Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế

 

 Đề ra nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ “có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế” là một trong những điểm mới nổi bật của Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII. Để thực hiện nhiệm vụ trên, cần phải có những giải pháp đồng bộ, đột phá để đội ngũ cán bộ này có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đáp ứng tốt các yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Thực tiễn đó đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn về tiêu chuẩn đối với đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, trong đó yêu cầu “đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”(1). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để thực hiện mục tiêu nêu trên, Đại hội đề ra nhiệm vụ “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế... Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế”(2); “Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng... Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình; tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các kênh và các cơ quan đối ngoại, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế”(3).

Những yếu tố tác động đến yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế hiện nay

Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Kinh tế thị trường đã, đang và sẽ là xu thế khách quan trong việc giải phóng các tiềm năng xã hội, giải phóng năng lực sáng tạo của cá nhân, phát triển các năng lực xã hội. Kinh tế thị trường kết hợp với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo điều kiện và cơ hội cho phát triển lực lượng sản xuất. Nhờ sự phát triển của kinh tế thị trường và sự thúc đẩy mạnh mẽ của khoa học, công nghệ mà đời sống xã hội có được luồng sinh khí dồi dào, có khả năng linh hoạt, thích ứng cao. Trước sự thay đổi sâu sắc của lực lượng sản xuất xã hội, với tư cách là sự phản ánh tính chất và trình độ của nền kinh tế, mọi thiết chế của kiến trúc thượng tầng xã hội ở nước ta đang đứng trước yêu cầu cấp thiết là phải đổi mới mạnh mẽ để thích ứng với sự phát triển mới. Trong đó có những yêu cầu mới về năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ để nâng cao hiệu quả hoạt động, thích ứng nhanh trước một thể chế kinh tế năng động và sáng tạo.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay là sự khởi động, cũng là nguyên nhân nội tại dẫn đến quá trình đổi mới tư duy của đội ngũ cán bộ, nhằm khắc phục những trì trệ, bảo thủ và giáo điều trước đây. Sẽ là sai lầm nếu đồng nhất yêu cầu về trình độ, phẩm chất, năng lực của cán bộ trong giai đoạn trước đây với yêu cầu về trình độ, phẩm chất, năng lực của cán bộ trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và sự bùng nổ của công nghệ hiện đại ngày nay. Không ít những chuẩn mực trước đây không còn phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế cũng như với tính chất của nền kinh tế và trình độ khoa học, công nghệ hiện nay.

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm chuyển động mạnh mẽ hệ giá trị tinh thần xã hội. Mặt trái của nó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những tiêu cực xã hội. Quan liêu, tham nhũng, “lợi ích nhóm”, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên diễn ra khá phổ biến, trở thành “trọng bệnh” và “quốc nạn”, đe dọa trực tiếp tới sự lành mạnh xã hội, đạo đức, sự ổn định của những guồng máy tổ chức; là mối đe dọa đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Chính vì lẽ đó, bên cạnh yêu cầu về năng lực, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay chính là việc giữ gìn đạo đức cách mạng, phẩm chất, lối sống và động cơ trong sáng của người cộng sản chân chính.

Thứ hai, sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Những thành tựu to lớn của khoa học, công nghệ, nhất là từ khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng nổ cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng diễn ra sâu sắc ở nước ta đã tạo tiền đề cho mỗi người cán bộ định hình rõ hơn và phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình. Đặc biệt, trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, khi hệ thống dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI) trở thành khái niệm phổ biến của mọi lĩnh vực xã hội thì lượng thông tin nhiều chiều và tính đa dạng của các phương tiện chuyển tải thông tin cùng với sự hỗ trợ của các hệ thống, thiết bị siêu thông minh đã tác động mạnh mẽ đến quá trình tiếp nhận tri thức, thay đổi nhận thức và hành động của xã hội, nhất là đối với phương thức quản lý, mô hình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đời sống văn hóa - xã hội; từ đó, dẫn đến yêu cầu cao hơn về kiến thức, trí tuệ đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đất nước - những người trực tiếp vận hành các cơ quan, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, có tính chất quyết định năng lực lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ mới.

Trong điều kiện mới của nền kinh tế với những tác động mạnh mẽ của khoa học, công nghệ do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ các cấp là phải có kiến thức toàn diện bên cạnh những hiểu biết chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ; khiến cho cách hiểu về tiêu chuẩn, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý trở nên rõ ràng, cụ thể hơn, bảo đảm phù hợp với thực tế. Đây là một nội dung mới mà quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ luôn phải tính đến và có thái độ ứng xử một cách nghiêm túc, hợp với lô-gíc nội tại của bối cảnh mới.

Thứ ba, mức độ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Xu hướng hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ và kinh tế thị trường, một mặt, góp phần xác lập tính năng động của con người về mặt tư duy, tư tưởng cho đổi mới và phát triển; mặt khác, cũng là một thử thách rất gay gắt do quá trình đan xen phức tạp giữa cái tích cực, lành mạnh, hợp lý với cái tiêu cực, không lành mạnh, thậm chí xuất hiện cả những biểu hiện trái với đạo lý và pháp lý, cả sự đan xen giữa tính tự phát với tính tự giác, giữa cái mới, tiến bộ với cái lạc hậu, thoái bộ. Đây vừa là nguyên nhân nội tại, vừa là động lực quan trọng để tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá trong công tác cán bộ thời gian tới.

Hiện nay, mức độ toàn cầu hóa ở nước ta ngày càng toàn diện, sâu rộng; hơn nữa, quan hệ đối ngoại của nước ta trên các kênh đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân được chú trọng và đẩy mạnh. Điều này đã tạo ra môi trường mang tính quốc tế ngày càng sâu sắc, như Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu... Hội nhập quốc tế tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, tạo không gian quan hệ rộng mở, tranh thủ được sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Vị thế, uy tín, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao”(4). Tình hình đó đặt ra những yêu cầu rất mới, cao hơn đối với đội ngũ cán bộ nói chung và đặc biệt là đội ngũ cán bộ trực tiếp làm việc trong môi trường quốc tế nói riêng.

Những yêu cầu về năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế

Để làm việc trong môi trường quốc tế, đội ngũ cán bộ cần đáp ứng nhiều yêu cầu, không chỉ về kiến thức, năng lực và trình độ ứng xử với cộng đồng quốc tế, để bảo vệ và thực hiện hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn phải có khả năng thực hiện tốt hợp tác quốc tế, quảng bá hiệu quả hình ảnh tốt đẹp của đất nước và con người Việt Nam.

Trước tiên, cần có lòng nồng nàn yêu nước, thông hiểu bản sắc của quốc gia - dân tộc, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự lực tự cường; đồng thời, phải nắm vững các chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Mục đích cơ bản của hoạt động hợp tác quốc tế là nhằm thực hiện và bảo vệ các lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, thúc đẩy hữu nghị giữa các dân tộc, góp phần xây dựng thế giới văn minh, tốt đẹp. Do vậy, người cán bộ làm việc trong môi trường hợp tác quốc tế song phương hay đa phương đều phải có lập trường chính trị vững vàng, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống phức tạp nào, phải luôn đặt lợi ích của đất nước lên hàng đầu, đặt chủ quyền, an ninh quốc gia làm mục tiêu tối thượng, kiên quyết bảo vệ lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia, không được phép vì mục đích, lý do cá nhân hoặc lợi ích của một nhóm nhỏ mà gây phương hại tới lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia. Môi trường giao lưu đối ngoại đòi hỏi người cán bộ phải có tinh thần độc lập, thận trọng, tự kiềm chế, tự giám sát, tránh manh động, đề phòng mọi vi phạm, trường hợp không mong muốn có thể xảy ra.

Đội ngũ cán bộ cần hiểu đúng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trước hết, phải nắm rõ các vấn đề và chủ trương, chính sách đối nội, đây là cơ sở để đối ngoại, giao lưu quốc tế và là điều kiện tiên quyết để giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với thế giới. Đồng thời, phải nắm vững các chủ trương, chính sách, chiến lược đối ngoại, trong đó đặc biệt chú trọng đến quan điểm chính yếu và xuyên suốt của Đảng về quan hệ đối ngoại đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ đổi mới và gần đây nhất, tiếp tục được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(5). Đây là nền tảng và chuẩn mực mà mỗi cán bộ phải tuân theo trong các hoạt động đối ngoại cụ thể của mình, nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức sáng tạo, ý chí và sức mạnh toàn dân tộc... bảo vệ vững chắc Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế”(6), như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.

