Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

 

Cảnh giác với thủ đoạn lợi dụng tôn giáo kích động gây mất ổn định

chính trị-xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Cùng với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “tôn giáo” để tạo sự chống phá đa diện nhằm vào Đảng và chế độ ta. Mục đích của việc lợi dụng vấn đề này là để kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị-xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hãy cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mưu đồ đen tối đó!

Nhận diện thủ đoạn

Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước. Chúng đưa ra luận điệu “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “vi phạm quyền tự do tôn giáo” của người dân; yêu cầu các tôn giáo phải được hoạt động tự do, không cần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước… Chúng vu cáo rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo”; “Pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng chỉ là hình thức, thực chất là cơ sở để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp các tín đồ tôn giáo”… Chúng còn lập nhiều tài khoản trên các trang mạng xã hội như: Youtube, Facebook, Blog… để phát tán, đăng tải các bài viết, video, hình ảnh đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng “vạch lá tìm sâu”, cố tình xoáy vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước; thậm chí lợi dụng đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng, truyền đạo trái phép, tổ chức biểu tình, thách thức, chống phá chính quyền, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Tất cả nhằm mục đích thêu dệt nên một bức tranh màu xám, méo mó về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, từ đó kêu gọi quốc tế “gây sức ép”, “can thiệp” vào nước ta.

Lợi dụng tính nhạy cảm của vấn đề tôn giáo, một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Đảng và Nhà nước Việt Nam tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực dân chủ và nhân quyền. Họ đẩy mạnh xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Họ cho rằng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (trước đây) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay là sự “đàn áp tôn giáo” bằng pháp luật của Nhà nước Việt Nam, không tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển; từ đó, khoét sâu mâu thuẫn giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp. Đồng thời, móc nối, câu kết với một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài thành lập hoặc tích cực tham gia các hội, nhóm trái pháp luật, mang danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, phát triển lực lượng chống đối. Một số chức sắc cực đoan lợi dụng các vấn đề chính trị – xã hội phức tạp để kích động tín đồ xuống đường biểu tình, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Đáng chú ý, với lý do “bảo vệ tự do tôn giáo”, một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết “lên án” tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo, từ đó gây sức ép về ngoại giao, đồng thời gắn các vấn đề dân chủ và nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo với các vấn đề về viện trợ kinh tế, đầu tư phát triển, nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, các tôn giáo đều gia tăng các hoạt động mở rộng cơ sở vật chất, dẫn đến phát sinh nhiều vụ tranh chấp, khiếu kiện đất đai liên quan đến tôn giáo. Đáng chú ý, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo. Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý so bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự.

Bên cạnh hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai, trong hoạt động tôn giáo cũng xảy ra các vụ, việc chưa tuân thủ các quy định của pháp luật, như thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tôn giáo; việc thành lập các cơ sở tôn giáo trực thuộc chưa được sự chấp thuận của chính quyền. Một số cơ sở đào tạo của tôn giáo chưa nghiêm túc triển khai môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam, là môn chính thức trong chương trình giảng dạy. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại việc “đào tạo kép”, cụ thể là đào tạo chức sắc ở trong nước kết hợp với cử chức sắc ra nước ngoài đào tạo trái phép vẫn diễn ra ở một số tôn giáo.Các hoạt động vi phạm nói trên luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực xấu khai thác, lợi dụng để gây chia rẽ giữa tôn giáo với chính quyền, giữa người theo đạo và người không theo đạo, cũng như tiến hành các hoạt động chống phá, gây bất ổn chính trị – xã hội.

Đáng chú ý, tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói riêng, vùng DTTS trong cả nước nói chung, lợi dụng vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào một số dân tộc thiểu số; sự sa sút tính chân truyền trong các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận; điều kiện khó khăn về kinh tế, xã hội…, một số đối tượng đã thành lập các hội, nhóm mang danh nghĩa tôn giáo, hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, còn có nhiều loại hình mang danh tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện ở nhiều địa phương, xa rời văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như không thờ cúng tổ tiên, gọi bố mẹ là anh, chị, em; khám, chữa bệnh bằng cầu cúng; tuyên truyền, hứa hẹn về tương lai tốt đẹp để mê muội quần chúng. Điển hình là các tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, “Nhất quán đạo”, “Thanh Hải Vô Thượng Sư”… Hoạt động của các tổ chức này không chỉ gây mâu thuẫn trong quần chúng, ảnh hưởng tới khối đoàn kết toàn dân tộc, mà còn tạo ra những tác động tiêu cực tới sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Tại một số cơ sở tôn giáo xuất hiện hiện tượng thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể là lợi dụng lòng tin của người dân để trục lợi, phát triển các hoạt động tâm linh mang màu sắc mê tín, như hoạt động dâng sao giải hạn, bói toán, xem quẻ, cúng oan gia trái chủ, chữa bệnh bằng tâm linh… Các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã triệt để lợi dụng các vấn đề đó để công kích, bịa đặt, xuyên tạc, gây mất đoàn kết trong nội bộ một số tôn giáo, kích động tín đồ tạo phe phái để chống đối lẫn nhau, ly khai, thành lập tổ chức khác. Đây đều là các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự đoàn kết nội bộ các tôn giáo cũng như khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việt Nam luôn đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm 27% dân số), hơn 58.000 chức sắc, 148.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo tôn giáo và 16 tôn giáo.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Như vậy, việc theo hay không theo tín ngưỡng hoặc tôn giáo nào là quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi công dân Việt Nam được Hiến pháp 2013 thừa nhận.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tình hình tôn giáo tiếp tục có những biến động, mở rộng không chỉ hoạt động tôn giáo mà cả các hoạt động xã hội, ngày 18/11/2016, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã đánh dấu son cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân tộc và các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, thông qua đó cũng khẳng định với quốc tế, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất để chống lại luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền dân chủ nhân quyền tôn giáo.

Đừng để đức tin bị lợi dụng!

Có thể dẽ dàng nhận thấy rằng, trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, dễ thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo.

