Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2021

THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA


Hiện nay, để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa là mũi đột phá nhằm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

 Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng, vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,... Qua đó, lôi kéo vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện trên những phương diện chủ yếu như sau:

 Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư ưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đã có một bộ phận nhân dân trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như con đường mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội xét lại đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gây hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, chúng muốn thúc đẩy “tự diễn biến” từ bên trong xã hội ta. Trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những “tự diễn biến” về các mặt khác.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng; núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn ra sức vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình” phát triển.

Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chúng.

Ngoài ra, “diễn biến hòa bình” còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

TIA CHỚP

NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHẰM VÀO THANH NIÊN

 


   Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi là một lực lượng đông đảo, chiếm khoảng 30% dân số. Đây là lực lượng dân cư có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Thanh niên Việt Nam nhìn chung đều có tinh thần nhiệt tình cách mạng, hăng hái, tiên phong, ham học hỏi, có tinh thần đổi mới, sáng tạo. Khi được dìu dắt, tập hợp, thanh niên dễ liên kết thành một khối thống nhất, đoàn kết. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên Việt Nam cũng dễ bị lôi kéo, kích động, thường dễ có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã đầu đời… Đây là những đặc điểm dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng.

   Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng vai trò của thanh niên, coi thanh niên là “chủ nhân tương lai của đất nước”, “là rường cột của nước nhà”… Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã đặt nhiều kỳ vọng và luôn chăm lo đến việc giáo dục, rèn luyện cho đoàn viên, thanh niên. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một phần nói về thanh niên và căn dặn Đảng cần phải quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên - thế hệ cách mạng cho đời sau. Người căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Đây chính là sự tổng kết, đúc rút vô cùng quý báu của Người từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam nói chung và công tác thanh niên nói riêng, nhằm phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

   Vì thế, khi các thế lực thù địch hướng đến thanh niên chính là nhằm phá hoại tương lai của đất nước ta; phá hoại niềm tin, sự kỳ vọng của Đảng, của Bác và của nhân dân dành cho thế hệ tương lai của nước nhà. Đây cũng là một âm mưu thâm độc mà các thế lực thù địch đã sử dụng, tấn công vào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nhằm “phá hủy lực lượng cộng sản tiềm năng không thể coi thường ở các nước xã hội chủ nghĩa”.

   Như vậy, sở dĩ các thế lực thù địch hướng đến thanh niên không chỉ là vì đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của thanh niên, mà còn do thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước, luôn nhận được sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và cả xã hội. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã luôn coi thanh niên là đối tượng chủ yếu để tuyên truyền, lôi kéo, kích động. Nếu như tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch lợi dụng các cách thức truyền thống, như dồn dập tung thông tin xuyên tạc với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh…, thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để tấn công vào thanh niên. Nhận thấy thanh niên là lực lượng chủ yếu sử dụng internet và các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch đã ra sức phát tán các bài viết, blog, hình ảnh, video clip bịa đặt, xuyên tạc, vu khống trên các kênh Youtube, Facebook,... Những âm mưu, nội dung chủ yếu mà các thế lực thù địch thường sử dụng để xuyên tạc, chống phá là:

   Thứ nhất, làm phai nhạt lý tưởng cao cả nhất của đoàn viên, thanh viên Việt Nam - lý tưởng cộng sản - bằng lấy sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cái cớ để xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn luôn rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một “tất yếu lịch sử” vì bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”. Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng”... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, trên các diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Xuất phát từ sự xảo biện đó, họ cho rằng hiện nay, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng” để “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(?!). Những luận điệu này được tung ra nhằm làm lung lạc tinh thần, lung lay ý chí của thanh niên; khiến cho thanh niên hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; từ đó, làm phai nhạt lý tưởng cộng sản, mất mục tiêu phấn đấu.

   Thứ hai, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để làm suy giảm niềm tin của thanh niên đối với Đảng. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước”. Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước”. Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”. Chúng còn xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu của Việt Nam trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hòng làm cho thanh niên mất niềm tin vào Đảng, từ đó hoài nghi, dao động về lập trường tư tưởng, mất phương hướng.

   Thứ ba, các thế lực thù địch xuyên tạc bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm cho một bộ phận không nhỏ thanh niên có nhận thức sai lệch. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn ra sức thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tuyên truyền, cổ xúy lối sống phương Tây với những biểu hiện thực dụng, coi trọng các giá trị vật chất, lối sống cá nhân, vị kỷ,… nhằm làm cho thanh niên dễ bị lôi kéo, mua chuộc, dễ bỏ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, có biểu hiện “sính ngoại”, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà đánh đổi lợi ích của tập thể, của dân tộc…

   Các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình… có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam”.

   Thực tiễn cho thấy, một phần do ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường và do sự xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, không ít thanh niên đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu phấn đấu. “Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường. Thực trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, tương lai của thanh niên mà còn đến tương lai, vận mệnh của đất nước. Do đó, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, bảo vệ thanh niên trước sự lôi kéo, mua chuộc, xúi giục của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị./.

BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI XIII VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ


   Dựa vào nền tảng nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, với tư duy lý luận đột phá, đổi mới, sáng tạo của Đảng về công tác cán bộ - “then chốt của then chốt”; tất cả các khâu và các quy trình của công tác cán bộ đều được đổi mới. Công tác cán bộ được quan tâm một cách xứng tầm, thực sự là công việc “then chốt của then chốt”. Điều này giúp cho các cấp ủy nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo để phát huy tốt hơn vai trò của mình trong nhiệm kỳ mới, xứng đáng hơn với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân.

   Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để Nghị quyết của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống, việc nhận thức, quán triệt các quan điểm, tư duy lý luận của Đảng trong hệ thống các văn kiện và chỉ đạo tổ chức thực hiện là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên.

   Bằng cơ sở lý luận khoa học, thực tiễn vững chắc, với “tất cả sự khiêm tốn của người cộng sản”, có thể khẳng định rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thật vậy, những thành tựu của đất nước những năm qua là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Tất yếu khẳng định rằng, tư duy lý luận đột phá, đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi xin đề cập vấn đề xây dựng Đảng về cán bộ, “then chốt của then chốt” - một trong những bước đột phá tư duy lý luận của Đảng tại Đại hội XIII.

     1. Đột phá về tách nội hàm cán bộ

   Không phải ngẫu nhiên, Đại hội XIII quyết định tách nội hàm cán bộ từ xây dựng Đảng về tổ chức, mà xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có chất lượng, ngang tầm nhiệm vụ; đồng thời, đây cũng là kết quả sự đúc kết từ những kinh nghiệm của công tác tổ chức xây dựng Đảng trong nhiều nhiệm kỳ, với nhiều cách làm mới, sáng tạo, hiệu quả.

   Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của công tác cán bộ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”; suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, coi đây là khâu “then chốt của then chốt” - nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

   Nhìn lại lịch sử của việc tách nội hàm trong công tác xây dựng Đảng, từ Đại hội III, Đảng ta đã xác định công tác xây dựng Đảng trên 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Và từ Đại hội III đến Đại hội XII bổ sung nội dung “xây dựng Đảng về đạo đức”. Khi xác định xây dựng Đảng trên ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, nội hàm về đạo đức đã nằm trong nội hàm tư tưởng. Trước thực tiễn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống, Đại hội XII đã quyết định tách nội dung đạo đức trong xây dựng Đảng về tư tưởng thành một nội hàm riêng. Nên Đại hội XII xác định xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, thực tế cho thấy công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, nên ngày 19/5/2018 Trung ương ra Nghị quyết 26-NQ/TW về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Đây chính là “chiến lược về cán bộ của thời kỳ phát triển mới”.

