Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

Nhận diện những biến tướng nguy hại về Chủ nghĩa Mác

 Âm mưu xuyên tạc, hạ bệ Chủ nghĩa Mác: Chính những kẻ từng khoác áo mác-xít sống được và thành danh nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin, sau năm 1991 và giờ đây lại quay sang coi C.Mác (Karl Marx), V.I.Lênin (Vladimir I.Lenin) như những “nhà tiên tri không thành đạt” (!), như những “ông thầy bói của lịch sử” (!). Nhưng chính những học giả của giai cấp tư sản, thông minh và bản lĩnh hơn những kẻ giả danh mác-xít nói trên, khi chính họ nhận ra sự “báo ứng” nan giải, sẽ trở nên vô phương cứu chữa đối với sự “cùng quẫn” của thể chế tư sản, lúc họ thiếu C.Mác. Bởi vì ở thời khắc cam go và hết sức phức tạp của lịch sử, ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, hiện nay đang khủng hoảng bởi thiếu một xung lực đúng đắn từ lĩnh vực tưởng ngỡ như nó nằm ngoài phạm vi hoạt động thực tiễn. Đó là lĩnh vực lý luận về kinh tế và xã hội, khi những cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 1997, 1998 và 2008; khi vấn nạn môi trường sinh thái toàn cầu lan rộng mà các quốc gia tư sản vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân không thể chối cưỡng. Điều đó giải thích vì sao chủ nghĩa tư bản (CNTB) và các phong trào chống lại “CNTB toàn cầu” đang bộc lộ sự lúng túng, yếu kém, thậm chí bất lực của chúng, vì họ thiếu một nền tảng lý luận xã hội căn bản, khoa học và phù hợp. Nhận thức về nhu cầu bất khả kháng đó, không phải ai khác và cũng không phải ở đâu khác, chính Jacques Derrida-một triết gia danh tiếng phương Tây đã phải thốt lên: Chúng ta phải trở về với Mác. Nhân loại không có tương lai mà lại không có Mác. Điều đó đã lan tỏa sang cả nước Mỹ, khi ông Bao-lô-xu-ây-xi, một giáo sư đại học tại bang Florida, lên tiếng cảnh tỉnh: Nếu chủ nghĩa xã hội (CNXH) dùng trí lực của nhân loại-giống như Mác đã nói-thế thì, rất rõ ràng, ngoài CNXH không có sự cứu thế nào khác; và ngài M.Kha-rin-tơn, một nhà văn hóa học người Mỹ, dõng dạc tuyên bố: CNXH sẽ là người kế thừa các cuộc cách mạng tư sản vĩ đại, là phong trào hiện thực “tự do, bình đẳng, bác ái”, những điều không thể thực hiện được trong khuôn khổ của CNTB.

Hiện nay, điều đáng nói hơn, ngay cả một bộ phận người cộng sản, trong hành trình hiện thực hóa lý tưởng cộng sản do chính Chủ nghĩa Mác-Lênin khởi xướng, vào những thời khắc khó khăn nhất, lại cũng tỏ ra do dự, hoài nghi, lúng túng; thậm chí, cả bằng sự thẩm xét hời hợt, nông cạn một cách hình thức qua các thái độ hoặc là ngoảnh mặt thờ ơ hoặc là kỳ thị, chối bỏ, rồi quay ra công kích Chủ nghĩa Mác. Sẽ trở thành ảo tưởng đáng thương hại, khi ai đó có thể tưởng tượng ra và kỳ vọng về một cuộc “cuộc duyệt binh” trong sự phát triển của những người làm lý luận mác-xít, với thứ mong muốn “đồng phục” về chính trị, về tư tưởng và trí lực. Trong sự phát triển và tiến hóa của tự nhiên cũng như vậy. Những kỳ vọng về sự thuần chủng tuyệt đối của một loài sinh vật nào đó là sự ảo tưởng, trái quy luật tự nhiên. Nói như vậy để khẳng định rằng, cần phải có một cách nhìn thực sự bình tĩnh, khách quan, cần một phương pháp khoa học, một tinh thần cách mạng, với thái độ thành tâm, nghiêm túc và cầu thị, chúng ta mới có thể khắc phục những khó khăn, thách thức mà cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin đang phải đương đầu, trước hết về mặt tư tưởng lý luận.