Hoạt động lợi dụng tôn giáo và vấn đề tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội là hoạt động hết sức nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây chia rẽ giữa các tôn giáo, giữa tôn giáo với chính quyền, giữa quần chúng giáo dân và những người không theo tôn giáo, tạo ra những yếu tố phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ thành xung đột xã hội. Trên thực tế, đã xảy ra một số vụ mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhân dân có liên quan tới tôn giáo do tác động bởi hoạt động nói trên. Sự ổn định chính trị – xã hội ở một số nơi, một số lúc đã bị ảnh hưởng. Do đó, chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động này có vai trò quan trọng trong toàn bộ công tác tôn giáo cũng như bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam.

 

Với chủ trương “tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thời gian qua, tình hình tôn giáo ổn định, đời sống tôn giáo có những biến đổi sâu sắc cả về số lượng lẫn phạm vi hoạt động, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng, bảo đảm. Các tổ chức tôn giáo được công nhận xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Cơ quan chức năng làm tốt công tác hướng dẫn, quản lý, từng bước đưa hoạt động tôn giáo đi vào nền nếp, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cần khẳng định rằng, bản chất của Tôn giáo chân chính là luôn hướng con người đến chân – thiện – mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Đức Phật, Đức Giê-su hay Đức Chúa Trời… không bao giờ răn dạy các tín đồ của mình phải làm điều ác, trái với đạo đức, luân thường, đi ngược lại với các quy định của pháp luật. Các đức tin của các Tôn giáo đều có chung khát vọng dẫn đường cho con người tu tập, thực hành giáo lý, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, xã hội phồn vinh, hướng con người đến với sự tốt đẹp, sống đoàn kết, lương thiện và thương yêu nhau.

Ngay trong Giáo luật Công giáo cũng đã khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hay trong Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Nhìn tổng thể thì trong suốt chặng đường lịch sử đã qua, tín đồ, chức sắc chân chính của các Tôn giáo ở Việt Nam đã, đang đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyên góp hàng ngàn tỷ đồng xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua các phong trào này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu là tăng ni, phật tử có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước tặng thưởng các phần thưởng cao quý.

Mỗi tín đồ tôn giáo cũng đồng thời là công dân Việt Nam, khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân trên cơ sở pháp luật, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân hay lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để trục lợi phi pháp, trái thuần phong mỹ tục, trái đạo đức, trái giáo lý. Và chắc chắn những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phi tôn giáo, làm ô danh tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật. Mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, kịp thời tố giác, ngăn chặn hành vi của các đối tượng lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật; đó cũng là phương cách để bảo vệ chính mình, bảo vệ xã hội và chính là bảo vệ các tôn giáo chân chính đang hoạt động bình thường trên đất nước Việt Nam.ST/

 

COVID-19 và cuộc chiến với tin giả

Khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại tại Việt Nam, tình trạng thông tin thất thiệt xung quanh dịch bệnh này cũng được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội, bất chấp hàng trăm trường hợp đã bị cơ quan chức năng xử lý trước đó.

Tràn lan tin giả, tin sai sự thật về Covid-19

Ngay những ngày đầu tiên nước ta có các ca nhiễm SARS-CoV-2, trên nhiều trang mạng cá nhân đã lan truyền những thông tin thất thiệt về số ca mắc dương tính với virus corona, các khu phố bị phong tỏa, cách ly vì nghi có người nhiễm bệnh; thậm chí nhiều trang facebook còn lan truyền các trường hợp tử vong do nhiễm SARS-CoV-2… đã gây tâm lý hoang mang nhất định đối với người dân cả nước. Nguồn gốc các thông tin chủ yếu do các cá nhân tung lên mạng xã hội sau đó được một bộ phận người đọc chia sẻ lại, nhưng hầu hết đều không chính xác và thiếu sự kiểm chứng của cơ quan chức năng.

 

Không chỉ lan truyền thông tin thất thiệt, tin giả về tình hình diễn biến dịch bệnh, mà tin giả còn “tấn công” làm sai lệch các chủ trương, chính sách được Chính phủ ban hành trong suốt quá trình triển khai các biện pháp để phòng ngừa dịch bệnh. Đơn cử, chỉ một ngày sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31-3-2020 về việc áp dụng nghiêm chủ trương cách ly giãn cách xã hội, với những tin đồn thất thiệt về việc “ngăn sông cấm chợ” trên mạng xã hội, khiến nhiều nơi xuất hiện tình trạng người dân vì hoang mang, lo lắng thái quá đã đổ xô đi mua, tích trữ hàng hóa với số lượng lớn, gây ra cảnh chen chúc, ảnh hưởng đến quy định giãn cách xã hội, nhất là việc giữ khoảng cách tối thiểu 2m khi giao tiếp.

Vô hình chung, chính sự nhẹ dạ, cả tin cùng thói quen chia sẻ thông tin vô tội vạ, thiếu kiểm chứng đó của một bộ phận người dân đã tạo mảnh đất màu mỡ cho các đối tượng xấu lan truyền tin giả, thông tin thất thiệt về tình hình diễn biến dịch bệnh trên thế giới cũng như trong nước và địa phương nơi mình sinh sống; gây xáo trộn tâm lý trong dư luận; tạo ra áp lực và ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phòng, chống dịch bệnh của cả hệ thống chính trị các cấp.

Tin giả nhanh chóng bị phát hiện, xử lý

Lợi dụng tình hình diễn biến của dịch bệnh Covid-19, vừa qua một số chủ tài khoản facebook đã đưa tin sai sự thật. Công an các địa phương đã kịp thời phối hợp Sở TT&TT ngăn chặn và xử phạt các đối tượng.

Gần đây nhất vào ngày 5/8, Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh phối hợp Công an huyện Nho Quan và Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Ninh Bình triệu tập và làm rõ hành vi đăng tin sai sự thật liên quan đến công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 đối với Quách Công Luận, SN 1995, trú tại xã Ngọc Lương, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình.