   Theo đó, đến Đại hội XIII quyết định tách nội hàm cán bộ từ “xây dựng Đảng về tổ chức” ra riêng để tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, giải quyết vấn đề cán bộ: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ - nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội XIII yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây là bước đột phá tư duy lý luận của Đảng trong nhìn nhận, cân nhắc vấn đề xây dựng Đảng với trọng tâm, trọng điểm là công tác cán bộ.

     2. Đột phá về phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ

   Tiếp tục thực hiện hai trọng tâm và năm đột phá xác định trong Nghị quyết 26-NQ/TW, nhất là đột phá “Hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ”, Đại hội XIII khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Từ đó, Đảng yêu cầu, cán bộ phải tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; chăm lo đầy đủ và sâu sát đến đời sống, lợi ích của nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.

   Đó là bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Đúng vậy, công tác tổ chức xây dựng Đảng về cán bộ luôn là vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp tới sự thành bại của cách mạng, sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Hơn nữa, đây là nhiệm vụ rất khó khăn, hết sức tinh tế và nhạy cảm vì tác động đến tổ chức, con người, đòi hỏi những người làm công tác tổ chức xây dựng Đảng phải luôn nỗ lực, lao tâm khổ tứ, đau đáu, trăn trở, công tâm, trong sáng, giữ mình…, mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Bài học thực tiễn sâu sắc từ việc tổng kết nhiệm kỳ 2015 - 2020, công tác xây dựng Đảng nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, gặt hái được nhiều thành tựu; đặc biệt có những cách làm mới, sáng tạo, quyết liệt, từ Trung ương đến cơ sở, mọi vấn đề hệ trọng trong công tác cán bộ đều xuất phát từ nhân dân.

   Với quan điểm chăm lo cán bộ phải từ gốc, ngay từ đội ngũ cán bộ cơ sở, những người hằng ngày, hằng giờ tiếp xúc và trực tiếp giải quyết những công việc liên quan tới lợi ích sát sườn của nhân dân, Tỉnh ủy Quảng Ninh sáng tạo, phát động từ cuối nhiệm kỳ 2010 - 2015 và tổ chức thực hiện thành công ở nhiệm kỳ 2015 - 2020 với mô hình 100% số bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố trong toàn tỉnh, lựa chọn nhân sự theo phương thức: “Dân có tin rồi Đảng mới cử”. Cụ thể là, chọn những đảng viên được nhân dân tín nhiệm bầu làm trưởng thôn, bản, khu phố trước, rồi sau đó giới thiệu cho chi bộ bầu làm bí thư chi bộ. Sự tin cậy và hài lòng của người dân chính là hàn thử biểu đo chất lượng cán bộ, dựa vào nhân dân để lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ; đồng thời, “lòng dân” được đặt ở vị trí trước tiên, thể hiện sự tôn trọng nhân dân, xem nhân dân ở vai trò chủ thể, trung tâm của mọi quyết sách phát triển…

   Do vậy, đã hoàn thành mục tiêu 100% số bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố, trên cơ sở thực hiện quy trình nhân sự “Dân tin - Đảng cử”. Đây là một giải pháp nhằm cụ thể hóa một cách sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, không chỉ tạo ra đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp, ngày hội của toàn dân, mà quan trọng hơn chính là nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở và thúc đẩy, làm tốt hơn nữa việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

     3. Đột phá về “tinh hoa dẫn dắt” đất nước phát triển

   Đảng ta chỉ rõ, “tinh hoa dẫn dắt” đất nước, dân tộc là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Cán bộ cấp chiến lược có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, là những người chèo lái tuyến đầu con thuyền phát triển đất nước. Bởi vậy, trong Nghị quyết 26-NQ/TW, Trung ương đề ra chiến lược về cán bộ của thời kỳ phát triển mới, với những nội dung đặt ra về công tác cán bộ không chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn, mà trong một thời gian dài, đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, với hàm ý chuẩn bị đội ngũ cán bộ chiến lược ngang tầm nhiệm vụ, đủ năng lực gánh vác trọng trách phát triển đất nước với những mục tiêu rất lớn được xác định ở cột mốc trọng đại năm 2030 (tròn 100 năm thành lập Đảng) và năm 2045 (tròn 100 năm thành lập nước). Từ đó, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.

   Việc xây dựng và quy hoạch cán bộ cấp chiến lược được làm lần đầu từ khoá XI. Qua tổng kết, rút kinh nghiệm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tiếp tục thực hiện một cách căn cơ, bài bản, chặt chẽ hơn. Khác với các nhiệm kỳ trước, để chuẩn bị nhân sự khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương làm công tác quy hoạch từ rất sớm.

   Theo đó, công tác chuẩn bị nhân sự cấp chiến lược được quan tâm ngay từ đầu nhiệm kỳ khóa XII, được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên, chặt chẽ, bảo đảm đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất cao. Đồng thời tiến hành khoa học, bài bản, khách quan, toàn diện theo phương châm làm từng bước, từng việc, từng khâu; làm thận trọng, chặt chẽ, kỹ lưỡng, làm đến đâu, chắc đến đó.

   Công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược gắn chặt với đào tạo, bồi dưỡng (Trung ương tổ chức 5 lớp cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII) và tiến hành luân chuyển (luân chuyển 27 bí thư tỉnh ủy không là người địa phương, tăng 11 người so với nhiệm kỳ trước) để rèn luyện. Có thể nói, sự khách quan, tư duy tầm chiến lược, mối quan hệ công tác với Trung ương của các nhân sự luân chuyển góp phần bổ khuyết tốt cho những mặt nào đó còn hạn chế của tập thể lãnh đạo các địa phương. Đồng thời, bản thân các cán bộ được luân chuyển cũng xác định đây là cơ hội để học tập, cọ xát, trui rèn qua thực tiễn để trưởng thành nên gắng sức, không quản gian khổ, “quăng mình” vào thực tiễn, công việc, giữ gìn chuẩn mực đạo đức, bước đầu đã có những đóng góp, cống hiến tốt, nên qua thời gian được đa số cấp ủy, cán bộ, đảng viên và Nhân dân địa phương ghi nhận, ủng hộ, phần nào giúp loại bỏ dần tư duy khép kín, cục bộ địa phương đã từng khá nặng nề.

   Với tư duy đột phá “Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”. Kết quả là, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược được trẻ hóa, khi có tới 28 bí thư tỉnh ủy từ 50 tuổi trở xuống, tăng 15 người so với nhiệm kỳ trước.

   Đây là thế hệ cán bộ được học tập, đào tạo bài bản, bắt nhập nhanh với thời cuộc, thích ứng nhanh với khoa học - công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tư duy sáng tạo, đổi mới, quyết đoán, dám làm, biết làm, đem đến làn gió mới, được kỳ vọng sẽ mang lại sự phát triển mới, đột phá cho các tỉnh, thành, đất nước trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

   Tuy nhiên, đây cũng là những cán bộ nắm giữ các chức vụ quan trọng, nếu xảy ra những sai phạm, hậu quả sẽ khôn lường cho tổ chức. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược gắn chặt với việc kiểm soát quyền lực, chống “chạy chức”, “chạy quyền”, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đồng thời cũng cần có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, biết làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung…

   Như vậy, dựa vào nền tảng nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, với tư duy lý luận đột phá, đổi mới, sáng tạo của Đảng về công tác cán bộ - “then chốt của then chốt”; tất cả các khâu và các quy trình của công tác cán bộ đều được đổi mới. Công tác cán bộ được quan tâm một cách xứng tầm, thực sự là công việc “then chốt của then chốt”. Điều này giúp cho các cấp ủy nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo để phát huy tốt hơn vai trò của mình trong nhiệm kỳ mới, xứng đáng hơn với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân.

   Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ tổ chức xây dựng Đảng năm 2018, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Càng ngày càng thấm thía cán bộ là cái gốc của công việc, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, do vậy cũng có thể nói nếu xây dựng Đảng là then chốt, thì công việc của ban tổ chức các cấp cũng là then chốt của then chốt. Nếu cái chốt này mà rắn chắc, cứng cáp thì công việc trôi chảy, suôn sẻ, nếu chẳng may cái chốt này nó mọt, nó trục trặc, thì không biết tình hình sẽ thế nào. Tôi chia sẻ với những khó khăn, thách thức mà các đồng chí đang phải đối mặt, song Đảng và nhân dân tin tưởng vào bản lĩnh, ý chí, quyết tâm, sự nỗ lực, sự cố gắng vươn lên của từng cấp ủy các cấp, cùng cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng”./.


Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

NGỤY SỬ, LẬT SỬ ĐANG HIỆN HỮU!

Mấy năm nay đang diễn ra những phát ngôn, ý định, quan điểm, và cả mưu mô viết sử, lật lại lịch sử! Đòi tôn vinh lính ngụy... Hai vấn đề rộ lên.

Công nhận ”Việt Nam cộng hoà” là một chế độ đã tồn tại trong lịch sử, bỏ cụm từ “ngụy quân”, “ngụy quyền”.

Vinh danh cho 74 binh sĩ ngụy quân chết trong trận Hải chiến Hoàng sa năm 1974.

     Cả hai vấn đề trên gắn với nhau đều nhằm mục đích lật sử để viết lại lịch sử với mưu mô sai trái, rất nguy hiểm.

    Nó diễn ra liên tục và ngày càng ráo riết. Ban đầu từ việc nói Lê Văn Tám là không có thật, rồi Pháp chiếm Việt Nam không phải xâm lược mà chỉ mượn Việt Nam làm bàn đạp để tiến công Trung Quốc. Khi viết bộ sử 15 tập họ đưa vấn đề công nhận chế độ Việt Nam cộng hoà, bỏ cụm từ “ngụy quân”, “ngụy quyền“ vào, hiện nay họ chủ trương quyết đưa vào bộ Quốc sử 30 tập đang viết. 

   Các vấn đề trên đều do các PGS, GS - TS ngành sử học đưa ra.

     Đặc biệt trong dịp kỉ niêm ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 2019, GS.TS Vũ Minh Giang - Phó chủ tịch HKHLS, quyền TBT bộ Quốc sử đã trả lời phỏng vấn báo chí. Trong các bài báo ông ấy nêu lên mấy vấn đề: Một là ông ta nhắc lại hiện nay có sự việc đấu tranh giữa một bên bỏ cụm từ “ngụy”... với một bên không bỏ. Hai là ông ta cho rằng kỷ niệm ngày 30/4 các Cơ quan truyền thông không nên bàn đến chuyện thắng - thua mà hãy cùng chung tay đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là đừng có tổ chức lễ mừng chiến thắng nữa; ông cho rằng ta hoà giải với Mỹ dễ hơn với người phía bên kia . Từ những vấn đề đó ông có ngụ ý rằng những người đã từng cầm súng chống Mỹ cứu nước thì việc bỏ thù hận là khó đối với họ...

   Ông ta nói cuộc chiến tranh vừa qua là giữa người Việt Nam với nhau, có sự hiện điện của bên thứ ba là người Mỹ , tức là Việt Nam dân chủ cộng hoà xâm lược Việt Nam cộng hoà, Mỹ tham gia ủng hộ Việt Nam Cộng Hoà . Có nghĩa là không có cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà chỉ có cuộc nội chiến.

     Trước hết nói về bỏ cụm từ “ ngụy quân” , “ngụy quyền” trong viết sử là trái với tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Vấn đề này đã có rất nhiều bài viết phân tích rồi.

    Chính Ngô Đình Diệm đã phá hoại hiệp định Giơnevơ, bác bỏ tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Lê máy chém đi khắp miền Nam giết hại hơn hai mươi vạn đồng bào chiến sĩ yêu nước, dìm nhân dân miền Nam trong biển máu. Diệm lập nên chế độ Việt Nam cộng hoà, mở đường cho Mỹ vào gây ra cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại, hàng triệu người hi sinh, mấy triệu sinh mạng người Việt Nam cả hai bên đã ngã xuống, đó là tội lỗi của Diệm và chính quyền tay sai bán nước.

  Bà Nguyễn Thị Bình - Bộ trưởng / Bộ ngoại giao của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam đã công bố với thế giới rằng: Chúng tôi không đàm phán với Việt Nam cộng hoà, vì nó là chế độ tay sai bán nước.

   Lời của Bác Hồ, lời của BT Nguyễn Thị Bình, tội ác của Ngô Đình Diệm và bè lũ tay sai, ai cũng thấy. Nếu coi Việt Nam cộng hoà là một chế độ tồn tại trong lịch sử thì phải nói nó là “một chế độ tay sai bán nước”. Đương nhiên chính quyền là “ngụy quyền”, quân đội là “ngụy quân”.

   Nguyễn Văn Thiệu không muốn ký hiệp định Pa ri. Khi buộc phải ký, hiệp định chưa ráo mực, Thiệu đã mở chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, xua quân tiến công lấn chiếm vùng giải phóng của ta, phá bỏ hiệp định Pa ri, phá bỏ việc thống nhất đất nước. Khi ta phản công, tiến công, nguy cơ thất bại, Nguyễn Văn Thiệu với cương vị tổng thống “Việt Nam cộng hoà” kêu gọi người Mỹ ném bom hủy diệt Việt Nam. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, một viên tướng của Pháp cũng đào tẩu sang Đức, nhưng cũng không dám kêu gọi Đức ném bom hủy diệt nước Pháp, thế mà Thiệu dám làm, không gọi ông ta là tổng thống ngụy quyền Sài Gòn thì gọi là cái gì hỡi các vị giáo sư lật sử.

Một điều hết sức ấu trĩ phát ra từ miệng vị GS-TSKH này là: hai phía bên nào cũng nói mình là yêu nước là hợp pháp, là chính nghĩa .Không hiểu ông ta có biết gì về lịch sử hai cuộc kháng chiến đầy khó khăn gian khổ, vô cùng ác liệt, hy sinh vô cùng lớn lao không?

  Chúng tôi cùng tuyệt đại những người yêu chế độ này đã phản bác các quan điểm sai trái của các ông Trần Đức Cường , Nguyễn Nhã, Nguyễn Mạnh Hà và nay là ông Vũ Minh Giang... 

Chúng tôi khẳng định những quan điểm lập luận như: bỏ để cho khách quan; bỏ để mọi người dễ chấp nhận; bỏ để tránh miệt thị, tránh biểu cảm; bỏ để có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa; bỏ để hoà giải, hoà hợp dân tộc; bỏ vì VNCH là một quốc gia độc lập được Liên Hiệp quốc công nhận, họ song song tồn tại cùng VNDCCH; Tất cả những lập luân đó chúng tôi đã phân tích ở trên và phản bác, khẳng định nó là một cách ngụy biện để vực dậy cái thây ma đã thối rữa cách đây đã 44 năm. 

Nhìn ra bên ngoài để ngẫm đến ta.

