quyền khiếu nại và tố cáo theo quy định của Luật Bầu cử ... Sự quan tâm của cử tri đối với bầu cử phải được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về lợi ích của bầu cử, từ ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước. Đây chính là yếu tố rất quan trọng, cơ bản cho sự thành công của một cuộc bầu cử.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải đi từ những việc rất cụ thể hằng ngày

             Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đã chỉ rõ: Chúng ta đang ở giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước XHCN sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Chính vì vậy, việc giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng chuyên sâu vào từng lĩnh vực, từng thuộc tính của phẩm chất, năng lực cán bộ, đảng viên cần được coi trọng thường xuyên, góp phần bảo đảm tính kế thừa và phát huy trong hệ tư tưởng, đạo đức cách mạng của các thế hệ. Lấy những bài học, kinh nghiệm đúc kết từ lịch sử và thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng truyền thụ cho thế hệ cán bộ trẻ, cán bộ kế cận, kế tiếp là công việc thường xuyên, thường ngày trong cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.  

  Cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị tuyệt đối không được coi nhẹ, lơ là, né tránh khuyết điểm. Những gì chúng ta thể hiện hôm nay chính là tấm gương cho thế hệ kế cận, kế tiếp. Một tấm gương phẳng, trong sáng, trong sạch sẽ cho hình ảnh chân thực; ngược lại, sự giấu giếm, cầu an, lắt léo kiểu “lươn, chạch” sẽ cho ra những hình ảnh méo mó, phản tác dụng. Chúng ta nhận được quả ngọt hay trái đắng sau khi rời vị trí công tác trở về với đời thường là do chính nhân quả chúng ta gieo và gặt trong quá trình làm công bộc của dân./.


Báo cáo năm 2021 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ còn một số nội dung, đánh giá thiếu khách quan, không công bằng


Ngày 29-4, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Báo cáo năm 2021 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cho rằng, Việt Nam tiếp tục vi phạm tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Đoàn Khắc Việt khẳng định: Việt Nam ghi nhận việc Báo cáo tình hình tự do tôn giáo thế giới 2021 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã đề cập đến những nỗ lực và tiến triển tích cực trong việc đảm bảo và thúc đẩy đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam.

Tuy nhiên, báo cáo vẫn còn một số nội dung, đánh giá thiếu khách quan, không công bằng dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình tại Việt Nam. Tại Việt Nam, các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng để vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật./.

Mấy điều trao đổi thêm với những ai bênh vực cho lá cờ vàng ba sọc



Nhân dịp kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975, có một vụ việc gây tranh luận trái chiều trên mạng xã hội do BBC News Tiếng Việt khởi xướng, đó là vụ việc du học sinh trung học tại Úc giật lá cờ vàng ba sọc, làm “xúc phạm” đến những người Việt hải ngoại đang sống tại Úc. Theo dẫn luận của trang mạng này, có một số ý kiến (như bà Kiều Ngọc, bà Hoàng Ánh, ông Huy Nguyễn và một số người khác…) phát biểu chính kiến của mình dưới các góc độ khác nhau, hàm ý phê phán cách giáo dục, tuyên truyền, hệ tư tưởng chính trị theo chủ nghĩa cộng sản của Việt Nam là nguồn gốc gây ra hành vi “thiếu tôn trọng luật pháp nước sở tại” và “gây hận thù dân tộc”, làm “tổn thương cộng đồng người Việt hải ngoại từng sống trong chế độ Việt Nam cộng hòa” trước năm 1975, đòi “lấy lại công bằng lịch sử cho ngày 30 tháng 4 năm 1975” (!). Nay xin có mấy điều trao đổi thêm, như sau:

Pháo đài Đồng Đăng



Pháo đài Đồng Đăng được người Pháp xây dựng ở một vị trí chiến lược quân sự quan trọng. Từ pháo đài Đồng Đăng có thể quan sát và bảo vệ các tuyến giao thông huyết mạch, từ đường sắt đến đường bộ như ga đường sắt quốc tế Đồng Đăng – Hà Nội, quốc lộ 1A Lạng Sơn – Hà Nội, quốc lộ 1B Lạng Sơn - Thái Nguyên, quốc lộ 4B Lạng Sơn - Cao Bằng. 

  

Đúng “Tự do báo chí - Không có quốc gia nào giống quốc gia nào”




Trên RFA vừa qua, chủ đề về tự do báo chí lại được một tài khoản chống Hà Nội đưa lại với tiêu đề: “Tự do báo chí: Việt Nam không đồng cách hiểu với thế giới? “Mặc dù tác giả bài viết đặt dấu hỏi chấm (?) nhưng thực chất đây là sự phủ nhận quyền tự do báo chí ở Việt Nam. Có thể nói chủ đề này chẳng có gì mới…nếu như nó không có cái tiêu đề gây tò mò cho người đọc!

4 nhóm giải pháp tập trung phòng, chống COVID-19 của Hà Nội

 Trước diễn phức tạp của tình hình dịch bệnh, Thường trực Thành ủy Hà Nội yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể từ thành phố đến cơ sở, nhất là các tổ giám sát COVID-19 tại cộng đồng tiếp tục chỉ đạo, thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Trung ương. Trong đó, Thường trực Thành ủy Hà Nội lưu ý 4 nhóm nội dung quan trọng.

Người đến BV Bệnh Nhiệt đới TW cơ sở 2 từ 14/4 đến nay nhanh chóng khai báo

 Đến sáng nay 6/5, BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh đã có tổng cộng 22 ca mắc là nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. Cơ sở này đã được cách ly y tế, bệnh viện cũng ra thông báo khẩn nêu rõ:

Thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong toàn quân

 

Ngày 7-5, Tổng cục Hậu cần đã có công văn gửi các đơn vị toàn quân về việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 trong tình hình hiện nay.