Thứ Năm, 6 tháng 1, 2022

Điều gì đẩy Kazakhstan vào cảnh chìm trong khói lửa?

 Từ một quốc gia có nền chính trị được đánh giá là ổn định, Kazakhstan đang rơi vào khủng hoảng khi các cuộc biểu tình leo thang thành bạo lực và diễn ra với tốc độ chóng mặt.


Hàng nghìn người biểu tình đổ xuống đường phố ở Kazakhstan trong những ngày gần đây. Tại Almaty - thành phố lớn nhất và là thủ đô cũ của quốc gia Trung Á - người biểu tình tấn công cảnh sát, tràn vào phá phách văn phòng thị trưởng, dinh thự cũ của tổng thống và các cơ sở khác.

Trong bối cảnh đó, chính quyền Kazakhstan áp đặt tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc. Các đơn vị quân đội được điều đến những nơi có bạo loạn để chống lại nhóm người mà Tổng thống Kassym Jomart Tokayev gọi là “khủng bố được đào tạo chuyên nghiệp ở nước ngoài”.

Dmitry Plotnikov, phóng viên đài RT (Nga) chuyên trách các quốc gia Trung Á, cho rằng phong trào biểu tình này là thách thức lớn nhất mà Kazakhstan phải đối mặt kể từ khi tuyên bố độc lập cách đây hơn 30 năm.

Sự kiện này cũng là một bài toán đối với Tổng thống Tokayev sau khi ông lên nắm quyền chưa đầy ba năm. Cuộc khủng hoảng đang gây bất ổn cho một khu vực vốn chứng kiến nhiều biến động khi Nga và Mỹ liên tục cạnh tranh để giành ảnh hưởng, theo New York Times.

Lý do Kazakhstan chìm trong hỗn loạn

Kazakhstan từng được coi là một trong những quốc gia hậu Xô Viết ổn định nhất. Quá trình chuyển giao quyền lực từ tổng thống đầu tiên sang người kế nhiệm diễn ra suôn sẻ và hiệu quả.

Danh tiếng về nền chính trị ổn định giúp nước này thu hút hàng trăm tỷ USD đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp dầu mỏ và kim loại trong hơn ba thập kỷ.

Thế nhưng, những ngày qua, hình ảnh này đổ vỡ. Các cuộc biểu tình bắt đầu vào ngày 2/1 ở miền Tây Kazakhstan khi giá cả khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) tăng cao.

Giá LPG đã tăng gấp đôi từ ngày 1/1, thời điểm chính phủ Kazakhstan chấm dứt các hình thức trợ cấp cho loại nhiên liệu này. LPG có vai trò rất quan trọng với người dân Kazakhstan, bởi đa số xe hơi tại đây sử dụng loại nhiên liệu này để vận hành.

Thời gian đầu, hầu hết cuộc biểu tình diễn ra trong hòa bình, không có đụng độ với cảnh sát. Tuy nhiên, tình hình dần thay đổi khi 69 người bị bắt giam trong các ngày 2-3/1.

New York Times đánh giá trên thực tế, các cuộc biểu tình còn có nguyên nhân sâu xa. Nó thể hiện sự tức giận của người dân trước tình trạng bất bình đẳng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng do Covid-19.

Phong trào biểu tình còn phản ánh làn sóng phẫn nộ về nạn tham nhũng tràn lan, khiến một nhóm nhỏ giới tinh hoa giàu lên nhanh chóng.

Khi các cuộc biểu tình gia tăng, yêu cầu của những người biểu tình cũng mở rộng từ việc đòi hỏi giá nhiên liệu thấp hơn cho đến yêu sách chính trị.

Trong số những thay đổi chính trị mà họ yêu cầu bao gồm bầu cử trực tiếp thống đốc vùng, thay vì cơ chế lãnh đạo địa phương do tổng thống bổ nhiệm như hiện nay.

Biểu tình leo thang thành bạo lực

Phong trào biểu tình bắt đầu ở Zhanaozen hôm 2/1 để phản đối việc tăng giá nhiên liệu. Thế nhưng, chỉ 4 ngày sau, các tòa nhà chính phủ, đài truyền hình, sân bay và nhiều cơ sở kinh doanh đã bị hàng nghìn người biểu tình tấn công.

Biểu tình mở rộng thành một cuộc tấn công toàn diện nhằm vào tầng lớp thượng lưu Kazakhstan, vốn bị nhiều người dân coi là chuyên quyền và tham nhũng.

Ông Plotnikov nhận định tình trạng bất ổn tại Kazakhstan "dường như là tự phát và thiếu kiểm soát". Các cuộc biểu tình bạo lực không có một người hay tổ chức đứng ra lãnh đạo. Vì vậy, chính phủ Kazakhstan không biết phải đối thoại với ai.

Khi biểu tình leo thang, Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev đã chỉ thị chính phủ giải quyết vấn đề tăng giá khí đốt.

Các nhà chức trách triển khai một loạt biện pháp bình ổn tình hình kinh tế xã hội, bao gồm ban hành quy định về giá nhiên liệu kéo dài trong 180 ngày, cấm tăng một số loại thuế và trợ cấp tiền thuê nhà cho một số đối tượng dễ bị tổn thương.

Nhưng điều này không đủ để xoa dịu đám đông phản đối.

Thậm chí, ngay cả khi Tổng thống Tokayev đồng ý đáp ứng yêu cầu người biểu tình là giải tán chính phủ, lần nhượng bộ thứ hai dường như cũng không đem lại kết quả.

Vào tối ngày 4/1, các cuộc đụng độ bạo lực với các nhân viên thực thi pháp luật đã bắt đầu ở nhiều thành phố của Kazakhstan. Cảnh sát đã phải sử dụng hơi cay và lựu đạn choáng để đẩy lùi hàng trăm người biểu tình khỏi khu vực quảng trường ở Almaty.

Hôm 5/1, một nữ phát ngôn viên cảnh sát cho biết các cuộc đụng độ tiếp tục xảy ra dẫn đến nhiều thương vong khi người biểu tình cố xông vào tòa nhà chính phủ, trụ sở cảnh sát và văn phòng công tố.

Tòa nhà chính phủ ở Almaty hôm 5/1 bị hơn 1.000 người biểu tình tấn công. Một đám cháy đã bùng phát bên trong tòa nhà và người biểu tình tập trung xung quanh hô vang khẩu hiệu.

Tính đến nay, cảnh sát Almaty cho biết những người biểu tình đã đốt 120 ôtô, trong đó có 33 xe cảnh sát, và phá hủy khoảng 400 cơ sở kinh doanh. Hơn 200 người bị bắt giữ sau đó.

Tổng thống Tokaiev cáo buộc các phần tử khủng bố được đào tạo ở nước ngoài đứng đằng sau và yêu cầu sự hỗ trợ của các quốc gia thành viên Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO). Đây là liên minh quân sự do Nga dẫn đầu, gồm Kazakhstan, Belarus, Armenia, Kyrgyzstan và Tajikistan.

Ông Tokayev cho hay tình trạng bất ổn đang diễn ra là một "cuộc tấn công khủng bố" vào đất nước và phát động "chiến dịch chống khủng bố" trên diện rộng.