Hai là, phải có tầm nhìn quốc tế sâu rộng và nắm bắt tốt các xu hướng, đặc điểm phát triển của tình hình quốc tế.

Sự phân tích đúng đắn và dự báo, nhận định, đánh giá chuẩn xác về tình hình quốc tế là cơ sở để chúng ta xây dựng các chính sách đối nội và đối ngoại một cách khoa học. Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo của thời đại, nhưng đã xuất hiện nhiều nét mới; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, trật tự thế giới đang biến đổi nhanh chóng; nhịp độ kinh tế toàn cầu đang tăng tốc và mối quan hệ kinh tế giữa nước ta với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới ngày càng chặt chẽ, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt; tiến bộ công nghệ thay đổi theo từng ngày, tạo động lực mới và mạnh mẽ cho sự phát triển của xã hội loài người. Chúng ta đang đứng trước những cơ hội chiến lược có thể tạo ra sự khác biệt lớn, nhưng cũng đang đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế khốc liệt chưa từng có. Vì vậy, đội ngũ cán bộ các cấp cần định hình tầm nhìn toàn cầu, quan sát thế giới một cách toàn diện, nâng cao khả năng phán đoán tình hình quốc tế và có tư duy chiến lược sâu rộng; tăng cường năng lực quan sát, đánh giá xu thế phát triển chung của thế giới, nắm bắt các cơ hội có lợi cho sự phát triển của đất nước, học hỏi và chắt lọc kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài, mở rộng nguồn lực và thị trường quốc tế. Khi đội ngũ cán bộ nắm bắt được các xu hướng và đặc điểm phát triển của tình hình quốc tế thì sẽ tạo được thế chủ động trong hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế.

Ba là, phải có kiến thức cơ bản về các vấn đề quốc tế, thấu hiểu những đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế, chính trị và văn hóa của các nước đối tác.

Cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế nhất thiết phải có kiến thức cơ bản về các vấn đề quốc tế và nhất là phải có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực mà mình hoạt động, để có đủ nền tảng kiến thức khi tham gia vào các lĩnh vực hợp tác với các nước đối tác. Đồng thời, mỗi cán bộ cần thấu hiểu, nắm vững những đặc điểm của nền kinh tế, chính trị và văn hóa của các nước đối tác để xây dựng được chiến lược và biện pháp hợp tác phù hợp. Nếu không có kiến thức cơ bản về các vấn đề quốc tế, nhất là không hiểu rõ các thông lệ quốc tế và các quy định của thiết chế quốc tế, cũng như không nắm vững những đặc điểm của nền kinh tế, chính trị, văn hóa của các nước đối tác, đặc biệt là phong tục, tập quán của họ, thì sẽ dễ rơi vào thế bị động, gây tổn hại lớn đến lợi ích và uy tín của quốc gia - dân tộc Việt Nam. 

Sự mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế của nước ta ngày càng phải nâng cao kiến thức trong lĩnh vực này. Ngoài những kiến thức cơ bản như đã nói ở trên, còn phải có những kiến thức chung như: lịch sử, địa lý, văn hóa, kinh tế, chính trị (bao gồm cả lập trường và thái độ chính trị, thể chế chính trị), ngoại giao, quân sự, khoa học và công nghệ, giáo dục... của các nước đối tác; kiến thức về khuynh hướng chính trị, nhiệm vụ, chức năng của các tổ chức quốc tế và một số tổ chức phi chính phủ trên thế giới; về các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ với đối tác nước ngoài và các bối cảnh có liên quan... Càng có nhiều kiến thức thì khả năng xử lý công việc đối ngoại càng tốt và tính chủ động trong công việc sẽ càng được nâng cao.

Bốn là, cần có năng lực và trình độ đối ngoại, giỏi xử lý các vấn đề đối ngoại phức tạp, quảng bá hiệu quả hình ảnh tốt đẹp của đất nước.

Kiến thức về các vấn đề quốc tế là nền tảng của hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế; năng lực đối ngoại là khả năng và mức độ áp dụng toàn diện kiến thức này vào triển khai hoạt động thực tiễn. Cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế cần có sự nhìn nhận sâu sắc về lĩnh vực hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế, giỏi phát hiện các xu hướng, trào lưu, cơ hội, nguồn lực, hiểu rõ lập trường, thái độ và tâm lý của đối tác; có những nhận định tỉnh táo, nhanh chóng nắm bắt thời cơ, phân tích thấu đáo thuận lợi, khó khăn, để đưa ra được quyết định kịp thời, chuẩn xác; có kỹ năng giao tiếp sâu rộng, giỏi ứng xử với các kiểu cá tính, phong cách, thích ứng nhanh với những điều kiện, diễn biến phức tạp; bày tỏ quan điểm của mình bằng ngôn ngữ phù hợp, đồng thời tìm ra điểm chung về lợi ích của các bên và tạo sự hỗ trợ lẫn nhau theo cách thức thích hợp.

Ngoài ra, cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế cần rèn luyện đạo đức, trau dồi thói quen văn minh, hiểu biết về lễ nghi, phong tục của cộng đồng quốc tế, cư xử hòa nhã, thể hiện tính cách, phong thái lịch sự, nhã nhặn. Nếu mỗi cán bộ có khả năng và phẩm chất như vậy, thì không những có thể bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn xây dựng được hình ảnh tốt đẹp của đất nước Việt Nam với truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, yêu chuộng hòa bình với bạn bè quốc tế.

Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế


Thứ nhất, từng bước đưa việc bồi dưỡng năng lực làm việc trong môi trường quốc tế trở thành một nội dung quan trọng của chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ các cấp.

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, nội dung đào tạo đội ngũ cán bộ không ngừng được bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn phát triển đất nước. Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã đưa ra yêu cầu cán bộ “có đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”. Có nhiều cuộc hội thảo quốc tế do các bộ, ban, ngành ở Trung ương và các địa phương tổ chức đã đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế. Để góp phần giải quyết tốt vấn đề này, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị, trường cán bộ, trường hành chính các cấp từng bước tăng cường học tập, nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm, thực tiễn quốc tế. Chương trình 165 (nay là Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ) thuộc Ban Tổ chức Trung ương đã cử hàng nghìn cán bộ của các bộ, ban, ngành và các địa phương đi đào tạo ở nước ngoài. Một số tỉnh, thành phố sử dụng kinh phí của địa phương để tuyển chọn cán bộ đi đào tạo ở các cơ sở đào tạo nước ngoài. Nhiều cơ sở đào tạo trong nước liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài để đào tạo đại học, sau đại học... Tất cả những điều này đã tạo điều kiện và thúc đẩy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế của nước ta.

Trong thời gian tới, công tác đào tạo cán bộ cần chú trọng đến nội dung nâng cao chất lượng (bao gồm cả năng lực và phẩm chất) đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế; coi đây là một nội dung quan trọng, cần được thực hiện theo một kế hoạch dài hạn, bài bản, có tính tổng thể. Cán bộ các đơn vị, địa phương có liên quan được đào tạo theo nhu cầu của công việc và được tập trung vào các khóa đào tạo chuyên đề nhất định. Họ không chỉ được học tập để mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ kiến thức về ngoại giao, quan hệ quốc tế, mà còn phải được đào tạo về kỹ năng và nghiệp vụ của lĩnh vực công tác này. Trong quá trình đào tạo, phải tuân thủ nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn, xuất phát từ thực tế của Việt Nam cũng như từ thực tiễn hội nhập quốc tế của đất nước. Các cơ sở đào tạo có liên quan cần kịp thời biên soạn tài liệu giảng dạy phù hợp để bồi dưỡng cho nhà giáo tham gia giảng dạy về lĩnh vực này.

Thứ hai, tiếp tục tạo điều kiện để cán bộ các cấp được học tập, trải nghiệm trong môi trường quốc tế nhằm nâng cao khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển của thực tiễn.

