Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2021

ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH GIÚP VƯỢT QUA ĐẠI DỊCH

Lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã chứng minh, mỗi lúc dân tộc lâm nguy, sức mạnh đoàn kết và lòng dân là yếu tố quyết định làm nên mọi chiến thắng. Công tác phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay cũng vậy.

Từ khi dịch COVID-19 bùng phát và lây lan, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã quan tâm đặc biệt, chỉ đạo, lãnh đạo sát sao; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ đã vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt, có nhiều nghị quyết, chỉ thị, công điện... chỉ đạo công tác phòng, chống dịch cũng như hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

Những cuộc họp không kể ngày đêm, những chuyến “vi hành” xuống cơ sở, những cuộc điện thoại giữa đêm khuya; hay hàng chục cuộc tiếp xúc, điện đàm, hàng chục bức thư của lãnh đạo Đảng, Nhà nước gửi các đối tác để mua, vay, yêu cầu cung cấp vaccine nhiều nhất, nhanh nhất để tiêm miễn phí cho nhân dân… đều vì sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trước hết, trên hết.

Thấu hiểu và hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến, cả nước đã đoàn kết, “nhất tề” phòng, chống dịch COVID-19. Nhìn lại những tháng vừa qua, trong bất cứ hoạt động nào, khi nào và ở đâu, câu chuyện phòng, chống COVID-19 luôn là chủ đề chính, nóng bỏng.

Không chỉ các cơ quan Đảng, quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội rốt ráo cho công cuộc chống dịch mà các nhà khoa học, giới trí thức cũng dốc lòng, dốc sức, trí tuệ, tâm huyết cho phòng, chống dịch. Các doanh nghiệp, doanh nhân, các tổ chức thiện nguyện, bạn bè quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài và người dân cả nước đã ủng hộ, vào cuộc mạnh mẽ phòng, chống dịch. Đặc biệt, lực lượng tuyến đầu như y tế, Công an, Quân đội, báo chí… thực sự bước vào “thời chiến”.

Trong quá trình phòng, chống dịch, tinh thần đại đoàn kết, truyền thống "tương thân tương ái", "lá lành đùm lá rách" của dân tộc lại phát huy sức mạnh hơn bao giờ hết. Đơn cử, khi 23 tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện giãn cách xã hội, ứng phó với sự bùng phát, lây lan của dịch COVID-19 đã có hơn 30.000 y bác sĩ, Công an, Quân đội… từ khắp mọi miền Tổ quốc lên đường chi viện cho miền Nam.

Dịch bệnh nghiệt ngã, song cũng từ đó nảy sinh bao câu chuyện, hình ảnh đẹp, có sức lay động và hiệu triệu: từ tấm áo đẫm mồ hôi của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; bàn tay nhăn nhúm, tê tái của các y, bác sĩ; những lúc chợp mắt vội bên vệ đường của các chiến sĩ Công an, bộ đội; giọt nước mắt của cô dâu, chú rể trong đám cưới online; những chuyến xe 0 đồng, "ATM gạo" miễn phí; những chuyến xe thực phẩm mang nặng nghĩa đồng bào…

Đến nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vận động và nhận được hơn 18.000 tỷ đồng của các tổ chức, cá nhân ủng hộ phòng, chống COVID-19. Trong đó, sau lời phát động của Thủ tướng Chính phủ, đến nay có hơn 553.300 tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp vào Quỹ vaccine phòng COVID-19 với hơn 8.779 tỷ đồng. Ngay sau khi phát động, Chương trình “Sóng và máy tính cho em” cũng nhận ủng hộ hơn 1 triệu máy tính với trị giá hơn 2.500 tỷ đồng và cam kết đầu tư 3.000 tỷ đồng để phủ sóng, hưởng ứng chương trình…

Qua công tác phòng, chống dịch cho ta thấy nhiều bài học quý. Trước hết, đó là bài học về sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương, các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị, nhất là trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác phòng, chống dịch; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động nguồn lực trong, ngoài nước, nguồn lực của nhân dân và doanh nghiệp. Trong đó, vai trò của nhân dân là đặc biệt quan trọng, đúng như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhiều lần nhắc: “Nhân dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong phòng, chống dịch COVID-19; chiến thắng COVID-19 là chiến thắng của nhân dân”.

DỊCH BỆNH CƠ BẢN ĐƯỢC KIỂM SOÁT

Theo báo cáo của Bộ Y tế, từ ngày 25/9–08/10, số ca mắc trong cộng đồng giảm 44,7% so với 2 tuần trước, giảm 47,3% so với 1 tuần trước đó. Trong tuần, Hà Nội ghi nhận 5 ca (giảm 10 ca so với tuần trước); TP. Hồ Chí Minh 15.070 ca (giảm 14.766); Bình Dương 400 ca (giảm 559); Đồng Nai 41 ca (giảm 19); Khánh Hòa 8 ca (giảm 57), Kiên Giang 13 ca (giảm 18). 

Đến nay tình hình dịch cơ bản được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc. Các địa phương thực hiện giãn cách xã hội và tăng cường giãn cách xã hội đã kiểm soát được tình hình. Tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, số ca nhiễm mới và tử vong đã giảm rõ rệt. Công tác an sinh xã hội được đảm bảo; an toàn trật tự xã hội được giữ vững; đời sống của nhân dân trong vùng dịch được ổn định, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được giữ vững. 

Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh trong nước vẫn diễn biến khó lường; nguy cơ dịch bệnh gia tăng và bùng phát trở lại có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất kỳ khi nào, nhất là thời gian qua đã có số lượng lớn người dân di chuyển về quê từ các địa phương nới lỏng giãn cách xã hội, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra đợt dịch tiếp theo.

Nhận diện động cơ, mục đích và các thủ đoạn xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong chiến lược "Diễn biến hòa bình", các thế lực thù địch dùng rất nhiều thủ đoạn, trong đó có thủ đoạn xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. mà động cơ chính của xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí MInh với một số động cơ chính sau đây.  

Thứ nhất, tư tưởng chống cộng, sự thâm thù với chủ nghĩa cộng sản mà Hồ Chí Minh lại là người cộng sản vĩ đại của dân tộc Việt Nam và thế giới. Trong quá trình tìm đường cứu nước, với tuệ giác ngời sáng và sự chiêm nghiệm thực tiễn, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường mới để giải phóng dân tộc. “Như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa nhà yêu nước Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc về hệ tư tưởng cộng sản. Trong một thế giới đa dạng, sự tồn tại của các ý thức hệ và luồng tư tưởng khác nhau là điều rất bình thường. Bản thân Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Tuy nhiên, do lợi ích của giai cấp bóc lột bị đe dọa, từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã có rất nhiều kẻ thù tư tưởng; người cộng sản nào càng có uy tín, càng có ảnh hưởng lớn thì càng là đối tượng để những kẻ thâm thù chủ nghĩa cộng sản tấn công. Xét về công lao và tầm ảnh hưởng, Hồ Chí Minh là người đã mang ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đến với các dân tộc phương Đông, đã làm tan vỡ hệ thống thuộc địa - nguồn sống quan trọng của chủ nghĩa đế quốc, đã cổ vũ loài người trong cuộc đấu tranh vì chính nghĩa. Con người “đánh đắm chủ nghĩa thực dân” bằng tư tưởng giải phóng, tất yếu sẽ là đối tượng tấn công của những kẻ muốn duy trì sự nô dịch trên toàn thế giới.

