Thứ Ba, 12 tháng 10, 2021

Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 4 - Chữa “bệnh” xa dân

 

Gắn bó mật thiết với nhân dân là phẩm chất cốt lõi thể hiện bản chất, sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”(1).

 Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 1 - “Pháp bảo” của đội tiên phong

 Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 2 - Tự phê bình và phê bình - "vũ khí" sắc bén

 Bài 3: Đoàn kết - sức mạnh vô địch của Đảng

Nhân dân là cội nguồn làm nên sức mạnh vô tận và vô địch của Đảng. Nắm được sức mạnh của lòng dân, có được sự ủng hộ của nhân dân là vũ khí tối ưu trên mọi trận tuyến chống các thế lực thù địch, phản động.

Trái lòng dân là mất tất cả

Có thể khẳng định, trải qua các thời kỳ phát triển của Đảng, việc xây dựng mối liên hệ, gắn bó với nhân dân luôn được Đảng coi trọng. Đảng thường xuyên khẳng định cần gắn bó mật thiết với nhân dân, coi đây là cội nguồn sức mạnh, nhân tố làm nên thắng lợi của Đảng, của sự nghiệp cách mạng. Đến Đại hội X (2006), trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Đảng chính thức nâng vấn đề này lên thành nguyên tắc và ghi vào trong Điều lệ Đảng: "Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân". Đây thực sự là một bước ngoặt, đánh dấu nhận thức mới của Đảng đối với mối quan hệ Đảng với nhân dân trong tình hình mới.

Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân có vai trò to lớn không chỉ đối với bản thân Đảng, mà còn có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với các tầng lớp nhân dân, đối với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân do Đảng lãnh đạo. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Gắn bó mật thiết với nhân dân trở thành quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân xuất phát từ yêu cầu của đảng cầm quyền: Đảng muốn giữ được vị trí cầm quyền phải giữ được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân. Quần chúng nhân dân là đối tượng lãnh đạo của Đảng. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Vì thế, mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân tạo nên sức mạnh của Đảng, duy trì và củng cố vững chắc địa vị cầm quyền của Đảng. Từ thực tiễn sinh động, từ phong trào quần chúng, Đảng hoạch định, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách. Những sáng kiến đóng góp của quần chúng giúp Đảng đề ra được đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Khi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được ban hành, chính nhân dân là người thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách đó. Mục tiêu, đường lối của Đảng chỉ có thể trở thành thực tiễn trong đời sống của nhân dân khi Đảng huy động được mọi nguồn lực trong nhân dân, được nhân dân đồng tình và tự giác thực hiện. Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân góp phần trực tiếp khơi dậy nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực dồi dào của nhân dân, nhân lên thành sức mạnh để hiện thực hóa lợi ích của nhân dân. 

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Trong 5 năm qua, các cấp ủy đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị-xã hội tổ chức hơn 90.000 hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; MTTQ, tổ chức chính trị-xã hội các cấp và nhân dân đã có hơn 32.000 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra từ những thành công của quá trình đổi mới, nhất là sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Đó chính là nguyên nhân quan trọng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, thu được những thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội. Nhiều lĩnh vực để lại dấu ấn nổi bật như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, chống tham nhũng, lãng phí...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

“Bệnh” xa dân còn nặng

 Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân ai cũng thấy đúng, thấy quan trọng, cần thiết, nhưng trong thực tế vận hành nguyên tắc thì còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm. Nghị quyết Đại hội XIII xác định: “Công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế; một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(2).

Không ít cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở chưa quan tâm, chú trọng phòng ngừa, phát hiện sớm, chưa kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chưa giải quyết triệt để những bức xúc chính đáng của nhân dân, vẫn để xảy ra những “điểm nóng” về chính trị-xã hội. Cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực vẫn ở tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” khiến người dân có cảm giác “quan ở xa, bản nha ở gần”. Các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động còn nặng về hành chính, chưa thực sự thu hút, lôi cuốn quần chúng. Cán bộ làm công tác ở MTTQ các cấp còn bị xem nhẹ, chưa có cơ chế hoạt động hiệu quả, chưa có nhiều cán bộ giỏi đam mê làm công tác này. Tinh thần phục vụ nhân dân của không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính chưa tốt; công tác cải cách hành chính còn chậm. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn nặng về hình thức. Cấp ủy, tổ chức đảng ở một số nơi chưa thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên chưa bám sát đời sống một bộ phận nhân dân gặp khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, công nhân lao động ở các khu công nghiệp...

Một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Trong xã hội đang hình thành một tầng lớp thượng lưu “đặc quyền, đặc lợi”, sống xa xỉ, hưởng lạc, xa cách nhân dân lao động, trong đó có cả đảng viên hoặc vợ con của những đảng viên là cán bộ cấp cao. Một số cấp ủy, tổ chức đảng ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết thiếu khoa học, thiếu dân chủ, không đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cho rằng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường(3).

Những giải pháp gần dân

Đại hội XIII của Đảng với quan điểm “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng” đã xác định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” là một trong những nhiệm vụ, giải pháp đột phá trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo chúng tôi, triển khai nhiệm vụ, giải pháp này cần thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Một là, cấp ủy các cấp tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Hai là, hoàn thiện thể chế “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân”; trong đó cụ thể hóa các quy định về bí thư cấp ủy định kỳ tiếp xúc, đối thoại với quần chúng nhân dân; quy định về vai trò của quần chúng nhân dân trong giám sát, quản lý, đánh giá đội ngũ cán bộ; tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Trong kiểm điểm, đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm, nhất định phải có phần kiểm điểm, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của đảng viên.

Bốn là, cấp ủy các cấp, nhất là Trung ương Đảng tăng cường công tác nắm bắt, nắm chắc lòng dân với các chỉ số đo lường trung thực, chính xác. Có nắm chắc lòng dân thì mới có giải pháp, biện pháp kịp thời củng cố, nâng cao sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Chính điều đó giúp Đảng ta luôn xứng đáng là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân và của cả dân tộc. Nội dung này, chúng tôi xin được gửi đến bạn đọc trong bài viết tiếp theo.

(còn nữa)


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thật, 2011, t.10, tr.63

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, t.2, tr.205-206.

(3) Báo Quân đội nhân dân, ngày 5-10-2021

Bài 3: Đoàn kết - sức mạnh vô địch của Đảng

 Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”

Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để Đảng Cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...

 Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 2 - Tự phê bình và phê bình - "vũ khí" sắc bén

 Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 1 - “Pháp bảo” của đội tiên phong

Ngay từ khi mới thành lập Đảng, những người cộng sản Việt Nam đã thống nhất từ bỏ mọi thành kiến và xung đột cũ, kết thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc. Tại Đại hội III của Đảng năm 1960, nhận thức rõ đoàn kết “là sinh mệnh của Đảng”, Đảng ta bổ sung vào Điều lệ Đảng nguyên tắc đoàn kết nhất trí và nhấn mạnh: “Đảng kiên quyết chống lại mọi hiện tượng chia rẽ, bè phái trong Đảng. Mỗi đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt... Tự phê bình và phê bình thành khẩn, thẳng thắn và đúng mức là một bảo đảm cho sự đoàn kết nhất trí đó”(1). Điều lệ Đảng hiện hành quy định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động... đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng”(2). 

Đánh giá kết quả thực hiện nguyên tắc đoàn kết, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Đảng ta đoàn kết, thống nhất và trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới”(3). Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm”(4). Trước đó, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã cảnh báo: “Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty”(5).

Tình hình mất đoàn kết nội bộ trong một số tổ chức đảng có thể gây ra những nguy hại khôn lường. Hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên phải nhận thức rõ “chia rẽ, bè phái phải coi là phạm tội lớn nhất đối với Đảng, đối với nhân dân”. Một số biểu hiện sau đây về mất đoàn kết trong nội bộ tổ chức đảng là điều rất đáng chú ý.

Mất đoàn kết do “lợi ích nhóm” giữa các cơ quan công quyền, địa phương. Do lợi ích cục bộ chi phối, có sự vận động tranh thủ, đấu đá, tranh giành giữa cơ quan này với cơ quan khác. Đặc biệt nguy hại nếu sự mất đoàn kết này xảy ra giữa các cơ quan làm chính sách. Mặc dù những biểu hiện chưa nhiều nhưng trên thực tế đã có những cơ quan làm chính sách theo kiểu “cuốc giật vào lòng”, tiến hành tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan, đơn vị, địa phương khác ủng hộ những quyết định, chương trình, dự án... nhằm thu lợi cục bộ cho cơ quan mình.