Thực tiễn là một trường học lớn. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế, trong đội ngũ cán bộ của nước ta ngày càng có nhiều người đi đến nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới để làm việc, trao đổi, học tập trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, như chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ, quốc phòng, an ninh... Thực tiễn đó đã tạo cơ hội cho họ nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực làm việc với đối tác nước ngoài. Kinh nghiệm và trải nghiệm thực tiễn đó rất khó tìm được trong sách vở. Vì vậy, trong thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ được học tập, trao đổi kết hợp với công tác tại các quốc gia, khu vực trên thế giới nhằm nâng cao khả năng xử lý, ứng phó với các tình huống quốc tế và các vấn đề quốc tế. Đồng thời, đội ngũ cán bộ cần chủ động, tự giác hơn nữa trong học tập; tích cực tích lũy và đúc kết kinh nghiệm trong công việc; nâng cao năng lực tư duy và khả năng nắm bắt, tiếp cận kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn. Cùng với đó, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để tăng cường nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề quốc tế và trau dồi phẩm chất quốc tế, không ngừng nâng cao khả năng giao lưu với cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, định hình chiến lược đào tạo cán bộ ở nước ngoài một cách bài bản gắn với hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng hiệu quả số cán bộ này sau khi về nước; gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế. 

Để thực hiện giải pháp này, trước hết, cần lập kế hoạch về học bổng quốc gia và học bổng địa phương, tập trung các nguồn lực du học do Nhà nước tài trợ để “ươm mầm cán bộ tài năng” cho đất nước; tập trung đào tạo “hạt giống đỏ” trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, đơn vị sự nghiệp ở Trung ương và địa phương; ưu tiên đào tạo cán bộ trẻ tài năng, có tư duy sáng tạo, phẩm chất đạo đức trong sáng và tư tưởng, lập trường chính trị vững vàng, có ý chí học hỏi và vươn lên vì sự phát triển chung. Việc đào tạo nguồn cán bộ này gắn với nhu cầu nâng cao chất lượng công việc của cơ quan, đơn vị nói riêng và định hướng phát triển đất nước nói chung. Hơn nữa, kế hoạch đào tạo cần gắn kết chặt chẽ với kế hoạch sử dụng và phát triển cán bộ, từ đó, tạo cho họ có được môi trường, “sân chơi” tốt nhất để phát huy năng lực và kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được trong môi trường quốc tế, phục vụ cho cơ quan, đơn vị, đất nước; tránh trường hợp đào tạo xong nhưng không sử dụng, gây lãng phí nguồn nhân lực.

Thứ tư, mở rộng các “kênh” trao đổi, hợp tác đào tạo giữa nước ta và các quốc gia, tổ chức quốc tế, tích cực phát triển hợp tác thực chất với các cơ sở đào tạo hoặc các đối tác nước ngoài trong các lĩnh vực và tìm kiếm các chương trình hợp tác đào tạo với nước ngoài cho cán bộ nước ta. 

Trên cơ sở các chương trình, dự án đào tạo hiện có, tập trung mở rộng mô hình hợp tác, dự án đào tạo và lĩnh vực hợp tác đào tạo; đồng thời, tích cực xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về cán bộ học tập, làm việc tại nước ngoài. Làm phong phú và cải tiến mô hình hợp tác đào tạo, trao đổi đoàn; xây dựng các chương trình hợp tác đào tạo dài hạn và ngắn hạn, kết hợp với bồi dưỡng, đào tạo, thực tập ngắn hạn... để đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của các lĩnh vực khác nhau. Mở rộng “kênh” và đổi mới mô hình hợp tác đào tạo, phát triển hợp tác đào tạo đa dạng, sâu rộng với các đối tác nước ngoài. Điều này sẽ giúp tăng cường khả năng đào tạo và nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế cho cán bộ nước ta.

Thứ năm, có cơ chế, chính sách thu hút hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia, trí thức giỏi trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về phục vụ đất nước.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có 5,3 triệu người, đang sinh sống, học tập và làm việc tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ; khoảng 80% trong số đó sinh sống và làm việc tại các quốc gia phát triển. Bên cạnh đó còn có đội ngũ gần 200.000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật Bản, Pháp và nhiều nước khác. Hiện có hàng nghìn kỹ sư, lập trình viên người Việt Nam có trình độ cao đang làm việc tại Thung lũng Silicon, Hoa Kỳ, trong đó nhiều người làm việc tại các công ty công nghệ hàng đầu thế giới, như Google, Facebook, Microsoft... và đã có rất nhiều cống hiến, đóng góp trên các lĩnh vực khoa học - công nghệ, kinh tế, chính trị, văn hóa tại những nước họ đang sinh sống, học tập và làm việc(7).

Đây là nguồn nhân lực chất lượng cao, có tiềm năng dồi dào của Việt Nam, có khả năng đóng góp lớn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Họ cũng là một lực lượng góp phần đáng kể trong việc kết nối Việt Nam với thế giới, là cánh tay nối dài của Việt Nam với thế giới và đưa thế giới đến gần hơn với Việt Nam; đồng thời, là đội ngũ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động Việt Nam làm việc trong môi trường quốc tế.  

Để huy động có hiệu quả sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự phát triển đất nước, trước hết, cần quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26-3-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” và Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, của Bộ Chính trị, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”; đồng thời, kịp thời quán triệt và thực hiện nghiêm túc Kết luận số 12-KL/TW, ngày 12-8-2021, của Bộ Chính trị, “Về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”. Trong đó, chú trọng quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, chủ trương của Đảng về việc thu hút, sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực thiết yếu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đa số các chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đang sống, làm việc, học tập, nghiên cứu tại các nước phát triển, có các điều kiện sinh hoạt và công việc tốt hơn so với trong nước. Do đó, để thu hút đội ngũ này về nước làm việc, trước tiên cần khơi dậy tinh thần yêu nước, tình cảm hướng về quê hương, Tổ quốc, hướng về cội nguồn, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, ước mong xây dựng đất nước giàu đẹp, hùng cường. Đồng thời, kịp thời cung cấp thông tin để họ nắm được những nội dung cơ bản trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của đất nước, nhất là những thông tin sâu về những ngành, lĩnh vực, những chương trình, dự án cần có sự hợp tác của họ. Điều quan trọng là, có cơ chế, chính sách hợp lý, cởi mở hơn nữa về đãi ngộ, điều kiện làm việc, sinh hoạt để động viên, khích lệ họ cống hiến, sáng tạo và yên tâm gắn bó với công việc, sẵn sàng hợp tác, cống hiến lâu dài./.

“Dân giàu, nước mạnh” - Giá trị và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

 “Dân giàu, nước mạnh” là giá trị và mục tiêu của phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này phù hợp với nguyện vọng và mong muốn của mọi tầng lớp nhân dân. Đây là mục tiêu tốt đẹp, tập hợp trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, động viên nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy tính tích cực và tự giác của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

“Dân giàu, nước mạnh” - Nguyện vọng tha thiết, cháy bỏng của mọi tầng lớp nhân dân

“Dân giàu, nước mạnh”, một mặt, là thể hiện sự tăng lên, đầy đủ, sung túc về vật chất, tiến bộ kinh tế, giảm đói nghèo trên phạm vi cả nước và mỗi cá nhân; mặt khác, biểu thị trạng thái hạnh phúc. Đây không đơn thuần là sự giàu có về vật chất, mà còn đi liền với khả năng phát triển thể chất, tâm lý và xã hội; không chỉ thể hiện việc sinh sống đơn thuần, mà còn thể hiện khả năng tham dự vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân. Khía cạnh xã hội và tâm lý của khái niệm “dân giàu, nước mạnh” quan trọng không kém so với khía cạnh vật chất. Bởi, bên cạnh những nhu cầu vật chất, con người cần có nhu cầu tinh thần, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, cộng đồng và mục đích sống, góp ích cho xã hội và qua đó, góp phần xây dựng một xã hội đáng sống. Việc bảo đảm những điều kiện vật chất tối thiểu là hết sức cần thiết đối với cuộc sống của con người; song, con người cũng có quyền được có việc làm và được sống khỏe mạnh. Do đó, “dân giàu, nước mạnh” có nghĩa là đem lại đời sống vật chất dồi dào, đời sống tinh thần phong phú thực sự cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Dân có giàu thì nước mới mạnh và ngược lại.