Thứ hai, âm mưu thực hiện“diễn biến hòa bình”, lật đổ chế độ, phế bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, phong trào cộng sản rơi vào thoái trào; kẻ thù đắc ý tuyên bố về “sự cáo chung” của học thuyết Mác và tương lai vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản. Thành công của sự nghiệp Đổi mới ở Việt Nam và ở một số nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã phản bác lại luận điệu đó. Vì thế, cách mạng Việt Nam trở thành “tâm điểm” của sự chống cộng. Lực lượng thù địch cho rằng, nếu chúng thành công trong việc xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đánh đổ “thần tượng Hồ Chí Minh”, Việt Nam không chỉ mất đi cội nguồn tinh thần và định hướng phát triển mà còn mất đi chất keo “kết dính” toàn Đảng và sự gắn kết giữa Đảng và dân. Rõ ràng, ở đây không chỉ là sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản mà còn là âm mưu tạo phản - một hành động vi hiến, cần lên án. 

Thứ ba, sự bất mãn của một số cá nhân từng có vị trí nhất định trong hệ thống chính trị và số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Hồ Chí Minh từng căn dặn “vào Đảng không phải để làm quan phát tài” nhưng không phải cán bộ nào cũng thấm được tinh thần đó. Tham vọng quyền lực đã biến họ thành kẻ cơ hội chính trị và khi không đạt được mục đích thì sinh ra bất mãn. Có người trong số họ vì tính sai một “nước cờ chính trị” mà trở thành kẻ lưu vong, lấy việc nói xấu, vu khống làm nguồn sống. Tự cho mình là “người trong cuộc”, họ đã “thêm thắt”, tạo ra những thông tin thất thiệt để bôi nhọ Hồ Chí Minh cùng các nhà lãnh đạo khác nhằm che đậy sự phản bội, bất mãn cá nhân. Trong thời gian gần đây còn  xuất hiện “những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên” bị thoái hóa, biến chất. Đây là điều rất đáng lo ngại, rất đáng trách bởi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì sự đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái tốt đẹp và cái tiêu cực là lẽ đương nhiên, sự sai lầm và vấp váp là điều khó tránh và trong tổ chức Đảng gồm nhiều cá nhân thì đương nhiên “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Lẽ ra, mỗi đảng viên phải kiên trì làm cho phần tốt “nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”, tức là đấu tranh nhưng để khẳng định thì họ lại bới móc để phủ định công lao của Hồ Chí Minh, của Đảng và thành tựu Đổi mới.

Về mặt nội dung, chúng thường sử dụng một số thủ đoạn sau đây.

Chúng ra sức phủ định sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh; cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được khẳng định bởi các học giả trong và ngoài nước, những kẻ xuyên tạc vẫn rêu rao, rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Chúng đưa ra các luận chứng mang tính khiên cưỡng: Xét về nội dung thì Hồ Chí Minh chỉ giỏi tổng hợp lại chủ kiến của người chứ không có tư tưởng của mình; xét về hình thức thì Hồ Chí Minh chỉ có bức thư ngắn, bài viết, bài nói ngắn chứ không có các tác phẩm lớn như các nhà tư tưởng khác. Việc kẻ chống phá “quay lưng” với những bằng chứng xác thực về giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đen tối; đây không phải là sự cố chấp, bảo thủ mà là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen”.

Đối ngược lại với sự phủ nhận, thủ đoạn thâm độc hơn của chúng là “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cho rằng, chủ nghĩa Mác Lênin đã lỗi thời, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Đây chính là thủ đoạn “nâng lên” để “hạ xuống” bởi chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm nên bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất thì đó cũng không còn là tư tưởng Hồ Chí Minh với những đặc tính tốt đẹp.

Chúng còn chủ tâm cắt xén những câu nói, câu viết của Hồ Chí Minh và tách câu nói đó ra khỏi văn cảnh để làm sai lệch tư tưởng của Người. Đây cũng là một thủ đoạn hết sức tinh vi bởi cũng như mọi học thuyết lý luận chân chính khác, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử và ra đời để giải quyết yêu cầu của lịch sử lúc đó. Việc nhận thức về tư tưởng của Người sẽ trở thành sai lầm nếu bị “đẩy” ra ngoài giới hạn sinh tồn của nó. Hơn nữa, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà chiến lược vĩ đại mà còn là một nhà sách lược đại tài với cách nói, cách ứng xử sao có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam trong một tình huống cụ thể. Vì thế, việc “cắt xén” và “bóc tách” các câu nói của Hồ Chí Minh ra khỏi văn cảnh và hệ thống quan điểm nhất quán sẽ dẫn đến việc làm sai lệch tư tưởng của Người.

Để xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực phản động còn đang tâm bịa đặt về thân thế, sự nghiệp, đời tư của Người. Phải nhấn mạnh rằng, sự đồn thổi theo kiểu “ăn không nói có” về đời tư của Hồ Chí Minh không phải bây giờ mới có. Bằng chứng là từ năm 1947, Hồ Chí Minh đã trả lời phỏng vấn một nhà báo như sau: “Tôi vẫn mạnh khỏe mặc dầu tin Pháp đã mấy lần đồn rằng tôi chết rồi. Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi... Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn, ngoạn thủy, đọc sách, làm vườn”. Những kẻ xuyên tạc cố tình không hiểu rằng, để hoạt động bí mật nay đây, mai đó, Hồ Chí Minh nhiều khi buộc phải làm “mờ”, “làm nhiễu” thông tin về mình và luôn “hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”. Chỉ có những kẻ “vô minh”, “vô đạo” mới dùng thủ đoạn này để bôi nhọ người đã hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và nhân loại.

Mục đích sâu xa của việc xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh là để phủ nhận quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản nên một thủ đoạn nữa mà chúng hay dùng là đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối của Đảng, lấy tấm gương đạo đức, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh để thóa mạ Đảng. Phải thừa nhận rằng, vì nhiều lý do, có thời điểm, đường lối của Đảng chưa hoàn toàn phù hợp với tinh thần Hồ Chí Minh và hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không tu dưỡng đạo đức theo lời dặn của Người. “Con sâu làm rầu nồi canh”, thế lực thù địch đã khuếch đại những khuyết điểm, làm ngơ trước những ưu điểm, đồng nhất những kẻ thoái hóa với bản chất của Đảng, đưa lỗi cá nhân thành lỗi hệ thống. Chúng lớn tiếng rêu rao, rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay không còn tốt đẹp như lúc Hồ Chí Minh còn sống, Đảng bây giờ không còn là “Đảng ta” trong mối quan hệ với nhân dân...Vì thế, phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp, tức xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay cả khi Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ thì chúng cũng quy kết là “đánh đấm nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Trước kỳ Đại hội, chúng còn tung rất nhiều thông tin bịa đặt về các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Để thóa mạ, phủ nhận Đảng, chúng làm ra vẻ khách quan là lấy đạo đức, sự nghiệp của Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu”. Đề cao Hồ Chí Minh để chống Đảng là thủ đoạn rất nguy hiểm vì nó có thể làm một bộ phận dân chúng vốn rất kính yêu Hồ Chí Minh trở nên bất mãn với chế độ hiện nay. 

Chúng còn ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây thực chất là sự phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của di sản Hồ Chí Minh. Lý do chúng đưa ra là: Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ có giá trị trong cách mạng giải phóng dân tộc, còn thế giới ngày nay là thế giới hội nhập; tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là không thể học tập vì Hồ Chí Minh là bậc “thánh nhân” trong khi chúng ta là người thường, Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại. Chúng không hiểu rằng, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã có chiến lược hội nhập sâu rộng và không để vấn đề ý thức hệ bó hẹp quan hệ quốc tế của Việt Nam. Người cũng không bao giờ tỏ ra là bậc “thánh nhân”, là người toàn vẹn mà luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng “nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”. Hồ Chí Minh được đánh giá là “con người ít ai có thể với tới, không ai có thể vượt qua” nên học tập Hồ Chí Minh không phải là bắt chước hành vi của Người để rồi thành một “Hồ Chí Minh thứ hai” mà là học tinh thần giải phóng, đạo đức vì dân, tư duy linh hoạt, phong cách văn hóa của Người để mỗi cá nhân trở nên tốt đẹp hơn so với chính mình và điều này thì hoàn toàn có thể. Do đó, đẩy mạnh việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là giải pháp hữu hiệu để “tự bảo vệ”, “tự làm sạch” của mỗi cá nhân và tổ chức Đảng.

