“Thất bại là mẹ thành công” – bạn có đồng ý không? Mới nghe qua có vẻ vô lí vì thất bại là sự đối lập của thành công vậy tại sao lại là “mẹ” của thành công được? Thành công là trạng thái mà con người đạt được mục đích mà họ mong muốn. Còn thất bại thì ngược lại đó là khi chúng ta không đạt được điều mình muốn. Trong câu nói này ý chỉ rằng thất bại chính là tiền đề để tạo nên sự thành công. Khi bạn thất bại bạn sẽ có kinh nghiệm hơn về việc đó để rồi sau này có thể hạn chế được mặt tiêu cực và đạt được thành công. Sau thất bại bạn sẽ có động lực để vực dậy, sửa đổi mặt yếu kém. Cứ như thế thành công sẽ chào đón bạn. Các nhà khoa học đã phải thất bại rất nhiều trước khi có những phát minh có thể làm thay đổi cả thế giới. Nhưng nếu khi bạn thất bại mà chán nản, bỏ cuộc để rồi bạn sẽ không bao giờ đạt được thành công mà bạn mong muốn. Chúng ta cần có ý thức, nghị lực để khắc phục thất bại và biến nó thành thành công. Thất bại chưa là dấu chấm hết, nó thực sự kết thúc là khi bạn không có nghị lực sống để giải quyết thất bại. Cánh cửa thành công luôn chào đón bạn, vậy tại sao bạn không tự đứng lên để Bắt Đầu.
Thứ Tư, 5 tháng 1, 2022
HIỂM HỌA TỪ PHÒ TÁ, THAM MƯU "RỞM"!
Một trong những nguyên nhân gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức đảng và trong nhân dân là do không ít quyết sách, chỉ thị, quy định, lời phát ngôn... của cán bộ hoặc cơ quan có thẩm quyền không phù hợp với thực tiễn, không “xứng tầm”, thậm chí là vô lý, gây cười.
Nguy hiểm hơn, khá nhiều người giữ cương vị lãnh đạo bị xử lý kỷ luật, thành tội phạm vì ký những văn bản có nội dung trái pháp luật. Dư luận thường chỉ phê phán, “ném đá” những cán bộ lãnh đạo này. Nhưng thực tế cũng có những sai sót, vi phạm do cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc trực tiếp gây ra mà người lãnh đạo không thể kiểm soát hết và phải chịu trách nhiệm.
1. Những năm qua, đặc biệt trong thời gian cao điểm, cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, dư luận rất bức xúc trước việc một số địa phương, bộ, ngành thi thoảng lại ban hành các quy định “trên trời” vì không khoa học, kém hiệu quả, thiếu tính khả thi, thậm chí trái với văn bản của cấp trên...
Tình trạng các văn bản “đá nhau”, “sáng ban hành, chiều bãi bỏ” không chỉ làm mất uy tín của người ký ban hành và cơ quan ban hành, mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta.
Bên cạnh đó là một số cán bộ lãnh đạo có lời phát biểu hoặc bài viết đăng trên sách, báo, tạp chí chưa thực sự “xứng tầm”, thậm chí có chỗ copy nguyên xi của người khác, nói hớ, viết sơ hở. Một vài cán bộ đã giải thích “lỗi từ nhân viên đánh máy”, nhưng càng khiến dư luận bức xúc vì cho rằng, cán bộ đổ lỗi cho nhân viên để trốn tránh trách nhiệm.
Tuy nhiên, thực tế đúng là có tình trạng cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp thủ trưởng soạn văn bản, chuẩn bị dự thảo văn bản, bài viết, bài phát biểu thiếu chặt chẽ, không đủ tầm để chuẩn bị tốt nội dung; thủ trưởng thì không đủ thời gian hoặc không thể hiểu sâu về tất cả lĩnh vực nghiệp vụ để phát hiện, chỉnh sửa hết những chỗ sai sót.
Đó là chưa kể còn có hiện tượng một số trợ lý được thủ trưởng giao góp ý dự thảo bài viết, bài phát biểu do cơ quan chuyên môn chuẩn bị nhưng lại không đọc kỹ, không hiểu sâu mà lại "thích chỉnh sửa để thể hiện mình giỏi", dẫn đến sửa không phù hợp, đúng thành sai, làm hỏng cả bài viết mà thủ trưởng cũng không thể kiểm soát hết được. Ngôn từ phát ra thì người ta chỉ khen-chê người đăng đàn phát biểu, người đứng tên tác giả, đâu cần biết ai là người giúp chuẩn bị, chỉnh sửa nội dung!
2. Bên cạnh một số cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc do hạn chế về trình độ, năng lực dẫn đến sai sót khi soạn thảo văn bản, chuẩn bị bài viết, bài phát biểu cho thủ trưởng, thì còn có hiện tượng tham mưu nhưng “mưu ít, tham nhiều”, rỉ rả ngày này qua ngày khác hướng lái thủ trưởng nhận thức thiếu chuẩn mực về một số vấn đề xã hội hoặc ngay chính công việc, con người mình phụ trách.
Người phò tá, tham mưu phẩm chất không trong sáng, vụ lợi thường dễ bị mua chuộc, lôi kéo, cố tình gài lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm vào các văn bản liên quan đến chế độ, chính sách, quyết định các vấn đề về tài chính, ngân sách như mua bán tài sản công, đấu thầu...
Đây là vấn đề nhức nhối, rất đáng báo động. Bởi thực tế không nhiều thủ trưởng, người chủ tài khoản nắm chắc, hiểu sâu về quản lý kinh tế, ngân sách, nhất là các nguyên tắc, thủ tục, danh mục thu-chi tài chính (do không được đào tạo chuyên sâu). Ngay cả những thủ trưởng nắm chắc nội dung này thì cũng không đủ thời gian để nghiên cứu kỹ hàng chục, hàng trăm văn bản dày cộp mỗi ngày bởi còn phải làm rất nhiều việc khác. Nên có tình trạng cán bộ, cơ quan tham mưu, trợ lý trình gì thì thủ trưởng chỉ xem lướt rồi tin tưởng ký vào, trừ những văn bản quan trọng.