Nhân dân Việt Nam, từ thuở xa xưa, đã mơ ước một cuộc sống sung túc về  vật chất, phong phú về tinh thần, các quan hệ xã hội hài hòa, nhưng do là một nước thuần nông nghiệp và phương thức sản xuất còn lạc hậu, cuộc sống vật chất của đại đa số người dân chưa đầy đủ, nên đời sống tinh thần còn nghèo nàn. Bước vào thời cận đại, cùng với tư tưởng duy tân của các chí sĩ yêu nước, các trí thức Việt Nam đã tham khảo các biện pháp làm cho đất nước trở nên giàu mạnh, từ mục tiêu “khai dân trí” cho đến việc phát triển công nghiệp, lập các hội khoa học truyền bá tư tưởng duy tân,… Song, tất cả đều không thành công, do chưa có một hệ tư tưởng tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh nước ta lúc đó bị thực dân Pháp xâm lược, là nước thuộc địa nửa phong kiến.

Bối cảnh đó đã đặt nhân dân Việt Nam đứng trước yêu cầu giành độc lập dân tộc và giải phóng đất nước, giải phóng con người, thực hiện công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh. Lịch sử đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhân dân đoàn kết đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc. Từ ngày thành lập Đảng 3-2-1930, trải qua 15 năm gian khổ đấu tranh chống thực dân Pháp và sự can thiệp của các nước đế quốc, năm 1945, Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, do nhân dân làm chủ, có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Sau khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, phục hồi và phát triển kinh tế, thực hiện chuyển biến toàn diện xã hội, phát triển đất nước.

Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc và sự giàu có của nhân dân. Theo Người,  “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập”(1). Người còn nói, độc lập mà dân không đủ ăn, đủ mặc thì độc lập ấy không có nghĩa gì. Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc ngày 10-1-1946, Người nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(2). Suốt cuộc đời Người phấn đấu cho độc lập dân tộc và hạnh phúc, ấm no của nhân dân: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(3).

Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế là đúng đắn, sáng tạo. Theo đó, sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới”(4), từng bước đạt tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”.

“Dân giàu, nước mạnh” - đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

“Dân giàu, nước mạnh” - tức là đời sống nhân dân giàu có, xã hội phát triển tốt đẹp, thực lực tổng hợp quốc gia lớn mạnh. Giá trị “dân giàu, nước mạnh” yêu cầu chúng ta lấy sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, đề cao mức sống bình quân của nhân dân trở thành mục tiêu chủ yếu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội hàm của “dân giàu, nước mạnh” bao gồm những đặc trưng cụ thể sau:

Giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội cần có lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho nhân dân có mức sống cao về đời sống vật chất và phong phú về đời sống tinh thần. Chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội, cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Qua 35 năm đổi mới, Việt Nam đã bước đầu thực hiện được mục tiêu trên con đường phát triển đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.  

Hướng tới sự giàu có của toàn thể nhân dân. Đây chính là điểm đặc sắc và là bản chất của chủ nghĩa xã hội.

Kiên trì đường lối phát triển liên tục, hài hòa và lành mạnh. Yêu cầu đặt ra là chúng ta cần khai thác các tiềm  năng, thế mạnh, lợi thế quốc gia, khắc phục những điểm yếu, hạn chế để sự phát triển diễn ra liên tục, hài hòa, tránh phát triển thiếu bền vững, đứt đoạn. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, song cũng có một số vấn đề đặt ra. Tăng trưởng kinh tế ở một số lĩnh vực chưa bền vững; còn có khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, miền núi và miền xuôi; chưa giải quyết được hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội…

Sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn mạnh. “Dân giàu, nước mạnh” là chỉ sức mạnh tổng hợp quốc gia không ngừng lớn mạnh. Sự cạnh tranh giữa các nước trên thế giới là lấy thực lực kinh tế làm cơ sở cạnh tranh sức mạnh tổng hợp. Giàu mạnh về kinh tế là cơ sở sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời, giàu mạnh cũng yêu cầu sức mạnh chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục; nghĩa là bao gồm cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”, mới có thể khiến cho đất nước hướng tới giàu mạnh toàn diện. Chúng ta cần đề ra chiến lược phát triển ưu tiên cho sức sáng tạo của khoa học - kỹ thuật, thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển, gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới thể chế văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa; tăng cường xây dựng tư tưởng, đạo đức; đề cao các giá trị đạo đức tốt đẹp; làm phong phú và phát triển chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, nâng cao sức ảnh hưởng quốc tế và vị thế đất nước; bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đẩy mạnh  quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.

Giải pháp thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”

Chủ nghĩa xã hội, một mặt, giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, phát triển đất nước; mặt khác, thực hiện sự giàu có chung cho quảng đại quần chúng nhân dân. Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân. Chế độ xã hội chủ nghĩa hướng đến quảng đại quần chúng nhân dân cùng giàu có, ngày càng giảm bớt phân hóa giàu nghèo. Phát triển tương lai của xã hội xã hội chủ nghĩa là đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, là một xã hội có lực lượng sản xuất phát triển, của cải vật chất và đời sống tinh thần phong phú, quản lý xã hội dân chủ cao độ, con người được phát triển toàn diện.

Để thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, chúng ta cần:

Thứ nhất, kiên trì lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, nỗ lực phát triển lực lượng sản xuất. Của cải vật chất xã hội phong phú là cơ sở quan trọng thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Chỉ có nỗ lực phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều thì chúng ta mới có khả năng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của toàn thể thành viên xã hội; không ngừng tăng đầu tư tài chính nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng công cộng, kiện toàn hệ thống an sinh xã hội; phát triển các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo nền tảng vật chất cho củng cố và hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa, tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Thứ hai, bảo đảm quyền và lợi ích chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân. Theo đó, cần đẩy mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện hiện đại, nếu không có dân chủ và pháp chế thì không thể thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Quyền chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của nhân dân phải được bảo đảm thực hiện trên cơ sở các quy định pháp luật; quyền lực của Nhà nước phải phục vụ,  đáp ứng nhu cầu của nhân dân, nếu không thì lợi ích nhân dân, dân chủ chỉ mang tính hình thức. Một chế độ như vậy chỉ có thể là chế độ chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần không ngừng hoàn thiện chế độ dân chủ, làm phong phú các hình thức thực hành dân chủ; bảo đảm nhân dân được hưởng quyền dân chủ rộng rãi, thực chất. Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Thứ ba, hoàn thiện chế độ phân phối thu nhập, bảo đảm và cải thiện an sinh xã hội. Trong các quan hệ xã hội, phân phối lợi ích là một quan hệ quan trọng. Trong mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, phân phối thu nhập là khâu then chốt. Phải tiến hành phân phối lợi ích công bằng, xác đáng giữa các thành viên xã hội. Bên cạnh việc phân phối theo lao động, cần các hình thức phân phối khác; tăng cường điều tiết phân phối, thu nhập, trên cơ sở phát triển kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người thu nhập thấp, từng bước mở rộng tỷ lệ người thu nhập trung bình, hướng tới quần chúng nhân dân đều giàu có.

Như chúng ta đều biết, phân hóa giàu nghèo không chỉ là khoảng cách thu nhập kinh tế, mà còn là vấn đề hưởng thụ các dịch vụ công cơ bản. Vì vậy, phải kiện toàn thể chế tài chính công, tăng cường đầu tư tài chính vào lĩnh vực phục vụ công cộng, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, việc làm, an sinh xã hội, môi trường sinh thái, kết cấu hạ tầng, an ninh, an toàn xã hội.

Cùng với việc hoàn thiện chế độ phân phối thu nhập, tài chính công, cần chú ý bảo đảm và cải thiện dân sinh, tích cực hoàn thiện an sinh xã hội. Phải  xác định lợi ích của nhân dân làm mục tiêu quan trọng nhất để hoạch đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh chính xác và chú ý lợi ích của từng khu vực, vùng, miền, ngành nghề, các tầng lớp nhân dân khác nhau. Đồng thời với thúc đẩy phát triển, cần đặt công bằng, bình đẳng xã hội vào vị trí then chốt; vận dụng tổng hợp nhiều biện pháp, từng bước xác lập hệ thống bảo đảm công bằng xã hội, lấy công bằng quyền lợi, công bằng cơ hội, công bằng phân phối là nội dung chủ yếu; làm cho toàn thể nhân dân cùng hưởng thành quả của sự phát triển, cùng hưởng giàu có, hạnh phúc.