Hiện tượng “lợi ích nhóm” còn tạo ra sự “đoàn kết xuôi chiều” trong một số cấp ủy. Điều này dẫn đến tình trạng tham nhũng, tiêu cực tập thể. Một số cấp ủy thậm chí còn “quyết nghị” những vấn đề như chi “phần trăm hoa hồng”, “phí bôi trơn”, “quà tặng” trái pháp luật để mưu cầu lợi ích cục bộ cho cơ quan đó. Tình trạng “đoàn kết xuôi chiều” vì “lợi ích nhóm” này rất khó đấu tranh và là vấn đề đáng chú ý nhất trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Mất đoàn kết giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền địa phương. Đây là điều từng xảy ra ở nhiều địa phương và đến nay vẫn là điều cần được cảnh báo. Vấn đề “quyền anh, quyền tôi” luôn được đặt ra trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa hai người đứng đầu. Đã có thời điểm, không ít địa phương có biểu hiện mất đoàn kết ở mối quan hệ này. Hiện nay và lâu dài về sau, cơ chế lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền địa phương sẽ còn nảy sinh những vấn đề mới, khó hoàn thiện trong một sớm một chiều. Nếu người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền địa phương sa vào chủ nghĩa cá nhân, chắc chắn sẽ dẫn đến mất đoàn kết. Đặc biệt, hiện nay Đảng ta đang thực hiện giải pháp luân chuyển cán bộ, nhiều bí thư cấp ủy không phải là người địa phương thì nguy cơ mất đoàn kết càng phải được quan tâm.

Mất đoàn kết do cục bộ địa phương, đặc biệt trong công tác cán bộ (CTCB). Tình cảm quê hương là một giá trị truyền thống đặc sắc của người Việt Nam. Nhưng nếu để tình cảm này chi phối CTCB, dễ dẫn đến mất đoàn kết giữa những người được hưởng lợi và những người không được hưởng lợi. Trong những năm gần đây, vấn đề kiểm soát quyền lực được Đảng ta đặc biệt quan tâm nhưng những tiêu cực trong CTCB chưa phải đã được khắc phục triệt để. Vấn đề mất đoàn kết do cục bộ địa phương trong nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là một trong những biểu hiện rất đáng lo ngại hiện nay.

Mất đoàn kết do thu nhập và mức sống giữa các đảng viên quá chênh lệch. Đảng viên phải đi thuê nhà đương nhiên suy nghĩ khác xa đảng viên ở trong các biệt thự, lâu đài tráng lệ. Sự phân hóa với khoảng cách ngày càng xa về mức sống của đảng viên sẽ thúc đẩy sự khác biệt về tư tưởng, nhận thức, thậm chí dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết trong Đảng. “Đảng ta sau này sẽ là Đảng của ai?” là câu hỏi đầy trăn trở mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra. Rõ ràng, rất khó để có được sự đoàn kết, nhất trí cao giữa “kẻ ăn không hết” với “người lần không ra”.

Trên đây là một số biểu hiện dẫn đến tình trạng mất đoàn kết trong một số cấp ủy, tổ chức đảng. Nguyên nhân có nhiều, nhưng trước hết và chủ yếu là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây nên. Nhìn nhận như vậy để thấy rằng, sự nghiệp đấu tranh bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn chặt với sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà cụ thể hơn là đấu tranh, bảo vệ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Để nguyên tắc đoàn kết trong Đảng phát huy vai trò, tác dụng, trước hết cần tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả 10 nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thực sự coi trọng giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên. Sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng là cơ sở nền tảng cho việc thống nhất ý chí, thống nhất hành động. Không ngừng hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn. Kiên định và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng cùng với không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng.

Giải pháp đột phá là tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, là hạt nhân đoàn kết của cấp ủy, tổ chức đảng cấp mình. Hoàn thiện thể chế về CTCB; xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; thực sự tiên phong, gương mẫu. Tiếp tục đổi mới CTCB, bố trí đúng người đứng đầu cấp ủy và chính quyền địa phương; chăm lo xây dựng cấp ủy, thường vụ cấp ủy từ cấp cơ sở đến Trung ương.

Cấp ủy các cấp cần chú trọng xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế lãnh đạo. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp; kiên quyết xử lý dứt điểm hiện tượng mất đoàn kết trong các cấp ủy, tổ chức đảng. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách; giảm dần khoảng cách và sự bất bình đẳng về thu nhập, điều kiện làm việc của đảng viên. Đẩy mạnh công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, gây mất đoàn kết trong Đảng của các thế lực thù địch, phản động.

(còn nữa)

------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2002, t.21, tr.782.

(2) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2016, tr.5.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, t.2, tr.221.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021,t.2, tr.225. 

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, 2016, tr.22. 

Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 2 - Tự phê bình và phê bình – “vũ khí” sắc bén

 

Nguyên tắc tự phê bình và phê bình (TPB&PB) được đưa vào Điều lệ Đảng từ Đại hội II của Đảng năm 1951.

Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 1 - “Pháp bảo” của đội tiên phong

Từ đó đến nay, TPB&PB trở thành quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Những người hoài nghi sức mạnh nội sinh của Đảng cho rằng, nguyên tắc này chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”. Nhưng thực tiễn đã chứng minh, nguyên tắc này là “vũ khí” sắc bén để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của đảng viên và tổ chức đảng...

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (1). 

Hiếm có đảng cầm quyền nào mà sinh hoạt TPB&PB lại trở thành công việc thường xuyên, trở thành nếp sinh hoạt chính trị thấm đẫm giá trị nhân văn như Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù, đến Đại hội II (1951) Đảng ta mới đưa TPB&PB vào Điều lệ Đảng, nhưng từ khi mới ra đời (3-2-1930) Đảng ta đã mang trong mình tinh thần “tự chỉ trích” rất nghiêm túc. Thực tiễn hơn 91 năm qua cho thấy, mỗi khi phát hiện có sai lầm, Đảng đều công khai thừa nhận và tìm ra biện pháp sửa chữa. Trong cuộc Cải cách ruộng đất và chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc (1953-1956), khi phát hiện sai lầm, Trung ương Đảng đã họp tự kiểm điểm suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng đã thẳng thắn thừa nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”(2). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận hình thức kỷ luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng chí Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn, công khai thừa nhận sai lầm trước nhân dân.

Sau hơn 10 năm đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến hành đợt TPB&PB nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI của Đảng năm 1986 dũng cảm nhận thấy “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”. Sau Đại hội VI, trên báo Nhân Dân xuất hiện chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với bút danh “N.V.L”, tiếp nối tinh thần của đại hội, thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém cần sửa ngay, tạo ra không khí sửa sai rất sôi nổi, thực chất trong toàn xã hội. Chính tinh thần ấy đã cổ vũ, động viên đất nước, nhân dân ta vượt qua khó khăn, thử thách, từng bước đưa công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nhưng kiểm điểm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao” (3). Đấu tranh với những hiện tượng vi phạm nguyên tắc TPB&PB trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. 

Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả. Đặc biệt, sau khi Hội nghị Trung ương 4, khóa XI ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; ngày 13-8-2012, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị toàn quốc để hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm TPB&PB theo tinh thần nghị quyết này. Ngày 4-10-2021 vừa qua, khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: "Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện; trong đó khẳng định tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Hội nghị Trung ương 4 lần này sẽ tiếp tục thảo luận, tạo sự thống nhất cao về các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (4). 

Thực trạng đó cho thấy, nguyên tắc TPB&PB vẫn rất cần được bảo vệ trong thực tiễn, để "vũ khí" sắc bén của Đảng phát huy tác dụng trong sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm, vốn là một vấn đề không thể tránh đối với một đảng cầm quyền. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ đảng viên vẫn còn mang tâm lý "đấu tranh, tránh đâu", "dễ mình, dễ ta", "im lặng là vàng", "trong nhà đóng cửa bảo nhau", không muốn "vạch áo cho người xem lưng", "rút dây động rừng"... Quy chế, quy trình TPB&PB trong Đảng cũng chưa thực sự hoàn thiện, chưa có cơ chế đủ mạnh bảo vệ người "dám phê bình", xử lý những người trung bình chủ nghĩa, "nể và né"... nên các biểu hiện vi phạm nguyên tắc TPB&PB vẫn còn rất nhiều. 