Những biến tướng làm méo mó Chủ nghĩa Mác: Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời. Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin. Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc.

Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan. Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.

Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin. Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...

Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo. Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Nhân loại đang trở về với Mác: Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai. Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu. Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật. Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử. Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán. Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép. Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng! Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử./.

“Phi chính trị hóa” quân đội nhìn từ thiên tai - giải pháp phòng, chống hiệu quả

 Thực chất thủ đoạn “bới lông tìm vết”, thêu dệt, đơm đặt, ngụy tạo thông tin để tạo cớ như đã trình bày ở bài viết trước là rất nguy hiểm. Từ đây, một số đối tượng trong xã hội đã lớn tiếng góp ý, phê phán việc sử dụng quân đội vào hoạt động phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là không cần thiết và lãng phí, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Vậy nên việc tìm các giải pháp nâng cao hiệu quả trong phòng, chống thiên tai ở các đơn vị quân đội là rất cần thiết.

Không thể phủ nhận vai trò của quân đội trong phòng, chống thiên tai: Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều tổ chức ra quân đội với các chức năng khác nhau, nhưng cơ bản, bao trùm vẫn là bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu quân đội các nước nhận thấy, việc tổ chức cho quân đội thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là khá phổ biến. Ví dụ như Lực lượng vũ trang Hoàng gia Thái Lan có chức năng, trách nhiệm bảo đảm an ninh trật tự công cộng và tham gia các chương trình phát triển xã hội bằng cách hỗ trợ chính phủ dân sự; hỗ trợ nạn nhân của các thảm họa quốc gia và kiểm soát ma túy. Hay như Lực lượng vũ trang Malaysia (MAF) ngoài bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chiến lược còn có trách nhiệm bảo vệ trật tự công cộng, ứng cứu, trợ giúp trong các thảm họa thiên nhiên. Do biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan, nhiều năm trở lại đây, Việt Nam là một trong 10 quốc gia bị thiên tai tàn phá nặng nề. Theo thống kê của Cục Tìm kiếm cứu hộ - Cứu nạn (Bộ Quốc phòng), giai đoạn 2004 - 2014, cả nước có tới 35.073 vụ thiên tai, tai nạn, sự cố, khiến 22 cán bộ, chiến sĩ hy sinh.

Theo Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, trong năm 2020, thiên tai đã khiến 356 người chết, mất tích và 876 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 35.181 tỷ đồng. Quân đội và lực lượng vũ trang đã “lĩnh ấn tiên phong”, trở thành lực lượng đi đầu trong lĩnh vực này. Giai đoạn 2004-2014, quân đội đã huy động 754.370 lượt bộ đội, 1.161.246 lượt dân quân tự vệ; 80.428 lượt phương tiện các loại tham gia phòng, chống, ứng cứu, khắc phục hậu quả 35.073 vụ thiên tai, tai nạn, sự cố; kêu gọi, hướng dẫn 3.399.606 lượt tàu thuyền tránh, trú bão; sơ tán, di dời 17.332.344 lượt người từ khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn; cứu được 33.655 người, 4.088 phương tiện, trong đó có 343 vụ/5.380 người và 494 phương tiện có yếu tố nước ngoài. Chỉ tính hơn hai tháng cuối năm 2020, quân đội đã huy động hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ và hàng nghìn phương tiện tham gia cứu hộ, cứu nạn và hỗ trợ người dân; hướng dẫn, sắp xếp neo đậu cho 348.720 nghìn lượt phương tiện và 1.672.373 nghìn lao động, 186.000 lồng bè nuôi trồng thủy sản; bảo vệ an toàn các khu dân cư, khu công nghiệp, nhà cao tầng, công trình đang thi công; tổ chức sơ tán 282.547 hộ với 994.859 nhân khẩu đến nơi an toàn.