Thứ tư, cải cách thể chế văn hóa, đẩy mạnh ngoại giao văn hóa. Cần thiết lập môi trường nuôi dưỡng, khuyến khích sáng tạo và hình thành các giá trị văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Muốn hiện thực hóa mục tiêu này, chúng ta cần phải tháo gỡ những rào cản ngăn trở sự kết nối, điều hòa, phối hợp giữa các chủ thể văn hóa (cá thể, tư nhân, doanh nghiệp, Nhà nước) tham gia vào hoạt động sáng tạo văn hóa; đồng thời, phải tạo cơ chế giám sát, định hướng, điều chỉnh các hoạt động sáng tạo văn hóa theo những giá trị tốt đẹp và giảm thiểu các tác nhân gây ra sự phát triển lệch lạc, tiêu cực trong đời sống văn hóa. Cụ thể: 1- Kiện toàn hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy về bản quyền; 2- Giảm thiểu các thủ tục hành chính; 3- Tăng cường các chính sách thúc đẩy nghiên cứu và triển khai kết hợp với hiện đại hóa ngành văn hóa; 4- Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa; 5- Kiện toàn hệ thống thanh tra ngành văn hoá và hệ thống thanh tra nhân dân trong lĩnh vực văn hóa.

Để thế giới hiểu biết hơn về hình ảnh đất nước, con người và văn hóa của Việt Nam; đưa quan hệ của Việt Nam với các nước đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững; phát huy vai trò của văn hóa trong việc thúc đẩy hợp tác về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần tăng cường sự phát triển của đất nước; đồng thời tiếp thu tinh hoa, kinh nghiệm phát triển văn hoá thế giới, chúng ta cần đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, theo đó: 1- Hoàn thiện chính sách ngoại giao văn hóa; 2- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương để triển khai các hoạt động ngoại giao văn hóa; 3- Gắn kết ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế; 4- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin đối ngoại về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam; 5- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác ngoại giao văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

Thứ năm, tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân; đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao, cải tiến công cụ lao động, giải phóng sức lao động của con người, nâng cao trình độ kiến thức, tay nghề, kỹ năng của người lao động. Khi đất nước tiến tới nền kinh tế tri thức, cần trí thức hóa công nhân để tránh tụt hậu trong quá trình hội nhập quốc tế. Phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin, nhằm tạo tiền đề để tham gia vào nền sản xuất hiện đại toàn cầu. Với mục tiêu phát triển bền vững, đối phó hiệu quả với thiên tai, lũ lụt, biến đổi khí hậu, dịch bệnh…, cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phát triển văn hóa sinh thái, kinh tế tuần hoàn, tái cấu trúc kinh tế, cần tránh quan điểm khai thác thiên nhiên bất chấp hậu quả. Trong thời gian tới, quá trình sản xuất có sự phân công và hợp tác sâu rộng giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta cần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động; nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ công nhân có trình độ cao, làm chủ khoa học - công nghệ; xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; hoàn thiện thể chế, thiết lập môi trường thể chế minh bạch; xây dựng cơ chế quản lý tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng; phát triển các doanh nghiệp khoa học - công nghệ để tạo đột phá phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Thứ sáu, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, huy động sức mạnh toàn xã hội, dựa vào lực lượng của toàn xã hội cùng phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Soi lại... chính mình!

 

Soi lại... chính mình!

Trong những ngày đầu năm 2022, không ít người thường hàn huyên về những chuyện mới mẻ, bàn về thành tích đạt được, nghĩ về con đường phía trước bằng sự háo hức, chờ đợi.

 

Thế nhưng, cũng không ít tập thể, cá nhân dành khoảng thời gian này để “soi lại mình”, “chiêm nghiệm” về những việc đã làm được, chưa làm được trong năm cũ và những ngày qua.

Đó là một cách thiết thực làm theo lời Bác dạy: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hằng ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”.

Sử chép lại rất cụ thể, vào đúng mồng Một Tết Nhâm Thìn (tức ngày 27-1-1952), qua Báo Nhân Dân, Bác Hồ chúc Tết, nhưng vẫn mạnh mẽ kiểm điểm, nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, nạn tham ô, nạn lãng phí. Người khẳng định: “Phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào. Người phạm tội, có tội đã đành; người thấy những tội ấy mà không nêu ra, cũng như có tội”. Lời nhắc nhở nghiêm khắc ấy của Bác đã giúp bộ đội, cơ quan, đoàn thể và nhân dân phát động một phong trào tự phê bình và phê bình từ cấp trên xuống, từ cấp dưới lên “để giáo dục nhau, để cùng nhau tẩy trừ ba nạn kia, để dọn đường cho những thắng lợi mới”.

Soi lại... chính mình!
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết gia đình cụ Nguyễn Thị Khánh (phố Lò Đúc, Hai Bà Trưng, Hà Nội), ngày 30-1-1957. Ảnh tư liệu 

Trong một số bài phát biểu, bài viết dịp cuối năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng luôn yêu cầu, các cấp, ngành, địa phương, cùng với việc động viên, khuyến khích, ghi nhận thành tích đạt được, phải chỉ ra cho được những yếu kém, tồn đọng để “tự soi, tự sửa”, quyết liệt đúc rút kinh nghiệm, xác lập quyết tâm, bổ sung kế hoạch, kiên quyết, kiên trì thực hiện cho bằng được, để năm sau phải đạt kết quả cao hơn năm trước.

Quán triệt tinh thần đó, trước hết mỗi cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần sớm thay đổi quan niệm cũ và lối tư duy “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”. Theo đó, vào dịp cuối năm, các tổ chức, cá nhân không chỉ tập trung điểm lại những dấu ấn nổi bật, thành tựu quan trọng, mà phải “xướng tên” những yếu kém, khuyết điểm, những việc chưa làm được, chưa thể hoàn thành... Qua đó mà cảnh tỉnh, cảnh báo đội ngũ và nhất là tạo động lực cho mỗi tổ chức, cá nhân xác định rõ hơn về khó khăn, rào cản; đề cao trách nhiệm khắc phục, quyết tâm bứt phá; phấn đấu để năm sau ít khuyết điểm hơn năm đã qua.

Đối với từng cán bộ, đảng viên, nhất thiết sau một năm đi qua, rất cần sự tự giác, nghiêm túc “soi lại mình” để “tự chỉnh đốn”, “tự đổi mới”, “tự cấu trúc lại bản thân” cả về nhận thức, tư duy và hành vi, hành động. Trên cơ sở đó mà rút ra bài học, xác định kế hoạch cá nhân một cách chi tiết, cụ thể cho tương lai. Mỗi người cần xác định rõ: Cả những thành tích và hạn chế đều có tác dụng kết thành động lực cho việc “xây” và “chống”, từng bước hoàn thiện nhân cách theo hệ tiêu chí đạo đức của người cán bộ, đảng viên chân chính.

Mỗi tổ chức, cá nhân phải tự biết “so sánh” chính mình của hôm nay với hôm qua, giữa năm nay với năm trước và liên tục phấn đấu để hôm nay phải tốt hơn hôm qua, ngày mai phải tốt hơn hôm nay, năm sau phải hoàn thiện, tích cực hơn năm đã qua. Một khi từng cá nhân làm được điều đó thì mỗi chủ thể sẽ tự đổi mới theo hướng tích cực. Hay nói cách khác, chỉ khi từng tập thể, cá nhân không ngại nhận khuyết điểm, không giấu dốt, không tự tô hồng thành tích đạt được, thì cũng bắt đầu từ đó sự tiến bộ, trưởng thành sẽ trở nên vững bền, thực chất hơn bao giờ hết!