Theo PGS, TS Nguyễn Văn Giang (nguyên Phó viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), nguyên tắc TPB&PB đang xảy ra các biến tướng cần đấu tranh loại bỏ sau đây:

Phê bình vờ: Chỉ nêu những khuyết điểm nhỏ nhặt, như “đồng chí đôi khi còn đi làm muộn”; “tác phong chưa thật nhanh nhẹn”, "văn hóa, văn nghệ còn trầm"... Đây là kiểu phê bình chiếu lệ, phê làm phép cho có, làm qua loa đại khái, phê theo kiểu “bắn súng lên trời”, “phê chẳng chết ai”, để mọi người thấy mình cũng tham gia phê bình.

Phê bình vống: Khuyết điểm có ít xuýt ra nhiều; việc bé xé ra to, để thỏa mãn sự bực tức của mình, để “cho bõ ghét”, “cho nó chết”...

Phê bình dứ: Đây là loại lợi dụng phê bình rất tinh vi. Người phê bình nêu ra một số khuyết điểm nhưng ngầm tỏ ra còn biết người được phê bình có khuyết điểm, sai phạm lớn hơn, anh liệu mà cư xử với tôi. Đây là cách răn đe, hăm dọa người được phê bình.

Phê bình nịnh: Phê bình nhưng để khen nhau và tâng bốc nhau: “Điểm yếu của đồng chí là quá ham mê công việc cơ quan, không quan tâm đến bản thân và gia đình”, “đồng chí không chú ý giữ gìn sức khỏe”... Đây là thói cơ hội, xu nịnh, vuốt ve nhau, cố tình phóng đại những cái tốt, cái hay về đồng chí, đồng nghiệp nhằm củng cố “cánh hẩu” của mình. Đó là loại phê bình không nghiêm túc.

Phê bình đập: Đây là loại phê bình chụp mũ, kết tội nhau, hạ bệ nhau. Để “đập” nhau, họ tích lũy khuyết điểm, biến quá trình phê bình thành cơ hội để cường điệu hóa khuyết điểm nhằm bôi nhọ, vu khống để hạ bệ đồng nghiệp hoặc dọn đường cho nhau, giành lợi thế chính trị; bao vây, cô lập, vô hiệu hóa những nhân tố tốt; lấy cớ tự phê bình để triệt hạ những người không ưa, “trả thù vặt” theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người”... Nguy hiểm hơn, họ biến thủ đoạn này thành đòn lôi kéo, đánh hội đồng rất tinh vi. Đây được coi là thủ đoạn phi tính đảng bậc nhất của “đảng viên”, là thủ đoạn của người đạo đức giả.

Đảng ta đang triển khai các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII, coi trọng tính chiến đấu trong TPB&PB, để “vũ khí” sắc bén này góp phần xứng đáng vào công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Từng cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường giáo dục cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về vai trò và giá trị của TPB&PB trong Đảng; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, phương thức tiến hành TPB&PB ở cấp mình. Từng đảng viên cần khắc phục tâm lý ngại va chạm, tích cực TPB&PB "như rửa mặt hằng ngày" trong sinh hoạt Đảng. Từng cán bộ, nhất là người đứng đầu, cần chủ động, tự giác nêu gương trong thực hành TPB&PB; có cơ chế, biện pháp khuyến khích, bảo vệ cấp dưới phê bình cấp trên; kiên quyết chống các biến tướng của TPB&PB...

Để sinh hoạt TPB&PB giữ vững giá trị là một nét đẹp của văn hóa Đảng, thực sự là quy luật phát triển của Đảng; chúng ta cần ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Mục đích phê bình cốt để... đoàn kết và thống nhất nội bộ" (5). Đoàn kết không chỉ là mục đích mà còn là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đó cũng là nội dung của bài viết tiếp theo mà chúng tôi muốn gửi đến bạn đọc.

(còn nữa)

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2011, t.5, tr.301.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2002, t.17, tr.539-540.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, t.2, tr179. 

(4) Báo Quân đội nhân dân, ngày 5-10-2021

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2011, t.5, tr.272.

Bảo vệ “lõi vàng văn hóa Đảng”: Bài 1 - “Pháp bảo” của đội tiên phong

Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng. Làm thế nào để Đảng cầm quyền nhưng không bị tha hóa là niềm trăn trở của mọi đảng viên chân chính.

Đảng ta khẳng định: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”(1). Quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng” vì đó là những “lõi vàng văn hóa” được hun đúc, kết tinh trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó cũng là “thẻ căn cước” mà người cộng sản phải giữ gìn, bảo vệ như con ngươi của mắt mình...

Bài 1: “Pháp bảo” của đội tiên phong

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt của Đảng ta, là một trong những nội dung chủ yếu quy định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Giáo sư Bùi Phan Kỳ từng ví nguyên tắc này như là “pháp bảo” của Đảng để loại bỏ các khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chẳng những các thế lực thù địch, phản động chĩa mũi nhọn tấn công mà ngay trong nội bộ của Đảng, một số đảng viên, trong đó có cả những người từng là lãnh đạo cấp cao đặt vấn đề đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Một bộ phận đảng viên, tuy thừa nhận nguyên tắc nhưng thực tế sinh hoạt lại vi phạm nguyên tắc.

Tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng khóa XII, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; UBKT Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên(2). Nhiều cán bộ cấp cao là Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, bộ trưởng, thứ trưởng, tướng lĩnh... bị kỷ luật. Nguyên nhân bị kỷ luật đa dạng nhưng có một nguyên nhân chung là hầu hết các trường hợp trên đều vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt Đảng.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, khi đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (năm 2002) đã nhận xét: Trước hết phải thừa nhận rằng, tất cả những người đòi xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, dù thuộc thế lực thù địch, chống cộng hay bất mãn, cơ hội hoặc mơ hồ, kém hiểu biết đều có một phần căn cứ thực tế. “Đó là tình trạng mất dân chủ ở không ít đảng cộng sản và không ít nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong suốt một thời gian dài trước đây. Thậm chí có lúc, có nơi mất dân chủ rất nghiêm trọng. Một số nhà lãnh đạo trên thực tế đã quan liêu, xa dân, độc đoán, gia trưởng, có người rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa phong kiến quân phiệt, gần như biến thành một ông vua đầy quyền lực và tham vọng. Những hiện tượng cán bộ lãnh đạo trù dập, ức hiếp quần chúng là có thật. Những hiện tượng nội bộ đấu đá nhau, tranh giành quyền lực, mưu hãm hại nhau, đối xử tàn tệ với nhau, là có thật. Nhiều trường hợp quyền dân chủ của đảng viên, của nhân dân không được tôn trọng và phát huy; hoạt động của cơ quan dân cử nhiều khi hình thức, không có thực quyền(3).

Trên thế giới hiện nay, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, một số đảng cộng sản đã hoang mang, dao động, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ nên trên thực tế đã biến đảng thành một câu lạc bộ. Đảng ta, từ khi ra đời cho đến nay, luôn lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động, cho nên trong những thử thách ngặt nghèo của cách mạng, có lúc phạm phải sai lầm nhưng rốt cuộc vẫn vượt qua nhờ luôn kiên định với nguyên tắc sống còn này. Toàn bộ Điều lệ Đảng hiện hành, ngoài đoạn mở đầu khái quát về quá trình hình thành, bản chất, tôn chỉ, mục đích của Đảng, tất cả các chương, điều còn lại đều thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trên các mặt hoạt động của Đảng.

Nguyên tắc tập trung dân chủ do Lênin đề xuất và chính ông đã tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng với những người cơ hội trong quá trình xây dựng Đảng Bolshevik Nga, nhằm xây dựng đảng thành đội tiên phong thực sự của giai cấp công nhân. Nói về nội dung nguyên tắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cách diễn đạt rất ngắn gọn và dễ hiểu: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”(4). 