Về mặt hình thức thì chúng sử dụng nhiều hình thức để phát tán các tin, bài, videoclip xấu độc. Theo A 25, Bộ Công an, ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản bên ngoài tập trung tuyên truyền chống phá Việt Nam; hằng năm có hơn 3000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng. Việt Nam là nước có số người dùng internet và mạng xã hội thuộc “tốp đầu” thế giới với khoảng 64 triệu người dùng internet (67% dân số) và hơn 55 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm 57% dân số), đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất nên chúng ra sức sử dụng internet và các trang mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước.

Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam yêu nước hãy luôn cảnh giác trước những luận điệu, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, không bị lôi kéo, kích động. Tích cực đấu tranh với những biểu hiện, hành vi sai trái nhằm phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nền tảng tư tưởng của Đảng là ánh sáng dẫn đường tạo nên sức mạnh đại đoàn kết đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành bắt nguồn từ người thanh niên yêu nước - Nguyễn Tất Thành - trong quá trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước đã tiếp cận được chủ nghĩa Mác và chính chủ nghĩa Mác đã giác ngộ đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành người đảng viên cộng sản. Tiếp đó, Nguyễn Tất Thành với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận được chủ nghĩa Lênin và tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Từ đó, chính Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam để giác ngộ cách mạng cho nhân dân ta, nhất là cho thanh niên. Đặc biệt, trong quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng nhằm tiến tới thành lập Đảng Cộng sản ở xứ Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã biên soạn tài liệu và truyền dạy cho lớp lớp cán bộ cách mạng về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đến năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ngay từ khi ra đời, trong Cương lĩnh của mình đã khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đi theo ánh sáng dẫn đường của nền tảng tư tưởng đó, chỉ sau 15 năm, cách mạng Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang, biến nước ta từ một nước nô lệ dưới sự thống trị, giày xéo tàn khốc của bọn thực dân đế quốc và không có tên trên bản đồ thế giới, trở thành một quốc gia độc lập, tự do. Từ thắng lợi vẻ vang bước đầu này, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng do Người sáng lập, rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết thành một khối thống nhất, đưa cách mạng Việt Nam tiến bước dưới ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin với sự vận dụng sáng tạo của Đảng đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, với ý chí và quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” đã đánh thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, với những chiến công lẫy lừng như: Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ trên không, Đại thắng Mùa Xuân 1975, giành lại độc lập, tự do, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Từ thực tiễn lịch sử và những thắng lợi vĩ đại, Người đã xác định: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”. Quán triệt chỉ dẫn đó của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, đưa nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

 Từ thực tiễn của tiến trình lịch sử và những thắng lợi vĩ đại đã giành được của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đại hội VII của Đảng năm 1991 đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Qua thực tiễn 25 năm đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, càng khẳng định sự đúng đắn và vai trò to lớn của nền tảng tư tưởng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” và Hiến pháp của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã luật hóa sự khẳng định đó. Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta trong suốt hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò to lớn của nền tảng tư tưởng mà Đảng ta đã lựa chọn. Do đó, chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phản bác của các thế lực thù địch và bảo vệ, phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng một cách mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC QUYỀN CÔNG DÂN, QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ” là thủ đoạn quen thuộc rất hiểm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực cường quyền quốc tế để toàn trị thế giới. Sau chiến tranh lạnh, lợi dụng ưu thế của kẻ thắng thế, thấm nhuần bài học của thời kỳ chiến tranh lạnh, các thế lực thù địch càng đẩy mạnh những hoạt động dùng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, kết hợp với trừng phạt kinh tế và can thiệp quân sự, để làm thay đổi bản đồ địa chính trị thế giới có lợi cho họ. Quyền công dân, quyền con người đã được luật hóa rõ ràng, đầy đủ, được khẳng định đanh thép trong Hiến pháp Việt Nam các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. Điều 3, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Các quyền con người, quyền công dân được khẳng định trong Hiến pháp, pháp luật, được thể hiện sáng ngời trong cuộc sống. Trước hết, đó là, từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám từ năm 1945 đến nay và từ nay về sau, “nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” (Tuyên ngôn Độc lập). Nước độc lập vừa là hạnh phúc, vừa là tiền đề và điều kiện tiên quyết để nhân dân được hưởng tự do, hạnh phúc. Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng không ngừng và tăng nhanh nhất trong số các nước đang phát triển (năm 2020 tăng 4 bậc, xếp thứ 79 trên thế giới, đứng hàng đầu các nước châu Á), kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế tiến bộ không ngừng. Năm 2020, trong khi hầu hết các nước trên thế giới, do đại dịch Covid-19, đều tăng trưởng âm, thì Việt Nam giữ vững tăng trưởng dương, đứng đầu thế giới về mức tăng trưởng. Dư luận quốc tế chỉ rõ rằng, thành công của Việt Nam trong chống dịch không phải vì Việt Nam giàu có, có trang thiết bị y tế tiên tiến, mà vì ở Việt Nam có sự đồng thuận cao giữa chính quyền với nhân dân (được xếp số một thế giới về sự hài lòng của người dân đối với chính sách chống dịch của Chính phủ).

Chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin rằng: khoảng một phần tư thế kỷ nữa, Việt Nam sẽ đứng trong khu vực các nước phát triển. Những thành tựu kinh tế - xã hội trên đây chẳng phải đã mang ý nghĩa sâu sắc nhất về quyền con người đó sao? Các quyền tự do chính trị ở Việt Nam mà Hiến pháp đã quy định, được thực thi đầy đủ trong đời sống thực tế. Đó là quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền sống được pháp luật bảo hộ, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, lập hội, biểu tình, quyền bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo... Về sự thực hiện tự do chính trị, Việt Nam không thua kém bất cứ quốc gia dân chủ nào. Đương nhiên, luật pháp Việt Nam, nhân dân và Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ cá nhân và tổ chức nào lợi dụng “nhân quyền”, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để vi phạm pháp luật, chống chính quyền nhân dân, Tổ quốc và chế độ XHCN. Chúng ta thực hiện quyền con người không phải vì sức ép bên ngoài mà chính vì quyền con người là mục tiêu cao cả, thuộc về bản chất của cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2021

ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN CỦA KẺ VIỆT GIAN TRƯƠNG VĨNH KÝ - TÊN GIÁN ĐIỆP NẰM VÙNG!

      Như tút trước tôi có đề cập đến bức thư mà Trương Vĩnh Ký đã hạ mình để cầu viện người Pháp đánh chiếm nước ta. Tút này tôi sẽ dẫn chứng một số văn thư khác do chính Trương Vĩnh Ký chứ không phải ai khác, viết cho các viên chức thực dân, để thấy tấm lòng phản trắc của Trương Vĩnh Ký đối với quốc gia dân tộc như thế nào. Đồng thời cũng là để đập tan âm mưu đồng hóa sử sách và văn hóa nước nhà của đám thầy trò phản sử Phan Huy Lê cũng như lên án việc đặt tên trường, tên đường mang tên Trương Vĩnh Ký của một số thành phố trong nước. 