Thử thách là “phép thử” ý chí, nghị lực

 

Thử thách là “phép thử” ý chí, nghị lực

Lần đầu tham dự môn “Kinh tuyến” tại Hội thao Quân sự Quốc tế 2021 (Army Games 2021) tổ chức tại Liên bang (LB) Nga, nhưng Đội tuyển Địa hình quân sự Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam xuất sắc giành vị trí thứ ba toàn đoàn và đoạt huy chương đồng. Niềm vui ấy đọng mãi trong lòng cán bộ, vận động viên (VĐV), nhất là Thượng tá, TS Bùi Yên Tĩnh, Phó cục trưởng Cục Bản đồ, Bộ Tổng Tham mưu, Đội trưởng Đội tuyển Địa hình quân sự QĐND Việt Nam.

 

Do từng có thời gian dài học tập, công tác tại LB Nga, Thượng tá, TS Bùi Yên Tĩnh không khỏi vui mừng khi được giao phụ trách đội tuyển. Đây là dịp để anh trở lại nơi mình đã có thời gian dài gắn bó với đầy ắp những kỷ niệm, cũng là cơ hội được góp sức vì "màu cờ, sắc áo" của QĐND Việt Nam.

Thời gian đầu, đội tuyển phải đối mặt với không ít khó khăn về thao trường, bãi tập, vật chất huấn luyện cũng như lực lượng tham gia thi đấu. Hơn thế, đội chưa có nhiều thông tin về cách thức tổ chức cuộc thi; chưa nắm được trình độ, năng lực của các đội bạn cũng như những chỉ số về thành tích của họ. Đặc biệt, quá trình huấn luyện, tham gia thi đấu tại nước bạn, địa hình có nhiều khác biệt so với Việt Nam (rừng cây rậm rạp, nhiều cây đổ, sình lầy...); quy chế thi đấu phải thay đổi, điều chỉnh nhiều lần; sự chênh lệch múi giờ, điều kiện ăn, ở, sinh hoạt khác biệt với điều kiện trong nước, trong khi dịch Covid-19 diễn biến phức tạp...

Thử thách là “phép thử” ý chí, nghị lực
Đội tuyển Địa hình quân sự Quân đội nhân dân Việt Nam huấn luyện, tham gia thi đấu tại Army Games 2021. 

Để bảo đảm chất lượng nội dung thi đấu, Thượng tá, TS Bùi Yên Tĩnh chỉ đạo đội tuyển làm tốt công tác chuẩn bị: Trang bị, vật chất, công tác hậu cần phục vụ huấn luyện, thi đấu. Anh dành nhiều thời gian tham khảo kết quả thi đấu, cách thức tổ chức của các đội tuyển đã tham dự Army Games những năm trước để có thêm kinh nghiệm tổ chức, quản lý. Trên cơ sở đó, anh trực tiếp chỉ đạo đội tuyển huấn luyện, làm quen với thao trường, bãi tập, nghiên cứu nắm chắc quy chế, hướng dẫn, duy trì luyện tập thể lực hằng ngày; bảo đảm tốt các loại thực phẩm, nhất là chế biến thêm các loại món ăn Việt Nam bổ sung năng lượng, giúp các VĐV có nền tảng thể lực tốt nhất phục vụ luyện tập, nhất là những ngày thi đấu chính thức.

Theo Đại úy Lê Văn Duyên, VĐV đội tuyển, trong suốt thời gian từ khi triệu tập đội tuyển, tổ chức huấn luyện trong nước cũng như sang LB Nga thi đấu, cán bộ, VĐV Đội tuyển Địa hình quân sự đều yên tâm tư tưởng, xác định tốt trách nhiệm. Chính những khó khăn, thử thách trở thành “phép thử” ý chí, nghị lực, bản lĩnh đối với toàn đội. Đặc biệt, có được thành công ấy, không thể không nhắc đến vai trò của Thượng tá, TS Bùi Yên Tĩnh. Anh trực tiếp ăn ở, sinh hoạt, lăn lộn cùng anh em trên các thao trường, bãi tập, vừa kịp thời động viên tư tưởng bộ đội, vừa rút kinh nghiệm sau mỗi giai đoạn huấn luyện, thi đấu.

Sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc của Đội tuyển Địa hình quân sự QĐND Việt Nam được đền đáp xứng đáng khi xuất sắc giành huy chương đồng tại Army Games 2021. Bộ Quốc phòng LB Nga cũng trao Huy chương Vì những đóng góp cho sự phát triển của Army Games tặng Thượng tá, TS Bùi Yên Tĩnh; 100% cán bộ, VĐV đội tuyển tham gia thi đấu được Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu khen thưởng

VỚI NGHỊ QUYẾT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ TỔ CHỨC KỈ NIỆM NGÀY SINH CỦA NGƯỜI, BÁC ĐÃ KHÔNG ĐỒNG Ý!

      Năm 1969, Bác đã yếu. Để giữ gìn sức khỏe của Bác, Bộ Chính trị đề nghị: ..."Khi bàn những việc quan trọng của Đảng và Nhà nước thì mời Bác chủ trì, còn khi bàn những việc thứ yếu thì cứ bàn rồi báo cáo lại và Bác đồng ý như vậy..."

Tháng 4, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày kỷ niệm lớn: 

+ 40 năm ngày thành lập Đảng; 

+ 100 năm ngày sinh của Lênin;

+ Mừng thọ Hồ Chủ tịch 80 tuổi;

+ 25 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

... Đến ngày 8-7 Nghị quyết đuợc đăng trên báo Nhân dân.

Mọi việc lớn hay nhỏ, khi Bộ Chính trị đã bàn xong đều báo cáo lại cho Bác. Riêng lần này, Bộ Chính trị ngại ngần: ...nếu Bác biết tổ chức kỷ niệm ngày sinh của mình thì Bác không bằng lòng; nên đã không dám báo...

Hôm đó, đọc báo xong, Bác gọi các đồng chí trong Bộ Chính trị vào, Bác chỉ vào tờ báo Nhân dân để trên bàn và hỏi: "Nghị quyết này các chú bàn bao giờ mà tại sao không cho Bác biết? (Bác nói đại ý): tất cả các Nghị quyết của Đảng đều do Bộ Chính trị quyết định tập thể. Gần đây, Bác mệt, có một số cuộc họp không dự được. Đó là khuyết điểm của Bác. Khi đọc nghị quyết đăng trên báo, Bác tán thành nhiều điểm. Chỉ có việc riêng của Bác, Bác không đồng ý.

Ai cũng biết Bác là Chủ tịch Đảng ta. Đọc nghị quyết này, người ta sẽ nghĩ rằng Bác chủ trì phiên họp Bộ Chính trị để bàn việc tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của mình cho linh đình. Thế là không đúng..."

Bác ngừng một lúc, giở tờ báo, chỉ tay vào một đoạn trong nghị quyết và nói: Lênin là bậc thầy của cách mạng thế giới. Bác chỉ là học trò của Lênin? Sao các chú lại đặt việc riêng của Bác ngang với những việc lớn của Đảng và Nhà nước?

Bác lại chỉ tay vào một đoạn nữa trong nghị quyết và hỏi các đồng chí trong Bộ Chính trị: Sao các chú cho in sách của Bác nhiều thế? Bây giờ nước nhà còn thiếu thốn, sách học, giấy học cho các cháu còn thiếu, thế mà sách báo của ta, kể cả sách của Bác, thì in lu bù. Nên bớt đi, cái gì cần lắm hãy in, để giấy cho các cháu học...

Từ một nghị quyết của Bộ Chính trị, Bác chỉ ra nhiều bài học rất thấm thía.

Bác rất khiêm tốn, không muốn đề cao cá nhân mình, lúc nào Người cũng chỉ nhận mình là học trò của Lênin vĩ đại. Mỗi việc làm của Bác đều vì dân vì nước.

Ngay cả đến khi sắp từ biệt thế giới này, Bác vẫn còn căn dặn: "Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân".

Nhớ Bác, chúng ta nhớ những lời Bác dạy: ...Mọi chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều phải xuất phát từ điều kiện thực tế của đất nước, và bao giờ cũng phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.

(Câu chuyện do đồng chí Lê Văn Lương, nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, BCH TW Đảng kể lại. "Bác Hồ sống mãi với chúng ta-NXB.CTQG-Hà Nội).

Ảnh: Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đ/c Lê Duẩn Bí Thư Thứ Nhất BCH TW Đảng.

Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHIẾN TRƯỜNG MÁU VÀ HOA!