Trong nội bộ Đảng ta, những ý kiến đòi phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ ngày càng lạc lõng nhưng đáng báo động là tình trạng lợi dụng và vi phạm nguyên tắc này. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài”(5). Trong bài viết này, nhóm tác giả xin đề cập một số hình thái vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ như sau:

Một là, dân chủ hình thức, giả hiệu, giả vờ, ra vẻ có dân chủ nhưng thực chất là có rất ít hoặc không có dân chủ. Đây là “căn bệnh” ở không ít cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Biểu hiện cụ thể như: Sử dụng quyền lực tạo ra sự “đoàn kết xuôi chiều”, khiến mọi người chấp nhận “im lặng” trước các vấn đề của tập thể. Bố trí thời gian sinh hoạt dân chủ gấp gáp, chớp nhoáng khiến đảng viên, cấp ủy viên không kịp chuẩn bị hoặc không có cơ hội bày tỏ chính kiến. Cho đảng viên, cấp ủy viên phát biểu, biểu quyết về những vấn đề viển vông, không thiết thực đối với chính cấp ủy, tổ chức đảng ở đó hoặc những vấn đề mà bản thân họ không đủ thông tin, buộc phải “nhắm mắt” phát biểu hoặc biểu quyết cho xong chuyện. Sử dụng chiêu trò “cáo mượn oai hùm”, cho rằng vấn đề này đã được cấp có thẩm quyền quyết định để hướng lái nhận thức và quyết định của cấp dưới. Đề nghị tập thể “dân chủ thảo luận” nhưng không chấp nhận ý kiến khác biệt. Chọn “cử tri chuyên trách” trong các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND, đại biểu Quốc hội...

Dân chủ hình thức, giả hiệu, giả vờ giống như thuốc giả, nó không chữa được bệnh mà còn làm mất tín nhiệm vào thuốc thật. Dân chủ hình thức, giả hiệu, giả vờ không thể giải quyết được bất cứ mục tiêu, yêu cầu nào đặt ra, nhưng lại xuyên tạc, làm mất ý nghĩa, vô hiệu hóa dân chủ, phá hoại mọi niềm tin vào dân chủ thật sự. Xét trên khía cạnh đó, dân chủ hình thức, giả hiệu, giả vờ đang là căn bệnh nguy hại nhất hiện nay, khó đấu tranh hơn cả mất dân chủ. Ví dụ điển hình là vụ “quan lộ thần tốc” của ông Lê Phước Hoài Bảo, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam. Ông được bổ nhiệm ở tuổi 30 “đúng quy trình”, với sự “nhất trí cao” của tập thể thường vụ tỉnh ủy do “đồng chí bố” là người đứng đầu?!

Hai là, lạm quyền, vượt quyền. Không ít nơi đang có tình trạng bí thư lạm quyền, vượt quyền ban thường vụ, ban thường vụ lạm quyền, vượt quyền ban chấp hành, ban chấp hành tự ý làm trái nghị quyết đại hội.

Sự lạm quyền, vượt quyền hiện biến tướng rất tinh vi. Nhiều bí thư cấp ủy cố tình chuẩn bị quy chế làm việc một cách chung chung, nhiều khoảng trống, kẽ hở để khâu tổ chức thực hiện dễ dàng hướng lái theo ý đồ của mình. Nhiều trường hợp bí thư cấp ủy viện lý do “khẩn cấp” để không họp thường vụ hoặc ban chấp hành, tiến hành “xin ý kiến” cá nhân từng ủy viên để dễ bề thao túng hoặc thậm chí ra quyết định không đúng thẩm quyền.

Ba là, vi phạm kỷ luật phát ngôn. Nguyên tắc tập trung dân chủ cho phép mọi đảng viên đều có quyền được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh, Điều lệ, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng. Nguyên tắc cũng quy định quyền dân chủ thảo luận và bảo lưu ý kiến của đảng viên nhưng thiểu số phải phục tùng đa số, những ý kiến của thiểu số không được phép tuyên truyền ra ngoài. Tuy nhiên hiện nay, tình trạng “đồng ý mà không đồng lòng”, “trong Đảng nói thế này, ra ngoài nói thế khác”, “nói một đằng, làm một nẻo”, lúc nghỉ hưu nói khác lúc đương chức. Thậm chí, có đảng viên luôn miệng “lập trường kiên định vững vàng” nhưng trong đời thường lại có lời nói, việc làm hoài nghi, vi phạm nền tảng tư tưởng và Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng.

Bốn là, tệ tập trung quan liêu, độc đoán, gia trưởng, chuyên quyền. Đây là kiểu vi phạm đặc trưng của những đảng viên có chức, có quyền, nhất là những người đứng đầu. Những người này thủ tiêu dân chủ, bỏ qua hoặc sẵn sàng đàn áp những góp ý của cấp dưới và quần chúng, biến cơ quan, đơn vị, địa phương thành “vương quốc” riêng của mình, vô hiệu hóa những chỉ đạo của cấp trên, ném các sáng kiến của quần chúng nhưng không có lợi cho cá nhân mình vào thùng rác. Trong tình hình hiện nay, trước những tiến bộ đột phá trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểu vi phạm này có biến tướng tinh vi hơn để thích ứng. Những người đứng đầu tìm cách biến nguyên tắc tập trung dân chủ thành bình phong để thực hiện “lợi ích nhóm” của người đứng đầu hay một nhóm người.

Những cá nhân, tập thể thực hiện vi phạm này thường lợi dụng quyền lực để vận động, mua chuộc, lôi kéo thậm chí đe dọa, đàn áp đảng viên, cấp ủy viên “bỏ qua” các việc làm vi phạm nguyên tắc của mình. Khi đơn vị có thành tích thì nhận là của cá nhân, khi đơn vị có khuyết điểm thì đổ lỗi cho tập thể. Vì thế mới có chuyện, người đứng đầu vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước nhiều năm liền nhưng vẫn được khen thưởng, tổ chức đảng ở đó vẫn nhiều năm được cấp trên công nhận là tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu...

Bốn biểu hiện vi phạm trên cùng với các biểu hiện vi phạm khác có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tuy hình thức biểu hiện khác nhau nhưng đều rất nguy hại, là nguyên nhân làm suy yếu sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; là “con đường” dẫn đến chủ nghĩa cá nhân, sa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Ba nhiệm kỳ gần đây (khóa XI, XII và XIII), Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả. Toàn bộ những hoạt động đó về thực chất đã thúc đẩy trình độ thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn Đảng lên một tầm cao mới. Để “pháp bảo” của Đảng phát huy vai trò, tác dụng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay; cần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng về nguyên tắc tập trung dân chủ; làm rõ nội dung, yêu cầu của nguyên tắc này trong tình hình mới; kiên trì và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc và loại bỏ những biểu hiện vi phạm trong sinh hoạt Đảng. Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ vào quy chế, quy định của cấp mình; mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong mỗi cấp ủy, tổ chức đảng.

Bảo vệ nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng bao giờ cũng phải đi kèm với việc thực hiện nghiêm chế độ tự phê bình và phê bình. Và đó cũng là chủ đề mà chúng tôi gửi tới bạn đọc ở bài viết tiếp theo.

(còn nữa)

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, tập.37, tr.772

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, tập.2, tr.200

(3) Hội đồng Lý luận Trung ương, Vững bước trên con đường đã chọn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002, tr.197

(4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 8, tr.275)

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, tập.2, tr.217

Thực tiễn đất nước bác bỏ mọi sự xuyên tạc

 

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh (1945 - 2021) dưới sự lãnh đạo của Đảng, bên cạnh thời cơ là thách thức không nhỏ chi phối đến quá trình phát triển của dân tộc; trong đó, nổi lên là sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đối với Đảng, chế độ. Các “lý luận gia” có tư tưởng chống cộng cực đoan, cơ hội chính trị, phản động đều tìm mọi cách chứng minh rằng con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn là sai lầm (!) Đi theo con đường này thì đất nước Việt Nam sẽ không thể giành được độc lập thật sự, nhân dân Việt Nam sẽ mãi trong đói nghèo, lạc hậu,...(!) Thực tế có phải như vậy?

Có thể khẳng định rằng, quan điểm đó chỉ là những chiêu trò lừa gạt của những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, mang tư tưởng thù hận dân tộc, nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bởi, thực tiễn đất nước Việt Nam là minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các “lý luận gia” nêu trên.

Từ khi đất nước giành được độc lập cho đến nay (1945-2021), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Cách mạng tháng Tám, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết, đồng lòng giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, đất nước, con người Việt Nam đều được đổi mới, có nền chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển bền vững, quốc phòng - an ninh được tăng cường, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Ngày 19/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên một sự kiện “long trời, lở đất” - Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công - tạo bước ngoặt vĩ đại trên con đường thực hiện khát vọng độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, thay mặt toàn thể quốc dân, đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!”.