Chính phủ cũng đang cố gắng dập tắt các cuộc biểu tình bằng cách thiết lập tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc, đồng thời chặn các trang mạng xã hội.

Tác động khu vực

Phong trào biểu tình đang diễn ra ở Kazakhstan thu hút chú ý của cộng đồng quốc tế bởi nước này từng được coi là “trụ cột" của sự ổn định chính trị và kinh tế tại khu vực Trung Á.

Nga luôn xem Kazakhstan là một đồng minh quan trọng và là một phần trong phạm vi ảnh hưởng của quốc gia này tại khu vực. Bởi vậy, đối với Điện Kremlin, cuộc khủng hoảng là một thách thức. Đây là phong trào biểu tình thứ ba tại một quốc gia có mối quan hệ gần gũi với Nga, sau Ukraine năm 2014 và Belarus năm 2020.

Sự hỗn loạn này có nguy cơ làm xói mòn ảnh hưởng của Moscow trong khu vực, nhất là vào thời điểm Nga đang cố gắng phô diễn sức mạnh kinh tế và địa chính trị của mình trong cuộc khủng hoảng biên giới ở Ukraine.

Ngoài ra, một số chuyên gia lo ngại phong trào biểu tình ở Kazakhstan có thể tạo thêm động lực cho lực lượng đối lập ở các nước khác thuộc Liên Xô cũ.

Arkady Dubnov, một chuyên gia về Trung Á tại Moscow, cho biết phong trào biểu tình là một tín hiệu cảnh báo cho Điện Kremlin. Ông mô tả chính phủ ở Kazakhstan là “một bản sao thu nhỏ của chính phủ Nga”.

“Điện Kremlin sẽ không muốn thấy một chế độ tương tự họ đàm phán với phe đối lập và chấp nhận các yêu cầu của phe này”, ông nói.

Trong bối cảnh đó, ngày 6/1, lực lượng gìn giữ hòa bình CSTO, và các đơn vị tiên phong của quân đội Nga đã được điều đến để giúp đỡ chính phủ Kazakhstan.

-------------

PT-TG. st

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: NHỮNG NGÀY 07/01-HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ!

   Ngày này 76 năm trước, ngày 7-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Chính phủ để nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Canh nông sau chuyến kinh lý tại Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và bàn việc động viên nhân dân cả nước hướng về và chi viện cho Nam bộ. Tại cuộc họp này, người đứng đầu nhà nước đã vạch ra một nhiệm vụ cấp bách là “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam bộ”.

        Cùng ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai giảng Trường Cán bộ Tự vệ Hồ Chí Minh. Trước 75 học viên của khóa cán bộ đầu tiên được tổ chức tại thủ đô Hà Nội, Bác căn dặn: “Nói miệng ai nói cũng được. Ta cần phải thực hành.

        Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác gắng làm gương cho dân”. Phân tích yếu tố tinh thần, Bác Hồ đưa ra một nguyên lý sáng suốt: “Muốn làm được ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm”.

       Nhưng thiện chí của chúng ta không ngăn được chiến tranh đã lan rộng cả nước. Ngày 7-1-1947, cách đây 75 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp” nêu rõ lập trường rất mềm mỏng: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được tai biến này, hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc. Dân tộc Việt Nam đang chờ đợi cử chỉ đó”.

        12 năm sau sự kiện trên ( ngày này cách đây 56 năm), mục tiêu thống nhất vẫn chưa hoàn thành, ngày 7-1-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị để bàn về “Đường lối Cách mạng miền Nam” và đưa ra ý kiến chỉ đạo: “Phải lấy chính trị, lực lượng quần chúng là chính. Phải đoàn kết toàn dân, trừ bọn phản dân. Đề án viết phải có lý có tình. Cũng có thể nói: Giải phóng miền Nam là nhiệm vụ thần thánh của nhân dân ta”.

       Nửa thập kỷ sau đó đã diễn ra một cao trào, từ phong trào Đồng khởi đến cuộc đương đầu chống Chiến tranh Đặc biệt của Hoa Kỳ mà đỉnh cao là hai chiến thắng vang dội từ Ấp Bắc (năm 1963) đến Bình Giã (cuối năm 1964).

        Với bút danh “Chiến Sĩ”, Bác viết bài đăng báo Quân đội Nhân dân ngày 7-1-1965 với đầu đề “Điện Biên Phủ nhỏ và Nhịp cầu vàng”. Bài báo một mặt vinh danh hai trận thắng trên là “Điện Biên Phủ nhỏ” nhưng để đi đến thắng lợi hoàn toàn còn cần bắc một “Nhịp cầu vàng” để nước Mỹ rút lui khỏi cuộc chiến tranh mà không bị mất mặt.

       Thực tiễn cho thấy, sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân (năm 1968), Mỹ đã phải bước vào bàn đàm phán tại Paris và 5 năm sau đó, “Nhịp cầu vàng” đã tạo cơ hội cho Mỹ “rút lui mà không bị mất mặt”... Để rồi không đầy 2 năm sau, miền Nam hoàn toàn được giải phóng...

Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐỀ THÁM-THỦ LĨNH KHỞI NGHĨA YÊN THẾ!

      “Cuối cùng, cũng như rất nhiều người khác, tôi truy đuổi Đề Thám. Tên phỉ đáng ngưỡng mộ [nguyên văn], kẻ mà những người bản xứ gọi là Ngài. 

Vì ông châm đốt Pháp không dứt và biến mất như lọt qua kẽ ngón tay mỗi khi người Pháp dồn đuổi ông!”

Đó là những gì kẻ thù đã viết về Hoàng Hoa Thám, người đứng đầu khởi nghĩa Yên Thế.

Hùm thiêng Yên Thế đã lãnh đạo nghĩa quân ở căn cứ chỉ cách Hà Nội chừng 50 km. Suốt 1/4 thế kỷ, quân khởi nghĩa đã đương đầu với Pháp không biết bao nhiêu lần. 

Chỉ là một chú bé chăn trâu thời thơ ấu, trong chiến đấu ông chứng tỏ mình là một chiến lược gia đáng sợ. Suốt cuộc đời lãnh đạo nghĩa quân lúc co lúc duỗi với kẻ thù dai dẳng và ngoan cường, Đề Thám chưa một lần bại trận.

Ông hi sinh bởi lực lượng mật thám với kẻ phản bội ở bên mình. 

Người Pháp đã thắng Đề Thám. Nhưng, sự ngưỡng mộ và cả nỗi sợ hãi về một nhóm quân ngang nhiên tồn tại sát sườn trung tâm đô hộ của Pháp in hằn như một nỗi ám ảnh.

Có thể nói, Đề Thám cũng phong trào của ông mãi có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam hiện đại./.

Môi Trường ST.

KHƠ ME ĐỎ TỘI ÁC DIỆT CHỦNG KHÔNG THỂ DUNG THỨ!

      Cho đến nay tội ác Khmer đỏ vẫn còn là nỗi ám ảnh kinh hoàng trong ký ức nhiều thế hệ như vụ thảm sát Ba Chúc cách đây 44 năm. Chỉ 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường cả thị trấn chỉ còn lại 3 người sống sót.