Thư đề ngày 28.4.1876, gởi cho tướng Pháp, quyền thống đốc, để trình bày công tác đi Bắc Kỳ. Có những đoạn Trương Vĩnh Ký viết mà đọc kỹ sẽ thấy não trạng của ông ta. Trương Vĩnh Ký mô tả sai về tình trạng xã hội và phóng đại một nhu cầu cần cải cách để cố vấn cho thực dân Pháp nên chiếm và cai trị toàn xứ Bắc kỳ: 

"…Và trong khi đó thì quãng đại quần chúng vô danh, những thợ thuyền, nhà nông đang rên siết trong sự nghèo đói cùng cực, từng trải qua những ngày dài không gạo và không việc làm. Và phải chăng sự khốn cùng đang bao trùm trong dân chúng, và phải chăng khắp nơi người ta đang nghe đòi hỏi những sự thay đổi và một nền cai trị hữu hiệu để duy trì trật tự, ban cho dân chúng một ngày mai, đảm bảo tài sản, cho công nghệ và thương mại có được sự an ninh và sinh hoạt cần thiết cho sự sống còn của họ, nói tóm lại, từ trong cái đói và bần cùng giải thoát một dân tộc đang cảm thấy suy vong." 

Sợ Pháp do dự không chịu chiếm, Trương Vĩnh Ký còn đem miếng mồi kinh tế béo bở của xứ Bắc Kỳ ra để khơi động lòng tham của thực dân Pháp: 

"Và tất nhiên, xứ sở chẳng thiếu tài nguyên, đất đai mà tôi dám quyết rằng có thể sánh với thổ nhưỡng của nước Pháp, ít ra là đối với Algérie, chất chứa nhiều của cải đủ để làm nên tài sản cho một quốc gia. Đất này tiện lợi cho những vụ trồng trọt các mùa thay đổi khác nhau. Những cuộc thí nghiệm trồng nho và gieo lúa mì cho thấy những kỳ vọng chắc chắn. Tôi từng thấy lúa mì mọc trong đất, cây trông đẹp, bông đầy và lớn hạt. Tôi chưa nói tới ở đây những tài nguyên khoáng chất, người ta bảo là bao la, và tôi xin được phép nói rằng dân của xứ này đã chết đói trên một chiếc giường đầy vàng". 

Trương Vĩnh Ký lại còn cố vấn cụ thể cho thực dân Pháp phương cách bá đạo, nhưng hữu hiệu, để kết nạp các thành phần bất mãn với triều đình Việt Nam, hầu tạo nội chiến làm cho dân chúng chán chiến tranh để rồi họ mơ tưởng một cuộc sống "bình yên" như xứ bảo hộ Nam-kỳ: 

"Tôi tìm ra sự giải thích theo đó, các ảnh hưởng của lòng tham lam và táo bạo dễ dàng thu dụng đồ đảng, kết nạp thành đoàn và cổ võ chiến tranh phe phái v.v...và như vậy dân chúng khát khao một cuộc sống lành mạnh hơn là luôn luôn phải thất vọng, với hy vọng cuối cùng tìm thấy sự che chở để khỏi sự đói khát. Hơn thế, không thể không có một cái nhìn ham muốn, một đôi khi họ đã so sánh thân phận của họ với cuộc sống của những người dân Nam-kỳ".

Trong thư nầy, Trương Vĩnh Ký còn báo cáo lại cho quan chức Pháp một cuộc đối đáp giữa Trương Vĩnh Ký với các quan lại triều đình. Trong cuộc đối đáp đó, Trương Vĩnh Ký đã đứng hẳn về phía thực dân để chỉ trích và hăm dọa hầu thuyết phục các viên chức triều đình: 

- "Làm thế nào cư xử đối với người Pháp để khả dĩ thu hoạch thắng lợi hoàn toàn?" 

- "Thưa quý vị, tôi đáp, tất cả quý vị đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý xâm chiếm xứ này, họ đã có thể làm việc ấy từ lâu, một cách dễ dàng không cần phải bàn cãi gì cả. Quý vị phải hiểu rằng quí vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của một ai đó để gượng dậy. Và tốt hơn, chi bằng quí vị chỉ nên tin tưởng vào những bạn đồng minh tiếng tăm của quí vị và phải dựa vào họ một cách thành thật để đứng lên, nhưng phải thẳng thắn, phải không hậu ý, phải không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra với họ, chứ không phải một cái chìa ra còn bàn tay kia thì giữ lại. Bằng ngược lại, mệt trí vì những do dự của quí vị, nước Pháp buộc lòng phải ngưng che chở và bỏ mặc quý vị với số phận. 

Nói rõ hơn, đây là hình ảnh tương trợ tôi dùng để ví: nếu một bàn tay quí vị tựa vào cánh tay của một người, còn bàn tay kia quí vị dùng để cù họ, tức nhiên cánh tay của người đó tự nó phải tuột ra; quí vị sẽ phải đón nhận một sức phản động nào đó, quí vị sẽ rơi xuống rất thấp và hầu như mãi mãi không có cơ gượng dậy được nữa. 

Đó là những nét nổi bật hơn cả trong các cuộc đàm thoại, nhưng tất cả những lần trò chuyện, chi tiết tôi rút ra được rằng, nói chung các quan lại, nhất là những người có thành kiến, họ không đòi hỏi gì hơn là mong theo những tư tưởng mới. Thế nhưng các truyền thống vẫn còn ngự trị mạnh mẽ, và họ ngại phô bày những tư tưởng mới vì nó mất duyên cớ chính đáng đang vây bọc quanh những truyền thống đó. Tổng quát, tất cả đều tin chắc rằng không thể chống lại người Pháp và nếu nước Pháp muốn lấy xứ này, có thể làm mà không phải mất nhiều khó khăn và tốn kém" 

Như linh mục Nguyễn Hoằng thời bấy giờ, Trương Vĩnh Ký cũng là một người Pháp tay trong, được gài bên cạnh Vua Đồng Khánh để lấy tin tức và khuynh loát ông vua bù nhìn nầy nhằm thực hiện các kế hoạch có lợi cho thực dân Pháp. Từ Huế, ngày 10.5.1886, Trương Vĩnh Ký gởi thư cho viên thượng thư Paul Bert, trong đó có đoạn đáng lưu ý: 

“Tôi cũng đang lo tiếp xúc để cung cấp cho ngài những tin tức chính trị hữu ích. Tôi hết lòng tán đồng dự án hoàn mỹ của ông Pène* về công cuộc bình định thi hành bởi những yếu nhân bản xứ và, ở đây, tôi đang bám sát nhà vua cùng Viện Cơ Mật. Như sứ giả tiên khu của Chúa, tôi tìm cách dọn đường cho ngài; tôi tán dương cái uy danh mà tôi ra sức vây bọc quanh con người cũng như tên tuổi của ngài”. 

Việc Trương Vĩnh Kỹ lèo lái ông vua bù nhìn Đồng Khánh và thao túng Cơ Mật Viện của triều đình Việt Nam đã có kết quả tốt cho Pháp, đến nỗi Paul Bert trong một thư gởi Thiếu tướng thực dân Thống đốc Nam-kỳ, ngày 20.5.1886, có đoạn: 

"Tôi nhận thấy ở Huế, ông Trương Vĩnh Ký đã tận lực làm tròn sứ mạng công việc trong triều đình và ít nhiều ảnh hưởng trên nhà vua. 

Trong những điều kiện đó, tôi tin rằng sẽ có lợi cho người Pháp hiện thời nếu giữ ông ta ở lại Huế trong một thời gian tôi không dám xác định, nhưng chắc chắc cũng khá lâu..." 

Hơn một tháng sau, vào ngày 17.6.1886, Trương Vĩnh Ký lại viết thư tiếp cho Paul Bert để thông báo công tác quan trọng của ông: 

"Tôi sẽ trấn áp tất cả các hảnh thần và bao vây nhà vua, tôi sẽ kiếm những người thật sự có khả năng cho Viện Cơ Mật". 