Thực hiện lời thề Độc lập, 76 năm qua, với tinh thần, không có gì quý hơn độc lập tự do, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc Việt Nam đã đoàn kết, chiến đấu và lập nên những thiên sử vàng chói lọi - đánh bại phát xít Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1975 đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đoàn kết, đồng lòng khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Về chính trị, từ một đất nước bị chia cắt, nhân dân chịu sự đô hộ của các thế lực thực dân, đế quốc, Việt Nam đã giành được độc lập, có chủ quyền lãnh thổ thống nhất; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động - Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, thực hành quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tạo sức mạnh “dời non, lấp biển” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước.

Về kinh tế, từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế phụ thuộc, hành chính, bao cấp, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển có thu nhập trung bình. Năm 2020, mặc dù kinh tế thế giới suy thoái nghiêm trọng, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn giảm sâu do bị ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, nhưng Việt Nam vẫn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 2,91%, quy mô nền kinh tế hơn 343 tỷ USD, trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, 6 tháng đầu năm 2021, mặc dù dịch bệnh Covid-19 bùng phát lần thứ 4, với những diễn biến rất xấu, khó lường, đặc biệt phức tạp, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được duy trì ổn định, tăng trưởng GDP đạt 5,64%, cao hơn tốc độ tăng 1,82% của 6 tháng đầu năm 2020, v.v. Việt Nam được các tổ chức quốc tế lớn, uy tín trên thế giới đánh giá có nền kinh tế năng động, sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

 Về văn hoá, nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc; hình thành nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam, góp phần nâng cao dân trí, dân chủ hóa đời sống xã hội. Đến năm 2020, Chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam đạt 0,704, thuộc nhóm cao trên thế giới. Nhiều phong trào, cuộc vận động văn hóa được tổ chức có sức lan toả sâu rộng trong đời sống, tạo môi trường văn hóa, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, v.v. Việt Nam đã trở thành “Đất nước của những di sản”, với những con người cần cù, thông minh, sáng tạo, hiện đại, thân thiện, là điểm đến của bạn bè quốc tế. Văn hoá thực sự “soi đường cho quốc dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Về đời sống xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao. Năm 2020, Việt Nam cơ bản xóa  tình trạng đói kinh niên (Giai đoạn 2010 - 2020, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 14,2% năm 2010 xuống còn 7% năm 2015 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015) và giảm từ 9,2% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia có mạng lưới y tế hoàn chỉnh, tổ chức tới tận thôn, bản và đang là mô hình mà nhiều nước trên thế giới quan tâm, học hỏi kinh nghiệm. Việt Nam cũng đã chủ động sản xuất nhiều loại vắc xin phòng bệnh; bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu sẵn có; kiểm soát và ngăn ngừa được nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Hiện nay, với phương châm “chống dịch như chống giặc”, cả dân tộc Việt Nam đồng tâm, thống nhất thực hiện nhiều giải pháp toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm để đánh bại “Giặc Covid-19”; đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; thúc đẩy kinh tế phát triển,... được các tổ chức quốc tế, quốc gia trên thế giới đánh giá cao.

Về giáo dục, chất lượng giáo dục và đào tạo của Việt Nam ngày càng được nâng lên. Giáo dục mầm non được đổi mới và phát triển tốt cả 5 lĩnh vực: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội, thẩm mỹ. Giáo dục phổ thông trở thành tâm điểm nghiên cứu của thế giới. Giáo dục hướng nghiệp được đổi mới về nội dung, đa dạng hóa hình thức,... đảm bảo thiết thực. Giáo dục mũi nhọn được chú trọng và đạt kết quả tốt. Đào tạo đại học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đã góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển bền vững của đất nước, v.v.

Về quốc phòng - an ninh, tư duy của Đảng về quốc phòng - an ninh có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện. Lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Nhiệm vụ xây dựng quốc phòng, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân dựa trên sức mạnh toàn dân, của mọi nguồn lực. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, thể chế chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống.

Về đối ngoại và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thực hiện hiệu quả phương châm và định hướng: “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đến nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế, nhất là của Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v. Được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu rất cao; có quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, đã ký Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với 60 nền kinh tế, đối tác chiến lược và toàn diện với 30 nước (có 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc), các nước nhóm G7, G20, v.v.

Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát, Việt Nam ghi nhận ca mắc đầu tiên vào ngày 23/01/2020. Từ đây, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại bước vào “cuộc chiến đấu trong thời bình” - Cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19 với  tư tưởng chỉ đạo hành động là “Chống dịch như chống giặc”. Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã đặt nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết; nâng cao các biện pháp phòng, chống dịch, với phương châm mỗi tổ dân phố, khu phố, phường, xã, thị trấn, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp là một pháo đài phòng, chống dịch, đã nhận được sự đồng lòng của toàn dân và sự đóng góp không nhỏ của ngành y tế, dịch Covid-19 đã được kiểm soát. Trong bối cảnh đã kiểm soát được dịch bệnh thì nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm, bảo đảm đời sống nhân dân theo hướng thích ứng, an toàn, linh hoạt, hiệu quả, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Cùng với việc nỗ lực phòng chống dịch, Việt Nam cũng đẩy mạnh công tác nghiên cứu và sản xuất các vaccine Covid-19, trở thành một trong những nước trên thế giới phân lập được virus SARS-CoV-2 và thử nghiệm vaccine trên người, dự kiến đến cuối năm 2021 sẽ có vaccine thương mại, được các nước trong khu vực và thế giới đánh giá là một điểm sáng trong cuộc chiến chống dịch bệnh Covid-19.

Thực tiễn đất nước ta từ khi giành được độc lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” và trở thành biểu tượng của nhân loại về thực hiện khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, trong một thế giới còn nhiều bất ổn. Đó là những minh chứng hùng hồn, phủ nhận các luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam./.

Người giữ gìn cột mốc nơi cổng trời biên giới

    Nếu có ai hỏi để biết chính xác ông Vàng Chỉn Tờ (thôn Giáp Trung, xã Thàng Tín, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang) đã giữ gìn cột mốc biên giới 224 (2) và 225 (tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc) từ bao giờ, thì nhiều cư dân dưới chân núi Cổng Trời cũng không nhớ chính xác, kể cả bản thân ông Vàng Chỉn Tờ cũng vậy. Ông chỉ nhớ mang máng rằng, ngay từ nhỏ, ông theo cha đi nương trồng ngô, rồi được cha chỉ cho cột mốc biên giới, từ đó, tự bản thân ông ý thức rằng đó chính là chủ quyền đất nước mình phải gìn giữ và bảo vệ cho đến bây giờ.

    Đường lên mốc 224 (2) và 225 uốn lượn như sợi chỉ nhỏ quanh co theo vách núi đá dựng đứng, từ trên núi nơi có ngôi nhà văn hóa thôn Giáp Trung nhìn xuống thung sâu chỉ thấy một màu đen hun hút, xa thăm thẳm. Ngồi trò chuyện, chúng tôi hỏi ông, điều gì khiến ông có trách nhiệm với cột mốc biên cương đến thế? Ông Vàng Chỉn Tờ cười hiền khô rồi kể, có một lần đi rừng về, ông thấy nhiều cây đổ làm chắn ngang, che lấp đi cột mốc, ông chợt nghĩ: “Cột mốc quan trọng như cái cột nhà của mình, cái cột nhà mình bị hỏng, bị tổn thương thì mình buồn lắm”.

    Năm nay đã hơn 70 tuổi, những khi không xuống mốc được, ông Vàng Chỉn Tờ đều dặn con cháu phải phát quang xung quanh cột mốc. Cứ mỗi lần lên với mốc 224 (2) và 225, công việc của ông chỉ lặp đi lặp lại là lau chùi bốn mặt cột mốc cho sạch, cho nổi rõ những dòng chữ Việt Nam và con số in trên hai mặt chính của cột mốc cũng như kiểm tra hiện trạng của cột mốc. Công việc tưởng chừng đơn giản nhưng cũng lắm công phu, ông cứ một mình lầm lũi, tự giác làm hết ngày này qua ngày khác mà không màng tới lợi ích, hay sự đáp đền.