Trẻ em bị tung bổng lên không sau đó bị chém bằng lưỡi lê... Còn phụ nữ bị hiếp dâm và đóng cọc vào cơ quan sinh dục cho tới chết.

Tại làng Sộp Sa Thầy (Kon Tum) Khơmedo chúng cho quân vào làng Sộp đốt hết nhà, cướp hết tài sản và bắt đi 130 người dân của làng và giết hại.

Tại Tân Lập, Tân Biên, Tây Ninh quân Khmer Đỏ kéo đến, sục sạo khắp nơi rồi lôi từng người ra bắn; một số tên lôi phụ nữ ra, lột sạch quần áo và hãm hiếp rồi cầm cái dùi gỗ đập thẳng vào đỉnh đầu. Một đứa bé thấy người phụ nữ nằm yên thì bò lại ngậm vào vú. Một tên lính Pol Pot cầm mũi giáo chọc thẳng xuống, nhấc bổng lên trời, rồi ném cả ngọn giáo lẫn đứa bé xấu số vào đống lửa đang bùng cháy. 

592 người dân vô tội ở Tân Lập đã bị chúng sát hại, những thi thể la liệt, chất chồng khắp nơi. Những đám cháy bốc lên mùi thịt người khét lẹt. Tại Trường Tiểu học Tân Lập, xác những cô giáo trẻ, các em học sinh bị lính Khmer Đỏ sát hại nằm ngổn ngang trên sân trường xác người chất như núi.

Chúng không bắn mà dùng sạc lai (một loại dao phát cỏ) và búa đập đầu, cắt cổ; có những thi thể bị xẻ làm đôi. Các cô giáo trẻ bị chúng xé nát quần áo, hãm hiếp, dùng dao xẻo vú, thọc tầm vông, cán búa hoặc nhét đất đá vào cửa mình cho đến chết. Bọn ác thú sử dụng các loại vũ khí từ đao, búa đến các loại súng, lựu đạn… để tàn sát. Hành động của chúng vô cùng man rợ: chặt đầu, chặt tay chân, chặt người ra nhiều khúc, mổ bụng, moi gan, xé xác trẻ em ném vào lửa, đập đầu hãm hiếp phụ nữ, mổ bụng phụ nữ có thai, cắt cổ lấy máu, rạch miệng, ném xác người xuống giếng, chôn sống, tàn sát tập thể nhiều gia đình...

Tại Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), Khơmeđỏ đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích.

Hàng vạn chiến sỹ, bộ đội Việt Nam đã phải hy sinh xương máu để hồi sinh dân tộc Campuchia Bộ đội Việt Nam không giết tù binh Khmer Đỏ, trong khi lính Khmer Đỏ hoàn toàn ngược lại. Chúng sẽ giết hại người Việt ngay khi bắt được".

Tờ Pracheachun (Nhân dân) của Ðảng Nhân Dân Campuchia (CPP) bình luận "Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Polpot, trên thế giới này có không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu nhưng chỉ có duy nhất người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc ta mà thôi"

Còn Tiến sĩ Chhay Yiheng Cố vấn Chính phủ Hoàng gia CPC phát biểu "Điều gì còn đọng lại trong trái tim người dân Campuchia về Việt Nam trong thế kỷ 20, đó là lòng biết ơn, đó là tình hữu nghị, là hình ảnh về một đội quân nhà phật từ cõi thiện xa xôi đến cứu giúp nhân dân Campuchia".

Sau khi Polpot bị Việt Nam đuổi sang biên giới Thái lan, Mỹ và Trung Quốc đã đầu tư vũ khí hòng đưa chúng trở lại nắm quyền, nhờ vậy Polpot đã giết hại tổng cộng hơn 2 triệu dân Campuchia. Mỹ - Trung Quốc còn dùng ảnh hưởng của mình duy trì ghế Polpot tại Liên Hợp Quốc để có thể “đường hoàng” giúp chúng. Rất may Việt Nam đã nhổ toẹt vào danh nghĩa LHQ đó để cứu nhân dân Campuchia. Nếu Mỹ - Trung Quốc thành công thì ko rõ sẽ còn thêm bao nhiêu triệu người chết nữa. Cũng chính vì vậy Mỹ đã chi tiền cho Tòa án Quốc tế không điều tra “tội ác diệt chủng” của Polpot mà mục đích để không khui ra hành vi giúp Polpot diệt chủng dân Campuchia./.






Ảnh 1: Bản đồ đất nước Campuchia làm bằng đầu lâu để nhắc nhở về một trong những tội ác diệt chủng chống loài người kinh hoàng của chế độ diệt chủng Polpot dưới sự tiếp tay và đồng lõa của Mỹ, Trung Quốc, Singapore, LHQ và nhiều quốc gia khác.

Yêu nước ST.

PHẠM THỊ ĐOAN TRANG LĨNH ÁN 9 NĂM TÙ VỀ TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

 

PHẠM THỊ ĐOAN TRANG LĨNH ÁN 9 NĂM TÙ VỀ TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

Ngày 14/12, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam".

Phạm Thị Đoan Trang (SN 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) từng làm phóng viên của một số tờ báo, kênh truyền hình. Năm 2013, Trang xuất cảnh, sau đó bị các đối tượng phản động lôi kéo vào đường dây chống phá Đảng, Nhà nước.

Trang trực tiếp thành lập và tham gia điều hành nhiều hội, nhóm bất hợp pháp; lập và điều hành các trang mạng để tán phát các nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động chống đối, kêu gọi biểu tình, lật đổ chế độ.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân TP Hà Nội, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến ngày 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân.

Cụ thể, bị cáo Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: "Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam"; "Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam"; "Báo cáo đánh giá về Luật Tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam".

Viện Kiểm sát xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền "luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Sau khi đối tượng bị bắt, các tổ chức chống đối ở nước ngoài đã dùng các chiêu bài cũ, lên tiếng đòi trả tự do cho đối tượng. Đây là sự can thiệp trắng trợn vào điều tra, truy tố, xét xử tội phạm của pháp luật Việt Nam.

Hoạt động chống phá của Phạm Thị Đoan Trang làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, gây bức xúc, phẫn nộ trong dư luận và nhân dân.

Hội đồng xét xử xác định, hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định, bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo Phạm Thị Đoan Trang khai báo không thành khẩn, phạm tội nhiều lần nên quyết định áp dụng hình phạt tù với thời hạn nhất định mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

 

LỜI HỊCH TRUYỀN CHO HÔM NAY

 LỜI HỊCH TRUYỀN CHO HÔM NAY

Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức lớn trên con đường phát triển vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn đi đôi với nhau. Không có gì quý hơn độc lập, tự do là chân lý đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên. Hịch non sông từ lời kêu gọi của Người đêm 19/12/1946 vẫn còn vang vọng. Các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc phải luôn được coi trọng trong cả đối nội và đối ngoại. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại để bảo vệ môi trường hòa bình, xây dựng đất nước với sự phát triển nhanh và bền vững. Không bao giờ được lơi là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải sẵn sàng đứng lên theo tinh thần lời Hịch của Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền lại cho muôn đời sau.