Một đoạn khác trong lá thư nầy, Trương Vĩnh Ký cũng có ý kiến như Nguyễn Trường Tộ hơn 15 năm trước đó là, chính phủ Việt Nam phải thỏa hiệp với nước Pháp hầu như đó là một định luật tất yếu không thể chống lại được: 

"Tôi vừa minh chứng xong cho các nho sĩ thấy rằng nước An Nam không thể không cần đến nước Pháp, càng không thể chống lại nó được, phải tay trong tay cùng đi, không hậu ý và chúng ta nên chụp ngay lấy những hảo ý nảy nở trong chúng ta, của một người như ngài chẳng hạn". 

Gần 4 tháng sau, trong một bức thư ngày 5.10.1886 gởi cho quan Thượng thư Pháp, Ký tận dụng những kiến thức quân sự, trong sở học của mình để, cố vấn cho thực dân phương pháp tiêu diệt các phong trào Cần Vương và các lực lượng vũ trang của dân Việt Nam đang hy sinh chống Pháp cứu nước: 

"Vậy hãy nhanh chóng thành lập các đoàn lạp binh và võ trang cho họ; ngài không có điều gì phải quan ngại dù các nhà quân sự đã nói về việc đó, bởi vì, những quân khí do ngài cung cấp, cho mượn hoặc bán, đều thuộc trách nhiệm trực tiếp của nhà vua và chính quyền An Nam, sau cuộc bạo hành ngày 5 tháng 7, nay chỉ còn cách thần phục nước Pháp. 

Xứ Trung-kỳ mà ngài vừa ban cho nền tự trị sẽ phải bắt buộc ở dưới sự giám hộ của Người Bảo hộ nó và với hai thế đứng của Pháp tại Bắc và Nam-kỳ, những nghĩa cử rồi ra sẽ được củng cố và hiệu nghiệm hơn lên. Tôi hiểu những tình ý thật sự của người An Nam mà tôi dám khẳng định với ngài rằng chính sách ấy là tốt hơn cả, bởi vì, một mặt ngài có cái lợi đem lại cho nước Pháp sự mến mộ và lòng tin tưởng đã bị đánh mất từ bao năm qua, và mặt khác, ngài sẽ tìm thấy những nguồn lợi không kém phần thực tế cho các đồng bang của ngài trong cái xứ Bắc-kỳ giàu có..."

Cựu giáo sĩ Trương Vĩnh Ký còn ngụy biện và xuyên tạc để thực dân Pháp biết động cơ nào mà các phong trào kháng Pháp nỗi lên. Và họ Trương còn gọi các phong trào yêu nước này là quân phiến loạn: 

"Tôi thiết tưởng có bổn phận, cũng nhân dịp này, cống hiến cho ngài: Tư tưởng của những người phiến loạn An Nam mà tôi đã có thể tìm hiểu trên những nơi có tàu đi qua.

Những kẻ phiến loạn, như tôi đã từng nhiều dịp trình với ngài, họ có lý do cho chủ nghĩa ái quốc của họ: Sự hận thù đối với các con chiên (Công giáo) mà họ cáo buộc là những hàng ngũ bên cạnh người Pháp, được dùng như những kẻ đưa đường chỉ lối". 

Sợ thực dân Pháp còn phân vân và không đủ quyết tâm, Pétrus Trương Vĩnh Ký đã khuyên Pháp không nên sợ vì nghĩa quân Việt Nam, mà họ Trương cũng gọi là bọn phiến loạn, chỉ có những khí giới thô sơ:

"Bọn phiến loạn không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lổ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa. Cái chứng cớ phơi bày ra ở Quảng Trị và Quảng Bình, họ đã không thể cắt được, dù chỉ một lần, đường dây điện thoại. Họ rất dễ bị tiêu mòn và trở lại ngoan ngoãn..."

Trương Vĩnh Ký lúc nào cũng tỏ ra sốt sắng gắn bó và tận tâm với thực dân Pháp. Hắn cố gắng lèo lái thuyết phục triều đình Việt Nam nên chấp nhận hiệp ước đánh dẹp các phong trào kháng Pháp cứu quốc của dân tộc Việt. Trương Vĩnh Ký tỏ ra đắc lực với thực dân hơn là một người Pháp chính hiệu. Cũng trong thư nói trên, hắn viết:

"Tuy nhiên, tất cả những điều đó thúc đẩy tôi nhất quyết lo liệu cho cái hiệp ước mà ngài muốn chính phủ An Nam sớm chính thức đưa ra để minh định ngõ hầu chấm dứt sự trạng và quyết định chính sách sau này phải theo. Vì thế tôi xin nhắc lại ngài cái dự án bình định với những phương tiện hành động đã được mật ước, để tiến tới thành quả mà chúng ta có thể phô trương. Về phần tôi, ngài có thể luôn luôn cậy vào sự giúp sức nhỏ yếu của tôi, vì dù sao những cảm tình của giờ phút đầu tiên đã trở thành một mối nhiệt tâm chân thành đối với ngài.

Trong một thư khác gởi cho viên giám đốc thực dân ngày 19.1.1887, Pétrus Ký cho biết vai trò gián điệp và thuyết khách của ông lúc vào làm việc trong Cơ Mật Viện của triều đình bù nhìn Đồng Khánh: 

"...Về phần tôi, xâm nhập vào Cơ Mật Viện của nhà vua, vai trò của tôi là làm cho nhà vua và triều thần hiểu được các ý tốt của chính phủ Pháp cũng như điều động chính sách của chính phủ An Nam đi gần với chính sách của nước Pháp. 

Công tác chính trị của Trương Vĩnh Ký trong nhiệm vụ yểm trợ thực dân Pháp sớm ổn định chính sách cai trị dân tộc ta. Và để làm tròn nhiệm vụ gián điệp đó, Pétrus Trương Vĩnh Ký đã phải hy sinh ước mơ được vào quốc tịch Pháp. Ông tự thú như sau trong thư đề ngày 15.9.1888, gởi cho một linh mục là ông Pène Siefert, Trương Vĩnh Ký cho biết ông không muốn vào quốc tịch Pháp vì sợ bị nghi ngờ, khó làm việc: 

"...lúc đã gia nhập quốc tịch Pháp, tôi sẽ mất hết uy tín, mất thế lực, chẳng còn được vua, triều đình và dân chúng An Nam tín nhiệm nữa". 

Trên đây là một số chứng cứ được trích dẫn từ 8 trong nhiều bức thư do chính Trương Vĩnh Ký viết đã cho thấy tư duy và hành trạng của hắn, một trong những Việt gian đắc lực và nguy hiểm nhất trong thời Pháp đô hộ nước ta. 

Qua đây ta thấy phát ngôn của ông Dương Trung Quốc và đám ngụy sử khi cho rằng "Trương Vĩnh Ký yêu nước theo cách riêng của mình" là một điều láo khoét và không thể chấp nhận được.


Yêu nước ST.