Trước đó, ngày 28/7/2021, Quách Công Luận đi từ tỉnh Hoà Bình sang tỉnh Ninh Bình. Đến khu vực cầu Lập Cập, xã Đồng Phong, huyện Nho Quan phát hiện chốt phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ, Quách Công Luận đã sử dụng điện thoại livestream trên 2 tài khoản Facebook “Luận Dạy Lái” và “Quách Công Luận” với các nội dung “Ngăn sông cấm chợ. Mn chia sẻ Cầu Lập cập cấm đường xuống nho quan nha” và “Cấm Đường Cầu Lập cập xuống Nho Quan mọi người chú ý nhé. Lên đc nhưng xuống thì ko” sai sự thật về hoạt động của các chốt phòng, chống dịch bệnh COVID-19 theo chỉ đạo của UBND tỉnh Ninh Bình.

 

Hay tại Vĩnh Long, Phòng An ninh chính trị nội bộ đã tống đạt quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7,5 triệu đồng đối với Đ.V.C. (SN 1981, ngụ huyện Long Hồ) về hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

Hệ lụy đầu tiên những thông tin sai sự thật về dịch Covid-19 mang đến đó là làm nhiễu loạn thông tin, gây tâm lý hoang mang trong dư luận. Người dân lẫn lộn giữa tin đúng và tin thất thiệt, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn trong cộng đồng dân cư. Nhiều thông tin không được kiểm chứng trên mạng xã hội đã khiến cư dân không ngừng lo lắng. Không dừng lại ở đó, thông tin về đời tư của một số người không may nhiễm Covid-19 hoặc người thuộc diện cách ly y tế cũng bị nhiều cá nhân xuyên tạc, “nói quá” để câu like trên mạng xã hội.

Cuộc chiến chống tin giả – cần sự chung tay của cả cộng đồng

Ngày 15/4/2020, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử chính thức có hiệu lực; Nghị định gồm 124 điều 09 chương. Nội dung đáng chú ý trong Nghị định số 15/2020/NĐ-CP là quy định rõ mức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi tung thông tin giả mạo, gây hoang mang dư luận trên mạng xã hội. Theo đó, từ ngày 15/4/2020, đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc về tình hình dịch COVID-19 hoặc cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt về tình hình dịch COVID-19, gây hoang mang trong Nhân dân thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (theo điểm a, d khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NÐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Nghị định 15/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/4/2020 và thay thế Nghị định số 174/2013/NĐ-CP).

Điều 8, Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm hành vi đưa thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại đến hoạt động kinh tế xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Người có hành vi này gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ bị xử lý hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 288 Bộ luật Hình sự về tội Đưa hoặc sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet với mức phạt tù lên đến 3 năm.

Theo điểm 1.4 Công văn 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống COVID-19, người có hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông thông tin giả mạo, thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh COVID-19, gây dư luận xấu thì bị xử lý về “tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính viễn thông” theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, trong dòng chảy thông tin về dịch bệnh, rất nhiều người muốn được tham gia, thể hiện mình là người nhạy cảm với thời cuộc, có tác động đến xã hội. Có người lợi dụng sự nhẹ dạ của nhiều người đã phao tin nhảm, nhằm câu like, view để họ bán được mặt hàng nào đó. Họ chọn cách tung ra những thông tin sai, chưa kiểm chứng, thậm chí nguy hiểm, độc hại để gây hoang mang trong xã hội.

 

Điều đáng lo là những tin tức chết chóc gây hoang mang, khiếp hãi, hỗn loạn trong dân chúng thì lại càng được lan truyền, chia sẻ nhanh. Các tin thất thiệt còn có khả năng tạo các tâm lý phản đối, mâu thuẫn trong xã hội, khiến người dân không tin tưởng vào các cơ quan chức năng, chính quyền. Mạng xã hội như con dao hai lưỡi, các chuyên gia an ninh mạng luôn cảnh báo, việc xuất hiện tin giả trên mạng xã hội cũng tương tự như sự lây lan của virus, bởi nó sẽ tác động trực tiếp đến “sức đề kháng” của người dùng.

 

Rõ ràng, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, cùng với sự vào cuộc quyết liệt của các ngành chức năng để bảo vệ sức khỏe người dân, rất cần có sự chung sức, đồng lòng của toàn xã hội, thực hiện tốt các chỉ đạo, khuyến cáo trong công tác phòng, chống dịch bệnh. Dịch bệnh sẽ không đáng lo ngại quá mức nếu cộng đồng thật sự hiểu và chủ động biết cách phòng, chống không hoang mang, lo lắng thái quá.

Ngoài ra, trong cuộc chiến chống tin giả, mỗi người dùng mạng xã hội trước hết cần trở thành “người đọc thông thái” với trách nhiệm công dân thật sự đầy đủ trong việc đưa tin, chia sẻ thông tin. Mỗi “cư dân mạng” cần bình tĩnh, sáng suốt trong tiếp nhận và xử lý thông tin, không chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, chưa được xác thực, kịp thời thông báo đến cơ quan chức năng các trường hợp đăng thông tin bịa đặt, sai sự thật, thật sự trở thành một phần của “lá chắn” trước những luồng thông tin độc hại. ST

 

Cảnh giác trước biểu hiện “tự diễn biến” trong nội bộ

Nhận rõ tính chất nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” .

Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hoá – xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, bên cạnh những cơ hội lớn do toàn cầu hóa kinh tế đem lại, chúng ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp; đặc biệt vấn đề “tự diễn biến” đang nổi lên như một nguy cơ gây mất ổn định chính trị – xã hội, mất định hướng xã hội chủ nghĩa và không thể xem thường. Nếu chúng ta không chủ động phòng ngừa từ trước, ngăn chặn từ xa, lơ là chủ quan, mất cảnh giác với thủ đoạn “tự diễn biến” của các thế lực thù địch thì tất yếu sẽ dẫn đến những hệ lụy tiêu cực về mặt tư tưởng, tâm lý trong xã hội và hậu quả không lường hết được.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ: “Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Tình hình đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nhận rõ thực chất của những biểu hiện “tự diễn biến”, để từ đó đề ra được các biện pháp hữu hiệu làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. “Tự diễn biến” (nói đầy đủ thuật ngữ là “tự diễn biến hòa bình”), đó là quá trình biến đổi, chuyển hóa bên trong mỗi người từ ý thức đến hành động trên các mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, lối sống… theo xu hướng dần xa rời, từ bỏ hệ tư tưởng, lập trường, giá trị, lợi ích, nguyên tắc… xã hội xã hội chủ nghĩa và “tự chuyển hóa” sang quan điểm, lập trường, giá trị tư sản.