Trong quan hệ quốc tế, lời Hịch của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam hiện nay thấy rõ rằng, phải lấy lợi ích quốc gia làm tối thượng, không bao giờ được phép nhân nhượng những vấn đề có tính nguyên tắc. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đêm 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm đượm phương châm, phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ chính là cái “bất biến” trong muôn vàn cái “vạn biến” trong thời đại hiện nay. Trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc là những điều kiện thiết yếu bảo đảm cho những điều “bất biến” ấy.

Hơn bao giờ hết, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần được tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh tới việc khơi dậy khát vọng độc lập tự do, khát vọng đưa dân tộc Việt Nam tiến lên hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều do hai nguyên nhân chủ yếu nhất: sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã biểu đạt hai yếu tố đó. Do vậy, phải tiếp tục coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, tiếp tục coi công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao sức chiến đấu của mình. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn luôn là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều này, đã thể hiện rất rõ trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp, tinh thần đại đoàn kết của toàn dân cùng chung sức, đồng lòng “chống dịch như chống giặc” trong phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Lời Hịch non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời cách đây 75 năm, nhưng ngày nay vẫn như tiếng kèn xung trận thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giành thắng lợi trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó chính là ý nghĩa to lớn của lời Hịch thời đại Hồ Chí Minh thể hiện ở Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến./

SỨC SỐNG CỦA NHỮNG BÀI HỌC THẤT BẠI TỪ ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ

 

SỨC SỐNG CỦA NHỮNG BÀI HỌC THẤT BẠI TỪ ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu không đánh dấu sự kết thúc của chủ nghĩa xã hội; trái lại, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội thời kỳ mới là một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa xã hội.

Mặc dù vây, có thể nói, chừng nào còn các Đảng Cộng sản với mục tiêu xã hội chủ nghĩa trên thế giới thì những bài học kinh nghiệm lịch sử xương máu của Đảng Cộng sản Liên Xô và sự tan rã của Liên bang Xô-viết và các quốc gia xã hội chủ nghĩa Đông Âu mãi mãi còn nguyên vẹn. Đó chính là sức sống bất diệt của những bài học lịch sử thất bại: Nếu coi thường hoặc lãng quên chúng, nhất là những thất bại, dù khi đang đứng trên đỉnh cao những thắng lợi lịch sử của những người cộng sản Xô-viết, thì cũng sẽ bị trả giá.

Với nhãn quan chính trị chiến lược, hai năm trước khi chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, ngày 24/8/1989, tại Hội nghị Trung ương 7, khóa VI, Đảng ta nhìn nhận và cảnh báo nghiêm khắc 6 nguy cơ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản và công nhân ở những nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, gồm: Một là, thực hiện đa nguyên chính trị; hai là, dân chủ quá trớn không giới hạn; ba là, vừa không coi trọng củng cố, nâng cao chất lượng lãnh đạo, vừa hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng; bốn là, để tuột khỏi tay sự lãnh đạo đối với các phương tiện thông tin đại chúng; năm là, có khuynh hướng phủ nhận những thành tựu vĩ đại của chủ nghĩa xã hội; sáu là, đặt quá nhiều hy vọng vào việc mở cửa với phương Tây.

Với tầm nhìn chiến lược đó, cảnh giới những nguy cơ “diễn biến hòa bình”, vượt qua chặng đường hơn ba thập niên với bao nhiêu bão táp chống phá, tấn công từ bên ngoài, nguy cơ tự thoái hóa, suy thoái và phá hoại từ bên trong, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa vẫn đứng vững và phát triển. Nhưng, chúng ta không được phép lơ là và lãng quên mối họa sinh tử này. Vì chủ nghĩa đế quốc với chiến lược công khai “chiến thắng không cần chiến tranh” không bao giờ từ bỏ âm mưu và hành động tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.

Với tư cách là một Đảng cầm quyền, Đảng của chúng ta càng không mơ hồ và được phép lãng quên những bài học sinh tử đó về sự sụp đổ của chế độ xã hội ở Liên Xô và một số nước Đông Âu.

Bài học trước hết, là cần đặc biệt chăm lo vị thế và tư cách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc: nắm lấy công tác tư tưởng chính trị, xây dựng hệ thống chính trị từ Đảng, Nhà nước đến các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh, thật sự trung thành và tin cậy về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng... là công việc có ý nghĩa thành bại.

Lịch sử hơn 91 năm của Đảng cho tới nay cho thấy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là công tác chính trị tư tưởng và tổ chức luôn là những nhiệm vụ cấp bách, nóng bỏng và mang tầm chiến lược. Sai lầm về đường lối, chệch hướng về tư tưởng chính trị và lệch lạc về tổ chức sẽ đưa tới sai lầm, rạn vỡ, có khi không cứu vãn nổi.

Đặc biệt, trước tình hình mới, phải luôn đề cao cảnh giác trước những tác động xấu từ bên ngoài và kịp thời ngăn chặn sự suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa từ bên trong. Tháng 1-2021, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời... một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu... một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, quyết sách của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII: Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Trong đó, nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu và tình cảm đồng chí, đồng bào; thậm chí phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc, tình trạng “cát cứ”, “sứ quân”... chủ nghĩa cơ hội, phản bội...

Đặc biệt hiện nay, sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trên phương diện này là vô cùng chuẩn xác và mang tầm chiến lược.

Tiếp tục đổi mới cơ chế vận hành tập trung dân chủ của toàn bộ hệ thống chính trị, lấy Quốc pháp làm đầu, Đảng cương làm cốt, sự tín nhiệm của Nhân dân làm động lực và sự cương tỏa kiểm soát. Nắm chắc công tác tổ chức, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chiến lược, người đứng đầu hệ thống chính trị các cấp bảo đảm: trung thành, bản lĩnh, trí tuệ, trong sạch, liêm sỉ, vì Dân và kỷ luật. Bảo vệ nghiêm nhặt chính trị nội bộ. Ngăn chặn và thải loại kiên quyết những người tiêu cực, phe nhóm, tham nhũng; trừng phạt nghiêm khắc những người xâm hại sự đoàn kết thống nhất của Đảng, tha hóa, thoái hóa về chính trị, nhất là tệ ăn cắp quyền lực, tức tệ “đạo vị”, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh; thải loại và trừng trị những kẻ mưu đồ lợi ích nhóm, rắp mưu bè phái, cát cứ trong Đảng, trừng trị sự bất tuân kỷ luật, đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật và ngoảnh mặt với Nhân dân.

Hơn lúc nào hết, lúc này, cần ghi xương khắc cốt rằng, nếu sự thoái hóa, biến chất, tự chuyển hóa diễn ra tại trung tâm quyền lực của Đảng, của hệ thống chính trị thì nguy cơ tan vỡ đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ tính bằng tháng, bằng năm. Đây là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ không tránh khỏi. Đảng Cộng sản Liên Xô và các “phiên bản” Đông Âu đã cảnh báo nghiêm khắc rõ điều này.