Trong lịch sử, sau khi thành lập nước (9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra các biện pháp cấp thiết củng cố hệ thống đê điều, phòng, chống lũ, lụt. Người xác định: “Bộ đội phải tranh thủ thời gian giúp đỡ nhân dân”(1). Ngay trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù chiến tranh khốc liệt, nhưng trước cơn đại hồng thủy lịch sử năm 1971 ở miền Bắc, các cơ quan, đơn vị quân đội đã cử lực lượng phòng, chống, khắc phục hậu quả. Với tầm nhìn chiến lược, trước những thách thức từ an ninh phi truyền thống, trước diễn biến phức tạp của thiên tai, năm 2013, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống thiên tai. Tiếp đó, các văn bản dưới luật về lĩnh vực này được bổ sung, hoàn thiện, trong đó vai trò của quân đội trong lĩnh vực này được khẳng định. Tại Mục 2 và 3 trong Điều 6 của Luật Phòng, chống thiên tai quy định nguồn nhân lực cho phòng, chống thiên tai là dân quân, tự vệ ở địa phương và quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt trong công tác sơ tán người, phương tiện, tài sản, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội theo sự điều động của người có thẩm quyền. Mục 4, Điều 42 cũng quy định Bộ Quốc phòng có trách nhiệm: Ban hành và chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong phòng, chống thiên tai... lập phương án bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng tham gia hộ đê, hộ đập, phân lũ, làm chậm lũ, tìm kiếm cứu nạn... Vào năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1041/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể lĩnh vực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2020. Theo quyết định này, Bộ Quốc phòng lập các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

Đánh giá chung về sự xung kích của quân đội trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tối 19-12-2021, trong chương trình "Nghĩa tình quân dân" - chương trình giao lưu nghệ thuật, tôn vinh các điển hình tiên tiến trong phòng, chống dịch Covid-19 do Quân ủy Trung ương và Đài truyền hình Việt Nam tổ chức, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã phát biểu: Trong thời bình, những người con của nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã được dân tin yêu, giúp đỡ huấn luyện, tham gia sản xuất, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ bình yên của Tổ quốc. Những người lính ấy đã sống trong lòng nhân dân, giúp đỡ nhân dân cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, dịch họa, cứu hộ, cứu nạn... Ngày 22-3-2020, khi đến thăm, kiểm tra, làm việc trực tuyến với 50 điểm cầu phòng, chống dịch Covid-19 của Bộ Quốc phòng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, khi đó là Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định: “Quân đội luôn là trụ cột của quốc gia, đất nước, đặc biệt là khi đất nước lâm nguy, giặc giã, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm thì vai trò nòng cốt, “đứng mũi chịu sào” của quân đội càng được thể hiện rõ hơn và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết”. Trong lần thăm Trường bắn Quốc gia Khu vực 1 vào ngày 19-11-2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá: Quân đội luôn là lực lượng đi đầu, nòng cốt trong phòng, chống thiên tai, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế lịch sử đã chứng minh, mọi thành công của quân đội đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Trong công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn cũng vậy. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định, việc quân đội làm nòng cốt trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là phù hợp với xu thế của thế giới, phù hợp với đặc thù điều kiện Việt Nam và đã góp phần quan trọng để giảm bớt hậu quả thiên tai ngày càng khốc liệt ở Việt Nam.