Kiên quyết đẩy lùi suy thoái


          "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", do vậy việc chú trọng rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là vấn đề luôn được Đảng đặc biệt chú trọng. Một trong những bài học quý báu được Đảng chỉ ra trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, đó là "công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ". 
          Cùng với chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, công tác xây dựng Đảng về đạo đức là một điểm sáng trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Bộ Chính trị ban hành Quy định 55-QĐ/TW về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, kịp thời chấn chỉnh tác phong công tác, lối sống xa hoa, lãng phí gây phản cảm trong xã hội và gương mẫu thực hiện nếp sống văn minh, giản dị, tiết kiệm. Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, chỉ rõ 8 nội dung các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải gương mẫu đi đầu thực hiện và 8 nội dung phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống; đồng thời, yêu cầu cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chỉ đạo xây dựng và ban hành quy định về chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm cụ thể của ngành, cơ quan, đơn vị, làm cơ sở để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trong công tác và sinh hoạt.
          Chỉ tính trong gần 5 năm của nhiệm kỳ XII (từ năm 2016 đến 30/9/2020) qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.177 tổ chức đảng và 64.809 đảng viên bằng các hình thức khác nhau. Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.027 đảng viên. Riêng Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xử lý kỷ luật 150 đảng viên, đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 57 đảng viên, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị và nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, 27 Ủy viên Trung ương Đảng và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 26 sĩ quan cấp tướng trong Quân đội và Công an. Có thể thấy rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm đã bị xử lý, nhưng có một nguyên nhân gốc rễ đã được Đại hội XIII chỉ ra, đó là "việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống". Chính vì vậy trong nhiệm kỳ khóa XIII, Đảng ta tiếp tục xác định: Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; Coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng; Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức. Trong đó Đảng khẳng định "Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên định những nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng". Công tác tư tưởng phải kết hợp giữa "xây" và "chống", lấy "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái. Trong xây dựng Đảng về đạo đức, Đảng ta xác định kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.



Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trước hết từ đội ngũ cán bộ các cấp


          Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII thống nhất cao việc bổ sung hai nhóm giải pháp để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm.

Kỳ họp thứ 7 Ủy ban Kiểm tra Trung ương ngày 30/9/2021.

          Dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình cao với hai giải pháp này, đồng thời mong muốn các tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là đội ngũ cán bộ các cấp nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm để tự giác, gương mẫu thực hiện.

          Về chủ đề này, thực tế cho thấy, từ nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, công tác phòng, chống tham nhũng được chỉ đạo quyết liệt. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87 nghìn đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tăng cường. Lĩnh vực phòng, chống tham nhũng đã đạt được nhiều kết quả toàn diện, rõ rệt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội; tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

          Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện; trong đó khẳng định tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo dõi và tâm huyết với những vấn đề được hội nghị thảo luận, PGS Đặng Quốc Phòng, nguyên giảng viên Đại học Bách khoa Đà Nẵng, chia sẻ: Chúng tôi mong muốn Đảng ta kiên định phương châm là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Các giải pháp cần đạt mục tiêu nâng cao nhận thức và hành vi của cán bộ, đảng viên theo hướng tích cực, đúng đắn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

          Tại nhiều địa phương, rất nhiều cán bộ, đảng viên, người dân theo dõi sát thông tin, diễn biến hội nghị và thể hiện sự phấn khởi với những nội dung, kết quả của hội nghị; đồng thời, thống nhất bày tỏ niềm tin, những chủ trương, giải pháp, quyết sách của hội nghị sẽ sớm hiện thực hóa trong cuộc sống, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, bộ máy Nhà nước, nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân.

 

Quyết tâm quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, tiêu cực

 

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị cử tri và nhân dân tiếp tục theo dõi, giám sát, góp ý kiến kịp thời xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cùng chung sức, đồng lòng giữ gìn cơ đồ cha ông để lại.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội.

          Mong cán bộ “miệng nói tay làm”

          Sáng 9/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đại biểu Quốc hội thuộc Đơn vị bầu cử số 1 thành phố Hà Nội đã tiếp xúc cử tri các quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng trước kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV.

          Tại hội nghị, cử tri ba quận ghi nhận, đánh giá cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh vừa phải thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa phòng, chống đại dịch COVID-19.

          Dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác phòng, chống tham nhũng, nhiều ý kiến cử tri khẳng định, tinh thần phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không có điểm dừng, không có ngoại lệ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, trực tiếp là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

          Cử tri các quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng kiến nghị Quốc hội có ý kiến để Chính phủ chỉ đạo sớm thiết lập trạng thái thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh. Cán bộ các cấp nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, "miệng nói tay làm", lăn lộn với cơ sở, giúp đỡ nhân dân một cách kịp thời.

          Ngoài ra, cử tri Nguyễn Thành Công (phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng) kiến nghị sớm có biện pháp đưa trẻ em quay lại trường học. Cử tri Phùng Huy Nam (phường Trung Phụng, quận Đống Đa) kiến nghị Quốc hội tăng cường hơn nữa giám sát tối cao, nhất là việc mua sắm vắc xin, vật tư y tế phòng, chống dịch bệnh.

          Không chỉ chống tham nhũng mà chống cả tiêu cực

          Thay mặt các đại biểu Quốc hội phát biểu tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, các ý kiến đều rất chất lượng, sâu sắc, thể hiện tâm huyết, trách nhiệm với sự nghiệp chung.

          Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đại dịch COVID-19 ảnh hưởng rất lớn đối với thế giới nói chung, trong đó có nước ta. Nhưng dưới sự lãnh đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân, công tác phòng, chống dịch COVID-19 đã đem lại hiệu quả. Các hoạt động của đất nước vẫn diễn ra bình thường trong điều kiện phòng, chống dịch bệnh. Trong khó khăn, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín và sức mạnh tổng hợp quốc gia tiếp tục được củng cố; truyền thống đoàn kết, tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.

          Tuy nhiên, Tổng Bí thư nhìn nhận, đất nước đang còn rất khó khăn. Tình hình dịch bệnh vẫn có nguy cơ cao. Tăng trưởng kinh tế đạt thấp. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực diễn biến phức tạp.

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, thời gian tới, cả nước cần tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, ý chí quyết tâm cao để vượt qua khó khăn. Trong đó, tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, tự mãn trước dịch bệnh COVID-19; tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để đất nước bình yên mới có điều kiện phát triển. “Khó khăn còn nhiều, nhưng phải xác định tất cả là thử thách bản lĩnh để nỗ lực vượt qua”, Tổng Bí thư nói.

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, bản thân sẽ nỗ lực hết sức để đóng góp xây dựng Quốc hội thực sự của dân, do dân, vì dân; mỗi đại biểu Quốc hội thực sự là đại biểu trung thực, trung thành, không ngừng cố gắng thực hiện tốt 3 nhiệm vụ trọng yếu: Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng luật pháp đúng với thực tế; giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị cử tri và nhân dân tiếp tục theo dõi, giám sát, góp ý kiến kịp thời xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cùng chung sức, đồng lòng giữ gìn cơ đồ cha ông để lại.

          Tổng Bí thư nhấn mạnh, cả hệ thống chính trị vào cuộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với nhân dân “tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng”, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt, thực hiện phương châm “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công” thì đất nước ta không sợ kẻ thù nào, ngay cả giặc nội xâm là tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vì chúng ta đã có kinh nghiệm.

          Thông tin nhanh về kết quả Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, sắp tới, Ban Bí thư sẽ chỉ đạo tổ chức hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị này với hai trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Trên cơ sở đó, toàn Đảng sẽ đẩy mạnh đấu tranh, quyết tâm quét sạch chủ nghĩa cá nhân; không chỉ chống tham nhũng, mà phải chống cả tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

 

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN SAI TRÁI, LỆCH LẠC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT HIỆN NAY!

     Gần đây, lĩnh vực văn học, nghệ thuật có sự phát triển rất phong phú, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của xã hội trong thời kỳ mới song cũng xuất hiện những biểu hiện lệch lạc, sai trái nên bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng. Do đó, cần phải nhận diện những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật để có cách thức đấu tranh phù hợp, góp phần bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật.