      Chiến trường K: Trận đánh nghẹt thở giải vây cho một đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam

Tháng 3/1979, D7, E209, F7 truy quét Khmer Đỏ ở vùng núi Lovea, tỉnh Kampong Speu, Campuchia. Từ sáng, 2 trung đội của đại đội 1 bị địch bao vây. Họ đành nằm đó đánh cầm cự.


♦️ Đơn vị bạn bị bao vây

Chúng tôi cùng trung đội còn lại của C1 được lệnh quay lại, đánh vào sườn và từ phía sau địch để "cứu bồ".

Trước mặt toàn tre gai và thốt nốt, lác đác có những khóm cây gỗ dầu và dây leo. Thỉnh thoảng có những khoảng trống nhỏ đan xen trên đường đi. Phía trước, đại đội 1 vẫn đang nổ súng. Anh em cầm cự rất chắc chắn, nấp sau những gốc cây ụ mối, bờ tre, bám địa hình thực tế mà đánh.

Lính đại đội 1 đã biết tin chúng tôi đang trên đường đánh giải tỏa nên họ cũng ít nổ súng, chỉ khi nào thật sự cần thiết mới bắn trả địch.

Đội hình đại đội 2 dàn hàng ngang, lặng lẽ tiến về phía địch. Lệnh của C trưởng Hồng:

- Chỉ nổ súng khi thấy thật cần thiết, cố gắng bám địch thật gần.

Tôi chạy truyền lệnh. Đội hình đại đội 2 lúc này đã tản rộng ra, bóng áo xanh lính mình thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện sau những hàng cây, bụi tre rậm.

Trung đội 1 của anh Thắng đi bên trái đội hình chạm địch trước. Anh em nổ súng rộ lên. Thằng Chuyển người Hà Nam Ninh, bé con con, ôm khẩu trung liên xổ hàng tràng dài. Nó là người phát hiện ra địch trước tiên.

Chỉ lát sau, tiếng súng toàn đại đội đều cùng nổ. "Ập oành" tiếng B40 nổ liên tiếp mấy trái liền. Khẩu đội đại liên đi kẹp giữa trung đội 1 vội vàng giá súng.

Sau khi phát hiện ra chúng tôi đã vượt trảng, địch vội tổ chức đánh trả. Chúng bị đánh từ sườn và từ phía sau lưng lại, trước mặt thì có anh em đại đội 1, nên chúng bị kẹp giữa.

Ngay tức khắc, hỏa lực địch giã đạn cối 82 ly vào đội hình vận động của chúng tôi. Tiếng đạn cối rít trên đỉnh đầu làm lính đại đội 2 nhảy vào ôm gốc cây hết. Đội hình đại đội tản rộng nên hiệu quả của đạn cối cũng bằng không.

Địch quay khẩu đại liên bắn về phía trung đội 1 điên cuồng, đạn nổ nhức tai. Anh Hồng bảo tôi :

- Em qua trung đội của C1 thúc bên phải lên đi. Bám sát đẩy hướng đó lên, bên này không lên nổi đâu.

Tôi lại chạy về bên trung đội của đại đội 1 thúc anh em lên. Chẳng biết b trưởng là ai, cứ thấy mặt ai già dặn một chút là truyền lệnh.

Cứ nhìn quân trang là dễ nhận nhất, lính cũ quần áo Quân khu 7, vải xanh dày hoặc màu mắm tôm, còn lính mới thì quần áo xanh rì, vải kaki Nam Định. Vớ được anh nào tôi thúc anh đó:

- Anh em lên đi. Bám sát chi viện cho nhau.

Họ phải lên thì mới chia lửa cho anh em đại đội 2 của tôi được. Tôi bám chặt xạ thủ vác khẩu B41, đảo mắt nhìn đằng trước đằng sau, xem còn sót ai phía dưới không.

Cái anh vác B41 cứ lệt bệt chạy, có lẽ do mang nặng quá chạy cũng khó mà nhanh được. Bên kia, anh em đã chạm địch.

Nhóm nhỏ của địch cũng vòng qua hướng này chặn chúng tôi. Hai bên nổ súng vào nhau ở cự ly rất gần. Tôi kịp nấp sau gốc cây, nằm lại chờ xạ thủ vác B41 chạy tới. Thấy nó thở hồng hộc, tôi bảo:

- Mày đưa B41 đây cho tao.

- Thế tao dùng súng gì?

Nó hỏi lại tôi như vậy. Tôi đưa súng AK của tôi cho nó, giật lấy khẩu B41.

- Mày bò theo tao nhé, nhớ chú ý bảo vệ tao.


♦️ Giải cứu thành công

Tôi và nó bò sâu vào trong phum. Số anh em sang trước cũng đã nằm lại đánh nhau với bọn địch trước mặt. Tôi vừa bò vừa tìm mục tiêu. Vào sâu vào trong khoảng 30m, tôi phát hiện có địch sau bụi tre gai dày trước mặt. Chúng nhỏm đầu lên trên gốc tre bắn ra, lố nhố hai ba thằng.

Tôi vác súng lên vai ngắm về hướng đó. Nhóm địch xuất hiện kia rồi! Tôi bóp cò. "Ùng – Uỳnh!".

Sau 2 tiếng nổ liên tiếp, tôi thấy chân trái mình nóng rực. Chẳng cần biết gì nữa, tôi quăng súng qua một bên nhìn lại cái chân.

Thì ra mải tìm ngắm mục tiêu, vội vàng bóp cò súng, tôi để lửa đuôi súng B41 phụt vào chân nên bị bỏng. Cũng không có gì nặng, chỉ thấy cháy rát ngoài da chân.

Xạ thủ B41 đi cùng đỡ súng, lắp vội quả đạn nữa, hỏi tôi:

- Tao bắn nữa nhé!

Trời đất ơi, đánh nhau với Pốt, ai khống chế phải bắn bao nhiêu đâu mà còn phải hỏi. Năm bảy quả cũng được, ai nói gì đâu. Của nợ này!

Khẩu B41 bồi luôn quả nữa. Tôi đang đau chân cũng phải bò thật nhanh tìm chỗ khác mà nấp. Ở gần ông ấm ớ này có ngày chết oan. Nó là lính mới vào, ngây ngô quá!

Nó bắn xong, quay sang tôi nhe răng cười. Bây giờ tôi mới để ý tới nó, thằng này bị vẩu răng, tên Cường và sau này tôi gọi nó Cường Vẩu. Tên xấu vậy nhưng nó không giận tôi. Lính là vậy, ai mà chẳng có biệt hiệu. Đó cũng là kỷ niệm đẹp về nhau của những người lính chiến.

Sau trái đạn B41 của chúng tôi, anh em đại đội 1 lợi dụng lúc địch bị choáng váng bất ngờ, chưa kịp hoàn hồn, ào ào vận động xung phong một lượt. Chân chạy, mồm lính hò hét ầm ỹ. Bìa phum vang tiếng hô xung phong áp đảo.

Cũng nhờ mấy ông to mồm này mà anh em đại đội 1 bên trong biết chúng tôi đang đánh vào nên không bị bắn nhầm.

Bên đại đội 2 cũng nổ súng rất mạnh. Đạn B40, B41 nổ liên tục ở cự ly rất gần nên hai tiếng nổ gần như chập một. Tiếng súng lúc rộ lên, lắng xuống, rồi lại rộ lên. Chân đau bỏng rát, nóng rừng rực nhưng tôi vẫn lết theo anh em, song không thể chạy nhanh được.

Anh em đại đội 1 bị vây bên trong vận động lên gặp chúng tôi. Một người ôm AK lom khom chạy lên, mắt nhớn nhác bảo tôi:

- Khi nãy địch ở đây, chúng nó đông lắm.

- Chúng nó chạy hết rồi.

Tôi nói vậy rồi đi theo đội hình vào sâu bên trong. Đại đội 1, đại đội 2 cùng đại đội 7 đều tập kết được đến đây. Các phân đội lạc nhau đã tập hợp được về một mối.

Chúng tôi đã đánh bật được đám địch đeo bám đại đội 1 từ sáng đến giờ. Chúng bỏ chạy thục mạng về hướng núi Lovea.

Tác giả Lê Thanh Hiếu - Nguyên chiến sỹ Đại đội 2, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 209, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4, chiến đấu trong Chiến tranh Biên giới Tây Nam./.