Lại cũng có không ít trợ lý, người giúp việc mượn danh, núp bóng thủ trưởng để gạ gẫm cơ sở và cán bộ, nhân viên cấp dưới. Thường những người này trước thủ trưởng thì "đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên", tỏ ra ngoan ngoãn, lễ phép, nhưng sau lưng thủ trưởng thì ngược lại. Dù thủ trưởng không chỉ đạo gì nhưng có trợ lý, người giúp việc lại cố tình “gây khó để có phong bì”, mượn uy thủ trưởng để vụ lợi, sách nhiễu. Kiểu “cáo mượn oai hùm” này vô cùng nguy hại vì nó làm cho cấp cơ sở và quần chúng nhân dân mất niềm tin vào cán bộ lãnh đạo, sâu xa hơn là mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước vì nhiều người tưởng các thủ trưởng chỉ đạo làm như vậy!
3. Theo từ điển tiếng Việt, tham mưu nghĩa là hiến kế, kiến nghị, đề xuất, đưa ra các ý tưởng độc đáo, sáng tạo, có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho thủ trưởng trong việc đặt ra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị nhằm đạt kết quả cao nhất; còn trợ lý là người giúp việc trực tiếp cho một người ở chức vụ cao hoặc trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó.
Như vậy, vai trò của cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, trợ lý giúp việc là vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc của tất cả các tổ chức. Những người làm nhiệm vụ này rất gần gũi với thủ trưởng và được thủ trưởng tin cậy, giao cho các công việc quan trọng, liên quan tới cả tổ chức, nhiều người.
Cổ nhân đã đúc rút “Thần thiêng nhờ bộ hạ”, nghĩa là đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc vừa giỏi vừa tâm đức là nhân tố rất quan trọng, quyết định đến thành công của người lãnh đạo. Bất kể thủ trưởng nào, dù tài giỏi đến mấy cũng không thể hiểu sâu kỹ được tất cả lĩnh vực, không thể tự làm hết được mọi công việc.
Do đó, mỗi cơ quan, đơn vị muốn thành công, ngoài tâm và tầm của người lãnh đạo thì phải có đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, giúp người lãnh đạo đưa ra những chủ trương, quyết định đúng đắn, hạn chế tối đa sai sót, khuyết điểm. Chính vì vậy, việc lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc là đặc biệt quan trọng.
Song, đáng tiếc là vẫn có những thủ trưởng và cơ quan, đơn vị chưa thực sự coi trọng việc này, vẫn còn tình trạng ưu tiên người thân quen, chọn người cùng phe nhóm, “cánh hẩu”, biết chiều ý thủ trưởng theo kiểu tuyệt đối phục tùng, sẵn sàng cung phụng, phục vụ mọi nhu cầu cá nhân mà không cần biết đúng-sai. Chính vì thế mới dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại. "Thần suy cũng vì bộ hạ" và sử sách đã "bêu gương" không ít bậc vua chúa vì chọn dùng gian thần mà thân bại, danh liệt.
Cần nhận thức đúng đắn rằng, cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc cũng là phục vụ thủ trưởng, nhưng là dùng tri thức, chất xám và toàn tâm toàn ý phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của thủ trưởng, hoàn toàn khác với việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày; do đó, phải chú trọng lựa chọn những người có đủ tâm và tầm, nhất là người dám nói, dám phản biện như Đảng ta đang khuyến khích. Nhất là, trong thời đại công nghệ số, thế giới “phẳng” như hiện nay, chỉ cần một sai lầm, sơ hở nhỏ của tổ chức, của người lãnh đạo cũng sẽ lan nhanh khắp nơi, làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của tổ chức, cá nhân mắc sai lầm, khuyết điểm.
Thiết nghĩ, việc tuyển chọn và sử dụng người phò tá, tham mưu rất cần ghi nhớ bài học của người xưa "Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao cam như di", với ý nghĩa là: Người quân tử đối đãi với nhau như nước trắng, không mặn, không ngọt; rất thật lòng, không vì yêu mà nói thành tốt, không vì ghét mà nói thành xấu, không nói những lời bạn thích nghe mà phải nói những lời bạn cần nghe. Kẻ tiểu nhân đối xử lúc nào cũng ngọt ngào như rượu nồng. Nước tuy nhạt nhưng cần thiết để sống bền vững; còn rượu ngọt uống sẽ say, dễ lầm đường lạc lối, dẫn tới tuyệt giao, tai họa…
Yêu nước ST
Cờ bạc không đơn giản chỉ là trò đỏ đen
Sự phát triển mạnh như vũ bão của kinh tế đã mang đến nhiều cơ hội song cũng đặt ra nhiều thách thức cho đất nước. Nhu cầu của con người ngày càng cao tệ nạn xã hội cũng ngày càng gia tăng. Cờ bạc là một “con sâu đục khoét” những ai sa vào tệ nạn này. Nó để lại nhiều hậu quả xấu nếu như không sớm thoát khỏi ma lực của tệ nạn này.
Theo cách hiểu thông thường thì cờ bạc chính là
những may rủi trong tiền bạc, là một cách kiếm tiền ăn may, nhưng không phải
kiếm tiền bằng chính công sức, mồ hôi và nước mắt mà chỉ là bằng vận may của
mình. Cờ bạc còn được xem là một trò chơi kích thích, gây nghiện, những ai dính
vào tệ nạn này đều bị sức hút của nó mê hoặc. Tệ nạn cờ bạc hiện nay diễn ra
rất nhiều nơi, nhiều khu vực rất khó kiểm soát. Từ việc chơi những canh bạc nhỏ
sẽ dẫn đến những canh bạc lớn, vận may lớn thì cũng có những xui xẻo lớn. Cờ
bạc là một “con bài ăn may” nên chúng ta không thể lường trước được điều gì xảy
ra.
Cờ bạc được diễn ra dưới nhiều hình thức như:
đánh lô, đánh đề, tổ tôm, cá độ đá banh…Dù dưới hình thức nào thì nó cũng chỉ
dựa vào vận may để “chờ” tiền vào túi. Những ai một khi đã sa vào tệ nạn này
thì rất khó có thể dứt bỏ, bởi cờ bạc có chất gây nghiện khó cưỡng chế lạ.