 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là chủ thể tác động tạo ra “tự diễn biến”. Đối tượng tác động nằm trong Đảng, trong hệ thống chính trị, trong xã hội, trong đội ngũ đảng viên, công chức, nhưng chủ yếu hướng đích mà các thế lực thù địch muốn tạo ra chính là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đã và đang giữ những trọng trách cao trong Đảng, Nhà nước, trong lực lượng Quân đội, Công an. “Tự diễn biến” bao gồm cả nguyên nhân bên trong và bên ngoài, nguyên nhân khách quan và chủ quan, song quá trình và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến đâu, vẫn do các nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan; tức là, do chính chúng ta quyết định. V.I.Lênin – vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản thế giới đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”. Vì thế, nhận diện đúng các nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến” có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết, nhằm phát hiện kịp thời và phá vỡ các mầm mống, khả năng “tự diễn biến” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng chính trị diễn ra rất phức tạp, đa dạng, nhiều cấp độ, trong đó cấp độ cao nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện đó là: phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Đảng từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử cách mạng thiếu khách quan, toàn diện; xét lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kêu gọi thay bằng chế độ tư bản chủ nghĩa; xuyên tạc, bôi đen hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an…

 

Thực tiễn cho thấy, khi tư tưởng chính trị chệch hướng sẽ làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước bị chia rẽ và nguy cơ tự sụp đổ của chế độ chính trị là khó tránh khỏi. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị, trước hết nhằm vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, là nơi hoạch định ra đường lối, chủ trương, chính sách của đất nước. Tùy theo từng đối tượng và phạm vi tác động, chúng sử dụng những thủ đoạn, nội dung, hình thức và phương pháp thúc đẩy “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị khác nhau.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực kinh tế là sự phủ nhận của một số người đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp, đi đến làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa; đòi tư nhân hóa hoàn toàn nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa… Quá trình “tự diễn biến” trên lĩnh vực kinh tế càng trở nên nguy hiểm trong điều kiện các thế lực thù địch có tiềm lực kinh tế mạnh hơn chúng ta nhiều lần. Chúng đã và đang tìm mọi cách lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta để cổ súy, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế, nhằm đến một giai đoạn nhất định, khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, thực chất là đã chuyển hóa thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, thì kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và thực sự đã “đổi màu”. Khi đó, chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa được thay bằng chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống biểu hiện ở việc sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc, các giá trị xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc trắng trợn lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; thương mại hóa các hoạt động văn hóa một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, thói đạo đức giả, vị kỷ, xa hoa, trụy lạc… Điều rất nguy hại là “tự diễn biến” về đạo đức, lối sống lại diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với sự nghiệp cách mạng, thậm chí đối với cả vận mệnh của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, như đã từng diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô trước đây.

Cùng với thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới, cũng như khó khăn thách thức mà đất nước đã và đang vượt qua; trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạnh trong giai đoạn mới, hơn bao giờ hết, Đảng cần tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển. Mỗi chúng ta cần nêu cao ý thức cảnh giác, phòng, chống “tự diễn biến” trong nội bộ, trước hết chú trọng thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; giữ vững và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc…

Hai là, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán mọi biểu hiện “tự diễn biến” từ phía các thế lực thù địch và từ phía nội bộ ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cấp độ, cả ở trong nước và ngoài nước.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm cơ sở quyết định để “chống”. Trước hết, phải xây dựng hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh để “miễn dịch” trước mọi sự tác động tiêu cực từ bên ngoài. Cùng với đó, kịp thời phát hiện các nguy cơ “tự diễn biến” từ khi còn ở dạng mầm mống, khả năng thì mới có thể “chống” tốt. Luôn tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh, bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu, coi đó như một loại “giặc nội xâm”, không khác gì với đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bốn là, công tác tổ chức cán bộ phải luôn gắn kết với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình mới. Coi đây là biện pháp cốt lõi để triệt tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch.

Năm là, coi trọng gắn kết chặt chẽ công tác tổ chức cán bộ với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, lý luận cách mạng, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống, để họ không dao động trước bất kỳ tình huống khó khăn, phức tạp nào, yên tâm với vị trí, cương vị và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

“Tự diễn biến” là vấn đề rất nguy hiểm, nhưng nó xâm nhập được vào nội bộ chúng ta hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào chính chúng ta. Cần khẳng định, khi mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng vững niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi công cuộc đổi mới, thì dù các thế lực thù địch có tìm mọi cách để thúc đẩy “tự diễn diễn”, “tự chuyển hóa” đến đâu, chúng cũng không thể đạt được ý đồ thâm hiểm làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã lựa chọn. ST

DÙ XÃ HỘI CÒN NHỮNG KHÓ KHĂN, TIÊU CỰC NHẤT ĐỊNH NHƯNG ĐỪNG BAO GIỜ VÌ THẾ MÀ PHẢN BỘI!

      Khi đất nước bị xâm lược, gặp họa binh đao, triệu triệu người hiên ngang bước vào cuộc chiến, không mảy may vị kỷ, gợn tâm nghĩ đến mưu cầu vật chất, quyền được sống. Cứ thế họ lao lên, nhắm thẳng quân thù mà bắn. Cũng trong hoàn cảnh giang sơn tăm tối, điêu linh đó, nhiều người khác được Đảng, Nhà nước ưu ái cho đi nước ngoài học tập, những người đang bước qua lằn ranh sinh tử, chiến đấu trên chiến trường cũng gửi gắm, kỳ vọng vào những người được xuất ngoại, mong họ được bình an, chăm chỉ học tập, nghiên cứu để thành tài, trở về giúp nước, xây dựng Tổ quốc sau ngày giải phóng to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Tức là, khi những người khác chịu gian khổ, hy sinh cho Tổ quốc được sống, thì một số người xuất ngoại lại được hưởng cuộc sống thanh bình, an nhàn nơi trời Tây.

