Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp

 

Ngày 10-1-1960 là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp. Trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, ngày 10-1-1946, Bác nhắc nhở: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.

Chuyên mục Ngày này năm xưa số ra ngày 10-1-2022 cũng được Báo Quân đội nhân dân Điện tử  thực hiện dưới hình thức các tác phẩm phát thanh podcast tại đây và video clip trên Chuyên trang Media Báo Quân đội nhân dân Điện tử, trân trọng mời bạn đọc xem thêm.

Một số sự kiện trong nước và quốc tế ngày 10-1

Sự kiện trong nước

10-1-1937: Đại biểu các xí nghiệp in ở Hà Nội đã tổ chức cuộc họp tại nhà số 181 phố Lò Đúc, Hà Nội để thành lập Bắc Kỳ ấn công ái hữu hội và nêu thỉnh nguyện 15 điểm với chính phủ Pháp. Ngày 10-1 trở thành ngày truyền thống của công nhân ngành in Việt Nam.

10-1 đến 31-3-1950: Chiến dịch Võ Nguyên Giáp. Đây là chiến dịch tiến công quân Pháp tại khu vực bắc Quảng Nam, Đà Nẵng do Bộ Tư lệnh Liên khu 5 tổ chức, chỉ huy nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, triệt đường giao thông tiếp tế từ Đà Nẵng ra Huế, uy hiếp Đà Nẵng, phá âm mưu của địch đánh chiếm miền Tây Quảng Ngãi; bồi dưỡng lực lượng ta, đẩy mạnh chiến tranh du kích; làm tan rã khối ngụy quân, ngụy quyền, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch.

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (22-12-1962). Ảnh tư liệu

Từ cuối năm 1949, để đối phó với phong trào kháng chiến đang phát triển mạnh ở Quảng Nam, Đà Nẵng, quân Pháp tập trung sức củng cố các vị trí đóng quân ở thành phố Đà Nẵng và dọc Quốc lộ 1, đồng thời mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá ở nhiều nơi, nhất là vùng Đồng Xanh, Phú Túc, huyện Hòa Vang và phía Tây các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc thuộc tỉnh Quảng Nam.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 chủ trương mở Chiến dịch Võ Nguyên Giáp tiến công địch trên địa bàn bắc Quảng Nam - Đà Nẵng; phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, kìm chân không cho địch tăng viện ra phía Bắc. Chiến dịch diễn ra 3 đợt. Kết quả, sau gần 3 tháng chiến đấu, về cơ bản đạt được mục đích đề ra, góp phần củng cố và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Ngày 5-5-1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm các đơn vị thông tin và quân y tham gia duyệt binh ngày 1-5-1973. (Ảnh: Vũ Tạo/TTXVN) 

Đây là một trong những chiến dịch thành công của LLVT Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp, với nét nổi bật là chọn hướng tiến công chính xác, vận dụng đúng đắn phương châm đánh điểm diệt viện. Trong quá trình chiến dịch, sự phối hợp, giúp đỡ tích cực có hiệu quả của các đoàn thể cách mạng và nhân dân địa phương trong chuẩn bị chiến trường cũng như trong thực hành chiến dịch là một trong những yếu tố quyết định thành công. Thắng lợi của chiến dịch đã củng cố, nâng cao lòng tin của nhân dân, tạo đà đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở địa phương.

10-1-1982: Công bố Luật Nghĩa vụ Quân sự và Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam thay cho Luật Nghĩa vụ Quân sự 1960, các luật sửa đổi, bổ sung 1962, 1965 và Luật về Chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân 1958.

10-1-2005: Hội nghị thường niên lần thứ 13 Diễn đàn nghị viện Châu Á - Thái Bình Dương (APPF-13) do Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức khai mạc tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Sự kiện quốc tế

10-1-1863: Thủ Tướng William Gladstone khai mạc khu vực hệ thống đường ray xe điện ngầm đầu tiên của London từ Paddington tới khu phố Farringdon.

10-1-1920: Hội Quốc Liên phê chuẩn Hiệp ước Versailles, chính thức kết thúc Thế chiến thứ I với Đức Quốc xã.

10-1-2003: Bắc Hàn tuyên bố sẽ rút lui khỏi Hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân toàn cầu và không có kế hoạch phát triển vũ khí hạt nhân.

Theo dấu chân Người

Ngày 10-1-1925: Từ Quảng Châu, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản hỏi về việc có thể nhận bao nhiêu sinh viên Việt Nam vào học Trường Đại học Cộng sản chủ nghĩa ở Moscow.

10-1-1946: Trong buổi thăm Hưng Yên, Bác đã có cuộc nói chuyện với nông dân, điền chủ. Tiếp các vị thân hào tới chào mừng, Bác nói rằng: “... Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ mà là của tất cả mọi quốc dân”. Bác động viên các thân hào có của, người lao động có công cùng nhau tham gia củng cố đê điều. “Nước sông cao bao nhiêu đi nữa, mà lòng nhiệt tâm của các bạn cao hơn thì không bao giờ có lụt nữa” .

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường đại thủy nông Bắc – Hưng – Hải (25-12-1958). Ảnh tư liệu
Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm kè bảo vệ sông Đà ở Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (8-7-1958). Ảnh tư liệu
Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch Hồ Chí Minh tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quai Chảo, xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, Hà Đông (12-1-1958). Ảnh tư liệu 

10-1-1947: Thời điểm này chiến tranh đã lan rộng cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì đấu tranh ngoại giao, tranh thủ mọi cơ hội để đàm phán mong lập lại hòa bình. Nhưng Bác Hồ cũng cảnh cáo giới thực dân hiếu chiến trong lá thư đề ngày 10-1-1947 rằng: “Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước. Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến hẳn khỏi cõi Á châu”. Lời tiên đoán ấy về sau đã thành sự thật.