    Ông Vàng Chỉn Tờ tâm tình: “Trong sâu thẳm lòng tôi hiểu được, khi cột mốc còn đứng yên trên đỉnh núi Cổng Trời thì bản làng của tôi, gia đình của tôi cũng như bao nhiêu gia đình khác đang sống ở đây sẽ mãi yên ổn, bình yên. Vì thế, mình phải chung tay gìn giữ, bảo vệ để cột mốc này mãi vững bền theo thời gian”.

    Gần 20 năm làm Bí thư chi bộ thôn Giáp Trung và cũng bằng ấy năm tự nguyện gắn bó với 2 cột mốc 224 (2) và 225, ông Vàng Chỉn Tờ luôn là tấm gương sáng để bà con dân bản nơi đây noi theo. Ông xem cột mốc như là nhà của mình, nhờ có ông Vàng Chỉn Tờ mà dù cột mốc ở cách xa đơn vị, đường sá đi lại khó khăn, nhưng vẫn được ông chăm sóc, bảo vệ hằng ngày. Khi nào cán bộ, chiến sĩ tuần tra lên tới mốc, thấy cột mốc sạch sẽ, phong quang, thoáng đãng, được lau chùi cẩn thận là biết ông đã lên rồi.

    Anh Lù Văn Kim, Chủ tịch UBND xã Thàng Tín cho chúng tôi biết: “Bản thân ông Vàng Chỉn Tờ vừa là người có uy tín trong thôn, vừa là già làng, trưởng bản, ông cùng nhiều hộ dân khác đã tự nguyện nhận và quản lý đoạn biên giới giữa mốc 224 (2) và mốc 225. Bên cạnh đó, ông còn nhiệt tình tham gia tuyên truyền cho người dân nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về phòng, chống dịch Covid-19 cũng như không tiếp tay cho hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới”.

    Thôn Giáp Trung, xã Thàng Tín là thôn giáp biên, người dân nơi đây luôn có ý thức tự giác bảo vệ đường biên, cột mốc. Những người có uy tín như ông Vàng Chỉn Tờ trong thôn luôn phối hợp với cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Thàng Tín tuyên truyền cho bà con về chủ quyền, an ninh biên giới, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, luôn kề vai, sát cánh cùng BĐBP bảo vệ biên cương Tổ quốc.

 


Cảnh giác với mỗi nút nhấn

    Hiện nay, khoa học công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển. Một sự vật hiện tượng xảy ra có thể chia sẻ đến bất cứ địa điểm, thời gian nào, khi được đưa lên trang mạng xã hội. Chỉ bằng một cú nhấp chuột, trong “chớp mắt”, nó sẽ được “phát tán” đến rất nhiều đối tượng.

    Nhất là những vấn đề liên quan đến đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội có sự quan tâm của người dân, tốc độ “dầu loang” của sự vật, hiện tượng đó càng lan nhanh. Lợi dụng vào khả năng lan truyền với tốc độ cao, các đối tượng thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước dễ dàng lôi kéo, tạo ra “làn sóng” bằng “số đông” để lấy cớ kích động, xuyên tạc…

    Việc tán phát thông tin nhằm lôi kéo, xúi giục chống đối lại đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là âm mưu, thủ đoạn, hành vi lộ rõ có chủ ý của các đối tượng thù địch. Hành vi của các đối tượng thù địch, chống đối là rất tinh vi, không phải chỉ đọc, xem là đã có thể nhận diện. Nó đòi hỏi phải có năng lực thẩm định, tính nhạy bén thế sự, sự trải nghiệm và sự hiểu biết nhất định về lĩnh vực đó.

    Trong khi đó, lời nói dối thường “có cánh”, ngôn ngữ lại xảo biện, thủ đoạn, âm mưu có chủ đích, kín kẽ. Chỉ bằng chủ quan của cá nhân rất dễ sa vào “mê cung” và nhầm lẫn nếu không có nhận thức đúng, đủ sâu sắc. Tất nhiên, bên cạnh đó, cũng có không ít người, có thể là theo thói quen hay vô tình vào xem, đọc trang đó rồi thích (like) hay chia sẻ (share) về trang của mình. Dẫu là vô tình, nhưng những cái nhấp chuột ấy đã tiếp tay cho các thế lực thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước có cớ để tập trung và rêu rao.

    Việc được biết thông tin là quyền của mỗi con người. Nhưng để hiểu rõ và nắm chắc thông tin ấy lại là một chuyện khác, không phải ai cũng là người am tường sự vật hiện tượng đó. Bởi thế, những thông tin trên mạng, muốn “tỏ tường” nhất định phải được kiểm định. Nhất là thói quen “lai dạo”, “sết lấy lòng” của không ít người tiện tay nhấp nút “thích” hay “chia sẻ” đã và đang tạo nên một “đám đông” đối trọng, gây hoài nghi trong dư luận xã hội và đời sống.

    Khi có thông tin phản biện, trái với hành vi và suy nghĩ của mình, “tay nhúng chàm”, bảo thủ, cái tôi lớn hơn cái chúng ta, cố kiết nói lấy được, thậm chí còn trích dẫn những tài liệu sai sự thật, chưa được kiểm định để chứng minh. Và khi đã “tự tham gia” vào đám đông, vô hình trung đã tự đánh mất mình. Một sự đánh mất mình mà không hề biết. Khi biết, nhận ra thì đã quá muộn. Có “quay đầu là bờ” thì cũng là điều đáng tiếc, một vết ố trong nhận thức và hành động của bản thân.

    Quyền được tiếp nhận thông tin nhưng để phổ biến, lan truyền thông tin thì nhất định không còn là quyền riêng của cá nhân. Cũng như thế, mỗi cá nhân đều có quyền đọc, quyền xem, nhưng khi nhấp chuột vào các nút “like”, “share” không chỉ còn là quyền mà nó là “nút đánh giá” trình độ, nhân cách, phẩm chất, năng lực của chính mỗi cá thể đã làm nên điều đó. Tỉnh táo trước các thông tin; biết sàng lọc, lựa chọn thông tin; biết nghi ngờ trước tất cả mọi sự vật, hiện tượng; biết thẩm định và có nhận xét xác đáng, đó cũng chính là cách làm khoa học của sự trải nghiệm.

    Cảnh giác với chính mỗi cái nhấp chuột của bản thân, đừng để trở thành đám đông đối chứng bị lợi dụng và “chiếc loa” tuyên truyền của các thế lực thù địch. Đấy cũng là cách bảo vệ chính bản thân trước những gì thu nhận được từ khuôn mặt (face) xã hội trên các trang mạng hiện nay.

 


Chủ nghĩa dân túy và lý thuyết mị dân

    Cho đến bây giờ, cái gọi là chủ nghĩa dân túy xuất hiện trong đời sống nhân loại đã có hơn 100 năm. Dù đã xuất hiện với thời gian tương đối dài, nhưng chỉ những năm gần đây, nó mới có sức ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, chính trị và kinh tế của các quốc gia.

    Vậy, cái gọi là chủ nghĩa dân túy là như thế nào? Cho đến bây giờ, cái gọi là chủ nghĩa dân túy cũng chỉ tồn tại cơ bản ở các nước phương Tây và cũng có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau. Nhưng tựu trung lại, theo Bách khoa toàn thư về dân chủ thì chủ nghĩa dân túy là một phong trào chính trị nhấn mạnh lợi ích, đặc điểm văn hóa và tình cảm tự phát của những người dân bình thường, trái ngược với những người của một tầng lớp đặc quyền.

    Để hợp pháp hóa chính nó, các phong trào dân túy thường nói chuyện trực tiếp về ý muốn của số đông thông qua các cuộc họp đại chúng, trưng cầu dân ý hoặc các hình thức dân chủ trực tiếp mà không cần quan tâm đến việc phân chia quyền hạn, quyền lợi của thiểu số. Nói như thế, có nghĩa, chủ nghĩa dân túy chưa phải là một hệ lý thuyết mà chỉ là một phong trào chính trị. Một phong trào chính trị được núp dưới bóng ủng hộ quyền lực của những người dân thường trong cuộc đấu tranh với tầng lớp đặc quyền. Một thứ lý thuyết của giới chính trị mị dân, ủng hộ quyền và sức mạnh của người dân trong cuộc đấu tranh chống lại giới thượng lưu đặc quyền.