Thế rồi, Đất nước hòa bình, những người bước ra từ cuộc chiến ít hơn nhiều so với lúc những đoàn quân đi vào cuộc chiến, thậm chí bước ra cuộc chiến rồi mà vẫn không được hưởng hạnh phúc, no ấm, đủ đầy vì đất nước còn nghèo, con đau thương, vết cắt chiến tranh chưa lành. Bản thân họ hy sinh cả tuổi thanh xuân trên chiến trường, bị thất học, bằng cấp không hoàn chỉnh, hay thân thể, tâm trí cũng không lành lặn gì… Họ trở về vừa vật lộn với cuộc sống, vừa cố gắng vượt qua những cơn đau bằng ký ức chiến tranh, bằng những giấc ngủ mộng mị với chiến trường. 

Trong lúc đó, những người xuất ngoại kết thúc khoảng thời gian êm ả ở bên Tây, trở về Tổ quốc, được bố trí công việc, có lương, có thưởng, ngồi phòng lạnh, phòng đẹp nghiên cứu mát rượi, sang chảnh làm việc, nghiên cứu khoa học, đề xuất chính sách xây dựng đất nước. Trong số họ nhiều người thăng tiến nhanh chóng trên con đường quan lộ, nhiều người trở nên giàu có, được gọi bằng hai chữ ĐẠI GIA.

Dù trái cảnh, ngược đời, những người sống chết với Tổ quốc trong chiến tranh không một tiếng kêu than, trách móc, so sánh, đòi hỏi, họ im lặng, lầm lũi lao động giản đơn, vui vẻ với quá khứ để sống trọn vẹn một kiếp người, họ cũng hiểu và tự hào: Đã hy sinh thì phải hi sinh trọn vẹn mới không có lỗi với con cháu, với non sông. Với những người đã từng xuất ngoại, trở thành tầng lớp trí thức, nay là nhà nghiên cứu khoa học, là nhà kinh tế, là quan to, là đại gia, nhà đẹp, xe sang, cuộc sống dư thừa vật chất như bậc vương giả mà nền tảng của cuộc sống ấy không chỉ là tiền của của Nhà nước, của Nhân dân, không chỉ là sức lao động, chất xám của bản thân, mà còn bằng chính máu xương của những người từng ở lại dấn thân vào cuộc chiến.

Điều đáng nói trong số đó có không ít kẻ tự cho mình cấp tiến, tư duy mới, tư duy khoa học thượng đẳng, họ trở nên hung hăng, vơ vét, đâm thẳng ngọn giáo làm bằng kim - tiền vào thẳng trái tim của những người từng đổ máu trên chiến trường; họ hùa vào nhau trên bàn nhậu đầy rượu ngoại, thức ăn ngon, rôm rả, bàn đàm về cuộc chiến tranh chống ngoại xâm mà họ may mắn không trở thành một phần trong đó. Họ xét lại tất cả, xét lại cả tính chất, mục tiêu, ý nghĩa của chiến tranh, xét lại cả hành vi tàn bạo của kẻ thù, họ biến những người đã đổ máu, hy sinh trải lên con đường lập nghiệp giàu sang cho họ thành những người lạc lối, bơ vơ, ngu muội. Họ coi những kẻ xâm lược là cứu tinh văn minh, xem những kẻ từng là tay sai, bán nước là chính danh, đồng nghĩa máu của những người yêu nước đổ xuống trong chiến tranh là vô nghĩa, phi nghĩa, bất nghĩa. Họ dùng lí luận, lí lẽ tây hóa biện minh cho âm mưu xét lại, dùng quyền uy và đồng tiền để che lấp sự thật, để đánh tráo bản chất.

Nỗi đau, sự bất hạnh không chỉ đến từ kẻ thù, không chỉ bởi cuộc sống vất vả, bất công, mà nỗi đau càng lớn, càng đau đớn gấp bội bởi sự vô tâm, phản bội của những người anh em, đồng chí. 

Dù xã hội còn những khó khăn, tiêu cực nhất định nhưng đừng bao giờ vì thế mà phản bội./.
Yêu nước ST.

TÌNH ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI CẢM THIÊNG LIÊNG VỚI TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC!

     Trên thế giới chưa có dân tộc nào lại kiên cường anh dũng như dân tộc Việt Nam. Chưa có người lính nào mà tình cảm thiêng liêng như Bộ đội Cụ Hồ.

Khác với lính chiến của nhiều nước trên thế giới “chiến đấu thuê” (lính đánh thuê) thì Bộ đội Việt Nam chiến đấu vì Nhân dân dân, vì Tổ quốc và sẵn sàng hy sinh quên mình vì dân tộc. Đó là lý tưởng, là mục tiêu chung, là sứ mệnh của người lính Cụ Hồ được kế tục từ truyền thống yêu nước, được trui rèn trong khói lửa chiến tranh, được bồi dưỡng lý tưởng trong thời bình, lặng im tiếng súng.

Giữa mưa bom bão đạn, tình yêu Tổ quốc đã biến thành “sức mạnh thép” trong từng trái tim chiến sĩ. Giữa khốc liệt nhất của cuộc chiến, tình đồng đội trở nên thiêng liêng trong sáng vô ngần. Hàng vạn thanh niên đến từ nhiều miền quê khác nhau không cùng dải đất, nhưng khi đã khoác áo binh sĩ, mang trong lòng dòng máu Bộ đội Việt Nam, chiến đấu cùng chung chiến hào, họ đã trở thành đồng đội chung thủy của nhau. Những binh nhất, binh nhì trở thành tri kỷ chỉ sau một “đêm rét chung chăn”.