Trong xã hội Việt Nam thì cờ bạc chính là một
hành vi vi phạm pháp luật, cần nghiêm cấm và có những hình phạt thích đáng cho
những ngày vi phạm nó. Tuy nhiên hình thức cờ bạc hiện nay được diễn ra không
công khai, rất bí mật. Thực ra cờ bạc lúc đầu người ta chỉ xem như một thú vui
giải trí bình thường, chơi cược với nhau một ván bài mấy chục nghìn, dần dần
cao hứng lên thì chơi tiền trăm, sau đó tiền triệu…
Những đất nước đang phát triển như Việt Nam thì
tệ nạn cờ bạc diễn ra rất nhiều, vì chúng ta chỉ mới ở ngưỡng phát triển, phải
trải qua nhiều thử thách, nhiều cạm bẫy và cám dỗ, nếu không vượt qua được sẽ
sa lưới.
Tệ nạn cờ bạc không chỉ diễn ra ở một độ tuổi
nhất đinh, một vùng miền nhất định. Nó diễn ra ở nhiều độ tuổi, nhiều vùng miền
với nhiều mức độ khác nhau. Ở Việt Nam có thể nói tỉ lệ dễ sa vào cờ bạc nhất
chính là những trẻ vị thanh niên. Cũng bởi vì các em còn trẻ, dễ sa đọa, dễ bị
dụ dỗ nên tệ nạn cờ bạc vào là điều bình thường.
Tệ nạn cờ bạc dẫn đến rất nhiều hậu quả mà
không có “con bạc” nào có thể lường trước được. Không ít gia đình đã bị li tán
do nợ nần chồng chất, chạy nợ, trốn nợ. Hình ảnh mẹ già con thơ nheo nhóc chỉ
vì ba của nó chơi bài, chơi cá độ thua sạch tiền, bán cả nhà, bán cả đất vẫn
không đủ trả nợ. Đối với những người trẻ thì tệ nạn cờ bạc sẽ phá hủy cả một
con người, phá hủy tuổi trẻ và những ước mơ còn dang dở. Thử nghĩ mà xem nếu
trẻ sa vào những canh bạc thì thời gian dành cho nó nhiều hơn dành cho những
việc có ích khác.
Tệ nạn cờ bạc là một mối hiểm họa cho cả xã
hội, không phải là chuyện của riêng ai. Vì vậy, các cơ quan địa phương có liên
quan cần thiết phải có biện pháp phòng chống, hạn chế để có thể mang lại một
môi trường sống lành mạnh hơn. Người trẻ chúng ta cần nên biết được việc gì nên
làm, việc gì không nên để có thể trở thành người công dân tốt cho xã hội.
Cần cù chăm chỉ - đức tính cần phát huy
Chúng ta thường nói: thiên tài chỉ là 1%, còn 99% là mồ hôi và nước mắt. Đúng vậy, để có được thành công trong bất kì lĩnh vực nào trong cuộc sống, trong nghiên cứu khoa học,… con người cần có sự cố gắng, nỗ lực lao động rất nhiều. Không có sự thành công nào lại đến với chúng ta một cách dễ dàng. Vì thế ông cha ta ngày xua có câu: “Kiến tha lâu đầy tổ” để đề cao đức tính chăm chỉ của con người.
Trước hết ta hãy tìm hiểu ý nghĩ của câu: ”Kiến tha lâu đầy tổ”. “Kiến” là một loài vật tuy nhỏ bé nhưng rất chăm chỉ, chịu khó. Ở đây có ý chỉ những người cần cù, siêng năng. “Tổ” ở đây muốn chỉ thành quả mà ta đạt được. Ý nghĩa của cả câu muốn nói: Trên con đường đi đến những thành công, đến với đỉnh cao vinh quang, thắng lợi,… thì không thể có những kẻ lười biếng đi được đến đích; mà chỉ có những con người luôn chăm chỉ học tập, lao động để vượt qua mọi khó khăn thử thách, những chông gai trên đường đi,… mới đạt được những gì mình mong muốn. Câu nói rất đúng đắn, sâu sắc khuyên răn con người, ở bất kì lứa tuổi nào, thời đại nào phải nỗ lực lao động, cố gắng hết sức mình để đạt được thành công, niềm vui và hạnh phúc trong công việc cũng như cuộc sống.
Lòng đố kị - Tật xấu nên thay đổi theo hướng tích cực
Trong đời sống, ta thường thấy một hiện tượng xấu là lòng đố kị. Thấy ai có chút thành tích, kẻ đố kị cảm thấy khó chịu, đau khổ như mình bị mất mát điều gì, tiếp đó nảy sinh những phản ứng bệnh hoạn.
Trong lớp, một học sinh có thành tích học tập giỏi, người có tính đố kị sẽ nói bóng gió là bạn ấy khéo làm thân với các thầy, các cô. Thấy bạn có bộ đồ mới hợp thời trang, người đố kị tìm cách dìm, bảo: “Báu gì, hành thùng ấy mà!”. Thấy một đôi vợ chồng đẹp đôi, hạnh phúc, kẻ đố kị liền nói độc miệng: “Rồi xem, được bao lâu!”.
Ca nhiễm Covid tối 5-1: Cả nước thêm 17.017 ca mắc mới; Hà Nội F0 vẫn leo thang
Ngày 5-1, cả nước thêm 17.017 ca Covid-19 tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó có 12.299 ca trong cộng đồng; 22.662 bệnh nhân được công bố khỏi bệnh; 230 ca tử vong do Covid-19. Trong ngày hôm nay, Hà Nội vẫn dẫn đầu cả nước về số ca mắc mới.
ĐẠO ĐỨC LÀ “CÁI GỐC” CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG!
Sinh thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức, nhất là đạo đức của người cách
mạng. Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Người khẳng định: Đạo đức là cái gốc
của người cách mạng. Như vậy, theo Bác, đạo đức chính là gốc. Nếu gốc vững, thì
con người dễ dàng phát huy tài trí, tự làm sáng bản thân và trở thành con người
có ích cho xã hội. Nếu gốc ấy không vững, thì con người dễ dàng ngả nghiêng, sa
ngã, “lòng dạ không còn trong sáng nữa”. Và khi đó, con người đó sẽ tự làm xấu
chính mình và làm hại người khác. Là cán bộ, đảng viên đạo đức càng quan trọng
hơn. Vì vậy lời dạy của Bác mãi là ngọn đuốc soi đường, luôn là những chân giá
trị cao quý nhất là đối với người cán bộ, đảng viên.