Yêu nước ST.

 

Phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam

 theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong 5 năm tới; xác định phương hướng, mục tiêu của đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Một trong những điểm nhấn rất quan trọng của Đại hội XIII là đề ra các quan điểm, chủ trương mới về phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước ta cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc.

Đại hội XIII xác định lộ trình với các mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây chính là khát vọng và tầm nhìn của Đảng và Nhân dân ta trong thời đại mới. Để thực hiện được khát vọng và tầm nhìn ấy,

Đại hội XIII xác định: ”Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(1). Khơi dậy động lực tinh thần to lớn, vô song của dân tộc, con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, xây dựng đất nước phồn vinh hạnh phúc; khơi dậy và phát huy giá trị văn hóa, tài năng, trí tuệ, phẩm chất đạo đức, sức mạnh của con người Việt Nam là trung tâm, là mục tiêu, là nguồn lực nội sinh, là động lực quan trọng nhất để đạt tới các mục tiêu của phát triển đất nước. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tính cộng đồng, ý chí tự cường, tự hào dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, dân tộc cường thịnh, trường tồn là một phương hướng cơ bản đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tất cả các cấp, các ngành phải quán triệt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chứ không phải chỉ đối với riêng ngành văn hóa. Nếu như trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, khát vọng độc lập, tự do, tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” là động lực tinh thần to lớn đưa Nhân dân ta nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do, thì ngày nay, khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc cần và phải là động lực tinh thần to lớn đưa Nhân dân ta xây dựng thành công một nước Việt Nam phát triển hiện đại “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc ngày nay cũng chính là mong muốn, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi như Người đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2).

Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước

Đại hội XIII xác định: “Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”(3). Điều đó, đòi hỏi phải ra sức kế thừa và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và con người Việt Nam đã được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống... Các giá trị và sức mạnh đó của văn hóa và con người Việt Nam đã làm nên nền tảng tinh thần vững chắc của dân tộc ta; trở thành sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng của phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, chúng ta cần tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII chỉ rõ: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”(4).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu cần nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Cần quan tâm bảo vệ, khai thác và phát huy cao nhất các giá trị tốt đẹp, bền vững của văn hóa, con người và gia đình Việt Nam. Có kế hoạch, cơ chế và giải pháp nhằm xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc với việc xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử, cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc cho mọi người Việt Nam, đặc biệt là cho thế hệ trẻ. Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh. Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Khuyến khích các tìm tòi mới trong sáng tạo văn hóa, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước phồn vinh, hạnh phúc của mọi người Việt Nam. Làm cho văn hóa thấm sâu vào trong toàn bộ đời sống và các hoạt động xã hội; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. “Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(5).

Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực đột phá cho phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

Đại hội XIII khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(6). Phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào việc phát huy tối đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Vì vậy, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định. Giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa dân tộc. Chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc của con người Việt Nam. Xây dựng, hoàn thiện các giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế...

Phát triển mạnh mẽ nền văn hóa và con người Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chúng ta đứng trước yêu cầu cấp thiết là phải bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng; đấu tranh chống các khuynh hướng đồng hóa, nô dịch về văn hóa. Đồng thời coi trọng việc tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học, giáo dục của nhân loại để xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiến kịp, tiến cùng thời đại.  

Đại hội XIII với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, lần đầu tiên đã nêu lên yêu cầu: “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam”(7) . Phải chăng đó là tâm lý tiểu nông, là bệnh tùy tiện, là tính ỷ lại, dựa dẫm, tính đố kỵ, thiếu kỹ năng hợp tác, thiếu ý thức tôn trọng pháp luật?,... Mặt hạn chế của con người Việt Nam cần phải được nhận biết, cần phải được phê bình, tự phê bình nghiêm khắc, cần phải được sửa chữa, khắc phục, để cho dân giàu, nước mạnh.

Con người Việt Nam là sự kết tinh của nền văn hóa Việt Nam. Vì vậy quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng chính là quá trình phát huy tối đa nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người - khâu trung tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa, phát triển bền vững đất nước. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người phát triển toàn diện; phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam. Trong xây dựng con người, trọng tâm là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách. Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, trở thành sức mạnh nội sinh, động lực đột phá cho phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

 

Lấy con người làm trung tâm của phát triển và con người được hưởng những thành quả của phát triển

Đại hội XIII xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế”(8). Xây dựng đất nước Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh phải lấy con người, lấy Nhân dân làm trung tâm của mọi quá trình và chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, an ninh... Cần thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hóa đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh. Bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của Nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm, thu nhập... Không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân. Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội đa dạng, đa tầng, linh hoạt, bao trùm, toàn diện nhất là đối với người nghèo, người yếu thế trong xã hội, quan tâm đến mọi người dân để “không ai bị bỏ lại phía sau” của quá trình phát triển. Tǎng đầu tư cho phát triển sự nghiệp phát triển vǎn hóa và con người; đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Hoàn thiện và bổ sung các cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa... đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội cho Nhân dân.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của Nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa và sự đồng thuận trong xã hội; tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, kỷ luật công chức, công vụ. “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước ... Có cơ chế giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo, động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế và quản lý phát triển xã hội. Bảo đảm công khai, minh bạch thông tin, quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của mọi tầng lớp nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở” (9). Thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đảng ta là Đảng cầm quyền, là hiện thân của trí tuệ, danh dự, đạo đức và văn minh của dân tộc. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam phụ thuộc vào việc nâng tầm lãnh đạo của Đảng về trí tuệ, nâng cao đạo đức cách mạng của Đảng. Đại hội XIII xác định, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và ngoài xã hội. Văn kiện Đại hội XIII cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, cần phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức và phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân. Thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng toàn diện gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành dân chủ sâu rộng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội, tạo điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”... đây là những chỉ lối quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lập nên những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam thời đại mới./.ST

 

Sợ trách nhiệm trong chống dịch là biểu hiện của suy thoái

Hội nghị Trung ương 4 đang diễn ra nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân.

Bởi lẽ, một trong những nội dung cơ bản được hội nghị bàn thảo lần này chính là tiếp tục xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Quan tâm là bởi trước hội nghị vài ngày, Trung ương kỷ luật nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có 9 tướng lĩnh cấp cao của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển. Điều này tiếp tục khẳng định công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn đang được tiếp tục, không có vùng cấm.

Quan tâm là bởi, trong giai đoạn chống dịch như chống giặc vẫn có những nguy cơ cho mầm mống tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt là những nguy cơ trục lợi trong sử dụng các nguồn lực chống dịch.

Trong bối cảnh hiện nay, phát triển kinh tế xã hội phải là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong phần phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường”.

Trong biểu hiện suy thoái, thì ngay trong công tác phòng chống dịch trong thời gian qua cũng đã có những hiện tượng khiến người dân bức xúc. Đơn cử như nhiều lãnh đạo ngành, địa phương đã quá thận trọng tới mức cứng nhắc, “co vòi”, không dám hành động vì sợ trách nhiệm.

Chủ trương thống nhất trong phòng chống dịch hiện nay là chuyển mục tiêu “không có COVID” sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”. Ấy thế nhưng, trong vấn đề mở cửa, đóng cửa vẫn còn tình trạng lãnh đạo địa phương, lãnh đạo ngành sợ trách nhiệm, nhiều cán bộ không dám làm, không sáng tạo và không dám linh hoạt. Điều đó ảnh hưởng tới nhu cầu, đời sống của nhân dân và cũng là nguồn cơn để nhiều thế lực thù địch lợi dụng bôi xấu, thông tin sai lệch về thành quả chống dịch tại Việt Nam.

Chỉnh đốn Đảng là ngăn chặn biểu hiện tha hóa, tiêu cực, tham nhũng dù là nhỏ nhất cũng phải xử lý nghiêm khắc. Chỉnh đốn Đảng cũng là tạo điều kiện để cán bộ Đảng viên phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Đây là những vấn đề không hề mâu thuẫn mà bổ trợ cho nhau, là việc làm thường xuyên, liên tục tạo niềm tin trong nhân dân để vượt qua giai đoạn rất khó khăn này. ST