Năm 1987, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô

Goocbachop đã khởi xướng một trào lưu tư tưởng mang tên “suy ngẫm lại lịch sử”, họ mở một chiến dịch công kích Stalin, họ mô tả Ông như một tên tội phạm khét tiếng...Họ phủ nhận thắng lợi của chiến tranh Vệ quốc... Ngày ấy báo chí của ta cũng đăng tin lại y nguyên, làm cho nhân dân ta cả cán bộ đảng viên từ chỗ rất tôn trọng Stalin, một lãnh tụ tài giỏi có công lao rất lớn trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đai của nhân dân Liên Xô, nay cũng có cái nhìn khác đi, thậm trí có người còn khinh bỉ. Sau khi Liên Xô tan rã, tôi sang Nga 3 lần, đều đến thăm lăng Lê Nin, được nghe giới thiệu khá kỹ. Khi Xtalin mất, thi hài của ông được đưa vào lăng đặt cạnh thi hài Lê nin. Năm 1961 thời kì xét lại họ định đưa thi hài ông ra khỏi lăng mai táng ở vùng nông thôn xa xôi. Do sự đấu tranh của những người cộng sản, cuối cùng thi hài ông bị đưa ra khỏi lăng và đặt tại cạnh bức tường điện Kremli cùng với các nhà lãnh đạo Liên Xô khác. Tôi đã đến thăm viếng mộ Xtalin.

Tháng 3-1988, báo Nước Nga Xô-viết đăng bức thư của Nina Andreyeva, nữ giảng viên ở Học viện Khoa học kỹ thuật Leningrad lên án trào lưu suy ngẫm lại lịch sử, chỉ rõ nó thực chất là dòng nước ngược, bôi đen Liên Xô xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Thế nhưng, thay vì ủng hộ ý kiến tâm huyết này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập hội nghị khẩn cấp để đáp trả “thế lực chống đối cải tổ”. Ngày 5-4-1988, Báo Sự Thật đăng bài phản kích Nina Andreyeva. Sau đó, các cơ quan báo chí đồng loạt phản kích. Toàn bộ lịch sử Liên Xô có cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đai, một nước XHCH hùng cường bị miêu tả như một mớ đen ngòm. Sang năm 1989, trào lưu chuyển sang phê phán, phủ định Cách mạng Tháng Mười, Chủ nghĩa Mác Lênin và chính Lênin, họ bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Mác-Lênin trong trường học. Cơn lốc xét lại lịch sử ngày càng lan rộng và bùng lên mạnh mẽ, lôi cuốn toàn bộ xã hội. Một số tờ báo và tạp chí cấp tiến, như: Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow công khai phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định thành quả của cách mạng Tháng Mười, phủ định CNXH.

Sau này vào năm 1994, nhà văn Boldarev đã nhìn lại: “Trong 6 năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 40. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ. Đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”. Những cuộc hội thảo rầm rộ nhằm xem xét lại vai trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi hình tượng V.I.Lênin bị đánh sụp, tượng đài Lênin ở một số nơi bị kéo đổ, họ đòi đưa thi hài Lê nin ra khỏi lăng, thì Đảng cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gỏbachev kẻ phản bội tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Một sự kiện sau này được Tổng thống Nga Vladimir Putin thừa nhận đó là cơn địa chấn khủng khiếp, là thảm họa của thế kỷ 20. 

Đau xót, cay đắng trước sự công phá khủng khiếp của trào lưu xét lại lịch sử, năm 1991 nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ có đoạn: 

“Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử

 Cào chiến công, xé cả xác anh hùng

 Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung

 Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát?

 Lũ phản bội, điên cuồng, hèn nhát.

 Và cả bay quân cướp nước, giết người.

Chớ vội cười! Chân lý vẫn xanh tươi …”.

Ngẫm lại trào lưu xét lại lịch sử ở Liên Xô trước đây để thấy, ở Việt Nam chúng ta mấy năm nay manh nha xuất hiện trào lưu này và ngày càng táo tợn hơn của một nhóm các nhà sử học có vị thế . Nhiều kẻ mang danh là nhà khoa học, người có uy tín lên mạng công khai phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng tháng 8, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Càng đau xót hơn khi nhiều người trong giới trẻ hiện nay nhìn nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của chúng ta là cuộc chiến "nồi da nấu thịt", gọi chiến thắng 30/4 là "tháng tư đen"; phủ nhận sự hi sinh của hàng triệu anh hùng liệt sỹ và đồng bào cả nước nhằm giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc. 

Chiến thắng 30 tháng 4 là kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc ta, sau ba mươi năm kháng chiến chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Người trước ngã người sau đứng lên, cả dân tộc đứng lên giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Nay họ đang phủ nhận và gieo nọc độc cho lớp lớp thế hệ trẻ trong tương lai. Ngẫm lại mới thấy hậu quả tai hại của thế hệ trẻ ghét lịch sử, yêu văn hóa lai căng lớn như thế nào!

Cuộc kháng chiến thần thánh vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc mới chỉ kết thúc có hơn 40 năm, vết tích của cuộc chiến vẫn còn đọng lại trên đôi mắt, trong tâm trí và trên cánh tay của hàng chục vạn thương binh trên khắp mọi miền tổ quốc này, mà họ đã dám phát ra những ý kiến như vậy. Thử hỏi vài năm nữa đây, khi những cựu chiến binh thế hệ chống Mỹ ra đi, liệu còn ai đứng ra bảo vệ lịch sử, chống lại đám xét lại đang hoành hành ngày càng lớn trên báo chí hiện nay!

    Còn với cách nhìn của ông Giang là phó chủ tịch Hội KH LS, quyền TBT bộ quốc sử 30 tập đã phát biểu, hỏi xem các ông viết sử cho ai ? Phục vụ chế độ nào, dân tộc nào?. Nếu viết cho dân tộc Việt Nam sao ông không bàn đến chuyện ta thắng Mỹ , không bàn đến chuyện Mỹ thua Việt Nam thì các ông viết cái gì ?

     Cũng cách lập luận như vậy, họ có dám nói từ nay truyền thông cũng không bàn đến chuyện thắng - thua khi nói đến Chiến thắng Điện Biên Phủ , đánh bại Thực dân Pháp , đến Đại thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm , Xoài Mút ; đến Đại thắng quân Thanh ở Đống Đa Ngọc Hồi , đến Đại thắng quân Nguyên , quân Minh , quân Tống ...Nếu ông cùng Hội KHLS dám nói và khẳng định các ông nói đúng thì các ông sẽ còn gì để viết sử và viết sử như các ông có cần cho Dân Tộc này nữa không. Viết sử phải đúng lịch sử diễn ra, chứ không phải sáng tác ra sử theo ý muốn chủ quan của một nhóm người muốn lật sử.

Hãy xâu chuỗi những sự kiện gắn với các bài nói, bài viết, các bộ sử đã và đang viết của các nhà nghiên cứu lịch sử trong mấy năm gần đây cho thấy, xu hướng xét lại lịch sử là có thật, nó là một nguy cơ diễn biến hoà bình đang trở thành hiện thực.

Với cán bộ, đảng viên, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ rõ: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh đạo tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước” là 1 trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Từ thưc tế hiện nay cho thấy sự nguy hiểm của biểu hiện này được phát ra từ những nhà sử học.

Không được coi nhẹ mối hiểm họa này!

  Vấn đề tôn vinh cho 74 binh sĩ Việt Nam cộng hoà chết ở Hoàng Sa.