Các giải pháp nâng cao chất lượng phòng, chống thiên tai ở đơn vị quân đội: Để quân đội thực sự là nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai thì vấn đề quan trọng là phải thường xuyên đúc rút kinh nghiệm và tìm ra các giải pháp mới để nâng cao chất lượng. Đó cũng là một trong những biện pháp để ngăn chặn, đẩy lùi tư tưởng đòi “phi chính trị hóa” quân đội.  Hiện nay Đảng ta đã xây dựng được quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm nền móng xây dựng quân đội hiện đại, “tinh, gọn, mạnh” trong tương lai như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Đây là nền tảng rất thuận lợi cho tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Để không còn những căn cứ để các đối tượng bới móc, quy chụp, vấn đề quan trọng là cần có các biện pháp để nâng cao chất lượng trong công tác này. Trước hết, yếu tố quan trọng hàng đầu là các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tập trung xây dựng yếu tố chính trị tinh thần thật vững, tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về vai trò trách nhiệm của quân đội; kiên quyết chống tư tưởng coi nhẹ, chủ quan trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Đây là nội dung xuyên suốt, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị trong tình hình hiện nay. Vì vậy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc; thấy rõ hơn vai trò nòng cốt, trách nhiệm to lớn, vinh quang, là nhiệm vụ chính trị, là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” của quân đội ta. Trong giáo dục, tuyên truyền, cần nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về công tác huấn luyện, sẵn sàng ứng phó thiên tai, sự cố và tham gia tìm kiếm cứu nạn. Thực tế cho thấy, trước kia thiên tai, bão lũ thường tập trung vào dịp cuối năm, nhưng hiện nay, bão lũ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Để đạt được mục đích, yêu cầu trong phòng, chống bão lũ, thiên tai cần xác định phương châm “4 tại chỗ”, trong đó yêu cầu trước mắt đặt ra là cần làm tốt công tác phòng, chống ở đơn vị, cơ quan trước; đồng thời tích cực và tận tâm, tận lực giúp đỡ chính quyền, nhân dân phòng, chống có hiệu quả như tinh thần Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã quán triệt: “Quân đội làm hết sức mình vì nhân dân, vì Tổ quốc và sự trường tồn của đất nước này”. Tiếp đó là cần tập trung xây dựng tinh thần kỷ luật nghiêm trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, đặc biệt là tránh tình trạng lợi dụng việc giúp dân di dời, chằng chống nhà cửa, tài sản ra khỏi vùng nguy hiểm để vòi vĩnh hoặc bớt xén, lấy của nhân dân làm của riêng. Các cơ quan, đơn vị cần chủ động hoàn thiện các phương án phòng, chống, trong đó cần xác định rất rõ vùng bị ảnh hưởng, dân số trong vùng và mức độ thiệt hại để qua đó bố trí lực lượng, phương tiện nhanh chóng cơ động đến ứng cứu kịp thời. Cần hoàn thiện hệ thống thông tin chỉ huy trong phòng, chống thiên tai bão lũ theo phương châm nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Thực tế cho thấy, thiên tai thường đến rất nhanh và bất ngờ nên việc giữ vững mạch thông tin chỉ huy thông suốt trong mọi điều kiện hoàn cảnh là rất quan trọng. Bởi khi nắm chắc thông tin thì người chỉ huy đơn vị sẽ có phương án tổ chức lực lượng cứu dân, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ và tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn kịp thời, hiệu quả. Bởi trong điều kiện thiên tai xảy ra, các yếu tố bảo đảm như điện dễ bị mất và không có sóng cho điện thoại di động dễ khiến cho hệ thống thông tin chỉ huy bị gián đoạn hoặc đứt gãy. Đầu tư, mua sắm các trang bị, phương tiện phục vụ cho nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn phù hợp với thực tế. Qua thực tiễn cơ sở nhận thấy, hiện nay nhiều đơn vị vẫn tận dụng khí tài, phương tiện cũ vào trong thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả thiên tai. Ví dụ, nhiều lữ đoàn ở cấp quân khu được trang bị loại xe chở quân thế hệ cũ, tốn nhiên liệu và cơ động chậm trên các tuyến đường đã được đầu tư làm mới. Nhiều đơn vị đóng quân ở khu vực rừng núi, thường xuyên làm nhiệm vụ chữa cháy rừng nhưng không được trang bị các loại phương tiện, máy thổi hơi loại nhỏ, hoặc các loại bảo hộ chữa cháy... mà phải dùng các dụng cụ thô sơ, khiến cho hiệu quả chữa cháy không cao. Trong quá trình khảo sát, ban chỉ huy quân sự các huyện ở khu vực thường xuyên có lũ lụt nhận thấy các đơn vị này đã được trang bị xuồng công suất lớn nhưng điều đáng buồn là lại không được trang bị phương tiện ô tô để kéo nó. Thế nên việc cơ động hạ xuồng thực hiện nhiệm vụ là rất khó khăn. Cùng với đó, hằng năm, các cơ quan, đơn vị cần rà soát, bổ sung các phương án, tích cực tổ chức luyện tập theo phương án đã xây dựng, đồng thời tổ chức huấn luyện bồi dưỡng các kỹ năng sử dụng phương tiện tác nghiệp trong vùng bão lũ, trong đó đặc biệt chú ý đến các phương án bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho bộ đội làm nhiệm vụ. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác huấn luyện, nâng cao trình độ, kỹ năng thực hành cho bộ đội trong phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Thực tế cho thấy, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn là quá trình làm việc phân tán, trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, rất nguy hiểm đến tính mạng. Thế nên, càng được tập huấn, bồi dưỡng sâu về chuyên môn, kỹ năng, phương pháp thoát hiểm, nhất là được luyện tập nâng cao thể lực thường xuyên thì sẽ giúp cho hiệu quả thực hiện nhiệm vụ cao hơn rất nhiều... Quá trình huấn luyện cần tổ chức huấn luyện kỹ từ kiến thức phổ thông, cách thức chằng chống nhà cửa, kho tàng, phương pháp sơ cứu, cấp cứu người bị nạn trong bão, lụt, thảm họa đến huấn luyện công tác bảo hộ, an toàn lao động, phòng chống cháy, nổ... Đối với các lực lượng chuyên trách cần nâng cao kỹ năng điều khiển, sử dụng thành thạo, hiệu quả các phương tiện tìm kiếm cứu nạn hiện đại, nhất là khi xảy ra tình huống trên biển, khắc phục sự cố tràn dầu, cứu sập đổ công trình, chống cháy nổ, cháy rừng tại các địa hình phức tạp... Bên cạnh đó, một trong những vấn đề cần quan tâm và đầu tư là bảo đảm thông tin báo chí tuyên truyền trong thiên tai. Khi thiên tai xảy ra thì dư luận xã hội rất quan tâm đến các thông tin chính xác từ hiện trường. Việc đưa tin nhanh, sâu, đúng, chính xác có tác dụng rất lớn, không chỉ cổ vũ, động viên nhân dân vùng thiên tai mà qua đó còn có tác dụng ngăn ngừa những nguồn tin không chính thống, thiếu chính xác của các thế lực thù địch và đối tượng bất đồng chính kiến trong xã hội chúng ta, ngăn ngừa khủng hoảng truyền thông có thể xảy ra. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự thương yêu, đùm bọc, hết lòng giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, xứng đáng là “quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng”. Do vậy, việc quân đội giữ vững ngọn cờ tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ, “chiến đấu” với loại giặc mới là thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đặc biệt là không để xảy ra các sự cố, các hạn chế yếu kém để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá là yêu cầu hết sức cần thiết và phải được tiến hành thông qua “mệnh lệnh trái tim”!