Bài học thứ hai, với tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” cầm quyền mọi quyền lực, mọi nguồn lực của đất nước và chịu trách nhiệm trước Nhân dân, phải chăm lo cơ sở chính trị - xã hội của mình: Dân là gốc nước, thuận theo lòng dân, được Nhân dân ủng hộ…

Kinh nghiệm lịch sử từ sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên Xô và đổ vỡ của Liên bang Xô-viết càng cho thấy rõ, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được và thuận theo lòng dân. Những ai không nắm được lòng dân, không hành động theo quy luật nhất định thất bại, ngay khi đang nắm quyền lực.

Với tư cách là “đứa con nòi” của nhân dân lao động, hơn lúc nào hết, Đảng ta luôn thấu hiểu và hành động theo phương châm: “Ý Dân là ý trời”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn và “Việc nhân nghĩa cốt ở yên Dân”, như tiền nhân truyền lại. Vì, “Dân là Dân nước, nước là Nước dân”. Đó cơ sở là pháp lý và cũng là đạo lý phải quán xuyến toàn bộ công việc lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Lòng Dân là Quốc bảo Việt Nam.

Trái điều đó, nhất định sẽ thất bại.

Bài học thứ ba, từ bài học xương máu qua thất bại của Đảng Cộng sản Liên Xô, từ sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, phải chủ động vượt qua chính mình, nắm chắc pháp luật để cầm quyền, vì lợi ích tối cao của đất nước, vì hạnh phúc của Nhân dân và vì sự trường tồn của dân tộc.

Thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta chứng thực rằng, sai lầm và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng điều nguy hiểm nhất là không dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc phục khuyết điểm. Do đó, hơn bao giờ hết, giữ vững vô điều kiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn bộ đời sống và hoạt động của Đảng; đồng thời kiên quyết nắm chắc pháp luật để lãnh đạo, cầm quyền. Pháp luật của Nhà nước và Điều lệ, cương lĩnh của Đảng là hai nhân tố rường cột cầm quyền. Thiếu dân chủ và dân chủ biến tương là “bà đỡ” của thói nịnh bợ, luồn lọt, dân túy, cơ hội; buông lỏng kỷ cương là điều kiện tốt cho chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa đầu hàng nảy nòi và phát tác trong Đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Đó là điều cấm kỵ trong toàn bộ công tác tổ chức và cán bộ.

Đồng thời, quét sạch tận gốc các chứng bệnh: độc đoán, chuyên quyền, tệ trù dập, trấn áp những ý kiến khác với mình; thói coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, nạn độc quyền chân lý; trân trọng đối thoại và nâng niu mọi sự phản biện trong khuôn khổ của Đảng và pháp luật của Nhà nước; bảo vệ vô điều kiện sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chống mọi sự đặc quyền đặc lợi, trước hết trong đội ngũ người đứng đầu các cấp của hệ thống chính trị; đổi mới cơ chế giám sát quyền lực của Nhân dân một cách đồng bộ, thống nhất và thực tế bằng pháp luật.

Quốc pháp, Đảng cương và lòng Dân là những nhân tố căn bản bảo đảm, kiểm soát và quyết định khuôn khổ toàn bộ hoạt động của Đảng và hệ thống chính trị.

Toàn bộ hoạt động của Đảng tiếp tục vì lợi ích tối thượng của đất nước, quyền lợi vô giá của dân tộc và hạnh phúc thiêng liêng và bất khả xâm phạm của Nhân dân. Đó là cương lĩnh chính trị đồng thời là cương lĩnh hành động của Đảng lúc này và trong tương lai./.

GỬI CÁC VỊ CHỨC SẮC CỦA CÁC TÔN GIÁO

 

GỬI CÁC VỊ CHỨC SẮC CỦA CÁC TÔN GIÁO

Hỡi các vị chức sắc của các tôn giáo: hãy chú tâm vào tín ngưỡng, đừng tuyên truyền luận điệu xuyên tạc lịch sử, đừng lợi dụng và đưa tôn giáo của mình thành một lực lượng xa rời tách rời bản sắc dân tộc dẫn đến phản bội dân tộc.

Đã từ lâu người dân đã rất bức xúc bởi những lời rao giảng phi thực tế, phi đạo lý của những Vị Linh Mục trong đạo công giáo như: Nguyễn Ngọc Nam Phong, Đặng Hữu Nam, Nguyễn Đình Thục, Nguyễn Duy Tân.... bởi giọng điệu của họ đều nhầm phủ nhận những công lao của những người cộng sản, để họ nhằm chính danh, nhằm rửa mặt & tôn vinh chế độ ngụy quyền tay sai bán nước VNCH.

Và phải nói thật rằng: hầu hết trong lãnh phận của những người công giáo thì hình ảnh của những người anh hùng dân tộc như Lý thường Kiệt Trần hưng Đạo Lê Lợi Quang Trung.... hầu như chưa bao giờ được nhắc đến ?

Trong khi họ cũng dư sức hiểu rằng: Chính nhờ tinh thần yêu nước với những tấm gương của những người anh hùng dân tộc cùng với những người dân yêu nước chân chính đã giữ gìn non sông đất nước, thì họ mới có được một xã hội thanh bình để được tự do thực hành tín ngưỡng ..

Gần đây dư luận lại phải nghe và rất bức xúc về bài rao giảng của vị chức sắc đạo Phật là ông Thích Nhật Từ. Với bài rao giảng của mình Thích Nhật Từ đã làm những phép so sánh vô cùng khập khiễng và có ý đồ khi so sánh Việt Nam với Hàn Quốc với CHLB Đức để cho rằng những người Cộng sản đã hy sinh ...vô ích vì cuộc cách mạng giải phóng dân tộc? Đây rõ ràng là luận điệu thường thấy của tàn dư 3 que của bọn tự diễn biến của âm mưu và kế hoạch DBHB .

Có người đã nói: Lật sử đã và đang len lỏi cả vào lĩnh vực tôn giáo .. Quả không sai .

Đạo lý dân tộc Việt Nam không dung thứ, không cho phép bất cứ kẻ nào, thế lực nào làm mờ nhạt bản sắc dân tộc càng không cho phép kẻ nào phản bội lại dân tộc, phản bội lại nền tảng quan điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh, vì nhờ có nền tảng đó chúng ta mới có được một Việt nam như ngày hôm nay./.

NGHỊ QUYẾT 08A THÁNG 3/1990

 

NGHỊ QUYẾT 08A THÁNG 3/1990

Nghị quyết 08A tháng 3/1990 và việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không có vùng cấm - Kinh nghiệm thực tế còn nóng hổi cho hôm nay

Hội nghị Trung ưiơng Đảng lần thứ 8 khóa VI tháng 3/1990 đã ra Nghị quyết 08A đánh giá, nhận định những tác động của tình hình Liên Xô đến Việt Nam và đã khẳng định đó là những tác động đặc biệt phức tạp, khó lường trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Hội nghị đã tiến hành cách chức một Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng. "Đây là cán bộ lão thành của Đảng, người từng được xem là có tư tưởng cứng rắn, nhưng khi làn sóng Perestroika và Glasnost ập đến, tư tưởng của nhà chính trị này đã có sự chuyển hóa".