Ngày 10-1-1960, Bác Hồ xuống bến Sửu Kho, Hải Phòng để đón chuyến tàu biển đầu tiên đưa bà con Việt kiều từ Thái Lan trở về nước.

(Sách Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày này năm xưa, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, 2010)

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

“Dân chỉ biết giá của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, ngày 10-1-1946; đăng trên Báo Cứu quốc, số 139, ngày 11-1-1946.

Trong bài phát biểu Bác chỉ ra: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Từ đó Bác yêu cầu cần thực hiện ngay 4 việc: Làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở và làm cho dân có học hành.

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Bác Hồ đi thăm Nhà máy diêm Thống Nhất; Nhà máy in Tiến Bộ; Xưởng may 10; Công trường xây dựng cầu Việt Trì và Nhà máy liên hợp dệt Nam Định. Ảnh tư liệu 
Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Bác Hồ đi thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh; Hợp tác xã nông nghiệp Tân Lập, Hà Tây; Lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà Nội; Người cùng kéo lưới với bà con ngư dân ở vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hóa; Người đến thăm công trường xây dựng Nhà máy điện Vinh, Nghệ An. Ảnh tư liệu 

Lời phát biểu nêu lên thực trạng về những khó khăn chồng chất mà nhân dân đang phải đối mặt, gánh chịu; là thông điệp khẩn cấp kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nêu cao truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, gắng tìm mọi cách khắc phục khó khăn, giải cứu đất nước, nhân dân thoát khỏi cơn hoạn nạn; là tiền đề đến ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi Thi đua ái quốc; phát động, nuôi dưỡng, phát triển các phong trào thi đua, như: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “Hũ gạo chiến thắng”, “Bình dân học vụ”… kịp thời động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; thi đua học tập xóa nạn mù chữ chống giặc dốt; dũng cảm, ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm, làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Trong thời kỳ đổi mới, quân dân sát cánh tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân.

Trong thời kỳ đổi mới, thấm nhuần lời Bác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã và đang ra sức hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước, thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân; quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững. 

Cùng với đó, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần “sản xuất cũng là một mũi tiến công”, vừa là “đội quân chiến đấu”, “đội quân công tác”, vừa là “đội quân lao động sản xuất”; chủ động ra quân trên nhiều lĩnh vực sản xuất, mạnh dạn đi vào nhiều ngành kinh tế mũi nhọn và hội nhập quốc tế; góp phần làm ra của cải vật chất cho xã hội, giữ vững và nâng cao đời sống bộ đội, tích cực tham gia giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội; tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trong tình hình mới.

Dấu ấn Bác Hồ trên Báo Quân đội nhân dân

Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 527, ngày 10-1-1956 đăng bài viết kèm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm xưởng may Kho 05 và xưởng may 10 thuộc Tổng cục Hậu cần. Bức ảnh chụp Bác đang góp ý kiến với cán bộ, công nhân xưởng may 10 về cách cắt vải. Nhân dịp này, Bác Hồ đã khen ngợi những tiến bộ của đơn vị do đã có những cố gắng và tinh thần cải tiến kỹ thuật của cán bộ và công nhân viên. Người cũng nhắc nhở anh chị em công nhân và cán bộ ý thức và nhiệm vụ làm chủ nhà máy, ra sức thi đua phát huy sáng kiến, "không sợ khó, không sợ khổ để làm cho bản thân mình, giai cấp mình mau sung sướng”.

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số ra các ngày 10-1 năm 1956, 1967 và 1968. 

Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 10-1-1967 đăng bài viết kèm ảnh Hồ Chủ tịch tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và các anh hùng vừa được tuyên dương. Nhân dịp này, Bác căn dặn: Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng. Các anh hùng và các đơn vị anh hùng phải khiêm tốn, đoàn kết học tập, giúp đỡ nhau tiến bộ, thi đua lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa…

Ngày 10-1-1968, trên trang nhất Báo Quân đội nhân dân đăng ảnh Hồ Chủ tịch tiếp thân mật Hoàng thân Nô-rô-đôm Phu-rít-xa-ra, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Vương quốc Campuchia nhân dịp sang thăm nước ta.

“Lý tưởng vĩ đại của Đảng ta, vận mạng của Tổ quốc ta, đời sống của giai cấp ta và nhân dân ta đòi hỏi toàn Đảng và mỗi đảng viên phải phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội”.

Đây là lời của Bác được đăng trên trang nhất Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 10-1-1995.

Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 10-1-1995. 
Ngày 10-1-1950: Là ngày mở màn Chiến dịch Võ Nguyên Giáp
 

TƯỜNG VY (tổng hợp)

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Các nhà văn trẻ hãy viết bằng nét đẹp văn hóa dân tộc, bằng lương tri, bản lĩnh của con người Việt Nam

 

Ngày 9-1, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Lễ phát động cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi, trao giải thưởng Tác giả trẻ lần thứ nhất. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu chỉ đạo.

Cùng dự có các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và đại diện lãnh đạo một số ban, ngành, Hội Nhà văn Việt Nam và các nhà văn.

Cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi dành cho hai thể loại: Văn xuôi và Thơ, kéo dài trong 5 năm (từ cuối năm 2021 đến tháng 5-2025) và chia làm hai đợt (đợt một: Từ tháng 1-2022 đến tháng 6-2023; đợt hai: Từ tháng 7-2023 đến tháng 7-2025), hướng tới mục đích thông qua sáng tác văn học, ca ngợi, cổ vũ, tôn vinh những đức tính, hành động, suy nghĩ tốt đẹp, từ đó khơi gợi, bồi đắp, làm giàu cho tâm hồn thiếu nhi, hướng thiếu nhi trở thành những con người có nhân cách, có ích trong tương lai. 