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI VỀ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị, chống cộng.

Là những đảng viên cộng sản chính ta cần khẳng định giá trị tư tưởng lớn lao  của chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. 

Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam là một văn kiện quan trọng của UNESCO ghi nhận những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội./.

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn.

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Thứ tư, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ.

Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

 

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta.

Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung sau

Thứ nhất, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta

Thứ hai, làm loãng thông tin xấu, độc bằng xây dựng tuyến, luồng bài viết có thông tin tích cực hoặc trực diện phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để liên tục phủ lên và tiến tới chiếm thế thượng phong trên không gian mạng, không gian các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội.

Thứ ba, giữ vững vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận, xây dựng hệ thống luận cứ, luận chứng khoa học - thực tiễn nền tảng cho công tác đấu tranh phản bác./.

Văn học phải hun đúc ý chí, nghị lực vươn lên của thanh niên, thiếu niên, thiếu nhi, nhi đồng

 

Văn học phải hun đúc ý chí, nghị lực vươn lên của thanh niên, thiếu niên, thiếu nhi, nhi đồng

 Ngày 9/1, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Lễ phát động cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi, trao giải thưởng Tác giả trẻ lần thứ nhất. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu chỉ đạo.

Cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi dành cho hai thể loại: Văn xuôi và Thơ, kéo dài trong 5 năm (từ cuối năm 2021 đến tháng 5/2025) và chia làm hai đợt (đợt một: từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2023; đợt hai: từ tháng 7/2023 đến tháng 7/2025), hướng tới mục đích thông qua sáng tác văn học, ca ngợi, cổ vũ, tôn vinh những đức tính, hành động, suy nghĩ tốt đẹp, từ đó khơi gợi, bồi đắp, làm giàu cho tâm hồn thiếu nhi, hướng thiếu nhi trở thành những con người có nhân cách, có ích trong tương lai. 