Phải thấy rằng, công
tác xây dựng Đảng về đạo đức những năm qua và hiện nay được thúc đẩy mạnh mẽ
khi toàn Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách của Người. Nhiều tấm gương, điển hình của cán bộ, đảng viên được tôn vinh
góp phần quan trọng xây dựng Đảng, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Tuy nhiên,
vẫn còn cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng đạo đức, lối sống để xảy ra những vi
phạm nghiêm trọng gây dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, chính
quyền và hình ảnh của người cán bộ, đảng viên.
Theo thông báo của Ủy
ban Kiểm tra Trung ương, tại kỳ họp thứ chín, từ 29/11 đến 1/12, Ủy ban Kiểm
tra Trung ương nêu rõ ông Lê Hùng Sơn, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch
UBND huyện Cô Tô vi phạm Quy chế làm việc, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm nghiêm
trọng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm Quy định về những điều
đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương, quan hệ bất chính
với cán bộ thuộc quyền.
Sau kết luận này,
chính bản thân ông và những tập thể, cá nhân có liên quan phải chịu một hình
thức kỷ luật tương xứng với những vi phạm. Thật tiếc cho một cán bộ 39 tuổi,
Tiến sĩ Quản lý kinh tế trước khi làm Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch huyện, ông từng
làm Phó bí thư, rồi Bí thư Tỉnh đoàn nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện vi phạm
đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên. Ông đã đánh mất “cái gốc” của
người cách mạng. Ông không xứng đánh là kiểu mẫu cán bộ trong công tác và lối
sống cho quần chúng noi theo.
Hiện nay, việc rèn
luyện và tu dưỡng đạo đức đối với cán bộ, đảng viên trở nên cần thiết. Trong
phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh, xây dựng văn hóa Đảng, Đại hội XIII của Đảng xác định: xây dựng Đảng về
đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao
năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Kinh tế thị trường
ngày càng phát triển, những cám dỗ vật chất và tinh thần từ cuộc sống tác động
rất mạnh mẽ vào nhận thức và hành động, nếu không luôn luôn rèn luyện và tu
dưỡng đạo đức, lối sống cán bộ, đảng viên sẽ nhanh chóng xa rời mục tiêu phụng
sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, sa vào chủ nghĩa cá nhân, làm mất lòng tin của
quần chúng, mất uy tín của Đảng, làm yếu đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước.
Đạo đức cách mạng
không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày
mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện
càng trong.
KHÔNG GIAN MẠNG KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG CHIA RẼ ĐOÀN KẾT QUỐC TÊ
Thời đại bùng nổ công
nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông ngày càng trở thành phương tiện
hữu ích đối với đời sống con người. Không chỉ góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tự
do ngôn luận, các phương tiện truyền thông hiện đại nói chung, mạng xã hội nói
riêng còn giúp các quốc gia trên thế giới thêm hiểu và ngày càng xích lại gần
nhau hơn. Thế nhưng thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi
dụng những ưu thế của mạng xã hội để gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên
tạc, cổ xúy cho tư tưởng phân biệt chủng tộc, kích động hận thù, phá hoại đoàn
kết quốc tế. Các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, phản
động lập ra hàng nghìn website, trang mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến...
để sử dụng như một công cụ chủ yếu tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt nhằm
kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa
Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Những vấn đề nhạy
cảm, phức tạp, những sự kiện “nóng” thu hút sự quan tâm của dư luận, như: dân
tộc, tôn giáo; Biển Đông; phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các quốc gia láng
giềng; ô nhiễm môi trường; phòng, chống tham nhũng,... được các thế lực thù
địch, phản động triệt để lợi dụng chống phá.
Những hành động đó đã vi
phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế. "Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị" năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí. Khoản 2, Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người
có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền
đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền
bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ
phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Tuy
nhiên, cần nhớ rằng những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối. Khoản 3, Điều
19 "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 ghi
rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo
những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể
phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong
pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh
quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội". Năm
1982, Việt Nam tham gia "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị". Từ đó đến nay, Việt Nam luôn quan tâm nội luật hóa các quy định của
công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia.
Ở Việt Nam, quyền tự do
ngôn luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25, Hiến pháp
năm 2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp
cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do
pháp luật quy định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1.
Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội
dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây
hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin
có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính
quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm
quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo
tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau,
chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc
thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương
thích với "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị".
Trên thế giới, không một
quốc gia nào dung túng, bao che cho những hành động sử dụng mạng xã hội làm
công cụ để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân
thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet trên cơ sở tuân thủ công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chính
phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức
quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phát triển internet và các
phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt Nam cũng làm hết sức mình để ngăn
chặn thông tin xấu độc, thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc
tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với các nước, các tổ chức quốc tế xây
dựng môi trường internet lành mạnh, an toàn, hữu ích ở Việt Nam và toàn
cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất
kỳ ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet để tán phát
những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích
động có thể gây căng thẳng, gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng
internet và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật./.
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Lợi
dụng internet, mạng xã hội và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc
phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi
đen hình ảnh của đất nước Việt Nam.
Hơn
35 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (từ
năm 1986 đến nay), nhìn tổng thể, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng
Cộng sản Việt Nam đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội-nhất là
sau cuộc khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông
Âu (1985-1991). Từ tình trạng một quốc gia kém phát triển, lương thực không đủ…
đến nay Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; sức
mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên: Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh
thổ được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng
được nâng cao.
Thế
nhưng lợi dụng internet, mạng xã hội (MXH) và những mặt tiêu cực trong xã hội
chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã
hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Về tình hình trong nước, họ
cường điệu những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, rằng “nền kinh tế Việt Nam
đang đứng bên bờ vực thẳm”. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng họ viết: Đó chỉ
là “cuộc đấu đá giữa nhóm tham nhũng mới với nhóm tham nhũng cũ”. Về chế độ xã
hội họ viết: Ở Việt Nam “các quyền của người, nhất là quyền tự do ngôn luận,
quyền “tự do internet, MXH” bị xâm phạm bởi Luật An ninh mạng…".