Giải thưởng Tác giả trẻ nằm trong hệ thống giải thưởng hằng năm của Hội Nhà văn Việt Nam, trao tặng những tác phẩm văn học xuất sắc trong năm (xuất bản từ ngày 1-10 năm trước đến 30-9 năm trao giải) gồm bốn thể loại: Thơ, Văn xuôi, Lý luận - phê bình và Văn học dịch của các tác giả tuổi từ 35 trở xuống (tính tại thời điểm xuất bản sách), trị giá mỗi giải thưởng là 30 triệu đồng.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Các nhà văn trẻ hãy viết bằng nét đẹp văn hóa dân tộc, bằng lương tri, bản lĩnh của con người Việt Nam
 Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tặng quà cho các nhà văn. Ảnh: TTXVN

Các tác giả đoạt giải thưởng Tác giả trẻ năm 2021: Thể loại Thơ có tác giả Lý Hữu Lương (tập thơ Yao), Phương Đặng (tập thơ Con người); Văn xuôi: Đinh Phương (tiểu thuyết Nắng thổ tang); Lý luận phê bình: Vũ Thị Trang (tác phẩm Phê bình phân tâm học phía của những ám ảnh nghệ thuật); Văn học dịch: Nguyễn Bình (Bản dịch tiếng Anh tác phẩm Truyện Kiều).

Theo Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều, giải thưởng Tác giả trẻ góp phần khích lệ, động viên thế hệ các cây bút trẻ trong sự nghiệp tiếp bước các nhà văn đi trước, mở ra những giá trị mới mẻ, hiện đại với tinh thần nhân văn sâu sắc, lan tỏa mạnh mẽ tới đời sống.

Phát biểu tại Lễ phát động, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh vị thế và vai trò của nhà văn và các tác phẩm còn ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là những tác phẩm văn học có giá trị, có sức lan tỏa và trường tồn với thời gian.

Chủ tịch nước đánh giá cao Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ phát động cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi, trao giải thưởng Tác giả trẻ lần thứ nhất; hoan nghênh và ủng hộ chiến lược của Hội Nhà văn Việt Nam nhằm tạo ra những tác phẩm văn chương xuất sắc cho trẻ em cũng như mang những tác phẩm văn chương ấy đến với trẻ em, đặc biệt là trẻ em miền núi và vùng sâu, vùng xa.

Chủ tịch nước khẳng định văn học đích thực là nguồn suối trong lành, tươi mát trong tâm hồn, rũ bỏ bụi bẩn và mệt nhọc của cuộc sống. Sáng tác văn học thiếu nhi là một chủ đề thú vị và ý nghĩa, cần được khuyến khích và lan tỏa mạnh mẽ bởi con người cần được gieo những hạt giống tâm hồn, không ngừng ước mơ nuôi dưỡng những khát khao, tôi rèn ý chí hoài bão ngay từ khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành và văn học chính là nguồn dưỡng khí nuôi tâm hồn, hướng thiện, lành mạnh, vị tha, giàu lòng nhân ái; đồng thời hun đúc ý chí, nghị lực vươn lên của con người, nhất là đối với thế hệ trẻ, thanh niên, thiếu niên, thiếu nhi, nhi đồng.

Những gì chứa đựng trong tâm hồn trẻ em hôm nay, chính là bản thiết kế quan trọng cho chân dung những công dân Việt Nam trong tương lai.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Các nhà văn trẻ hãy viết bằng nét đẹp văn hóa dân tộc, bằng lương tri, bản lĩnh của con người Việt Nam

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trao giải thưởng cho các tác giả trẻ lần thứ nhất. Ảnh: TTXVN 

Nhấn mạnh những tác phẩm văn học nghệ thuật làm cho con người sống một đời sống có nhân phẩm, nhân văn và tâm hồn phong phú và nếu không gieo những hạt giống của cái đẹp và lòng nhân ái vào tâm hồn trẻ em hôm nay thì trong tương lai khó mà có được những mùa người nhân ái và các nhà văn là những người bền bỉ hết thế hệ này đến thế hệ khác đi gieo những hạt giống nhân văn ấy trên cánh đồng nhân cách của đời sống hằng ngày, Chủ tịch nước kêu gọi các nhà văn Việt Nam, toàn xã hội hãy vì tương lai của dân tộc dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em; các nhà văn trẻ hãy tiếp bước các thế hệ đi trước, viết bằng nét đẹp văn hóa dân tộc mình, bằng tâm thế của thời đại mình, bằng lương tri, bản lĩnh của con người Việt Nam.

Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước mong muốn Hội Nhà văn Việt Nam trên cơ sở chiến lược phát triển đất nước, các cơ quan có chức năng cần tạo ra một không gian sáng tạo để nhà văn sáng tạo nhưng không được làm ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia, dân tộc và của Đảng; quan tâm và sớm khôi phục lại các trại sáng tác với những cách làm phong phú, tạo ra không gian tốt, hệ sinh thái tốt cho sự ra đời của các tác phẩm mới; đề nghị các cơ quan và nhà trường tạo không gian cho các em sáng tạo, nhất là các cuộc thi sáng tác trong trường học để các em được cất lên tiếng nói, thể hiện ước mơ, hoài bão của mình.