Giải thưởng Tác giả trẻ nằm trong hệ thống giải thưởng hằng năm của Hội Nhà văn Việt Nam, trao tặng những tác phẩm văn học xuất sắc trong năm (xuất bản từ ngày 1/10 năm trước đến 30/9 năm trao giải) gồm bốn thể loại Thơ, Văn xuôi, Lý luận - phê bình và Văn học dịch của các tác giả tuổi từ 35 trở xuống (tính tại thời điểm xuất bản sách), trị giá mỗi giải thưởng là 30 triệu đồng.

Theo Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều, giải thưởng Tác giả trẻ góp phần khích lệ, động viên thế hệ các cây bút trẻ trong sự nghiệp tiếp bước các nhà văn đi trước, mở ra những giá trị mới mẻ, hiện đại với tinh thần nhân văn sâu sắc, lan tỏa mạnh mẽ tới đời sống.

Phát biểu tại Lễ phát động, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh vị thế và vai trò của nhà văn và các tác phẩm còn ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là những tác phẩm văn học có giá trị, có sức lan tỏa và trường tồn với thời gian. Chủ tịch nước đánh giá cao Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ phát động cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi, trao giải thưởng Tác giả trẻ lần thứ nhất; hoan nghênh và ủng hộ chiến lược của Hội Nhà văn Việt Nam nhằm tạo ra những tác phẩm văn chương xuất sắc cho trẻ em cũng như mang những tác phẩm văn chương ấy đến với trẻ em, đặc biệt là trẻ em miền núi và vùng sâu vùng xa.

Chủ tịch nước khẳng định văn học đích thực là nguồn suối trong lành, tươi mát trong tâm hồn, rũ bỏ bụi bẩn và mệt nhọc của cuộc sống. Sáng tác văn học thiếu nhi là một chủ đề thú vị và ý nghĩa, cần được khuyến khích và lan tỏa mạnh mẽ bởi con người cần được gieo những hạt giống tâm hồn, không ngừng ước mơ nuôi dưỡng những khát khao, tôi rèn ý chí hoài bão ngay từ khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành và văn học chính là nguồn dưỡng khí nuôi tâm hồn, hướng thiện, lành mạnh, vị tha, giàu lòng nhân ái; đồng thời hun đúc ý chí, nghị lực vươn lên của con người, nhất là đối với thế hệ trẻ, thanh niên, thiếu niên, thiếu nhi, nhi đồng.

Những gì chứa đựng trong tâm hồn trẻ em hôm nay, chính là bản thiết kế quan trọng cho chân dung những công dân Việt Nam trong tương lai.

Nhấn mạnh những tác phẩm văn học nghệ thuật làm cho con người sống một đời sống có nhân phẩm, nhân văn và tâm hồn phong phú và nếu không gieo những hạt giống của cái đẹp và lòng nhân ái vào tâm hồn trẻ em hôm nay thì trong tương lai khó mà có được những mùa người nhân ái và các nhà văn là những người bền bỉ hết thế hệ này đến thế hệ khác đi gieo những hạt giống nhân văn ấy trên cánh đồng nhân cách của đời sống hàng ngày, Chủ tịch nước kêu gọi các nhà văn Việt Nam, toàn xã hội hãy vì tương lai của dân tộc dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em; các nhà văn trẻ hãy tiếp bước các thế hệ đi trước, viết bằng nét đẹp văn hóa dân tộc mình, bằng tâm thế của thời đại mình, bằng lương tri, bản lĩnh của con người Việt Nam.

Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước mong muốn Hội Nhà văn Việt Nam trên cơ sở chiến lược phát triển đất nước, các cơ quan có chức năng cần tạo ra một không gian sáng tạo để nhà văn sáng tạo nhưng không được làm ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia, dân tộc và của Đảng; quan tâm và sớm khôi phục lại các trại sáng tác với những cách làm phong phú, tạo ra không gian tốt, hệ sinh thái tốt cho sự ra đời của các tác phẩm mới; đề nghị các cơ quan và nhà trường tạo không gian cho các em sáng tạo, nhất là các cuộc thi sáng tác trong trường học để các em được cất lên tiếng nói, thể hiện ước mơ, hoài bão của mình.