 

NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN SAI TRÁI, LỆCH LẠC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

Trong thời gian gần đây, trước những biến chuyển lớn lao trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước nhà cũng có những thay đổi đáng kể. Về cơ bản, văn học, nghệ thuật đã phản ánh được cuộc sống muôn màu, góp phần đáng kể trong việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân và mang đến cho con người những giá trị sống tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh đó, lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng có những biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội. Những biểu hiện đó thể hiện trên những phương diện cơ bản như sau:


Thứ nhất, do ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường nên nhiều văn nghệ sĩ đã tuyên truyền lối sống thực dụng, vị kỷ, thích hưởng thụ, coi trọng giá trị vật chất vào đối tượng thanh niên, sinh viên thông qua các hoạt động văn hóa, nghệ thuật giải trí, làm cho cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu hiệu tăng lên rõ rệt. Môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng dẫn tới không ít thanh niên, sinh viên khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, chuẩn mực sống và niềm tin của mình vào những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.


Thứ hai, một số văn nghệ sĩ dễ dàng “chiều” theo thị hiếu của một bộ phận công chúng, tìm cách quảng bá những tác phẩm chống chế độ, xuyên tạc nhằm hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của một số lãnh tụ cách mạng tiền bối; cố tình tôn vinh những kẻ đã và đang chống lại, đi ngược đường lối cách mạng của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”.


Thứ ba, một số văn nghệ sĩ bất mãn với chế độ, thậm chí có những người trước đây vốn là những nhà văn cách mạng, đã từng có nhiều đóng góp tích cực cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà nhưng bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lôi kéo, kích động nên quay sang bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả cách mạng của dân tộc.


Thứ tư, có một số văn nghệ sĩ lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, hạ bệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc, phủ nhận quan điểm Mác - Lênin về văn hóa - văn nghệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, miêu tả cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc của nhân dân ta như một cuộc nội chiến; chỉ đề cao một chiều các lý thuyết bắt nguồn từ thực tiễn văn học, nghệ thuật phương Tây, gây ra sự lệch chuẩn trong sáng tác cũng như nghiên cứu lý luận, phê bình văn nghệ.


Nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện lệch lạc, sai trái trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật trong thời gian qua không chỉ xuất phát từ nhận thức sai lầm và sự cố chấp của một số văn nghệ sĩ bất mãn với chế độ mà còn do sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch trong và ngoài nước đối với một số văn nghệ sĩ. Đối tượng văn nghệ sĩ mà các thế lực thù địch thường chú ý lôi kéo gồm: số văn nghệ sĩ do chế độ cũ đào tạo; những văn nghệ sĩ đã từng có vi phạm pháp luật, có quá khứ tham gia nhóm “Nhân văn - Giai phẩm”; nhóm văn nghệ sĩ tuy đã tham gia kháng chiến cứu nước, nhưng hiện nay bất mãn, cực đoan, có sai phạm, lệch lạc trong sáng tác văn học,nghệ thuật; những văn nghệ sĩ trẻ, lập trường không vững vàng, chạy theo cơ chế thị trường trong cácsáng tác văn học, nghệ thuật...


Theo thống kê của Bộ Công an, hiện nayở nước ngoài có khoảng hơn 50 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, 429 báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản tập trung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hằng năm, có hơn 3.000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng được đưa vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau. 


Một số văn nghệ sĩ, trí thức bị lợi dụng, lôi kéo vào hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa, phản bội Tổ quốc, chạy trốn ra nước ngoài để truyên truyền chống Đảng, Nhà nước ta; hay có những nhà văn, trí thức đã “tự diễn biến, tự chuyển hóa” thành những kẻ có quan điểm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.


Gần đây, một số văn nghệ sĩ, trí thức có uy tín, từng công tác, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật muốn vận động, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập”. Tổ chức này đã mạo danh chấn hưng nền văn học để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối thông qua các hoạt động bất hợp pháp, chống phá Đảng và chế độ ta. Điều này cho thấy rõ biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. 


Bên cạnh đó, còn có hiện tượng không ít văn nghệ sĩ tận dụng những lợi thế của những trang mạng cá nhân, các blog, tài khoản zalo, trang mạng xã hội facebook để bình luận những vấn đề thời sự, chính trị của đất nước bằng ngôn ngữ của văn chương, nghệ thuật với cái nhìn một chiều, cực đoan. Trên trang facebook cá nhân, một số văn nghệ sĩ, trí thức cũng đã đăng tải những trạng thái, những bài thơ, đoạn trích văn xuôi, bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân trước một số vụ việc trong nước theo hướng phê phán, lên án chính quyền, tạo cớ để các thế lực thù địch có dịp chống phá Đảng và chế độ ta.


Những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật có tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân trong thời gian qua, trong đó có giới trẻ. Có không ít người đã hoang mang, hoài nghi về lịch sử của dân tộc cũng như những thành quả cách mạng của nhân dân. Thậm chí có những người có tâm lý bi quan, chán nản, mất niềm tin vào những giá trị chân - thiện - mỹ. Vì vậy, cần phải có những cách thức phù hợp để đấu tranh với những biểu hiện sai trái, lệch lạc đó nhằm bảo vệ giá trị đích thực của văn học, nghệ thuật đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy./.


Môi Trường ST.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI NHỮNG BIỂU HIỆN SAI TRÁI, LỆCH LẠC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!

    Để chống lại những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở nước ta hiện nay, cần chú ý đến những giải pháp sau:


Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với những người làm việc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. 

Có một thực tế là, không phải ai làm trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật cũng có hiểu biết đầy đủ, thấu đáo về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Do đó, dễ có những biểu hiện lệch lạc, đi ngược lại những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Do đó, các cơ quan quản lý truyền thông, báo chí, hội văn học, nghệ thuật các cấp cần đẩy mạnh tuyên truyền cả cho những văn nghệ sĩ và những người làm công tác quản lý hoạt động sáng tác, xuất bản văn học nghệ thuật. Nội dung và hình thức tuyên truyền cần phong phú, đa dạng, phù hợp với đối tượng văn nghệ sĩ. 

Thứ hai, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước là điều kiện tiên quyết đảm bảo hoạt động văn học, nghệ thuật đi đúng hướng.

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, để khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực văn hóa nói chung, Đảng ta đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về văn hóa”. Đây cũng chính là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục những biểu hiện sai trái, lệch lạc về văn học, nghệ thuật ở nước ta thời gian qua. 

Cần phát huy vai trò của các đảng bộ, chi bộ ở các hội văn học, nghệ thuật trong việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của các hội viên. Các cơ quan quản lý như Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch hay Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch các tỉnh, thành phố, các hội, chi hội cần tăng cường quản lý hoạt động sáng tác, biểu diễn, xuất bản một cách chặt chẽ, tránh tình trạng buông lỏng quản lý để các hội viên tự do thái quá, có quy định, chế tài cụ thể để gắn các văn nghệ sĩ với trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, cần sớm hoàn thiện và ban hành bộ Quy tắc ứng xử của văn nghệ sĩ trên không gian mạng để kiểm tra, giám sát hoạt động của các văn nghệ sĩ trên mạng xã hội.

Thứ ba, đầu tư các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã rà quét, phát hiện và xử lý những thông tin xấu độc trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật trên mạng xã hội. Sở dĩ những thông tin xấu độc về văn học, nghệ thuật lan tràn trên mạng xã hội trong thời gian qua là do chưa có cách thức để kiểm soát, xử lý. Những hoạt động chống phá trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật được thực hiện trên mạng xã hội thời gian qua diễn ra rất tinh vi nên các cơ quan chức năng và các cơ quan quản lý về văn học, nghệ thuật cần áp dụng những giải pháp kỹ thuật, công nghệ cao để rà quét, phát hiện, bóc gỡ, xử lý những thông tin có nội dung xấu độc nhằm làm trong sạch môi trường văn hóa mạng. Điều này không chỉ góp phần kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các văn nghệ sĩ trên không gian mạng mà còn ngăn chặn các hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch trên không gian mạng.