TTXVN

Phó Thủ tướng yêu cầu đánh giá lại cấp độ dịch

 

 Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa yêu cầu Bộ Y tế khẩn trương rà soát, sửa đổi hướng dẫn đánh giá cấp độ dịch; chỉ đạo việc sử dụng thuốc điều trị Covid-19 bảo đảm an toàn, hiệu quả.

Văn Phòng Chính phủ vừa có công văn truyền đạt chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu Bộ Y tế khẩn trương rà soát, sửa đổi hướng dẫn đánh giá cấp độ dịch tại Quyết định số 4800 thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ ban hành quy định tạm thời thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 cho phù hợp với tình hình mới.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Y tế chỉ đạo việc sử dụng thuốc điều trị (kể cả thuốc kháng virus), bảo đảm an toàn, hiệu quả; rà soát, chỉ đạo nhập khẩu, sản xuất, sử dụng, phân phối thuốc kháng virus bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định.

Quyết định 4800 được Bộ Y tế ban hành từ giữa tháng 10/2021 đưa ra các tiêu chí đánh giá các cấp độ dịch dựa trên số ca nhiễm cộng đồng mỗi tuần, tỷ lệ người từ 18 tuổi trở lên được tiêm ít nhất 1 liều vắc xin phòng Covid-19 và năng lực y tế.

Nhân loại đang trở về với Mác

 

Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai.

Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu.

Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật.

Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử.

Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán.

Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép.

Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng!

Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử.


Những biến tướng làm méo mó Chủ nghĩa Mác


Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời.

Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin. Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc.

Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan.

Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.

Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...

Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo.

Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.


Quân đội nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Đó là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, những năm gần đây, các thế lực thù địch hướng trọng tâm vào chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là “mũi đột phá”, “cây cầu dẫn vào trận địa” để chống Đảng, chống chế độ ta. Họ ra sức lợi dụng xuyên tạc, công kích, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”; “Chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với hiện thực Việt Nam”, v.v. Không những thế, họ còn công kích, đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc con đường phát triển của dân tộc đã được Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn.

Vừa qua, lợi dụng việc Đảng ta tiếp tục khẳng định việc trung thành với mục tiêu, con đường đã lựa chọn thông qua các bài viết, bài phát biểu chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo, các đối tượng phát tán nhiều tài liệu có nội dung phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; xuyên tạc chủ nghĩa xã hội là học thuyết “lạc đường”, đi ngược lại sự phát triển của nhân loại, đã bị hầu hết quốc gia trên thế giới bài trừ; Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bị “phán xét” vì vẫn cố bám lấy học thuyết này. Họ chĩa mũi nhọn xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng khi đưa ra luận điệu kích động: “Trong các khái niệm kinh tế trên thế giới, không có khái niệm nào phức tạp bằng khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho đó là “mơ hồ, tối nghĩa, không có thực”. Đảng ta ban hành Quy định số 37-QĐ/TW “Về những điều đảng viên không được làm” nhằm thực hiện việc đổi mới, chỉnh đốn, làm trong sạch nội bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thì họ lu loa rằng việc làm đó đã chứng tỏ “tổ chức Đảng đang có dấu hiệu rệu rã, sự lãnh đạo sai hoặc nhầm phương hướng”; chủ yếu là để “lên gân, dọa nhau, chứ không giải quyết được vấn đề gì”! Khi Đảng đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ vi phạm cho dù họ đảm nhiệm cương vị gì, thì chúng lại cho rằng đó là “thanh trừng nội bộ”, “lợi ích nhóm”, v.v. Từ bản chất quy thành hiện tượng, sự việc nhỏ thổi phồng thành sự việc lớn, nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá nhân,… là mưu đồ của các thế lực thù địch hòng chống phá nền tảng tư tưởng, làm cho Đảng mất phương hướng lãnh đạo, mục ruỗng từ bên trong để họ dễ bề thực hiện mưu đồ xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng.

Một trong những trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Về thực chất của mưu đồ này là lôi kéo Quân đội ta xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho Quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị, phai nhạt về lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về mặt tổ chức và bị vô hiệu hóa, không còn sức mạnh, công cụ bạo lực trung thành để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Sự chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, với mưu đồ ngày càng tinh vi, xảo quyệt, khó đoán định cho đến khi họ đạt được mục tiêu làm mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Bởi vậy, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng; là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị.

Đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị - đạo đức không chỉ mang tính cách mạng và khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Lý tưởng chiến đấu đó, thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị - đạo đức cao cả của Quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị của quân đội cách mạng, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Trong chiến đấu, Quân đội thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong lao động sản xuất, Quân đội tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xung kích đến những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, gian khổ để xây dựng khu kinh tế - quốc phòng, công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Thực hiện đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn đồng cam, cộng khổ cùng nhân dân, tích cực vận động và giúp dân xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; luôn xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đồng thời, là lực lượng tiên phong đấu tranh với chiến lược “Diễn biến hòa bình”, quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Càng trong những khó khăn, thử thách, bước ngoặt của cách mạng, bản chất của Quân đội ta càng thể hiện rõ nét; bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với Đảng, chế độ thì bản lĩnh, lòng trung thành, ý chí, quyết tâm chiến đấu của Quân đội lại trỗi dậy, với tinh thần còn Đảng là còn mình, bảo vệ Đảng là bảo vệ một lý tưởng cao đẹp của thời đại - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong tình hình hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang trở nên bức thiết; Quân đội nhân dân là một trong những lực lượng tích cực tham gia, tiên phong, đi đầu, đồng thời cũng là lực lượng mà các thế lực thù địch chĩa mũi nhọn tập trung chống phá nhằm thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa”, tách sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, đồng thời cũng là nền tảng tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động trong Quân đội, đảm bảo cho công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc luôn đi đúng hướng, sát yêu cầu nhiệm vụ, thực sự trở thành công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu hiện nay, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, “phi chính trị hóa” Quân đội, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng luôn hiện hữu trong môi trường quân đội; cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, xác định tốt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không bị tác động bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội càng phải được coi trọng, quyết tâm chính trị cao, thể hiện rõ vai trò là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu trong trận chiến không khói súng này.