Những thế hệ người lính không phân biệt tuổi tác, cấp hàm, chỉ qua một trận chiến đấu đã coi nhau như anh em trong một gia đình. Tình cảm, sự trân trọng thiêng liêng ấy chỉ có ở Bộ đội Việt Nam./.


Yêu nước ST.

LINH MỤC ĐẶNG HỮU NAM (GP VINH) CHÍNH THỨC BỊ TREO CHÉN!

   Trong ngày đầu tiên của năm mới Dương lịch 2022, linh mục Đặng Hữu Nam đã chính thức bị Đức Giám mục Giáo phận Vinh "treo chén". Đặng Hữu Nam từ nay sẽ không còn là linh mục nữa. Cay cú và "uất hận", hiện trong trang cá nhân, Đặng Hữu Nam và một số tín đồ cực đoan đã không ngừng công kích Đức Giám mục Giáo phận Vinh Nguyễn Hữu Long. Họ cho rằng "Cha Long theo Cộng sản"... xin có đôi lời:

Vai trò là công dân Việt Nam, cần khẳng định rõ rằng, Đặng Hữu Nam là tên phản động đội lốt linh mục. Nam là công dân Việt Nam nhưng đã rất nhiều lần vi phạm pháp luật, kích động giáo dân chống phá chính quyền, đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc ta. Hắn thường xuyên xúc phạm lãnh tụ, phỉ báng các vị lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta, bôi nhọ, xuyên tạc về tình hình đất nước. Cấu kết với đám phản động ở trong và ngoài nước để tuyên truyền lật đổ chế độ và chính quyền nhân dân.

Vai trò là Linh mục, Nam đã làm trái ý chúa và lòng dân. Đó là các phát ngôn, việc làm hoàn toàn không tương xứng với điều Giáo hoàng Francesco, Tòa thánh Vatican khuyến khích cộng đồng Công giáo ở Việt Nam “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”. Các phát ngôn, việc làm đó cũng hoàn toàn không tương xứng với điều đã được Giám mục răn dạy. Đặng Hữu Nam cho rằng "chỉ vì 2 stt mà bị treo chén" ư? Rõ ràng, Nam đã cố tình đánh tráo khái niệm. Hắn ta là kẻ thường xuyên đăng đàn chống phá đất nước, xuyên tạc, bịa đặt và kích động phản động. Công giáo có Bộ Giáo luật, 10 điều răn...một kẻ như Đặng Hữu Nam không xứng làm người chứ đừng nói là linh mục. Hắn ta tiếp tục làm linh mục là sự xúc phạm lớn đối với Chúa nhân từ! Giáo phận Vinh đã có quyết định vô cùng sáng suốt, không thể để con sâu làm rầu nồi canh; làm vấy bẩn hình ảnh của người Công giáo.

Chúng ta đã quá nhân nhượng nhưng một số linh mục được đà lấn tới. Chính quyền chưa động đến Đặng Hữu Nam nhưng Giáo phận đã kịp thời nhận ra sự trơ trẽn, phản động và ti tiện của Nam. Khẳng định rõ là Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng tự do tôn giáo, tuy nhiên không một tôn giáo nào có thể đứng trên pháp luật Việt Nam. Đặng Hữu Nam không những bị treo chén mà cần thiết phải bị trừng trị trước pháp luật. Đặng Hữu Nam không xứng làm linh mục, không xứng làm công dân Việt Nam. Để nghị chính quyền Nghệ An xử lý nghiêm minh./.


Yêu nước ST.

Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV quyết định những vấn đề rất cần thiết và cấp bách để đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

 

Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV quyết định những vấn đề rất cần thiết và cấp bách để đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đây là kỳ họp bất thường đầu tiên, chưa có tiền lệ trong lịch sử Quốc hội. Tại kỳ họp này, Quốc hội họp trực tuyến cả kỳ qua cầu truyền hình từ Nhà Quốc hội đến 62 Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (riêng Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hà Nội họp tại điểm cầu Nhà Quốc hội). Với tính chất "bất thường" nên các nội dung được đưa ra bàn thảo, xem xét tại Kỳ họp đều rất cần thiết và cấp bách để đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Dự kiến tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ tiến hành xem xét, thông qua 1 dự án luật, 3 dự thảo Nghị quyết (theo quy trình tại một kỳ họp).

Cụ thể, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ; Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; Nghị quyết về Chủ trương đầu tư Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025.

Ngay sau phát biểu khai mạc của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, lãnh đạo các cơ quan hữu quan đã trình bày 4 Tờ trình dự thảo và 4 Báo cáo thẩm tra về các nội dung trên.

Chương trình hỗ trợ 240 nghìn tỷ đồng

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.

Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về một số chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình, cụ thể như tăng bội chi ngân sách nhà nước để có nguồn thực hiện Chương trình với tổng số tiền là 240 nghìn tỷ đồng trong 2 năm 2022-2023, trong đó năm 2022 khoảng 102,8 nghìn tỷ đồng, tăng tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước lên 5,08% GDP (tăng thêm khoảng 1,1% GDP so với dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 đã được Quốc hội thông qua).

Đối với năm 2023, Chính phủ tổng hợp kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước chung cho cả phần tăng thêm của Chương trình phục hồi và của năm 2023, trình Quốc hội xem xét, quyết định theo quy định hiện hành.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra dự thảo Nghị quyết trên nêu rõ, Ủy ban Kinh tế cơ bản thống nhất với các quan điểm nêu tại Tờ trình.

Ngoài ra, đề nghị xác định rõ và bổ sung quan điểm: việc nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế; chỉ sử dụng bội chi ngân sách nhà nước để chi đầu tư phát triển; nguồn lực đưa ra phải hấp thụ được ngay trong 2 năm triển khai Chương trình (2022-2023)...

Hoàn thành 'huyết mạch' để đẩy mạnh phát triển

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về Chủ trương đầu tư Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025.