Tuy
nhiên, nhìn từ thực tiễn có thể thấy, từ khi được hoàn toàn giải phóng đến nay,
Việt Nam đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, do cả nguyên nhân khách quan
và chủ quan. Trong thời kỳ trước đổi mới (1975-1985), dân tộc Việt Nam đã phải
đấu tranh với cuộc bao vây cấm vận nghiệt ngã của Mỹ (từ năm 1975 đến năm
1994). Trong thời kỳ này, Mỹ đã cản trở các tổ chức tài chính quốc tế và các
nước cho Việt Nam vay tín dụng… Đến năm 1994, Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn
cấm vận Việt Nam và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7/1995. Cũng
trong thời kỳ 1975-1985, những sai lầm của mô hình xây dựng xã hội theo mô hình
chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu cũ khiến nền kinh tế đất nước trì trệ, đời sống
của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Là một quốc gia nông nghiệp, đất đai phì
nhiêu, người dân cần cù, sáng tạo thế nhưng ở nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng
thiếu đói. Còn nhớ thời kỳ này, trong khi vết thương chiến tranh chưa được hàn
gắn, thì dân tộc Việt Nam lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc.
Bước
sang thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), mở đầu là Đại hội VI (năm 1986),
dựa trên đổi mới tư duy lý luận-chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam
thực hiện đường lối chính sách xây dựng xã hội theo mô hình mới của CNXH. Về
chính trị, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mô hình này, các quyền bình đẳng về dân
sự và chính trị được bảo đảm (về phương diện pháp lý). Về kinh tế đó là nền
kinh tế thị trường, nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng… theo định hướng
XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn, là đối
tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Như vậy có
thể nói, trong mô hình mới của CNXH các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự,
kinh tế, xã hội và văn hóa đã được bảo đảm.
Nét
đặc sắc trong xây dựng xã hội theo mô hình mới của CHXH, đó là các quyền con
người, quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật cũng như trên thực tế. Hiến
pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định về đầy đủ về “Quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về quyền con
người tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền
con người, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào
văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và nội luật hóa các công ước quốc
tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa
qua đã sửa và xây dựng nhiều đạo luật mới. Đó là Luật Báo chí (năm 2016), Luật
Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của
những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và
quyền con người. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc
gia trong khu vực-từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc
tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10 quốc gia có nhiều người dùng
Facebook nhất thế giới” với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook
toàn cầu.
Trên
lĩnh vực kinh tế, hình ảnh đất nước, cuộc sống của nhân dân đã được nâng cao
đáng kể. Triển khai Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc
biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa… cho
đến nay các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: Điện, đường
giao thông, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và
vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu Thiên
niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Giai đoạn 1992-1998, tỷ lệ đói nghèo ở Việt
Nam bình quân mỗi năm giảm 2-3%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam
là 9,45%, vượt mục tiêu đề ra là 10%. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Định hướng
giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu giảm số hộ nghèo còn 4-5% vào năm
2020. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói
nghèo trong hơn một thập kỷ và là một trong những quốc gia đạt tốc độ giảm đói
nghèo nhanh nhất thế giới.
Về
cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói chưa nhiệm kỳ nào Đảng Cộng sản
Việt Nam triển khai một chiến lược bài bản, quy mô như hiện nay. Chủ trương của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh này là “không có vùng cấm”, “không
có ngoại lệ” và “phải làm đến cùng”; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Trong
quan hệ quốc tế, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao vượt bậc. Cho đến
nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia; Việt Nam
cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ, Nga, Trung
Quốc. Với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Trong thời
kỳ đổi mới Việt Nam tham gia vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức quốc tế
rộng lớn: 1) Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009;
2) thành viên Hội đồng Kinh tế-xã hội nhiệm kỳ 2016-2018; 3) Việt Nam được bầu
vào Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016)… Ngày 25-5-2018 vừa qua, trong
cuộc họp của Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc, các nước trong khu vực
đã nhất trí thông qua đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của nhóm vào vị
trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021-tại cuộc bầu
cử sẽ được tổ chức vào tháng 6-2019).
Là
thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia
vào lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. "Từ năm 2014, Việt Nam
đã cử các sĩ quan tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi và
ở Nam Sudan. Mới đây, ngày 25-6-2018, Cục Hỗ trợ thực địa Liên hợp quốc đã công
bố kết quả thanh sát địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại
các nước thuộc ASEAN, theo đó Việt Nam cùng với 3 nước là Campuchia, Indonesia,
Thái Lan được chọn làm địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình quốc tế luân phiên.
Việt Nam cũng đang nỗ lực để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam
Sudan”.
Đi
theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam
không chỉ đã giành được quyền con người mà còn có những đóng góp to lớn trên
lĩnh vực này từ tư tưởng lý luận cho đến thực tiễn. Công cuộc đổi mới, hội nhập
quốc tế là một thời kỳ phát triển vượt bậc của Việt Nam về các phương diện,
trong đó có quyền con người. Các quyền con người đều có những bước bảo đảm cao
hơn, vị thế của dân tộc, đất nước được nâng cao hơn; được cộng đồng quốc tế
trân trọng ghi nhận./.
Chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước
Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta.
Trước hết, các thế lực thù địch
đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo,
xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản
Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự
đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại
Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực
thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra
sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp
cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật,
lúc thì trắng trợn, công khai.
Chúng tổ chức xây dựng các tổ
chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như:
Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết
với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các
đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để
quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”,
lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp
lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau,
chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ
thống chính trị.
Trong giai đoạn hiện nay, tôn
giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu
mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng,
Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ
chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp. Bằng hình thức lôi kéo, cổ súy,
hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị
và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động
về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã
hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc
song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các
hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có
đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu,
vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn
khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các
vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát
triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn
giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống
phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.
Trong quá trình lãnh đạo, quản
lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền tự do, tín
ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về
đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện,
môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong
khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính sách
của Nhà nước ta.
Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ:
“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo được nhìn nhận là quyền tự nhiên của con người - tức đã là con người, ai
cũng được thụ hưởng, đó là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã
có quyền đó. Một điểm nữa để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo
được kết nạp Đảng.
Năm thắng lợi của ngoại giao đa phương
Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, ngoại giao đa phương đã để lại nhiều dấu ấn đặc biệt khi tham gia vào một loạt sự kiện đối ngoại quan trọng của nước nhà trong năm 2021.
Vài năm trở lại đây, ngoại giao đa phương của Việt Nam đã có
những bước phát triển vượt bậc khi tham gia vào một loạt sự kiện quốc tế quan
trọng như: Nước chủ nhà đăng cai Hội nghị Cấp cao APEC năm 2017, Hội nghị WEF
ASEAN năm 2018, Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên năm 2019, Chủ tịch
ASEAN, AIPA 2020, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA
LHQ) nhiệm kỳ 2020-2021.
Ngoài ra, còn nhiều hoạt động đa phương khác có sự tham gia của
các bộ, ngành. Đặc biệt, năm 2021 là năm thắng lợi của ngoại giao nước nhà khi
Việt Nam được bầu là thành viên của Ủy ban Thương mại quốc tế của LHQ
(UNCITRAL), ký được thỏa thuận xây dựng trụ sở của Tòa Trọng tài Thường trực
quốc tế (PCA) tại Việt Nam cũng như lần thứ hai có người được bầu là thành viên
của Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) của LHQ với số phiếu cao hơn lần trước.
Điều này chứng tỏ cộng đồng quốc tế ngày càng tin tưởng vào vai
trò của Việt Nam cũng như năng lực của cán bộ ngoại giao Việt Nam.
Những dấu ấn ngoại giao đa phương của Việt Nam khi tham gia vào
HĐBA được Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao kiêm Vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế Đỗ
Hùng Việt nhắc đến trước hết là Việt Nam có lập trường nguyên tắc dựa trên luật
pháp quốc tế, Hiến chương LHQ, luôn quan tâm đến lợi ích chính đáng và tiếng
nói của các bên liên quan, qua đó tạo dựng được ý kiến đồng thuận.
“Bên cạnh đó, Việt Nam đã thúc đẩy một loạt ưu tiên và hoàn
thành tương đối tốt. Chúng ta thúc đẩy để tăng cường vai trò, tiếng nói, sự
hiện diện của ASEAN tại LHQ. Ví dụ, khi bàn thảo về vấn đề Myanmar, Việt Nam
luôn mời đại diện của ASEAN tham gia phát biểu, chia sẻ quan điểm, đánh giá về
tình hình ở Myanmar. Đây là vấn đề rất mới, bởi bắt đầu từ năm 2020, ASEAN mới
hiện diện và đóng góp ý kiến tại HĐBA”, Trợ lý Bộ trưởng Đỗ Hùng Việt kể lại.
Đồng quan điểm trên, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, Thành viên Ủy ban
Luật pháp quốc tế, cho rằng lần đầu là Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, Việt
Nam trong giai đoạn khẳng định vị trí của mình. Ở nhiệm kỳ thứ hai, Việt Nam đã
chủ động trong nhiều vấn đề.
Theo Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, đóng góp lớn nhất của Việt Nam ở
HĐBA LHQ là thúc đẩy tiến trình xây dựng lực lượng Gìn giữ hòa bình LHQ. Việt
Nam cũng nói lên tiếng nói của các nước đang phát triển để giải quyết xung đột
ở những “điểm nóng” như Sudan, Ethiopia và một số nước khác. Lần đầu tiên Đại
hội đồng LHQ lấy ngày 27-12 là Ngày quốc tế phòng, chống dịch bệnh theo sáng
kiến của Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam và Đức còn đồng sáng kiến thành lập Câu
lạc bộ các nước về Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, với 112 nước tham gia.
“Tại HĐBA, Việt Nam tham gia giải quyết những xung đột ở châu
Phi, Trung Đông để làm gì, thu lợi được gì?”. Câu hỏi này được Vụ trưởng Đỗ
Hùng Việt giải đáp rằng, nhiệm vụ hàng đầu của nền ngoại giao Việt Nam chính là
tạo dựng môi trường hòa bình để phát triển.
Khi Việt Nam hội nhập, có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước
thành viên LHQ thì sự hiện diện, giao thương của Việt Nam đã ở khắp nơi trên
thế giới. Ở nơi nào có sự hiện diện của người dân, doanh nghiệp Việt Nam, ở đó
có lợi ích của Việt Nam.
Vì thế, khi tham gia vào HĐBA, dù đóng góp ít hay nhiều để mang
lại ổn định, hòa bình cho các nước, cũng là mang lại lợi ích trực tiếp cho
người dân Việt Nam. “Có thể chúng ta không nhìn thấy ngay lập tức, nhưng 5, 10,
thậm chí 15 năm sau, chúng ta mới thấy sự tham gia này quan trọng như thế nào”,
ông Việt nhấn mạnh.
Song, có những việc mà ngoại giao đa phương vừa làm đã mang lợi
ích tức thì. Khi dịch Covid-19 mới bùng phát, cơ chế đa phương gần như bị tê
liệt. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, các tổ chức chuyên môn, các cơ chế đa
phương từ khu vực như ASEAN cho đến liên khu vực như ASEM, APEC, G20 và các tổ
chức chuyên môn của LHQ như Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã có vai trò điều phối
rất quan trọng.
Điển hình là cơ chế COVAX do WHO, Liên minh Đổi mới sáng tạo sẵn
sàng ứng phó dịch bệnh (CEPI), Liên minh toàn cầu về vaccine và tiêm chủng
(GAVI) và Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) đồng sáng lập. Cơ chế này ngay khi thành
lập đã xác định mục tiêu cung cấp đủ lượng vaccine cho 20% dân số thế giới,
trong đó Việt Nam có thể tiếp nhận 39 triệu liều vaccine ngay từ đầu.
Vụ trưởng Đỗ Hùng Việt cho biết, những liều vaccine đầu tiên
tiêm cho người dân Việt Nam đến từ cơ chế COVAX. Cái khó của giai đoạn đầu là
khan hiếm nguồn cung, do đó công tác vận động càng phải quyết liệt. Nhân tố
quyết định chính là sự vào cuộc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước.