Trước hết, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Ngay sau khi Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Quyết định số 169-QĐ/TW, ngày 07/01/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Ban Bí thư ra Kế hoạch số 53-KH/TW, ngày 25/3/2019 về thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới,… Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 701-QĐ/QUTW, ngày 14/7/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Quân ủy Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chỉ đạo thống nhất trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Đồng thời, thành lập Ban Chỉ đạo, bộ phận giúp việc các cấp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, xây dựng Quy chế, bảo đảm trang thiết bị hoạt động, hoàn thiện các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, duy trì hoạt động thường xuyên, liên tục. Cấp ủy các cấp trong Đảng bộ Quân đội quán triệt, ra nghị quyết chuyên đề, xây dựng kế hoạch thực hiện; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, tạo mạng lưới sâu rộng đấu tranh kiên quyết với mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Qua đó, thống nhất về mặt tư tưởng, định hướng hoạt động, xây dựng quyết tâm, chỉ đạo thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả”. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, Ban Chỉ đạo 35 các cấp tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả, khen thưởng, biểu dương những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực này; đồng thời, chấn chỉnh nơi làm chưa tốt, trách nhiệm chưa cao, còn biểu hiện hình thức, đối phó, chưa mang lại hiệu quả thiết thực.

Hai là, tổ chức nghiên cứu tổng hợp, xử lý thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức lực lượng nghiên cứu, thu thập, xử lý, cung cấp thông tin thuộc bộ phận chuyên sâu các cấp; kết hợp khai thác nguồn tin ở đơn vị, địa phương, cơ sở, kịp thời nắm, đánh giá, dự báo tình hình, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trọng tâm là những thủ đoạn mới, các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chủ quyền biên giới, biển, đảo; dân tộc, tôn giáo; dân chủ, nhân quyền, môi trường, dân sinh; các thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; về đối tượng, đối tác; bản chất, truyền thống lịch sử, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; âm mưu, thủ đoạn, tính chất nguy hiểm từ những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,... nhằm thống nhất nhận thức, chỉ đạo hành động cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân.

Ba là, tổ chức đấu tranh công khai trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội. Bám sát nhiệm vụ chính trị, tình hình thực tiễn đơn vị, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương, cộng tác viên trong và ngoài Quân đội, nhằm đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chú trọng những tấm gương điển hình tiên tiến của đơn vị, … tạo sự đồng thuận trong toàn quân và toàn xã hội, sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” của cán bộ, chiến sĩ trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Tiếp tục duy trì và phát huy các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tăng số lượng các bài viết chuyên sâu theo yêu cầu, nhiệm vụ. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội. Bám sát các sự kiện chính trị, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để đặt bài viết chuyên sâu, tài liệu chuyên khảo, thông tin định hướng đấu tranh của chuyên gia, nhà khoa học, tổ công tác, cộng tác viên tích cực trong và ngoài Quân đội làm tài liệu tuyên truyền, định hướng đấu tranh trên Internet, mạng xã hội.

Ban Chỉ đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng các cấp trong Quân đội và các cơ quan báo chí Quân ủy Trung ương, hằng năm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ viết bài, tuyên truyền đấu tranh cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên tích cực, học viên các nhà trường Quân đội; tăng cường phối hợp, trao đổi kinh nghiệm viết bài về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đưa nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào nội dung giáo dục chính trị, thông báo thời sự cho các đối tượng; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trong Quân đội.

Bốn là, tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý chặt chẽ tình hình nội bộ, không để đột biến xảy ra. Muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, trước hết nội bộ các cơ quan, đơn vị phải ổn định, tư tưởng phải thông suốt, có sự đồng thuận từ trên xuống dưới, nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, toàn quân cần làm tốt công tác quản lý, lãnh đạo, định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin, trao đổi nghiệp vụ, đảm bảo công tác tư tưởng phải đi trước một bước, làm cho bộ đội nắm vững đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của Quân đội, đối tượng, đối tác, mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên rà soát nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, phức tạp; tổ chức trao đổi, đối thoại với những cá nhân có nhận thức khác với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội tạo sự nhất trí, đồng thuận, hợp tác trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát, bổ sung, xây dựng, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tình hình nội bộ; nắm chắc những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; chủ động nắm, quản lý, đánh giá tình hình tư tưởng, định hướng cho bộ đội, không để bị động, bất ngờ.  

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng  trong Quân đội, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Quân đội với cơ quan tuyên giáo, công an, Hội đồng Lý luận Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng, đoàn thể chính trị - xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trao đổi, cung cấp thông tin, kinh nghiệm hoạt động, xử lý các tình huống khi có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Xây dựng chương trình, quy chế hoạt động phù hợp với đặc điểm, chức năng của từng lực lượng và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Định kỳ trong từng thời gian, tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả phối hợp với từng lực lượng, rút kinh nghiệm những vấn đề bất cập nảy sinh, xác định phương phướng phối hợp hoạt động trong thời gian tới, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang lại hiệu quả thiết thực.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Phát huy vai trò của mình, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn chủ động, tiên phong, đi đầu trên mặt trận này, góp phần làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xứng đáng với niềm tin, sự kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân./.