Người đứng đầu Bộ Giao thông vận tải nêu sự cần thiết của đầu tư dự án này do Hành lang vận tải trên trục Bắc-Nam có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, có thể nói đây là hành lang vận tải quan trọng nhất trong hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông cả nước.

Trên hành lang vận tải này, tuyến đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông theo quy hoạch dài 2.063 km, đã đưa vào khai thác 478km, đang đầu tư 829km, còn lại 756km chưa đầu tư.

Với vai trò là trục huyết mạch, cần sớm hoàn thành để tạo động lực, sức lan tỏa phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Kết luận số 11-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 16/2021/QH15 của Quốc hội đã đề ra mục tiêu “đến năm 2025, cơ bản hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông”.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra Chủ trương đầu tư Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 nêu rõ, Ủy ban Kinh tế nhận thấy thị trường vốn còn hạn chế, các doanh nghiệp chưa thông qua thị trường vốn để huy động vốn cho các dự án đầu tư hạ tầng mà chủ yếu là huy động vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, cùng với những bất cập nêu trên vẫn chưa được khắc phục thì khả năng các ngân hàng thương mại cho các nhà đầu tư vay vốn để thực hiện Dự án theo phương thức PPP là rất thấp.

Do đó, việc Chính phủ đề xuất đầu tư Dự án theo hình thức đầu tư công để bảo đảm thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2025, cơ bản hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông là có cơ sở.

Tuy nhiên, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 29/2021/QH15 về Kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2021-2025, phân bổ vốn cho nhiều dự án giao thông đường bộ đầu tư theo phương thức PPP, trong đó có dự án. Đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hữu hiệu để huy động nguồn vốn ngoài nhà nước cho các dự án giao thông PPP đã được Quốc hội phân bổ vốn theo kế hoạch.

Đồng thời, cần khẩn trương rà soát, xử lý dứt điểm những tồn tại, hạn chế hiện nay đối với loại hình đầu tư theo phương thức PPP để tiếp tục đẩy mạnh việc đầu tư các dự án kết cấu hạ tầng giao thông khác theo phương thức đầu tư này, bảo đảm thực hiện thành công chủ trương lớn của Đảng, Quốc hội về việc thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng.

Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, khơi thông và phát huy nguồn lực

Cũng trong sáng 4/1, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự.

Việc sửa đổi, bổ sung nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế, pháp luật, khơi thông và phát huy nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh phòng, chống dịch bệnh Covid-19; đơn giản hóa thủ tục đầu tư, kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật này cho biết, đa số ý kiến các Ủy ban đánh giá hồ sơ dự án Luật đã được khẩn trương hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu về việc ban hành Luật theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 149 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đã tiếp thu nhiều ý kiến, báo cáo bổ sung thông tin, giải trình nhiều nội dung theo yêu cầu tại Thông báo 528, Thông báo 558 của Tổng Thư ký Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

Tuy nhiên, do những chính sách quy định tại dự thảo Luật có tác động lớn đến cả lĩnh vực kinh tế và xã hội, vì vậy, để Quốc hội có đầy đủ căn cứ xem xét, quyết định, đề nghị báo cáo bổ sung ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của một số chính sách, ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trực tiếp; dự tính tác động tới thu ngân sách nhà nước, quyền lợi của nhà đầu tư và của người dân; dự kiến các tình huống, sự cố có thể xảy ra và biện pháp xử lý.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định hiện hành có liên quan tới nội dung quy định chi tiết tại văn bản dưới luật, đề nghị báo cáo rõ về thời điểm có hiệu lực để bảo đảm tính khả thi. Đối với nội dung của dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết, đề nghị bổ sung quy định đầy đủ, chặt chẽ, cụ thể hơn tại dự thảo Nghị định kèm theo.

Ngoài ra, Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị rà soát Báo cáo đánh giá tác động một số chính sách có nội dung chưa thống nhất với dự thảo Luật.

Để TP. Cần Thơ phát triển nhanh và bền vững

Cuối buổi sáng cùng ngày, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Cần Thơ.

Việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội cho phép áp dụng thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Cần Thơ là cần thiết đây là đô thị loại I trực thuộc Trung ương có vị trí trung tâm Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, mang những đặc trưng cơ bản của một trung tâm đa chức năng, có sức lan tỏa về kinh tế, văn hóa, xã hội và là cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mekong, đóng vai trò kết nối nước ta với các nước thuộc Tiểu vùng sông Mekong mở rộng.

Với vị trí là giao điểm của hai trục kinh tế-đô thị năng động nhất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long là Trục hành lang TP. Hồ Chí Minh-TP. Cần Thơ và Trục sông Hậu (An Giang-Cần Thơ-Sóc Trăng), TP. Cần Thơ đóng vai trò đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không và là địa bàn trọng yếu chiến lược về quốc phòng-an ninh của Vùng.

Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 5/8/2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra mục tiêu phát triển thành phố đến năm 2030 là “thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại mang đậm bản sắc văn hóa sông nước Đồng bằng sông Cửu Long; là trung tâm của vùng về dịch vụ thương mại, du lịch, logistics, công nghiệp chế biến, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, giáo dục đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao; là đô thị hạt nhân vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Phú Cường trình bày Báo cáo thẩm tra dự thảo Nghị quyết trên cho rằng, hồ sơ dự thảo Nghị quyết cơ bản đã bảo đảm đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua theo trình tự tại một kỳ họp.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng báo cáo đánh giá tác động cần đầy đủ, chi tiết hơn. Đa số ý kiến của Ủy ban Tài chính, Ngân sách cho rằng, các nội dung trong dự thảo Nghị quyết đã cơ bản bám sát chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết 59, bảo đảm tính tương đồng với các thành phố lớn khác trong cả nước; đặc biệt, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đã có những chính sách đặc thù khác với nhiều địa phương khác; tương thích với đặc điểm riêng, tạo cơ sở phát huy được thế mạnh của vị trí địa lý, tiềm năng kinh tế, lợi thế con người.