Một yếu tố rất quan trọng được COVAX tính đến khi cung cấp
vaccine cho Việt Nam chính là năng lực của hệ thống y tế trong việc triển khai
tiêm chủng.
“Chúng ta đã đi gom từng liều vaccine, có những lô vaccine cả
triệu liều, nhưng có lô chỉ 30.000 liều. Có lần, biết tin một quốc đảo nhỏ ở
Thái Bình Dương không tiêm hết vaccine trong thời gian ngắn nên Việt Nam đã đề
nghị WHO, COVAX chuyển số vaccine đó cho chúng ta. Chúng ta đã sẵn sàng tiếp
nhận và triển khai rất nhanh lượng vaccine đó”, Vụ trưởng Đỗ Hùng Việt nhớ lại.
Năm 2021 đã khép lại với những thành tựu nổi bật của ngoại giao
đa phương, góp phần quan trọng trong những dấu ấn nổi bật của ngành ngoại giao
nói chung. Khi Việt Nam kết thúc vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, Ủy viên không
thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, nhiệm vụ đặt ra đối với ngoại giao đa
phương ngày càng nặng nề hơn.
Hiện nay, Vụ Các tổ chức quốc tế-Bộ Ngoại giao đang xây dựng kế
hoạch để tiếp tục ứng cử vào vị trí lãnh đạo khác của LHQ. Ngoài việc ứng cử
vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, Việt Nam dự kiến sẽ ứng cử vào một
số cơ chế, tổ chức khác của LHQ, đồng thời tiếp nối sáng kiến, ưu tiên đã triển
khai; tăng cường tham gia xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, đặc biệt
là dịch bệnh và biến đổi khí hậu.
Vụ trưởng Đỗ Hùng Việt nhấn mạnh, đây là những lĩnh vực mà Việt
Nam có nhiều dư địa để phát huy vai trò hơn nữa trong thời gian tới.
Nguồn: Báo QĐND
Ứng xử nước lớn và vị thế Việt Nam
Ứng xử nước lớn và vị thế Việt Nam
Cạnh tranh nước lớn trong năm qua cho thấy giá trị địa chiến lược của ASEAN, của Việt Nam ngày càng tăng lên, có điều kiện để “chơi” được cả với Mỹ và Trung Quốc.
Ở phần 2 của cuộc trò chuyện đầu năm với Tuần Việt Nam, Đại sứ Phạm Quang Vinh đưa ra phân tích về ứng xử của Mỹ - Trung trước các vấn đề nóng cũng như cơ hội cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2022.
Theo ông, đâu là điểm nóng, là khúc mắc trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc tính đến thời điểm hiện tại?
Khúc mắc lớn nhất trong quan hệ 2 nước là cuộc đấu về ngôi vị và trật tự thế giới. Trong đó, mỗi bên đều mong muốn theo mô hình của mình. Đây là thách thức lớn bởi trật tự thế giới phụ thuộc vào việc ai nắm quyền chi phối.
Thứ hai là hệ giá trị giữa lúc hệ giá trị dân chủ nhân quyền và kinh tế thị trường của phương Tây đang bị xói mòn. Ba là quản trị các điểm nóng. Tôi cho rằng cạnh tranh Mỹ - Trung sẽ tập trung lớn nhất vào châu Á - Thái Bình Dương, trong đó câu chuyện về an ninh biển là chủ đạo.
Thứ nhất về Biển Đông, điểm lớn nhất mà người ta quan tâm là những hành vi cứng rắn của Trung Quốc trong áp đặt yêu sách đường lưỡi bò. Họ thực hiện việc này trên nhiều lĩnh vực, cả trên thực tế và về mặt luật pháp, ví dụ như luật Hải cảnh, luật Giao thông trên biển.
Mỹ và châu Âu cũng như các nước khác nhận thấy rằng, Trung Quốc không chỉ nêu đòi hỏi của mình mà còn thách thức trật tự an ninh trên biển, trong đó có an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, Hoa Đông. Chính quyền Biden tiếp tục khẳng định sự ủng hộ với tuyên bố về Biển Đông của Ngoại trưởng Pompeo tháng 7/2020. Nghĩa là, đây là chính sách của lưỡng đảng Mỹ về Biển Đông.
Trong khi đó, nội hàm của Mỹ về vấn đề Biển Đông có những điểm mới: Nhấn mạnh tự do an ninh, an toàn hàng hải Biển Đông; nhấn mạnh luật pháp quốc tế bao gồm Công ước Luật Biển và điểm thứ ba rất mới là bác bỏ yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc.
Thứ tư là chỉ trích những hành vi áp đặt của Trung Quốc với các nước khác ở Biển Đông. Cuối cùng là ủng hộ quyền với vùng thềm lục địa, đặc quyền kinh tế phù hợp với Công ước Luật biển của các quốc gia khác.
Mỹ và hầu hết nước khác bao gồm Đức, Pháp, Anh, Australia đều nhấn mạnh luật pháp quốc tế, thậm chí là cả phán quyết của Tòa trọng tài. Đây là những điểm rất mới và Trung Quốc nếu nói về mặt dư luận thì đang chịu cô lập trong câu chuyện này. Chính việc áp đặt phi lý của Trung Quốc đã tạo ra sự hiện diện ngày một nhiều của tàu bè các nước trên Biển Đông nhằm thể hiện việc đảm bảo tự do hàng hải, hàng không.
Nằm trong khu vực là trọng tâm cạnh tranh Trung - Mỹ, giữa thực tế với nhiều diễn biến mới và rất phức tạp như hiện nay, ứng xử của Việt Nam như thế nào, thưa Đại sứ?
Tại châu Á - Thái Bình Dương trong năm qua, có những điểm lưu ý. Đầu tiên là đại dịch Covid-19 tác động đến tất cả các nước, khiến cho chính sách đối nội, đối ngoại đều phải thay đổi để ứng phó và nỗ lực thoát khỏi đại dịch, phục hồi kinh tế.