 

ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ VỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ VỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Nhưng, cùng với cố tình phủ nhận thành tựu, kết quả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam, ra sức chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”.

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền

Các đối tượng thù địch xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay gồm: lực lượng cực hữu, một số nghị sĩ cực đoan tại một số nước phương Tây, các nhóm phản động người Việt Nam ở nước ngoài và những cá nhân người Việt ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng, núp bóng “ngọn cờ dân chủ”, “nhân quyền” chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Một số tổ chức phi chính phủ quốc tế, như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá quốc tế (AI), Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), Tổ chức Ngôi nhà Tự do (FH)... thường xuyên vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam, bằng việc ra bản phúc trình hằng năm về nhân quyền. Tham dự vào lực lượng này còn có những người theo các trào lưu tư tưởng và đường lối chính trị trái ngược với giá trị của chủ nghĩa xã hội tại các nước phương Tây và những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam. Hiện nay, cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa tư bản không chỉ diễn ra trên phạm vi thế giới, mà ngay tại Việt Nam. Đây thực chất là những đối tượng “giấu mặt” đóng vai “phái giữa” nên có sức nguy hại rất lớn, vì họ “đánh từ trong đánh ra” theo kiểu “người của ta”, gián tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng làm “chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ trong nội bộ.

Luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch thường tập trung chính vào một số lĩnh vực:

Thứ nhất, phủ nhận thành tựu, thực tiễn về các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ, nhân quyền; lợi dụng các hiệp định, dự án hợp tác với nước ngoài, nhằm phá hoại và làm chệch định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Thứ hai, kích động vấn đề dân tộc thiểu số và xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo, như Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: Chính sách bảo đảm trên hình thức và “chính sách” không bảo vệ, không bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số trong thực tế thông qua “cơ chế xin - cho” và tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”; chỉ trích các văn bản, chính sách, pháp luật về tôn giáo và lợi dụng các vụ việc và việc Nhà nước xử lý các đối tượng, vụ việc phức tạp liên quan tới tôn giáo để xuyên tạc, vu cáo. Các thế lực phản động xuyên tạc rằng: nhiều văn bản pháp luật Việt Nam về dân tộc không tương đồng với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ ba, phê phán, xuyên tạc Nhà nước Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp. Chỉ trích chính quyền “trì hoãn” việc ban hành Luật Biểu tình để tiếp tục dung túng bạo lực, đàn áp, bắt giam những nhà hoạt động nhân quyền, có ý kiến “phản biện” Đảng, Nhà nước. Hơn thế, chúng còn kích động khuynh hướng cực đoan nhằm “hạ bệ thần tượng”, đòi “giải thiêng” các giá trị lịch sử dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đòi khơi thông dòng văn chương của những cây bút chống cộng trước năm 1975. Thành lập nhóm thơ tục, thơ rác, thơ bụi để “đẩy thơ vào ngõ cụt” nhằm thúc đẩy “lề trái” (phi chính thức) thay thế “lề phải” (chính thống), tạo tiền đề cho việc chuyển sang hệ tư tưởng tư sản, không chỉ trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

Thứ tư, xuyên tạc cái gọi là “việc áp dụng một cách bất công Bộ luật Hình sự”, nhất là các Điều 19, 79, 87, 88 và 258 của Bộ luật Hình sự năm 1999, kể cả khi Bộ luật này đã được sửa đổi năm 2015, 2017. Các luận điệu xuyên tạc Việt Nam có chính sách hai mặt trong việc giam giữ tù nhân chính trị: Công khai thì khép vào tội “vi phạm luật pháp” nhưng thực tế là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”; hay các luận điệu xuyên tạc về sử dụng cách tra tấn, bức cung, nhục hình đối với những người bị tạm giữ, tạm giam; phân biệt đối xử giữa tù nhân chính trị với tù nhân khác, ngăn cản thân nhân vào thăm; bắt giữ và xét xử tùy tiện; duy trì án tử hình; cáo buộc tình trạng đàn áp, ngăn chặn, cản trở hoạt động của luật sư;....

Thứ năm, xuyên tạc, kích động trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hóa - nghệ thuật, đạo đức, lối sống. Ngoài việc triệt để lợi dụng “con bài” tôn giáo, dân tộc, các quỹ, trường đại học theo tư tưởng cánh hữu, chống cộng ưu tiên cấp học bổng để thu hút học sinh, sinh viên tham gia tìm hiểu “nền dân chủ đa nguyên”, “nghiên cứu nhân quyền”, đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức hội, nhóm tôn giáo... nhằm “thay máu” giới trẻ. Đặc biệt, chúng tăng cường tung “tin giả” đủ loại với sự phụ họa một cách có chủ ý hoặc vô ý thức của truyền thông đại chúng theo cơ chế thị trường và dựa trên nền tảng in-tơ-nét, nhằm phá hoại kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy sự suy đồi, rối loạn tư tưởng, đạo đức, lối sống trong xã hội.

Thứ sáu, xâm nhập, kích động nhằm thúc đẩy “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản. Đồng thời, các thế lực thù địch tăng cường tác động “từ bên ngoài”, như đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay tiêu chuẩn về các quyền dân sự, chính trị (tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước,...) tương tự các quốc gia phát triển phương Tây. Họ gắn dân chủ, nhân quyền với các vấn đề hợp tác phát triển về dân chủ, tôn giáo, tiếp cận thông tin, và các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp,... đặc biệt đòi dân sự hóa hoạt động lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nhằm thúc đẩy phát triển tối đa cái gọi là xã hội dân sự theo kiểu phương Tây. Họ móc nối và tìm cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất nước nói chung.

Thứ bảy, kích động các cá nhân, tổ chức trong nước tổ chức bạo động, bạo loạn và nhờ nước ngoài can thiệp, quốc tế hóa vấn đề để mưu toan gây mất uy tín cho Việt Nam. Thí dụ, trong UPR chu kỳ I (2009), II (2014) và III (2019), một số tổ chức phi chính phủ thù địch người Việt và người nước ngoài có quy chế quan sát viên tại Hội đồng Kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC), như Ủy ban bảo vệ quyền con người cho người Việt Nam - VCHR, Tổ chức Đảng cấp tiến xuyên quốc gia - TRP,... lợi dụng diễn đàn của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. Tăng cường trao giải cho các đối tượng chống đối để tạo dựng “ngọn cờ” chống phá Nhà nước Việt Nam. Thông qua những “ngọn cờ” này, họ kích động, lôi cuốn, tập hợp và phát triển lực lượng chính trị đối lập theo kiểu “đa nguyên, đa đảng” ở nước ta. Chẳng hạn một biểu hiện cho những luận điệu, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là những báo cáo của chính quyền Mỹ (Báo cáo về tự do tôn giáo, về buôn người và về nhân quyền) và của một số tổ chức quốc tế, nhất là của HRW. Ngày 13-1-2021, HRW công bố Báo cáo hằng năm với tiêu đề: “Phúc trình Toàn cầu 2021”, dài 761 trang, về đánh giá việc thực hành nhân quyền tại hơn 100 quốc gia. Trong đó bản phúc trình này phê phán Việt Nam trong năm 2020 “tiếp tục vi phạm các quyền dân sự và chính trị cơ bản một cách có hệ thống”, qua việc siết chặt quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, tự do tôn giáo, chặn truy cập nhiều trang mạng, gây sức ép buộc các công ty viễn thông phải gỡ bỏ các nội dung phê phán Đảng Cộng sản và chính quyền... Thực tế thì đây không phải là lần đầu tiên HRW đưa ra những thông tin sai trái như vậy để công khai chỉ trích Việt Nam và nhiều quốc gia có chủ quyền khác.