Thứ tư, phát huy vai trò, trách nhiệm của các văn nghệ sĩ trong việc đấu tranh chống lại những biểu hiện sai trái, lệch lạc trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Các văn nghệ sĩ là người của công chúng, thường có lượng độc giả, khán giả lớn. Họ là những người có tầm ảnh hưởng với xã hội. Do đó, những biểu hiện lệch lạc của họ dễ gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, có khi kéo theo nhiều người làm theo hoặc có khi bản thân họ bị mất uy tín. Vì thế, những người làm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật cần hiểu rõ được vai trò, vị thế của mình, song cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống lại những biểu hiện sai trái, lệch lạc; có chính kiến cá nhân đúng đắn, tránh để các phần tử cơ hội lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc. Ngoài ra, các văn nghệ sĩ cần phải tích cực tuyên truyền, định hướng cho độc giả, khán giả những thông tin có nội dung đúng đắn, tích cực; tránh lợi dung uy tín của bản thân để lôi kéo độc giả, khán giả vào những hoạt động sai trái, vi phạm pháp luật.

Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, cần nhận diện và đấu tranh chống lại những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn hóa nói chung và văn học, nghệ thuật nói riêng. Đó là cách làm cho văn học, nghệ thuật ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần của nhân dân và trở thành sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.


Môi Trường ST.

NHẬN THỨC NHỮNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

Biểu hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam xuất hiện từ hai hướng: Một mặt, đó là âm mưu và hoạt động tác động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch. Mặt khác, đó là sự “tự chuyển hóa” chính trị của nội bộ ta. Hai hướng này có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. Yếu tố bên ngoài thúc đẩy, tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong đó, “tự chuyển hóa” bên trong sẽ quyết định sự thay đổi về chính trị nên hết sức nguy hiểm. Do vậy, phương châm, nguyên tắc bảo đảm an ninh nội bộ, phòng, chống chuyển hóa chính trị phải chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là trước tiên.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

Trương Vĩnh Ký oan nỗi gì?



Đầu năm nay, tại TPHCM xảy ra một hiện tượng văn hóa khá ồn ào. Số là cuốn sách tựa đề “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ” (Nhã Nam và Nhà xuất bản Tri thức) do cụ  Nguyễn Đình Đầu chủ biên, đã không được ra mắt như đã định do Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị thu hồi để chỉnh sửa theo yêu cầu của Cục Xuất bản, In và Phát hành trong khi sách đã được Cục Xuất Bản chấp thuận và cấp phép lưu chiểu từ  mấy tháng trước.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

Sau đại dịch người dân Việt Nam nhận diện rõ hơn bộ mặt ghê tởm của đám phản động



 

Khi người dân vừa tạm thở phào khi dịch bệnh tạm thời “hạ nhiệt” thì tổ chức phản động Việt Tân và một số tên phản động lưu vong lại gào lên rằng, “Covid-19 phơi bày tất cả sự thật về Đất nước đáng sống”. 

Tham mưu ... theo ý sếp


          'Tham mưu theo ý sếp' đã và đang xuất hiện ở không ít nơi, cơ quan, công sở, bởi nó mang lại nhiều 'lợi ích': sếp thích hơn (vì đúng ý), sếp hài lòng hơn (vì sự đồng lòng, giúp sức của cấp dưới), hiển nhiên sếp sẽ quan tâm hơn, nâng đỡ hơn cho mình (có đi, có lại). Hệ lụy của hiện tượng này chính là hình thành một bộ phận những cán bộ cấp dưới chỉ 'chuyên tâm, chăm chú' xu nịnh, đón ý, chiều lòng cấp trên; làm vô hiệu hóa những ý kiến tham mưu sắc sảo, dám nói, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu những lời can gián, tư vấn, phản biện khoa học, vì lợi ích chung...

          Tham mưu là hiến kế, đề xuất, đưa ra các ý tưởng, sáng kiến, phương án, cũng như những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu nhằm giúp lãnh đạo có thông tin, cơ sở, từ đó quyết định “đúng và trúng” những vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Đây vốn là công việc dành cho những người “phía sau”, với năng lực và sự am hiểu công tác chuyên môn, đội ngũ này nhận định, đánh giá các vụ việc, vấn đề, nội dung… trên cơ sở khoa học và thực tiễn để tư vấn cho cấp trên. Vì thế, “sản phẩm” tham mưu hiển nhiên chứa đựng hàm lượng chất xám của các cá nhân hoặc tập thể. Có thể sẽ có nhiều đáp án, được sắp xếp theo thứ tự 1, 2, 3, hoặc ở chừng mực nhất định, người tham mưu sẽ đề xuất lãnh đạo giải quyết theo phương án khả thi nhất mà họ nhận định.

          Việc tham mưu càng được triển khai khách quan, công tâm, khoa học thì chất lượng tham mưu càng cao, lãnh đạo càng có nhiều cơ sở tin cậy để có thể đi đến quyết định đạt hiệu lực, hiệu quả.

          Lý thuyết là như vậy, tuy nhiên, thực tế cho thấy, lâu nay ở không ít cơ quan, đơn vị vẫn tồn tại một kiểu tham mưu “đặc biệt”, đó là: Tham mưu theo ý sếp. Những “phiên bản” khác có thể kể ra là đợi ý sếp để “vun vào”, xem sếp muốn gì để tham vấn theo ý đó.

          Cho dù phương cách nào, thì bản chất của tham mưu trong những trường hợp này đã bị đi lệch quỹ đạo. Tính khách quan, khoa học, tính cẩn trọng, chính xác đương nhiên bị thay thế bởi ý sếp, phương án của sếp, dự định của sếp (bất chấp thực tế có thể đúng như chọn lựa của sếp hoặc không phải như vậy). Việc còn lại của những người “tham mưu” chỉ còn là vun vào, củng cố thêm, làm chắc chắn thêm cho sếp thấy quyết định của mình là đúng. Thậm chí, họ sẵn sàng vượt qua tất cả các ý kiến trao đổi, thảo luận, phản biện chỉ để hướng về đích mà sếp đã định ra. Ý sếp bỗng nhiên trở thành chân lý được vạch sẵn, kẻ đường, để những người “phía sau” đi theo. Phải làm thế nào để ý sếp được trở thành hiện thực, phương án sếp chọn trở thành phương án số 1. Đơn giản chỉ vậy!

          “Tham mưu theo ý sếp” đã và đang xuất hiện ở không ít nơi, cơ quan, công sở, bởi nó mang lại nhiều “lợi ích”: sếp thích hơn (vì đúng ý), sếp hài lòng hơn (vì sự đồng lòng, giúp sức của cấp dưới), hiển nhiên sếp sẽ quan tâm hơn, nâng đỡ hơn cho mình (có đi, có lại). Hệ lụy của hiện tượng này chính là hình thành một bộ phận những cán bộ cấp dưới chỉ “chuyên tâm, chăm chú” xu nịnh, đón ý, chiều lòng cấp trên; làm vô hiệu hóa những ý kiến tham mưu sắc sảo, dám nói, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu những lời can gián, tư vấn, phản biện khoa học, vì lợi ích chung...

          Hiển nhiên, “tham mưu” như vậy thì không phải là... tham mưu như nguyên nghĩa tốt đẹp, tích cực của nó nữa.

          Khi nào, ở đâu vẫn còn những vị “sếp” chỉ thích xu nịnh, vuốt đuôi, “tiền hô, hậu ủng”; ưa áp đặt, mệnh lệnh - coi ý mình là “chân lý” mà cấp dưới phải thực thi… thì ở đó sẽ vẫn “nở rộ” những người chỉ biết “tham mưu theo ý sếp”!./.