Thiếu tướng, TS. Đỗ Hồng Lâm, nguyên TBT Tạp chí Quốc phòng Toàn dân

Dangcongsan.vn

Dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng

 

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Lâu nay, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất đảng nên “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và vì thế dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến ở Việt Nam không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức”.

Đây là những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng XHCN ở nước ta.

Trên thế giới hiện nay có ba chế độ dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng đều có những yếu tố chung: (1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả thành viên xã hội); (2) bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo đất nước; (3) quyền lực của nhà nước được chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có chức năng riêng: Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc Hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện. Lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, trình độ dân chủ và sự phát triển của đất nước không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng đảng phái chính trị. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất.

Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trợ sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái. Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển.

Điển hình như hiện nay, Armenia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng rõ ràng chúng ta không thể kết luận Armenia dân chủ hơn Hà Lan hay Na Uy. Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy rằng, chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ, đất nước không phát triển.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Điển hình như vào cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền nhưng đất nước vẫn phát triển mạnh mẽ và ngược lại, ở một số quốc gia đa đảng vẫn không thực hiện tốt dân chủ. Đồng thời, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một giai đoạn chính trị nhất định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền và thậm chí ngay cả trường hợp khi liên minh đảng cầm quyền để thành lập chính phủ, đảng nào chiếm số ghế nhiều hơn trong nghị viện sẽ có quyền quyết định trong các chính sách phát triển của đất nước. Ở một số quốc gia khác (điển hình là Mỹ), mặc dù có nhiều đảng nhưng chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ. Những đảng này đại diện cho giai cấp tư sản thì tất yếu phải hướng đến phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản chứ không thể là một “chính quyền của tất cả mọi người”.

Trải qua hơn 90 năm ra đời và lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn khẳng định được vị trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng và đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ trong xã hội không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế.

Phan Dương

Cand.com.vn

Chủ nghĩa xã hội: Một tất yếu của lịch sử thế giới

 

Vào một đêm lạnh giá cuối năm 1991, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) chấm dứt sự tồn tại. Các thế lực tư bản và phản động hý hửng vội vàng có thể kết liễu chủ nghĩa xã hội bằng “chiến thắng không cần chiến tranh”(1) để chủ nghĩa tư bản trở thành “điểm đến cuối cùng của lịch sử”(2)… Sự thật thì hoàn toàn khác hẳn!

Chủ nghĩa xã hội vẫn thể hiện sức mạnh và sức sống ngay trong những bước vận động quanh co của lịch sử. Nhìn lại 30 năm sự biến ở Liên Xô (1991-2021), một lần nữa khẳng định điều này có ý nghĩa tư tưởng - lý luận và chính trị - thực tiễn rất thiết thực.

1. Ước mơ về một xã hội phồn vinh, hạnh phúc, không còn bóc lột, áp bức, bất công đã sớm xuất hiện ngay từ buổi mình minh của lịch sử nhân loại, nhất là từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp. Kế thừa và phát triển tinh hoa tư tưởng và lý luận của nhân loại vào bối cảnh thế kỷ XIX, C.Mác - Ph.Ăngghen đã tiếp tục phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội, đem lại cho lý luận hàng trăm năm tuổi này bản chất khoa học bằng cách chỉ rõ con đường, lực lượng, phương pháp, chiến lược của cách mạng vô sản và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngay từ khi Tuyên ngôn Đảng Cộng sản được xuất bản lần đầu tiên đầu năm 1848, trình bày một cách hệ thống những nội dung cơ bản của học thuyết sau này mang tên C.Mác vĩ đại trên cả ba bình diện triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, nhiều đại diện của giai cấp tư sản đã hốt hoảng la ó: Đây là bóng ma ám ảnh châu Âu ! Họ có lý do để hốt hoảng, vì lý luận của Mác đã thức tỉnh mọi người về các quy luật vận động tất yếu của lịch sử và về cách thức lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp hơn, từng bước đưa con người từ “vương quốc của tất yếu” đến “vương quốc của tự do”.

Hơn 20 năm sau Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, vô sản Pháp đã lãnh đạo quần chúng cách mạng lật đổ chính quyền tư sản và thiết lập Công xã như chính quyền của công nhân tại Thủ đô Paris, Kinh đô Ánh sáng của toàn châu Âu ngày ấy. Công xã đã phá tan huyền thoại về sức mạnh “bất khả chiến bại” của chính quyền tư sản, thậm chí đã buộc cả chính quyền tư sản Pháp cùng đội quân xâm lược của đế chế Đức phải bỏ Paris tháo chạy về Versailles. Tồn tại và hoạt động trong 72 ngày, Công xã Paris là biểu tượng cao đẹp của vô sản “chọc thẳng lên Trời”, khiến các thế lực tư bản không chỉ hoảng hốt với “bóng ma” cộng sản, mà thật sự hoảng loạn với hiện thân của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ngay giữa sào huyệt của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XIX.

Như vậy là, lý luận chủ nghĩa xã hội không hề là “bóng ma” do ai đó tung ra hoặc một sức mạnh huyền bí nào tạo thành, mà là tư tưởng của toàn nhân loại, đúc kết những ước mơ, khát vọng cao đẹp của xã hội loài người và được C.Mác - Ph.Ăngghen phát triển thành khoa học của sự nghiệp giải phóng.

2. Đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã có gần 3 thế kỷ hình thành và phát triển, tính từ cách mạng tư sản Anh năm 1640. Cùng với chế độ tư bản chủ nghĩa ở chính quốc, chủ nghĩa tư bản còn có hệ thống thuộc địa rộng lớn toàn cầu, tạo thành sức mạnh tưởng như không gì phá vỡ nổi! Diễn biến của lịch sử lại rất khác! Năm 1917, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích do Người đứng đầu, Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga giành thắng lợi, lật đổ chính quyền Sa hoàng - tư sản, thiết lập chính quyền của các Xô viết công - nông - binh và khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là những ngày tháng làm “rung chuyển thế giới”, đúng như nhà báo Mỹ John Reed trực tiếp chứng kiến và mô tả (3). Thành công của Cách mạng tháng Mười và sự ra đời của nước Nga xã hội chủ nghĩa đã chấm dứt gần 3 thế kỷ chế độ tư bản chủ nghĩa độc tôn trên bản đồ chính trị thế giới; đã biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học trở thành hiện thực sinh động; đã khai sinh ra một hình thái kinh tế - xã hội mới trong lịch sử nhân loại có thiên chức phủ định biện chứng hình thái tư bản chủ nghĩa. Ý nghĩa to lớn và nhiều mặt như vậy của sự kiện đã làm cho tất thảy các thế lực tư bản đế quốc tức nghẹn mà nhiều thập kỷ sau đó vẫn không thể “nuốt trôi”!

Trong tâm thế bị rung chuyển như vậy, các thế lực tư bản đế quốc và phản động ra sức tuyên truyền về Cách mạng tháng Mười và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, sau này là toàn Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết như một sản phẩm duy ý chí của lãnh tụ Lênin…! Thực tế cho thấy, không vĩ nhân nào có thể tự tạo ra được cuộc cách mạng đưa quốc gia dân tộc và cả thế giới bước vào trang sử mới như Cách mạng tháng Mười, nếu không có nhu cầu khách quan từ chính lịch sử. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra là để đáp ứng kịp thời và hữu hiệu yêu cầu của mục tiêu phát triển khi thế giới bước vào thế kỷ XX.

Ngay sau khi ra đời, nước Nga Xô viết đã phải đương đầu với cuộc bao vây, tấn công của các lực lượng đế quốc quốc tế. Cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa đã kiên cường trụ vững; đồng thời, năng động triển khai chính sách kinh tế mới trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo con đường tháng Mười và nước Nga Xô viết, hàng chục quốc gia và nước cộng hòa đã thống nhất thành lập Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) năm 1922, khẳng định rất sáng tỏ đây là lựa chọn của hơn 200 triệu nhân dân các dân tộc toàn Liên bang có diện tích trên 22 triệu km2, một vùng lãnh thổ thật sự rộng lớn xuyên từ châu Á sang châu Âu. Liên bang Xô viết đạt nhiều thành tựu phát triển kinh tế - xã hội rất ấn tượng, nêu ra một hình mẫu về hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc; về văn minh và tiến bộ xã hội; về giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng lao động và giải phóng con người.

Với bản chất hiếu chiến đặc trưng, các thế lực tư bản đế quốc và phát xít một lần nữa thực hiện dã tâm tiêu diệt chủ nghĩa xã hội bằng cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945). Trước thử thách mang tính sống còn, nhân dân Xô viết đã tổ chức cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, vượt qua đói rét khắc nghiệt và lửa đạn của cả phe “Trục” hung hãn, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và truy quét phát xít đến tận sào huyệt Berlin. Động lực gì đã thôi thúc hàng trăm triệu Hồng quân và nhân dân Xô viết cảm tử viết nên bản hùng ca vĩ đại ? Đó là động lực từ một chế độ xã hội ưu việt, thể hiện sự lựa chọn của lịch sử và phản ánh tất yếu vận động của thế giới ở thế kỷ XX.

3. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng ở hàng loạt quốc gia châu Âu (CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, Bungary, Rumani, Anbani…), châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Mông Cổ, Triều Tiên, Lào) và khu vực Mỹ Latinh (Cuba), tạo thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Bên cạnh đó, có hàng chục quốc gia khác định danh xã hội chủ nghĩa trong quốc hiệu của mình và nhiều quốc gia Á - Phi - Mỹ Latinh tuyên bố định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên bản đồ thế giới nửa sau thế kỷ XX, màu đỏ tượng trưng cho phong trào xã hội chủ nghĩa chiếm tỷ lệ gần như tương đương với màu trắng tượng trưng cho các nước tư bản chủ nghĩa. Có ai tự ý vẽ được bản đồ như vậy, nếu không có cơ sở từ hiện thực như hiện thân của tất yếu lịch sử thế giới?

Chỉ tính riêng các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa có cùng mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, đã có thời chiếm gần 1/3 diện tích, 1/4 dân số và 40% sản lượng công nghiệp toàn thế giới. Với người lao động ở vị trí làm chủ xã hội, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đạt nhiều thành tựu vĩ đại; đã phát triển kinh tế rất mạnh mẽ, vượt qua chủ nghĩa tư bản về tốc độ tăng trưởng trong nhiều thập kỷ, công nghiệp hóa thành công, nhanh chóng xóa bỏ tình trạng nghèo nàn ở nhiều quốc gia, trở thành một lực lượng kinh tế - vật chất hùng hậu trên thế giới. Phát triển xã hội với nhiều ưu việt về văn hóa, giáo dục, y tế, nhà ở, thể thao, bình đẳng giới, phúc lợi xã hội và quyền của nhân dân lao động nói chung. Phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ với tốc độ và thành tựu bước ngoặt, dẫn đầu thế giới trên nhiều lĩnh vực, điển hình là khoa học vũ trụ, kỹ thuật quân sự... Thực hành nền đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển, gắn hòa bình với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, quyền tự quyết, bình đẳng trong sinh hoạt quốc tế; tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới giữa các quốc gia dân tộc; giương cao ngọn cờ chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chỉ một chế độ xã hội là sản phẩm đích thực của thời đại lịch sử mới có thể đạt nhiều thành tựu rực rỡ và đem lại cuộc sống hòa bình, thịnh vượng, hạnh phúc cho hàng tỷ con người, như chủ nghĩa xã hội hiện thực đã thực hiện trên thực tế!