Cạnh tranh nước lớn Mỹ - Trung quyết liệt trên mọi mặt, cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao, khoa học công nghệ, quốc phòng nhưng đồng thời không dẫn tới đổ vỡ, biệt lập về hai tuyến. Hai bên vẫn cần tranh thủ nước khác nên thách thức sẽ là phải tránh bẫy cạnh tranh nước lớn, tránh phải chọn bên.
Song cạnh tranh ấy cũng đem lại cơ hội, đó là nhiều sáng kiến đưa ra, nước lớn cũng cần tranh thủ nước khác trong khu vực, nhất là ASEAN. Thứ ba là đại dịch cùng cạnh tranh nước lớn tạo ra đứt gãy về chuỗi cung ứng. Nhiều công ty, tập đoàn phương Tây tính đến phương án chuyển dịch chuỗi cung ứng, đem lại cơ hội đầu tư cho nước khác.
Với ASEAN và Việt Nam, đầu tiên phải làm sao kiểm soát và vượt qua đại dịch. Cạnh tranh nước lớn trong năm qua cũng cho thấy giá trị địa chiến lược của ASEAN, của Việt Nam ngày càng tăng lên, có điều kiện để “chơi” được cả với Mỹ và Trung Quốc. Muốn làm được thì phải tự cường, độc lập, đa dạng hóa.
Trong cuộc chơi ở khu vực vẫn nổi lên 2 xu hướng: Hòa bình, hợp tác, liên kết và chủ nghĩa đa phương, xây dựng trật tự dựa trên luật lệ. Đây là mặt thuận cho Việt Nam.
Việt Nam và ASEAN đứng trước thách thức khi 2 đối tác quan trọng nhất với khu vực lại cạnh tranh nhau, nên cần tính toán rất nhiều để không phải chọn bên để chọn lựa, nhất là các sáng kiến mà cả hai bên đưa ra, đồng thời giữ vững vai trò trong khu vực. Cá nhân tôi cho rằng, trong năm nay, với Việt Nam và cả ASEAN, cơ hội vẫn nhiều hơn thách thức, dù thách thức phức tạp.
Quay trở lại câu chuyện Biển Đông, Đại sứ có dự báo gì về những diễn biến trong năm 2022?
Về hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không, năm qua, các nước đều rất quan tâm, nhất là trước những hành vi của Trung Quốc nên 2022 sẽ tiếp tục xu thế này.
Thứ hai, trong khu vực có những tranh chấp và đòi hỏi chủ quyền nhưng làm sao để quản trị những tranh chấp đó, không để xảy ra xung đột. Dù có đòi hỏi nhưng cũng phải kiềm chế, nên chắc chắn sức ép về mặt công luận sẽ phải gia tăng hơn nữa khi Trung Quốc không từ bỏ việc áp đặt yêu sách phi lý ở Biển Đông. Việc nhấn mạnh luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển, rồi các nước cùng phải lên tiếng khi có hành vi xâm phạm đều phải được thúc đẩy.
Thứ ba, do có xung đột, tranh chấp trên biển như vậy, nên các nước phải gia tăng đối thoại để xây dựng lòng tin và không để tình hình xấu đi. 2022 sẽ là dịp 20 năm kỷ niệm Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Người ta rất mong muốn Trung Quốc và ASEAN tiến tới Bộ quy tắc ứng xử (COC) tốt và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế và Luật Biển để quản trị tốt hơn vấn đề Biển Đông, đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định.
Chưa rõ quan điểm của ASEAN và Trung Quốc có tiến lại gần nhau và dựa trên nguyên tắc đó hay không, nội hàm sẽ quyết định chứ không phải vấn đề thời gian. Nếu muốn các cuộc đối thoại, trong đó có đối thoại COC, được tiến hành thuận lợi và trôi chảy, rõ ràng phải tạo ra môi trường xây dựng và lòng tin, không thể vừa thương lượng nhưng ngoài biển vẫn cứ có hành vi xâm phạm.
Tôi suy nghĩ rằng, Biển Đông với những yêu sách của Trung Quốc sẽ còn phức tạp, nhưng điều mà các nước quan tâm là hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; là luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển; là yêu cầu kiềm chế, không làm phức tạp tình hình sẽ là chiều hướng gia tăng.
Hiểu nhau và không đánh đổi
Vào giữa tháng 11, ông Biden và ông Tập Cận Bình đã có cuộc hội đàm trực tuyến. Theo Đại sứ, những trao đổi của lãnh đạo hai nước hàng đầu thế giới cho thấy thông điệp gì trong quan hệ Trung - Mỹ cũng như ứng xử của họ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong năm nay?
Thông điệp lớn nhất trong cuộc hội đàm trực tuyến, đó là hai bên hiểu nhau, hiểu hai bên sẽ là cạnh tranh chiến lược và mặt cạnh tranh sẽ nhiều hơn. Nhưng hiểu rõ như vậy nên họ đều mong muốn quản trị để không đổ vỡ quan hệ hay dẫn đến xung đột.
Thứ hai, hai bên đối thoại về những khác biệt mà không thể giải quyết một sớm một chiều, ví dụ về giá trị dân chủ, kinh tế thị trường, khoa học công nghệ, kinh tế, thương mại và các vấn đề toàn cầu khác. Họ cũng nhắc đến những mặt có thể hợp tác như biến đổi khí hậu, y tế, dịch bệnh, Trung Đông, hay về bán đảo Triều Tiên.
Họ nhắc đến những câu chuyện cực kỳ nhạy cảm trong quan hệ, đặc biệt là vấn đề eo biển Đài Loan. Dường như hiểu biết chung vẫn là duy trì thực trạng như hiện nay và không được áp đặt hay đơn phương thay đổi thực trạng này.
Câu chuyện an ninh trên biển vẫn là vấn đề rất được quan tâm, bao gồm cả Biển Đông và Hoa Đông. Dù hai bên có khác biệt nhưng vẫn nhấn mạnh đến tính quản trị không để xảy ra xung đột. Hai bên đã nhận thức được rõ, cạnh tranh cần được quản trị ở cấp cao nhất để không đổ vỡ, giữ bình ổn chiến lược.
Điểm thứ ba được Mỹ nhấn mạnh rất nhiều và khác với thời kỳ Trump. Đó là nếu có hợp tác như về biến đổi khí hậu, nước Mỹ cũng không đánh đổi hay nhân nhượng.