 Trong những năm hoạt động, các con tàu không số vượt biển đi qua khu vực biển Hoàng Sa, nhiều tàu chiến của hải quân ngụy từ căn cứ Đà Nẵng, từ quần đảo Hoàng Sa đã ra ngăn chặn, bắn chìm một số tàu, giết hại nhiều cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam. Trong đó con tàu mang số hiệu HQ10 của hải quân ngụy Sài Gòn đã bị bắn chìm tại Hoàng Sa ngày 17/1//1974 cùng với 74 binh sĩ tử trân, con tàu và những binh sĩ này đã gây ra rất nhiều tội ác với các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam. Trong trận hải chiến Hoàng Sa, lực lượng hải quân của quân ngụy Sài Gòn mạnh hơn rất nhiều so với Trung Quốc. Do sự bạc nhược hèn nhát đã tự bắn vào nhau, bỏ chạy nên để mất hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa.

Hiện nay có một số người, báo Thanh niên, kênh truyền hình VTC14 đang tuyên truyền đòi tôn vinh cho 74 binh sĩ ngụy này. Những binh sĩ ngụy này đã làm gì để được tôn vinh. Ngay chính người trong cuộc cũng không ca ngợi mà còn phê phán cơ mà.

Họ đòi tôn vinh 74 binh sĩ ngụy bạc nhược, hèn nhát với mục đích gì. Đây chính là một sự đồng điệu với mưu mô công nhận chế độ Việt Nam cộng hoà, bỏ cụm từ “ ngụy quân “, “ ngụy quyền”.

Ngụy sử đang lật sử nằm trong âm mưu lật đổ chế độ là một âm mưu nguy hiểm đang hiện hữu, nhưng chưa được quan tâm ngăn chặn kịp thời và đúng mức.

Hãy xem bài học Liên Xô trước đây./.


Yêu nước ST.

HUYỀN THOẠI ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN


Ngày 23/10/1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam quyết định thành lập Đoàn 759 để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Ngày 23/10 trở thành Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Để đảm bảo bí mật cho tuyến đường vận tải đặc biệt, những chiếc tàu của Đoàn 759 phải cải hoán thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, tên gọi Đoàn tàu không số cũng ra đời từ đó.

Đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ đầu tiên mang theo 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) lên đường vào Cà Mau. Chuyến đi thành công tốt đẹp, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện biểu dương khen ngợi. Tháng 8/1963, Quân ủy Trung ương quyết định giao Đoàn 759 trực thuộc Quân chủng Hải quân. Ngày 29/1/1964, Đoàn 759 đổi phiên hiệu thành Đoàn 125. Từ năm 1962 – 1964, Đoàn 125 tổ chức được 79 chuyến vận chuyển hơn 4.000 tấn vũ khí trang bị và cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Quân đội cập bến Bạc Liêu, Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa, Phú Yên, Bình Định đáp ứng kịp thời sự mong đợi của chiến trường. Trên địa bàn Khu V, đến cuối năm 1964 ngoài bến Vũng Rô (Phú Yên) đã có thêm các bến Lộ Diêu (Bình Định), Đạm Thủy (Quảng Ngãi), Bình Đào (Quảng Nam) sẵn sàng tiếp nhận hàng từ các chuyến tàu không số.

Trong 14 năm (1961 – 1975), “Đoàn tàu không số” đã vận chuyển hàng nghìn tấn vũ khí, hàng hóa, thuốc chữa bệnh và hàng vạn lượt người từ hậu phương lớn vào tiền tuyến, trực tiếp góp phần cùng toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Mỗi chuyến đi là một chiến công, kể cả những chuyến đi thành công và những chuyến đi chưa thật trọn vẹn. Những sự tích anh hùng, những huyền thoại của “Đoàn tàu không số”, xâu chuỗi thành con đường bất tử – Đường Hồ Chí Minh trên biển, mãi mãi lưu truyền trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đường Hồ Chí Minh trên biển đã hoàn thành trọn vẹn và đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ chi viện chiến lược cho chiến trường miền Nam.

Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 125, ngày 30/4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho đơn vị. Ngày 1/1/1967, Đoàn 125 đã được tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVTND lần thứ nhất; ngày 3/6/1976, Đoàn được tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVTND lần thứ hai.

Cùng với đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển là một nét độc đáo, đặc sắc, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; trở thành biểu tượng tự hào của cả dân tộc Việt Nam, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc; là trí tuệ, ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Huyền thoại về đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn mãi mãi ngời sáng trong trang sử oanh liệt của dân tộc ta như một thiên anh hùng ca bất tử, tô thắm truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc, Quân đội và Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng, tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 TIA CHỚP

CHỈNH SỬA SÁCH GIÁO KHOA SỬ HỌC VÀ BIÊN SOẠN BỘ QUỐC SỬ NHƯ THẾ NÀY SAO?

"Mạt kiếp Gia Long mang tội nước.

 Ngàn năm Nguyễn Huệ sử ghi công!

                   (Sưu tầm)


"Khi Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm, vua Xiêm lợi dụng cơ hội để âm mưu chiếm đất Gia Định và thôn tính Chân Lạp, đã cử Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 5 vạn quân theo hai đường thủy bộ cùng với tàn quân của Nguyễn Ánh tiến đánh Gia Định. Đêm 19 rạng ngày 20-1-1785, Nguyễn Huệ đã lãnh đạo quân và dân ta đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Còn ở Đàng ngoài, cuối năm 1788 quân Thanh đã chiếm đóng thành Thăng Long. Nguyễn Huệ lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tấn công quân Mãn Thanh thì Nguyễn Ánh cho người mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra giúp quân xâm lược Mãn Thanh. Trời bất dung gian, cả đoàn thuyền bị một cơn bão nhấn chìm xuống biển Đông, nhưng hành động này nói lên bản chất cực kỳ phản động của y.

Giúp quân Thanh giày xéo đất nước ta ở phía Bắc, rước quân Xiêm xâm lược đất nước ta ở phía Nam, rồi lại cầu cứu rước tư bản phương Tây, đặc biệt là tư bản Pháp vào xâm lược nước ta, tròng vào cổ nhân dân ta xích xiềng nô lệ kéo dài suốt 80 năm. Còn vua Quang Trung đánh tan quân Xiêm ở phía Nam, đánh tan quân Thanh ở phía Bắc. Rõ ràng thời vua Quang Trung đất nước ta đã độc lập, thống nhất."

"Sử sách còn ghi chép: Ngày 28/11/1787, Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Anh kí kết với chính phủ Pháp hiệp định Véc-xây nhượng hẳn đảo Côn Lôn, cửa biển Hội An và cam kết để cho Pháp độc quyền buôn bán trên cả nước, cung cấp binh lính và lương thực cho Pháp khi có tranh chấp giữa Pháp với một nước ở phương Đông. Chính phủ Pháp nhận giúp đỡ Nguyễn Anh 4 tàu chiến và một đội quân gồm 1.650 người. Đây là một trong những bản hiệp ước bán nước. Gần 75 năm sau - ngày 5/6/1862, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp có Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn đã ký với Bonard và Palanca một hiệp ước gọi là hòa ước năm Nhâm Tuất cắt đứt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, bồi thường chiến phí trong 10 năm, mỗi năm 400 ngàn quan cho đại diện của Pháp ở Sài Gòn. Tự Đức thấy “thành quả” của hiệp ước đã trách Phan - Lâm: “ Ôi con dân mấy triệu, tội gì mà khổ thế? Thật là đau lòng. Hai người không những chỉ là tội nhân của triều đình mà còn là tội nhân muôn đời của hậu thế”.