    Vì núp dưới bóng ủng hộ và đấu tranh cho những người dân thường với tầng lớp đặc quyền nên những vấn đề dân túy đưa ra rất dễ lôi kéo và làm cho người tiếp nhận nó mù mờ về một lý tưởng không tưởng trong đời sống xã hội loài người. Nhằm lợi dụng “số đông” trong xã hội, bản chất của cái gọi là chủ nghĩa dân túy không gì khác là những tư tưởng và hoạt động chính trị với mục đích kêu gọi sự thay đổi hệ thống chính trị và xã hội theo xu hướng của đám đông. Nói trắng ra là thủ đoạn chính trị mang tính chất mị dân, đánh vào tâm lý của đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng thực hiện những ý tưởng và hoạt động chính trị chống lại hệ thống chính trị hiện hành.

    Với những người theo lý thuyết dân túy thường tự cho bản thân là gần gũi, thông cảm, chia sẻ với dân chúng, một thứ dân chủ không tưởng cho tất cả các thành phần, đối tượng có mặt trong đời sống xã hội, không cần phân biệt phải trái, đúng sai, miễn là đáp ứng được yêu cầu của đám đông. Có thể hiểu một cách ngắn gọn, cái gọi là chủ nghĩa dân túy không có giá trị cụ thể, nó chủ yếu nhằm vào việc giành lòng tin của số đông quần chúng bằng cách lợi dụng những khiếm khuyết, tồn tại của hệ thống chính trị hiện hành để lôi kéo người dân vào mục đích riêng cùng những lời hứa suông, không có trách nhiệm.

    Cốt lõi bản chất của cái gọi là chủ nghĩa dân túy thực chất là những thủ đoạn chính trị mang tính chất cơ hội, mị dân, đánh vào tâm lý, lợi ích cá nhân hay một đám đông để kêu gọi, lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và quần chúng. Chủ nghĩa dân túy không có sự nhất quán giữa nói và làm, giữa lý thuyết và hành động. Chủ nghĩa dân túy thường đi liền với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tinh thần quốc gia vị kỷ, bành trướng, bá quyền và sự biệt lập văn hóa của mỗi dân tộc.

    Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không tồn tại cái gọi là “giới thượng lưu đặc quyền”, dân chủ được mở rộng và phát huy. Lợi dụng dân chủ được mở rộng, những khó khăn về kinh tế, phức tạp về an ninh, việc chậm chễ trong xử lý các vấn đề về đời sống, thị trường, nhất là những sai phạm của một số cán bộ trong bộ máy chính quyền các cấp, các đối tượng thù địch, chống đối đã thực hiện những thủ đoạn, cách thức, hình thức của cái gọi là chủ nghĩa dân túy nhằm lôi kéo, xúi giục, kích động vào đời sống xã hội.

    Đảng Cộng sản Việt Nam, người lãnh đạo và đại diện duy nhất lợi ích của giai cấp và nhân dân, xác định rất rõ hệ tư tưởng của mình. Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động. Như vậy, với bất cứ thứ chủ nghĩa nào khác, với bất cứ thứ lý thuyết nào khác, mọi sự xa rời hệ tư tưởng nền tảng đều đi trái với bản chất của giai cấp, với lợi ích của dân tộc. Với cái gọi là chủ nghĩa dân túy, dù có khoác lên mình bất cứ “chiếc áo” hào nhoáng đến đâu thì những quan điểm, tư tưởng của nó vẫn lộ rõ sự đối lập với hệ tư tưởng nền tảng mà Đảng, giai cấp và nhân dân đã xác định.

    Bản chất của cái gọi là chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa nhân đạo, dân chủ mà các đối tượng thù địch, chống đối sử dụng lâu nay trong chiêu bài dân chủ, nhân đạo, nhân quyền vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mị dân, phỉnh nịnh, lừa dối. Mục đích duy nhất của cái gọi là chủ nghĩa dân túy là xóa bỏ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành quả mà cả dân tộc đã phải đổ xương máu với biết bao thế hệ, con người qua 90 năm từ khi có Đảng mới giành được. Trong xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, mục tiêu mà Đảng, Nhà nước xây dựng, nhất định không thể có sự tồn tại của cái gọi là chủ nghĩa dân túy với thứ lý thuyết mị dân, không tưởng.

  

Trò đánh tráo khái niệm, “vơ đũa cả nắm”

    Từ khi Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, chúng ta kiên quyết đưa ra xử lý những cá nhân dù ở bất cứ cương vị nào. Trong thời gian qua, có nhiều cá nhân giữ các vị trí cao trong hệ thống chính trị, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, vi phạm pháp luật cũng đã được đưa ra xét xử. Việc xét xử những cá nhân “không có vùng cấm” đã đem lại niềm tin vào sự trong sạch và tính chiến đấu của Đảng.

    Tuy nhiên, lợi dụng vào những sai sót, khuyết điểm của số cán bộ có vi phạm này, các thế lực thù địch, phản động lại giở trò “vơ đũa cả nắm”, đổ vấy cho chất lượng cán bộ của Đảng. Từ đó, chúng suy diễn ra, những sai lầm đó từ Đảng và do Đảng. Thực chất của luận điệu trên là trò “vơ đũa cả nắm”, “đánh tráo khái niệm” của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, bôi xấu và làm mất niềm tin của Đảng trong nhân dân.

    Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng đã nhấn mạnh: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Đảng viên là thành tố cơ bản cấu thành các tổ chức đảng và toàn Đảng. Chất lượng đội ngũ đảng viên quy định chất lượng các tổ chức đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng đối với xã hội do phẩm chất, năng lực và trình độ của mỗi đảng viên tạo thành.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết của Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 7, trang 235-236). Hơn 90 năm qua, cùng với sự phát triển của sự nghiệp cách mạng, đại đa số đảng viên của Đảng được rèn luyện, thử thách, tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu và con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đại đa số đảng viên luôn tu dưỡng đạo đức, phẩm chất cách mạng, giữ gìn lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân và được nhân dân tin yêu.

    Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển của Đảng, một số đảng viên chịu tác động ảnh hưởng từ bên ngoài, bản thân đã không còn giữ vững được bản lĩnh cách mạng, lập trường tư tưởng đã có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Biểu hiện ấy đã được chỉ rõ trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp. Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Một số ít đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị cuốn theo lối sống thực dụng nên đã phai nhạt về lý tưởng, tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vun vén lợi ích cá nhân, làm giàu bất chính, nói không đi đôi với làm, ngại học tập, thiếu ý thức đoàn kết trong Đảng.

    Nói như thế để thấy rằng, giữa từng cá nhân đảng viên với tổ chức là có sự thống nhất, nhưng đó là sự thống nhất từ trong lý tưởng, mục tiêu cho đến hành động. Một khi, cá nhân đó không còn chung lý tưởng, mục tiêu, không còn giữ được phẩm chất, đạo đức như yêu cầu của tổ chức thì cá nhân đó đã tự tách rời tổ chức và không thể đại diện cho tổ chức mà họ đang tham gia. Những hành vi lợi dụng chức quyền, vị trí công việc để tham nhũng, làm giàu bất chính, sách nhiễu, ức hiếp nhân dân, gia trưởng, độc đoán, kèn cựa địa vị, ý thức kỷ luật kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, gây mất đoàn kết nội bộ không có trong tổ chức. Hành vi ấy chính là sự tự “phân hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cá nhân. Những hành vi vi phạm pháp luật của mỗi cá nhân đảng viên đi ngược với yêu cầu về phẩm chất đạo đức của Đảng là hành vi gây hậu quả xấu, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng ta và chế độ.

    Việc các thế lực thù địch bám lấy những hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, xa rời mục tiêu lý tưởng của Đảng của một cá nhân đảng viên để cho rằng đó là do Đảng, từ Đảng là trò “vơ đũa cả nắm”, đánh tráo khái niệm, đánh đồng sự vật, hiện tượng. Những sai phạm mà có ở một cá nhân đảng viên nào đó, không gì khác, đó chính là sự tha hóa, mang tính chủ quan, nó cũng phù hợp với quy luật đào thải như của tự nhiên, xã hội và tư duy. Tuy nhiên, mỗi cá nhân ấy sinh hoạt trong một tổ chức nhất định. Để xảy ra có một cá nhân có những hành vi vi phạm phẩm chất, đạo đức, gây ảnh hưởng xấu đến Đảng có một phần trách nhiệm của tổ chức. Đó là tuyên truyền, nhắc nhở, giáo dục, kiểm tra, quản lý và xây dựng chất lượng đội ngũ đảng viên trong tổ chức của mình. Song, những hoạt động ấy chỉ mang tính chất giáo dục, ngăn chặn, là yếu tố khách quan quan trọng chứ không phải là yếu tố chủ quan giữ vai trò quyết định.