Chủ động phê phán, đập tan các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở nước ta

Trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá, vu cáo, phủ nhận thành quả dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, để tăng cường phản bác một cách hệ thống, có lý lẽ cả về lý luận và thực tiễn, cần tập trung thực hiện một số công việc sau:

Một là, xem xét, nhận diện, đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện âm mưu, thủ đoạn và xác định rõ bản chất của các luận điệu xuyên tạc, nền tảng, mục tiêu, phương thức, chủ trương, công cụ chống phá của các thế lực thù địch(1).

Về mặt bản chất, các luận điệu đó phản ánh cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị - pháp lý giữa giá trị tư tưởng XHCN và tư sản trên lĩnh vực dân chủ và nhân quyền. Đây là đặc điểm có tính bản chất chi phối trong cuộc đấu tranh này, không chỉ hiện hữu ở những đối tượng phân định rõ thành chiến tuyến địch - ta, mà còn nằm ngay trong nhận thức của mỗi người và mỗi tổ chức. Vì thế, các tầng lớp nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên đều là chủ thể đấu tranh với các thế lực thù địch trên lĩnh vực này. Trong phương thức đối thoại, đấu tranh cần coi trọng biện pháp tư tưởng chính trị, như tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và coi trọng cách thức kết hợp đối thoại với đấu tranh và ngược lại.

Về nền tảng tư tưởng: Là hệ tư tưởng tư sản với nội dung cơ bản là quan niệm một cách phiến diện, có khi tuyệt đối hóa quyền cá nhân và các quyền dân sự, chính trị đến mức đồng nhất chúng với quyền con người nói chung; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc và chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Về mặt chính trị, đây là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia.

Về mục tiêu và phương thức hoạt động: Tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận - thực tiễn về dân chủ, nhân quyền để chống phá nền tảng tư tưởng XHCN ở Việt Nam. Tiến hành các hoạt động chống phá thực tiễn bảo đảm dân chủ, nhân quyền trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, dân tộc, thông tin, báo chí, truyền thông, giáo dục - đào tạo, văn hóa - nghệ thuật, tư pháp,... kể cả hợp tác quốc tế, nhằm thúc đẩy sự chệch hướng XHCN của công cuộc đổi mới ở nước ta. Tuyên truyền, ca ngợi các giá trị của nhân quyền tư sản nhằm kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng chính trị XHCN đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản - mà hiện nay thường được gọi là “giá trị phương Tây” - trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Tạo dựng “ngọn cờ” về dân chủ, nhân quyền thông qua việc tuyên truyền, ca ngợi, trao giải thưởng cho nhiều nhân vật chống đối nhằm kích động hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong, ngoài nước và tìm cách xác lập cơ chế “đa nguyên, đa đảng” trong thực tế ở nước ta.

Về chủ trương chống phá: Lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ; dùng ngoại giao, đầu tư kinh tế để hỗ trợ, hậu thuẫn.

Về công cụ chống phá: Các thế lực thù địch sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là in-tơ-nét, xuất bản, báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam để xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị. Họ lợi dụng một số sai sót trong hoạt động quản lý của Nhà nước để xuyên tạc, kích động khiếu kiện, biểu tình trái phép. Họ tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm nhưng tác hại lâu dài thực sự rất thâm độc. Các thế lực thù địch dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, suy thoái về tư tưởng, chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chẳng hạn, tổ chức khủng bố “Việt Tân”, “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Hà Lan”, “Liên hội người Việt tỵ nạn tại Đức”,... với sự phụ họa của một số cơ quan báo chí nước ngoài tập trung công kích, xuyên tạc cái gọi là: Nhân quyền gắn với xã hội tư sản, còn quyền con người là quyền tập thể gắn với CNXH.

Hai là, vạch rõ tính hạn chế và mâu thuẫn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

Thực tế cho thấy, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở trong nước thường nhại lại những luận điệu của một số tổ chức quốc tế và một số nước phương Tây. Các luận điệu đó, như “Phúc trình Toàn cầu 2021” của HRW có hạn chế lớn là dựa trên những thông tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, nghiên cứu không sâu nên phiến diện và xuyên tạc. Tính vô lý và mâu thuẫn của các luận điệu này là xuất phát từ ý thức hệ chính trị phương Tây, “coi nhân quyền cao hơn chủ quyền” và bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự nước ngoài không thiện chí với Việt Nam và theo cơ chế thị trường, nên chúng mang màu sắc chính trị thực dụng, vụ lợi, nhiều khi chống đối công khai, trắng trợn và quyết liệt. Vì thế, chúng dễ gây ra phản ứng tiêu cực trong dư luận Việt Nam và cả thế giới.

Ba là, các luận điệu từ phía các tổ chức quốc tế và một số nước phương Tây xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng điều ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác.

Cụ thể là vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác theo Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết số 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng như trong nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Theo Nghị quyết số 2625: Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó - đều là vi phạm luật pháp quốc tế(2).

Mâu thuẫn nội tại của các luận điệu đó là nhân danh nhân quyền phổ quát nhưng lại không tuân theo nguyên tắc điều chỉnh của luật nhân quyền quốc tế đối với chủ quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia. Chẳng hạn, theo Điều 1 của hai công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như theo “Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc” (năm 1970) như: Tôn trọng chủ quyền quốc gia về lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại; sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia; bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc; không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình; các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;....

Xuất phát từ những nguyên tắc đó, Nhà nước Việt Nam, trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cũng luôn và không ngừng hành xử như vậy trong quan hệ quốc tế cả quan hệ song phương và đa phương.

Một yêu cầu pháp lý cơ bản của các nguyên tắc này của Liên hợp quốc là các nước, các tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn chính trị của một quốc gia. Thế nhưng, chẳng hạn trong bản “Phúc trình nhân quyền năm 2021”, HRW vẫn cáo buộc vô căn cứ về cái gọi là “Việt Nam lo sợ dân chủ, truyền thông độc lập và các quyền tự do”. Thực tế qua những phiên tòa xét xử công khai đối với Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy hay Phạm Chí Thành, Trần Đức Thạch thì họ đều là những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật cụ thể và việc cơ quan chức năng thi hành lệnh khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử công khai là việc làm cần thiết của một quốc gia có chủ quyền, nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm của họ gây ra đối với xã hội. Tại tòa án, những người này đều thừa nhận các kết luận của hội đồng xét xử về những tội danh của mình. Vậy mà tổ chức này vẫn tiếp tục bao che, dung túng cho những kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, sử dụng mạng xã hội vi phạm an ninh con người, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cổ xúy tuyên truyền cho những hành động chống phá đất nước và con người Việt Nam.

Nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nhất mực xuất phát từ lăng kính ý thức hệ chính trị phương Tây để cho rằng, “những vụ bắt xử lý nói trên là để bảo đảm Đại hội Đảng lần thứ XIII diễn ra suôn sẻ và không bị các tiếng nói bất đồng chống đối” thì chúng tự mâu thuẫn với nguyên tắc pháp quyền mà họ rao giảng. Tại Việt Nam, để thực thi công lý, không phải đợi đến thời gian gần Đại hội Đảng, mà bất kỳ ai vi phạm pháp luật hình sự, có hoạt động chống phá đất nước, đều bị cơ quan bảo vệ pháp luật truy tố, điều tra, xét xử công khai, nghiêm minh tại tòa án theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Bốn là, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền không phản ánh đúng thực tế khách quan về tình hình nhân quyền của Việt Nam.

Nguyên nhân cơ bản của hạn chế và mâu thuẫn trong các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là nhân danh nhân quyền phổ quát toàn cầu với cách tiếp cận mang đẫm màu sắc ý thức hệ chính trị của phương Tây cùng hành động thực dụng và động cơ chống đối công cuộc đổi mới ở nước ta. Trái với những luận điệu cáo buộc ngụy biện, trơ trẽn đó, thực tế Việt Nam đã và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy dân chủ, nhân quyền trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Trong năm 2020, 2021 ngay trong khi đại dịch COVID-19 hoành hành trên thế giới và ở Việt Nam, hàng loạt chính sách an ninh con người, an sinh xã hội được Chính phủ Việt Nam ban hành nhằm bảo đảm an ninh lương thực và ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Chẳng hạn như gói hỗ trợ 26.000 tỷ đồng(3) là giải pháp cấp bách, kịp thời, không chỉ giảm thiểu tối đa tác động của đại dịch COVID-19 đối với quyền sống, quyền được chăm sóc y tế và mưu sinh của người dân, mà còn một lần nữa khẳng định mạnh mẽ tinh thần “đặt lợi ích của người dân lên trên hết”. Trong hoàn cảnh khó khăn của dịch bệnh và thiên tai, những chính sách hỗ trợ trực tiếp, kịp thời đối với người dân là nền tảng để bảo vệ các quyền con người, đồng thời cho thấy nỗ lực và quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền.

Đồng thời, Việt Nam chủ động, tích cực đóng góp vào việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới và được cộng đồng thế giới ghi nhận, ví dụ: Thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao những lần Việt Nam ứng cử và trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến với sự tham dự của đại diện AICHR, các nước thành viên ASEAN và Ban Thư ký ASEAN, diễn ra vào cuối tháng 11-2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 là đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác AICHR trong thời gian tới.

Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế, như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR, trong đó đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch (COVID-19) được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao, mà còn tham gia đóng góp tích cực vào định hình các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người, đặc biệt quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, trong đó Việt Nam đã cùng với Phi-líp-pin và Băng-la-đét trực tiếp soạn thảo Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền về biến đổi khí hậu và quyền con người đã được chính thức thông qua vào tháng 7-2019 tại trụ sở Liên hợp quốc ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ.

Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nếu như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đặt “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(4) thì Đại hội XIII của Đảng xác định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5).

Theo đó, phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, cần thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ, nhân quyền; từ đó đổi mới nội dung, phương pháp đấu tranh, thực hiện nguyên tắc trong đấu tranh có đối thoại, trong đối thoại có đấu tranh; đa dạng hóa các hình thức đấu tranh nhưng không nên mở rộng, mà phải áp sát trực diện vào vấn đề cần phải đấu tranh, đối tượng đấu tranh, nhằm chủ động, tích cực nhận diện, phê phán, phản bác, ngăn chặn từ xa; xử lý công khai, minh bạch bằng pháp luật, trước hết đối với những người cầm đầu, phù hợp với các quan hệ, nguồn lực liên quan trực tiếp đến vấn đề đấu tranh và đối tượng đấu tranh nhằm kiên quyết làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn sử dụng dân chủ, nhân quyền như một công cụ chống phá chế độ chính trị - xã hội để góp phần làm sáng tỏ và thực hiện, phát huy nền dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Để hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về quyền con người. Thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch trên lĩnh vực quyền con người để đề xuất giải pháp phù hợp.

Thứ hai, tích cực, chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia và đóng góp trực tiếp vào việc định hình giá trị cũng như luật pháp về vấn đề quyền con người trong quan hệ quốc tế.

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh có hiệu quả trên lĩnh vực quyền con người. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp, công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Căn cứ vào nghị quyết và hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần xác định rõ nội dung, biện pháp, yêu cầu cụ thể trong nhiệm vụ phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phù hợp với từng giai đoạn, tình hình tại địa phương, cơ sở. Nâng cao cảnh giác cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên tự phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho mình và giúp đỡ những người xung quanh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp trong phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quyền con người trong cả hệ thống chính trị. Các bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương tiếp tục xây dựng, thực hiện kế hoạch giải quyết tốt các “điểm nóng” phức tạp, kéo dài, theo của Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20-7-2010, của Ban Bí thư khóa X,“Về công tác nhân quyền trong tình hình mới”, đặc biệt liên quan đến các vấn đề đất đai, tôn giáo, dân tộc,.... Chú ý trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân chủ, nhân quyền, phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập, phân hóa số ngoan cố chống đối. Phân biệt rõ mâu thuẫn địch - ta và mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân để lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp, không làm phức tạp thêm tình hình, tạo sơ hở cho địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Thứ năm, tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên môn, chuyên trách (tư tưởng, lý luận, thông tin, truyền thông, văn hóa, ngoại giao, an ninh chính trị, bảo vệ chính trị nội bộ); xây dựng cơ sở dữ liệu chủ động công bố trên cổng thông tin điện tử bằng tiếng Việt và tiếng Anh về thành tựu trong bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và tư liệu về quyền con người bị xâm hại do hành động của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch gây ra đối với nhân dân Việt Nam để đấu tranh có hiệu quả về quyền con người.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, thông tin đối ngoại về thành tựu bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân qua hơn 35 năm đổi mới. Phát huy hiệu quả vai trò của báo chí, truyền thông trong bảo vệ, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người, thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước(6).

Thứ bảy, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá, gây mất ổn định chính trị - xã hội tại Việt Nam. Đồng thời, chủ động công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng cả ở trong nước và quốc tế.

Thứ tám, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực quyền con người. Đồng thời, chú ý lắng nghe dư luận nhân dân, tiếp nhận ý kiến giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Coi trọng phát hiện các yếu tố tích cực, điển hình tiên tiến, những cán bộ, đảng viên, chức sắc tôn giáo, già làng, người có uy tín tiêu biểu để tuyên dương, rút ra những bài học, kinh nghiệm. Tiếp tục xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới./.