Không chỉ bán nước, vương triều Nguyễn còn trở thành tay sai đắc lực của Pháp trong việc chống lại nhân dân, hãm hại những người yêu nước. Hãy xem mật thơ của “Tổng đốc Vĩnh Long” Phan Thanh Giản gởi Trung tướng Hải quân Bonard Thống đốc kiêm Tư lệnh”: “Vĩnh Long ngày 7/2/1863. “Tên Trương Định đã đóng quân vi pháp trên đất Tân Hòa (Gò Công). Tại đây, y đã tự đặt vào vị thế chống lại chính phủ An Nam, tuyển mộ binh lính; vì đã từ lâu y không có liên lạc nào với tôi nên tôi không thể đoán trước rằng ngày 18 tháng này (5/2/1863) có tên Quang do y sai đem tới một văn thơ và yêu cầu tôi tường lãm… Đọc bản tuyên ngôn đính theo đây, tôi đã nhận thấy sự kiêu hãnh và ngạo mạn cao độ của con người dám phủ nhận cả đương triều. Quân đội thuộc quyền các hạ mà còn chưa diệt trừ được tên ấy thì lòng kiêu hãnh của y cứ gia tăng. Tôi đã cho bắt giữ tên Quang do Trương Định sai tới và giam giữ ngặt để đưa ra xét xử… Tôi xin đính theo mật văn này bản tuyên ngôn đã nhận được để các hạ tri tường. Đây là mật văn của tôi. Năm thứ 15 triều vua Tự Đức, ngày 20 tháng 12” (Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh - tủ sách sử học do Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên của chế độ cũ ấn hành năm 1974 (Sđd., trang 155, 156, 157).

Sau khi chiếm đóng 3 tỉnh miền Đông, quân Pháp tiếp tục đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, lúc đó Phan Thanh Giản với chức Kinh lược toàn quyền quân sự và dân sự 3 tỉnh miền Tây, song Phan Thanh Giản đã đầu hàng, theo lệnh của Lagrandiere Phan gởi công thơ cho quan Tổng đốc An Giang, Hà Tiên như sau: “Hỡi các quan và dân chúng!… Bản chức van vái trời, bản chức nghe theo lẽ phải và tự nhủ: “Mình còn ngốc khi mình đánh người Phú lang sa bằng võ khí, cũng như con nai con muốn bắt con cọp. Mình lại kéo về phe mình một cách vô ích những tai họa lớn, để tai hại ấy đè lên đầu dân mà trời đã giao cho mình chăn. Vậy bản chức viết công thơ cho các quan văn cũng như các tướng võ hãy bẻ gãy giáo và gươm giao thành trì khỏi chống lại…” (Sđd., trang 253).

Phan Thanh Giản yếu hèn như thế, vương triều nhà Nguyễn cũng chẳng kém gì hơn, ngay cả sử sách của chế độ cũ và nhiều tài liệu đang được lưu giữ ở Á châu (ASIE) – Văn khố Bộ Ngoại giao Paris, các Bảo tàng Lịch sử còn lưu truyền cũng không mở được khâu “đột phá nhận thức về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”, chưa cập nhật được một cách đầy đủ các kết quả nghiên cứu mới nhất, như một nhóm người của Hội KHLS đã làm. Sự thật lịch sử dù cho có các nghiên cứu mới nhất cũng không thể hô “biến” là kẻ bán nước trở thành người yêu nước."

Sự thật, sau khi vua tôi nhà Nguyễn ký hàng ước hiến dâng nước ta cho thực dân Pháp. Theo sắc lệnh ngày 17-10-1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm đó mới bao gồm có Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Kampuchia trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa. Ngày 19-4-1899, Tổng thống Pháp Emile Loubet ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương, đất nước ta bị chia cắt làm 3 kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Bắc kỳ và Trung kỳ là hai xứ bảo hộ, chính quyền phong kiến vẫn còn được giữ lại về mặt hình thức. Nam kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp quản lý cùng với Lào và Kampuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp. Bằng thủ đoạn này, thực dân Pháp đã xóa bỏ tên Việt Nam hoặc Đại Nam, Lào và Kampuchia trên bản đồ thế giới. Đứng đầu Liên bang Đông Dương có Toàn quyền Đông Dương là người thay mặt chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọi mặt. Dưới Toàn quyền Đông Dương là Thống đốc Nam kỳ; Thống sứ Bắc kỳ; Khâm sứ ở Trung kỳ, Lào và Kampuchia (Theo Đề cương Lịch sử Việt Nam toàn tập của GS Trương Hữu Quýnh – GS Đinh Xuân Lâm – PGS Lê Mậu Hãn – NXB Giáo dục, trang 532, 566). Rõ ràng, thời Pháp thuộc nhân dân ta là vong quốc nô, làm gì có Tổ quốc, làm gì có Việt Nam hoặc Đại Nam, làm gì có “lãnh thổ của Việt Nam và cơ bản giống lãnh thổ Việt Nam hiện nay”.


Thưa GS Phan Huy Lê!

Giáo sư cho rằng việc trình bày lịch sử xây dựng đất nước vẫn còn nặng về chính trị… trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Dư luận cho rằng, việc trình bày lịch sử xây dựng đất nước không thôi chưa đủ mà còn phải có lịch sử bảo vệ đất nước, có chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Khi còn sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Đã là người Việt Nam thì ở đâu cũng phải biết lịch sử của nước mình vì đó là đạo lý muôn đời của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, những người viết lịch sử không chỉ viết một vài sự kiện, một vài chiến công nói về tiến trình đi lên của dân tộc hoặc để ghi nhớ công lao của một số người đã làm nên những sự nghiệp to lớn mà còn phải biết tìm hiểu, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, của đạo lý làm người Việt Nam. Không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Quan điểm đầy đủ, toàn diện… là quan điểm gì, thấy sao mơ hồ quá!

Hãy xem Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn: Trong thư gửi ông Utơlây, ngày 16-10-1919, Nguyễn Ái Quốc viết: “Ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài…”.

- Trong “Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản” ngày 21-9-1923, Nguyễn Ái Quốc viết: “Triều đình và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp khinh bỉ và nhân dân ghét”.

- Trong bài “Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 1-2-1942, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập”. “Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa”.

- Trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta”, do Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản, tháng 2-1942, Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau:

“Gia Long lại dấy can qua/ Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài/ Tự mình đã chẳng có tài/ Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây/ Nay ta mất nước thế này/ Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà/ Khác gì cõng rắn cắn gà/ Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”.

Và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Tự Đức như sau: “Nay ta mất nước nhà tan/ Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn/ Năm Tự Đức thập thất niên/ Nam kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây/ Hăm lăm năm sau trận này/ Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan/ Ngàn năm gấm vóc giang san/ Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!/ Tội kia càng đắp càng dày/ Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”.

- Trong “Báo cáo đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài” họp tại thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), vào tháng 3-1944, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: “Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho cho giặc Pháp”.

- Trong “Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo” (Trung Quốc), ngày 3-4-1949, Hồ Chủ tịch đã viết bài về Bảo Đại-ông vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau: “Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc”.

- Trong quyển “Thường thức chính trị” do NXB Sự thật ấn hành lần đầu năm 1954, Bác Hồ chỉ rõ: “Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến (vua, quan) thì hủ bại hèn nhát, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc.

- Trong “Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khóa I, ngày 18-12-1959, Bác Hồ viết: “Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta: Bọn vua quan phong kiến đã đầu hàng giặc ngoại xâm và bán nước ta cho đế quốc Pháp. Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp đã cấu kết với giai cấp phong kiến để thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo”.

- Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (27-31/3/1935), đồng chí Tổng bí thư Lê Hồng Phong chỉ rõ: Chính sách mới của đế quốc Pháp và mưu mô mới của bọn thống trị bản xứ là “trả quyền cho bù nhìn Bảo Đại, cải cách Nam triều, lập nguyên lão nghị viện. Thi hành các chính sách ấy, không phải trở lại điều ước nô lệ năm 1884 như nhiều người đã tưởng mà là kiên cố quyền thống trị của đế quốc Pháp”.

- Trong Nghị quyết của cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ VI nổi tiếng (6-8/11/1939), do đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ trình bày, đã phân tích kỹ: “Chính phủ Nam triều Bảo Đại đã hoàn toàn bán mình cho đế quốc Pháp, làm tay sai đắc lực cho đế quốc trong cuộc đàn áp phong trào cách mệnh năm 1930-1931”. “Bảo Đại đã hoàn toàn làm nô lệ một cách vô liêm sỉ cho đế quốc” (website Đảng Cộng sản Việt Nam).

Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta như: Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… cũng đều đánh giá vương triều nhà Nguyễn và đều hoàn toàn nhất trí với quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization), gọi tắt là UNESCO, Khóa họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris, từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, đã thông qua các nghị quyết về việc tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử, trong đó có Nghị quyết 24C/18.65 về việc Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư cách là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc đã vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy. Vậy mà, được sự “phù phép” của tạp chí Xưa & Nay - cơ quan của Hội KHLS do GS Phan Huy Lê làm Chủ tịch danh dự, ông Dương Trung Quốc làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký kiêm Tổng biên tập, ông Nguyễn Hạnh – Phó Tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay. Tạp chí Xưa & Nay làm “bà đỡ”, ông Đặng Phước Thành xây… “nhà thờ họ” gọi là “Nam phương Linh từ” tọa lạc tại xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Thờ đến 125 người mà ông Đặng Phước Thành và những người của tạp chí Xưa & Nay lẫn Hội KHLS cho là có công khai mở, giữ gìn và làm rạng danh vùng đất phương Nam như Nguyễn Ánh (Gia Long), Minh Mạng, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt… Theo văn bản số 72/X&N ngày 2-7-2014 của tạp chí Xưa & Nay, trong danh sách các vị xét để thờ, không có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh! Mọi người còn nhớ, “Trong lễ quốc tang Bác Hồ năm 1969, ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lúc bấy giờ đọc bài “Điếu văn” trong đó có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…” . Một tác giả khuyết danh trước đây ở Sài Gòn trân trọng điếu Hồ Chủ tịch: “Thế giới đạo tiến trình. Âu Á kim vô hậu bối; Vĩ nhân tân xã hội, Mã liệt chi hận hữu tiên sinh”, nghĩa là: “Vạch ra con đường lên thế giới mới, Xưa nay Âu Á chưa từng có như Người, Vĩ nhân của xã hội mới, sau Các Mác, Lê Nin chỉ có Người mà thôi” (Từ điển Nhân vật Lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế, NXB Văn hóa 1993 – trang 630). Ai cho phép tạp chí Xưa & Nay, cơ quan của Hội KHLS có chức năng tuyển chọn, bình xét những người là anh hùng dân tộc hoặc có công với nước để thờ, để cho lớp trẻ học tập mà không thờ Bác Hồ?! Lại thờ Nguyễn Ánh (Gia Long), Minh Mạng, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt… Bấy nhiêu đó, đã nói lên lập trường, quan điểm của Hội KHLS. Mặt khác, hơn 10 năm qua, toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân ta tích cực thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thiết nghĩ, một nhóm người trong Hội KHLS không có tư cách để nói khác lịch sử, nói khác với Cụ Ngô Đức Kế và Bác Hồ, nói khác sự đánh giá vương triều nhà Nguyễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và của những đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Những người viết lịch sử chân chính, chính là người làm tốt công tác chính trị tư tưởng, là người góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho mọi công dân theo mục tiêu: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua người viết lịch sử, người dạy lịch sử và mọi công dân tiếp thu lịch sử chứ không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… chung chung được. Dư luận hoàn toàn không yên tâm nếu giao cho một nhóm người của Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử của nước nhà, Hội KHLS sẽ đứng trên lập trường, quan điểm như vừa nêu trên chắc chắn sẽ gây ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi công dân.


Rõ ràng, Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử nước nhà là không chấp nhận được.



HÃY LÊN ÁN VÀ THẲNG TAY TRỪNG TRỊ

 Hiện nay mặc dù tình hình dịch bệnh đã cơ bản được kiểm soát tại hai thành phố lớn là Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh, mọi hoạt động xã hội đã từng bước được khôi phục; tuy nhiên một loại tội phạm mới vừa xuất hiện tại thành phố Hồ Chí Minh.

Lợi dụng chủ trương phòng, chống dịch CVID-19 của thành phố và sự lo sợ mắc bệnh của người dân, một số đối tượng vô lương tâm đã giả danh cán bộ y tế phòng chống dịch COVID-19 đã đến các gia đình có nguy cơ cao để lừa đảo, trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.

Tối hôm qua (21/10/2021), tại một gia đình trên đường CMT8, phường 12 quận 3 thành phố Hồ Chí Minh, 3 đối tượng mặc đồ bảo hộ y tế, đeo khẩu trang kín mặt đến yêu cầu gia đình lấy mẫu xét nghiệm nhanh COVID-19 do gia đình có người tiếp xúc với F0 tại nơi làm việc. Sau khi cả gia đình được chọc mũi lấy mẫu xét nghiệm liền rơi vào trạng thái mê man, đồ đạc trong nhà bị trộm sạch. Đến sáng nay khi được người dân phát hiện, cả gia đình vẫn trong trạng thái mê man. Hiện tại công an phường 12 và quận 3 đang tiến hành điều tra sự việc. Qua sự việc này, cả xã hội nên đề cao cảnh giác, khi phát hiện các đối tượng có biểu hiện nghi vấn, cần báo ngay cho cơ quan chức năng để kịp thời lên án và trừng phạt.

THƯA ĐỒNG BÀO: "NGỤY" THÌ VẪN LÀ "NGỤY" THÔI!

Tôi có quen biết một số bà con ta ở hải ngoại, họ đã hỏi tôi như sau:

- Vậy nếu bây giờ cứ giữ nguyên từ "Ngụy" trong sách sử thì kiều bào ta những người mà một thời lịch sử đã sai lầm có ngại vì họ sẽ cảm thấy chạnh lòng hay dè dặt khi trở về cố quốc không?

Nay tiện đây tôi xin được bày tỏ quan điểm của mình để cộng đồng mạng xã hội chúng ta cùng nhau chia sẻ, cũng là câu trả lời chung cho những kiều bào đã thắc mắc nói trên và nhiều kiều bào khác đang ở hải ngoại.

Trước hết xin được nhắc lại, khẳng định lại như sau: Ngay từ sau ngày 30/4/1975 với các chủ trương, chính sách khoan hồng của mình thì Đảng CSVN, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa và QĐND Việt Nam đã không còn tư tưởng hận thù, cố chấp mâu thuẫn, không còn coi những người đã từng theo giặc Pháp, Mỹ là giặc nữa. Ngày nay, nhân dân Việt Nam cũng chẳng ai còn gọi họ và xem họ là giặc Ngụy nữa. Quá khứ đã lùi vào lịch sử. Chữ nghĩa, ngôn từ chẳng phải quá quan trọng nếu nó không được gắn liền với những âm mưu, thủ đoạn, dã tâm bất chính muốn lật đổ sự chân chính, lật đổ chính nghĩa dựng lại phi nghĩa.