    Lấy một cá nhân đơn lẻ, áp đặt cho cả một tổ chức, lấy cái riêng biệt quy chụp cho cả một cái chung, đấy chính là trò ngụy biện, lập lờ “đánh lận con đen”, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng để thực hiện âm mưu chia rẽ nội bộ, gây mất niềm tin giữa Đảng với nhân dân mà lâu nay chúng vẫn áp dụng. Mục tiêu cuối cùng của các thế lực thù địch vẫn không hề thay đổi, từng bước xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ từ cách định hướng sai trong nhận thức xã hội từ một việc làm đúng đắn của Đảng. Nhận thức đúng sự vật, hiện tượng, hiểu đúng bản chất của quá trình về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trong công cuộc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, củng cố xây dựng Đảng là một yêu cầu cao trong giai đoạn hiện nay.

 


Nâng cao chất lượng đấu tranh “tự diễn biến”

    Phải nói ngay rằng, trong đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, vấn đề quan trọng nhất chính là chống “tự diễn biến”. Một khi, “tự diễn biến” không xảy ra thì cho dù, các thế lực thù địch có dùng thủ đoạn tinh vi đến đâu, âm mưu có thâm độc thế nào cũng không thể đạt được mục đích. Chỉ khi nào, có sự “tự diễn biến” và sự diễn biến ấy đến mức độ nhất định mới có thể dẫn đến “tự chuyển hóa”.

     “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng tiêu cực, xa rời nguyên tắc, quan điểm Mác xít; suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khi mức độ “tự diễn biến” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hóa làm chệch hướng XHCN. Cái khó của “tự diễn biến” là tự diễn biến là một hiện tượng xảy ra trong đời sống chính trị, xã hội, trong mỗi cá nhân nên rất khó phát hiện.

    Xét trong góc độ bản chất của sự vật, hiện tượng, trong đời sống chính trị, xã hội, những hiện tượng tiêu cực, những sai lầm trong nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; các tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất dân chủ, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên không mang tính chất “tự diễn biến”. Nó chỉ là khuyết điểm trong quá trình nhận thức, tổ chức thực hiện của một cá nhân nhất định trên cương vị và vị trí được giao.

    Tuy nhiên, khi các khuyết điểm, sai lầm trên bị các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền, nói xấu chế độ, lôi kéo quần chúng, kích động quần chúng do nhận thức chưa thật đầy đủ, thiếu hiểu biết, ngộ nhận những sai lầm đó do Đảng rồi mất niềm tin, đi theo tư tưởng dưới sự dẫn dắt của các thế lực thù địch. Và khi đó, những vấn đề nảy sinh do những khuyết điểm, sai lầm lại có ý nghĩa của quá trình “tự diễn biến”. Đặc biệt, khi các sai lầm, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên ấy bị pháp luật xử lý, các đối tượng đó đổ lỗi do những hạn chế, sai lầm của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thì lúc đó, những sai lầm, khuyết điểm do từng cá nhân gây ra lại mang nội dung, tính chất của “tự diễn biến”.

    Một vấn đề đặt ra, làm thế nào để có thể ngăn chặn sự “tự diễn biến” trong mỗi cá nhân? Ở đây có hai vấn đề nổi lên. Đó là tổ chức và cá nhân. Luôn đề cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh “tự diễn biến” từ bên trong.

    Với tổ chức, cần tăng cường đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện lệch lạc trong nhận thức và hành động. Tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm rõ âm mưu, thủ đoạn, nhất là những luận điệu của các thế lực thù địch. Kiên quyết xử lý và xử lý nghiêm mọi sai lầm, khuyết điểm của cá nhân về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, bè phái, cục bộ; vi phạm pháp luật; vi phạm đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật, không có vùng cấm.

    Sẵn sàng loại bỏ những cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, không còn giữ được phẩm chất, đạo đức, lối sống, thiếu năng lực và trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ ra khỏi tổ chức. Lấy chất lượng làm trọng, không chạy theo số lượng trong xây dựng đội ngũ cũng như lựa chọn cán bộ. Tiếp thu, lắng nghe, xem xét có lựa chọn ý kiến nhân dân và dư luận xã hội. Tập trung giải quyết và xử lý tốt những vấn đề “nóng”, phức tạp trong đời sống xã hội, không để kéo dài, sơ hở để các thế lực thù địch lợi dụng. Thực thi có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, chống mọi biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

    Đối với mỗi cá nhân, không ngừng tự rèn luyện, tu dưỡng, bồi dưỡng về lý luận và nhận thức, tự trang bị cho bản thân khả năng “tự miễn dịch” với bất cứ luận điệu, thủ đoạn nào của các thế lực thù địch. Xây dựng cho bản thân có lập trường kiên định, giữ vững bản chất giai cấp. Có niềm tin vào con đường, định hướng mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn, cho dù hiện tại còn gặp những khó khăn, thách thức đến đâu.

    Xây dựng, củng cố và không ngừng bồi đắp học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sống đoàn kết, trong sạch, trung thực, chân thành, lành mạnh, gần gũi với nhân dân. Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình. Kiên quyết đấu tranh với mọi cám dỗ, xu nịnh, bè phái, cục bộ. Dám làm và dám chịu trách nhiệm trước mọi quyết định. Nói và làm theo nghị quyết, kiên quyết tự loại bỏ “cái tôi”, nói và làm không nhất quán.

    Một khi, mỗi tổ chức và cá nhân đã là một “pháo đài” về lập trường tư tưởng; về bản lĩnh chính trị; về ý thức tổ chức kỷ luật; về đạo đức, lối sống, có nhận thức đầy đủ về lý luận và thực tiễn, thì khi đó, các thế lực thù địch có sử dụng âm mưu, thủ đoạn thế nào cũng không thể tạo được “tự diễn biến” để có thể “tự chuyển hóa”. Đó chính là quá trình “tự miễn dịch” làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” trong mọi tình huống.

 


Chú trọng nâng cao chất lượng công tác cán bộ

    Trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đặt ra một vấn đề, đâu là yếu tố có ý nghĩa quan trọng, quyết định? Phải nói ngay rằng, đó là chất lượng đội ngũ cán bộ. Nâng cao chất lượng công tác cán bộ luôn phải đặt lên hàng đầu.

    Ai cũng có thể nhận thấy tầm quan trọng của công tác cán bộ, không chỉ nâng cao được chất lượng, vai trò, vị trí của người lãnh đạo mà nó còn có ý nghĩa quyết định đến mọi thắng lợi của Đảng với sự nghiệp cách mạng. Đánh giá về vai trò của công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. “Vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”.

    Từ việc xác định vai trò, tầm quan trọng của cán bộ và đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian, tâm huyết cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ để chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng, đến việc lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi và xây dựng XHCN ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam. Trước lúc đi xa, trong Di chúc của Người cũng viết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

    Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thì cần phải làm những nội dung gì? Trong quá trình xây dựng Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: Trước hết, phải đánh giá cán bộ. Đánh giá cán bộ thông qua hoạt động và kết quả đạt được. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt”. Ngược lại: “Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh của họ thế nào lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt”. Và để đánh giá được chất lượng cán bộ, theo Người, cần dựa vào nhân dân, qua các hoạt động kiểm tra đánh giá của các cấp và cả dư luận của xã hội.

    Khi đã có đánh giá đúng về chất lượng cán bộ, tổ chức Đảng cần phải tập trung bồi dưỡng, nâng cao để cán bộ hoàn thiện hơn về đức, tài khi được giao nhiệm vụ, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói rất rõ về vấn đề này. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà”. Mục đích của việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng cán bộ là không ngừng hoàn thiện đội ngũ cán bộ cả về phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Phải đào tạo một đội ngũ cán bộ “có gan phụ trách, có gan làm việc”.

    Khi đội ngũ cán bộ có chất lượng, có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực, thực sự trung thành với sự nghiệp cách mạng, nhận thức rõ những khó khăn, thách thức, hiểu rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, là hạt nhân trong lãnh đạo xã hội, đấy chính là tự xây dựng cho cơ thể “hệ miễn dịch” với mọi âm mưu thủ đoạn của “diễn biến hòa bình”.