Tuy nhiên, để bảo đảm phát triển bền vững, cần khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên trên nguyên tắc bảo vệ môi trường sinh thái; đề cao trách nhiệm, hiệu quả quản lý nhà nước; thu hút thực chất và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế cho phát triển kinh tế-xã hội, nhất là cho phát triển cơ sở hạ tầng và các ngành kinh tế có tiềm năng, lợi thế đặc thù...

Theo chương trình, chiều 4/1, đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội.

 

NHẬN DIỆN MƯU ĐỒ PHÍA SAU “NHỮNG LỜI CÓ CÁNH”

             Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả. 

Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả. Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải “dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh giản biên chế trong quân đội một cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên giảm ngân sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực “đông nhưng không mạnh”... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là đủ (?)

            Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...

Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền quốc phòng toàn dân từ bên trong.

            Ở một diễn biến khác, những kẻ thù địch lại rêu rao: Việt Nam đang “quân sự hóa hoạt động dân sự”. Họ cho rằng: Chống dịch là một dạng hoạt động dân sự, nhưng quân đội lại ồ ạt đưa lực lượng, vũ khí, trang bị vào “trấn áp” dịch-đó là biểu hiện “quân sự hóa hoạt động dân sự”.

Một mặt, họ quy kết quân đội không đủ mạnh, không thể làm tròn nghĩa vụ với nhân dân, nên cố tình kéo quần chúng vào một cuộc chiến “vô thưởng vô phạt”; cổ vũ người dân lên tuyến đầu để bao biện cho sự hèn nhát, sợ dịch bệnh của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Mặt khác, họ tung hô: Đảng, Nhà nước và quân đội đang tô hồng vai trò của chính mình, “làm màu” để mị dân.

Thực chất, đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật, xóa nhòa bản chất hoạt động bảo vệ, phục vụ nhân dân, phủ định vai trò, đóng góp to lớn của QĐND Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid-19 suốt gần hai năm qua. Trên thực tế, QĐND Việt Nam đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những lực lượng xung kích trên tuyến đầu; bảo vệ nhân dân bằng tất cả tình yêu thương. Thậm chí nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến với loại “giặc vô hình” để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

            Vậy nên, “những lời có cánh” nêu trên, thoạt qua, có thể nhầm tưởng là hợp lý, vô hại, nhưng xét về thực chất lại chính là khuynh hướng thủ đoạn khá mới, cố tình làm sai lệch nhận thức của quần chúng, mang lại nhiều hệ lụy và hậu quả to lớn; ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội; tác động trực tiếp đến kết quả xây dựng quân đội; chi phối nghiêm trọng công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiềm lực, nguồn lực BVTQ trong tình hình mới.

Đừng để tin giả thành hiểm họa thật

 

          Thông tin bịa đặt không phải đến bây giờ mới xuất hiện trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện công nghệ mới, phương thức truyền tin, nhất là mạng xã hội phát triển sâu rộng thì tin giả càng thêm đất sống.

          Tin giả như một loại virus độc hại, nó xâm nhập, gây rối dư luận, gây rối lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin, tác động xấu đến nhận thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng điều này để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Vì thế, phải đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ mối hiểm họa thật sự này.

          Tin giả giờ đây không chỉ được lan truyền miệng từ người này sang người kia mà thông qua các hiệu ứng truyền thông, mạng xã hội, nó lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vì là tin bịa đặt, nên nó được cường điệu cho nên hàm chứa sự ly kỳ, hấp dẫn, dễ đánh vào xúc cảm, tâm lý của những người mà độ “hóng” cao. Càng nguy hiểm hơn khi có những cán bộ, đảng viên lại không phân tích đúng, sai, cả hữu ý và vô tình bị những dòng tin giả cuốn vào gây ngờ vực, mất lòng tin. Phải nói rằng, những thế lực xấu đã rất kỳ công trong việc cắt ghép, dàn dựng lên những hình ảnh có trong hàng chục clip để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Bằng thủ đoạn không nói cho có, có nói cho thật nhiều, nói nhiều ắt phân vân, ngả nghiêng và nói mãi sẽ có người tin. Có thể nói, âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng nó rất có tác dụng. Các bằng chứng nghiên cứu khoa học cho thấy, sai lệch niềm tin do tiếp nhận tin giả giống như dịch bệnh lây lan. Khi cá nhân chia sẻ tin giả cũng đồng nghĩa với “lây truyền” niềm tin độc hại.

          Ở Việt Nam, tin giả ngày càng xuất hiện nhiều và bỗng dưng trở thành một phần trong xã hội. Chỉ riêng tháng 10 vừa qua, khi chúng ta bước sang giai đoạn mới thích ứng an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 đã có tới 200.000 tin, bài viết giả mạo, tiêu cực xuyên tạc Nghị quyết 128 của Chính phủ “thất bại toàn diện”; rằng người lao động không được hỗ trợ; bịa đặt Bộ Y tế “ép buộc” trẻ em tiêm vaccine nhằm thu lợi bất chính...

          Trên thực tế, tin giả không chỉ chiến thắng tâm lý hiếu kỳ, tò mò của độc giả mà nó còn làm suy yếu các phương tiện truyền thông. Tin giả không chỉ hướng lái sai lệch một bộ phận xã hội mà còn “dắt mũi” cả một số phóng viên, cơ quan báo chí. Tin chưa được kiểm chứng từ cá nhân trên Facebook, Zalo... nhưng có những báo mạng vẫn "nhanh tay" biến thành sản phẩm báo chí.

          Thiết nghĩ, để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả với nạn tin giả cũng như giảm thiểu tác động xã hội của nó, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ, liên thông của các cơ quan chức năng. Cần phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ nhưng linh hoạt, vận dụng nghiêm khắc chế tài, luật pháp để xử lý nghiêm mọi cá nhân, tổ chức tung tin giả. Nhưng trước khi Nhà nước “điều trị” bệnh này, mỗi cá nhân cần tự mình có trách nhiệm sàng lọc, tiếp nhận thông tin trung thực, phủ nhận thông tin xuyên tạc, giả mạo để cuộc sống ngày càng tươi đẹp.