Sở dĩ tại sao nhân dân trong nước hiện nay vô cùng bức xúc, bất bình và đấu tranh mạnh mẽ với việc bỏ cụm từ "Ngụy quân, ngụy quyền" trong sách lịch sử đó là bởi 2 nguyên nhân:

1. Để đảm bảo tính trung thực, sự thật khách quan của lịch sử. Sự thật đã diễn ra như thế nào thì lịch sử phải được ghi chép đúng như thế, không được vì bất cứ lý do nào của thời đại mà có thể đánh tráo lịch sử, thay đổi lịch sử. Nếu làm vậy thì gọi là Ngụy sử chứ không phải Chính sử. Nếu làm vậy tức là đã phủ bụi lịch sử, phản bội lại lịch sử, phản bội lại xương máu của những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

2. Những kẻ chép sử cố tình thay đổi, đánh tráo lịch sử đó, những kẻ khơi mào xét lại lịch sử đó, chúng hoàn toàn không phải vì mục đích cao cả là vì lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia như chúng đã và đang rêu rao tuyên truyền, ngụy biện: "hòa hợp dân tộc", mà mục đích chính của chúng là muốn lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay. Âm mưu của chúng là từng bước thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Cái hồn ma bóng quế "ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn - VNCH" chỉ là cái cớ, chỉ là một quân chốt, một lá bài trên bàn cờ, trong ván bài chính trị mà chúng đang từng bước thực hiện cái gọi là "Cách mạng màu - DBHB" ở Việt Nam. Chính vì lẽ đó mà chúng đã đưa ra rất nhiều sự ngụy biện khác nhau nhưng lại mâu thuẫn nhau và phản khoa học logic biện chứng. Càng ngụy biện thì chúng lại càng lòi cái "đuôi cáo" của chúng ra.

Bên cạnh với hành động xét lại lịch sử dân tộc thì những hành động như xét lại và hạ bệ tượng đài dân tộc, xét lại học thuyết Mác - Lê và xét lại con đường của CNXH là những minh chứng cho sự thật đó. Không những vậy, các "vệ tinh" của chúng là các tổ chức xã hội dân sự bất hợp pháp và các tổ chức "dân chủ cuội" bất hợp pháp, các thành phần bất mãn vẫn đã và đang không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội Việt Nam, bôi nhọ uy tín lãnh đạo của Đảng CSVN và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, là dẫn chứng để chứng minh cho âm mưu, thủ đoạn đê hèn của chúng.

Rất may là nhân dân Việt Nam đã không ngẫn ngờ để chúng có thể lừa gạt và dắt mũi.

Như vậy, rất mong kiều bào ta ở hải ngoại hãy tỉnh táo và sáng suốt để nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất của sự việc. Hãy yên tâm, hãy hồ hởi, phấn khởi mà quay về cùng nhân dân cả nước chung tay xây dựng Tổ quốc ta ngày càng giàu mạnh, sánh vai cùng các cường quốc 5 châu đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và muôn vàn kính yêu./.

Yêu nước ST.

THẤM NHUẦN NHỮNG CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ KHÁT VỌNG VIỆT NAM

Ngày 5/6/1911, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Đó là bước ngoặt khởi đầu dẫn tới sự thay đổi số phận của nhân dân ta, thai nghén cho sự hình thành tư tưởng lớn, khát vọng mãnh liệt của Người, định hình đường lối cách mạng, thực hành triết lý và chủ thuyết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau này, dẫn tới thời đại mới, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử vinh quang hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là thời đại mang tên Người - thời đại Hồ Chí Minh - như Đảng ta khẳng định, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Cuộc hành trình 30 năm của Người, cả cuộc đời và sự nghiệp của Người với những bước ngoặt lịch sử, đã ngay từ đầu gắn bó máu thịt với Tổ quốc và nhân dân, đã phấn đấu hy sinh, dấn thân và quên mình vì Nước, vì Dân, sau này được khái quát thành lý luận: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường, là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.

Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, Hồ Chí Minh xác định Quốc hiệu và hệ giá trị Việt Nam là: “Việt Nam dân chủ cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Đó là bản chất của chính thể, của nhà nước ta, là hệ giá trị phát triển của Việt Nam. Cho đến khi cuối đời, khi viết bản Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn dân, toàn Đảng, Hồ Chí Minh vẫn nhất quán với những giá trị mục tiêu đó. Tâm nguyện cuối cùng của Người vẫn chỉ là “xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trên cương vị Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia, Hồ Chí Minh bày tỏ niềm hy vọng, niềm tin tưởng mãnh liệt của mình, ký thác vào thế hệ trẻ nước nhà, thế hệ sẽ làm cho Tổ quốc được vẻ vang, dân tộc được hùng cường, có mặt xứng đáng trong thế giới và nhân dân ta có cuộc sống hạnh phúc.

Khát vọng Việt Nam của Hồ Chí Minh là: Khát vọng giải phóng, giải phóng dân tộc ta ra khỏi tình cảnh bị áp bức, bóc lột, đọa đầy bởi đế quốc thực dân, làm cho Tổ quốc độc lập và thống nhất, có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân ta từ nô lệ tới tự do, ở địa vị người làm chủ và làm chủ, tự quyết định vận mệnh cuộc sống và tương lai phát triển của mình. Khát vọng đó của Người là mãnh liệt, phải “độc lập thực sự”, “tự do thực sự”, do đó, “thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó còn là khát vọng phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, lựa chọn con đường phát triển: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh thể hiện rõ khát vọng phát triển ấy với một tầm mắt nhìn xa trông rộng, thực hiện lý tưởng, mục tiêu phát triển bền vững, văn minh, hiện đại. Dân tộc Việt Nam nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là xây dựng nước ta giàu mạnh, sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày một tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Chủ nghĩa xã hội Việt Nam là một xã hội văn hóa cao. Đó là khát vọng đất nước phồn vinh, dân tộc cường thịnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, con người Việt Nam phát triển toàn diện cả thể lực, tâm lực và trí lực, đủ sức giữ vững nền độc lập, tự do và thụ hưởng hạnh phúc. Đó là khát vọng đổi mới, sáng tạo, hội nhập quốc tế vì phát triển.

Thực hiện những mục tiêu vĩ đại, cao quý đó, đòi hỏi Đảng lãnh đạo cầm quyền phải thật trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Nhà nước của dân, do dân, vì dân phải là nhà nước dân chủ - pháp quyền - nhân nghĩa. Đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh và nhân tố quyết định cho dân tộc phát triển. Cán bộ, đảng viên, công chức phải luôn trung thành, tận tụy phục vụ nhân dân, coi đó là trách nhiệm mà cũng là lựa chọn lối sống cao thượng.

Với Hồ Chí Minh, để thực hiện khát vọng Việt Nam phải ra sức thực hiện, thực hành khát vọng về Đảng, về Nhà nước, về Mặt trận, về đoàn kết, dân chủ, đồng thuận, từ đại đoàn kết toàn dân tộc tới đoàn kết, lấy đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân và tối hệ trọng.

Di chúc của Hồ Chí Minh kết tinh mọi khát vọng đó, nổi bật những lời dạy, những quan niệm của Người về chủ nghĩa xã hội, về đổi mới mà Đảng phải nhận lấy trách nhiệm cao nhất trước sự phát triển của dân tộc và hết lòng chăm lo cho lợi, quyền, hạnh phúc của nhân dân.

Mai Năm Mới

Thành tựu đổi mới là bằng chứng thực tiễn sinh động nhất cho sự lãnh đạo tài tình của Đảng

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước".

Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.
Mai Năm Mới

Phát huy mạnh mẽ động lực, nguồn lực của đổi mới để phát triển bền vững

Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Mai Năm Mới