4. Trong những năm tháng chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng nặng nề, những đầu óc tư bản đế quốc và phản động trên thế giới đều chỉ biết hình dung ra viễn cảnh toàn bộ các quốc gia xã hội chủ nghĩa lần lượt sụp đổ như các quân bài đôminô (4)! Một lần nữa, lịch sử lại phải dạy cho họ một bài học cần thiết: Thông qua cải cách, đổi mới, chủ nghĩa xã hội vượt qua khủng hoảng và phát triển rất đặc sắc trong bối cảnh mới của thời đại.

Cải cách chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc (từ năm 1978), đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) và các quá trình tương tự ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được triển khai với các nguyên tắc đúng đắn; vừa toàn diện, đồng bộ vừa có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, giải pháp phù hợp; vừa kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, gắn quốc gia với thế giới. Nhờ vậy, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới và cường quốc lớn nhất đang trỗi dậy; Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Cuba hiên ngang trước bao vây cấm vận, kiên định xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền, dân chủ, thịnh vượng và bền vững; các nước xã hội chủ nghĩa khác đều có nhiều thành công trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội. Đây thật sự là một quá trình cải cách, đổi mới thành công cả về tư duy lý luận, nhận thức, tầm nhìn và thực tiễn, chủ trương, chính sách, khẳng định xung lực của chủ nghĩa xã hội trước mọi sóng cồn, gió cả của thời cuộc.

Không chỉ thể hiện sức sống ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội còn hiện diện trong các phong trào đấu tranh nhân dân rộng lớn trên toàn thế giới đang phê phán, bác bỏ mô hình tự do mới tư bản chủ nghĩa và năng động đưa ra các phương án thay thế vì một thế giới khác tốt đẹp hơn (Alternatives to neoliberalism for an other better world). Quen thuộc nhất là các phong trào trong khuôn khổ Diễn đàn Xã hội thế giới, Diễn đàn Sao Paulo, Diễn đàn chống chủ nghĩa đế quốc, Hội thảo Vì một thế giới cân bằng, Hội thảo Xã hội mới và các đảng chính trị…, được tổ chức thường niên tại Mỹ Latinh, quy tụ đông đảo công dân và các tổ chức dân sự toàn thế giới, trong đó có rất nhiều cá nhân và tổ chức đến từ các nước tư bản phát triển. Nói theo ngôn từ của C.Mác, đây chính là “những ô cửa sổ nhỏ” trong xã hội tư bản để nhìn về xã hội cộng sản tương lai!

Đặc biệt, chủ nghĩa xã hội đang được thực hiện với mô hình và con đường mới ở Venezuela và một số quốc gia Mỹ Latinh khác trong hơn hai thập kỷ vừa qua kiên định chiến đấu vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. Từ mục tiêu chống đế quốc, vì độc lập, chủ quyền quốc gia và dân chủ, công bằng xã hội, Venezuela đã đến với mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Giành chính quyền bằng lá phiếu dân chủ, Venezuela đã giữ chính quyền bằng cả sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự. Phát triển kinh tế thị trường, nhưng Venezuela nhất quán với mục tiêu đảm bảo cho người lao động có trường học, bệnh viện, nhà ở và phúc lợi xã hội. Trong khuôn khổ nền chính trị đa đảng, Venezuela xây dựng, củng cố vai trò cầm quyền của Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Venezuela (PSUV). Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Simón Bilívar và các tư tưởng cách mạng khác của Mỹ Latinh thành nền tảng tư tưởng của Đảng cầm quyền và công cuộc cách mạng. Với tư cách là một tất yếu lịch sử, chủ nghĩa xã hội tiếp tục có những con đường mới trong thế giới hiện nay.

Từ hiện thực phong phú không thể bác bỏ, có đầy đủ cơ sở để khẳng định quá trình ra đời, phát triển của chủ nghĩa xã hội cả về lý luận và thực tiễn đều phản ánh một tất yếu của lịch sử thế giới. Chủ nghĩa xã hội đã kết thúc thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại cách mạng vô sản, thời đại cùng tồn tại giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, thời đại giải phóng dân tộc lật đổ hệ thống thuộc địa, thời đại đấu tranh nhân dân rộng lớn phê phán mô hình tự do tư bản chủ nghĩa, thời đại cải cách và đổi mới chủ nghĩa xã hội. Càng ngày, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới càng có nhiều chương trình, hình thức, bước đi sáng tạo, đem lại sức sống mới cho lý luận và thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Đó chính là biện chứng lịch sử không thể đảo ngược trong thời đại ngày nay!

----------------------------------------------

(1) Richard Nixon: 1999: Victory without war,https://www.foreignaffairs.com/reviews/capsule-review/1988-09-01/1999-victory-without-war.

(2) Francis Fukuyama: The End of History and the Last Man,https://www.amazon.com/End-History-Last-Man/dp/0743284550.

(3) John Reed:Ten Days That Shook the World, https://www.marxists.org/archive/reed/1919/10days/10days/.

(4) Domino Theory, https://www.britannica.com/topic/domino-theory.

PGS. TS Nguyễn Viết Thảo - nguyên Phó giám đốc Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Dangcongsan.vn