 

Những phương thức chủ yếu của các thế lực thù địch phản động trong việc lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá cách mạng VN.

 


           Thứ nhất, chúng tìm mọi cách để đưa giáo hội vào các cuộc chiến chính trị. Một mặt chúng thúc giục các giáo hội ủng hộ các đảng phái đồi lập hoạt động chống phá Ðảng Cộng Sản. Mặt khác thông qua hoạt động của các đảng phái đối lập để lôi kéo, tậphợp, kích động các chức sắc, giáo sĩ, tín đồ chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa.
          Thứ hai, xúi giục các giáo hội đòi lập khu tôn giáo tự trị. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bọn đế quốc chú trọng đến việc xây dựng các khu tôn giáo tự trị ngay trên lãnh thổ các nước xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn ở Trung quốc, đã một thời xuất hiện khu tự trị Phật Giáo Tây Tạng. Mục đích của việc hình thành các khu tự trị tôn giáo này là:  Tăng thêm tính độc lập của giáo hội đối với nhà nước; Tạo thế và lực cho giáo hội hoạt động chống nhà nước; Tạo cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động can thiệp

Thứ ba, khơi dậy, khoét sâu những mâu thuẫn, những vấn đề tôn giáo và dân tộc; kích động các cuộc chiến tranh mang màu sắc tôn giáo, sắc tộc, làm suy yếu tiến tới làm sụp đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Chính vì vậy mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta luôn nêu cao cảnh giác, kiên quyết chặn đứng phương thức thủ đoạn của chúng.

 

 

 

Gạn đục khơi trong, vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân

 


Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Các quyền này đã được nêu rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nước Việt Nam, trong đó có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Một số nước vẫn còn có các nhóm người công khai, lợi dụng vấn đề tôn giáo, can thiệp thô bạo đến công việc nội bộ của Việt Nam. Lợi dụng chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước Việt Nam, hàng năm có hàng chục phái đoàn vào “tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam”, trong đó vẫn có những nhân vật lợi dụng hoạt động này để nắm bắt tình hình, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá Việt Nam. Trong cái gọi là “Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế” hằng năm, họ thường xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, trong đó có những thông tin cố tình làm sai lệch và phản ánh không đúng tình hình như ở Tây Nguyên mấy năm trước và một số địa phương trong những tháng cuối năm nay.

Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo Và trách nhiệm của chúng ta

 


Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Tôn giáo là một trong những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã. Tôn giáo đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ ngĩa xã hội. Giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Trách nhiệm của sĩ quan Quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái phản động hiện nay

 

 Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm và hết sức hệ trọng, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trong đó đặc biệt là đội ngũ sĩ quan quân đội phải mang trong mình một nhiệm vụ đặc biệt, là lực lượng quan trọng, tiên phong. Do đó, đội ngũ này cần xây dựng ý chí quyết tâm, động cơ, thái độ, trách nhiệm, nắm vững những quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Nhiệm vụ của mỗi cán bộ đảng viên trong quân đội

 


       Trước yêu cầu và tình hình mới, mỗi cán bộ đảng viên cần phải phát huy hơn nữa nhiệm vụ của mình trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch hiện nay.
          Một là, phải là tấm gương về phẩm chất đạo đức, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thực hành phầm chất cách mạng.

Hai là, phải am hiểu, nắm bắt, cập nhật thông tin thời sự trong nước và quốc tế, nhạy bén về chính trị, có chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm;  
          Ba là, phải nhận thức đúng đắn và nêu cao trách nhiệm, mỗi phải ra sức học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ về mọi mặt, hiểu biết thấu đáo những giá trị cốt lõi, bản chất khoa học và cách mạng,

 Bốn là, phải biết cách tự “làm mới mình” bằng khả năng tự nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

Năm là, phải chủ động tiến công phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Nhận diện “âm mưu”

 

 


        Cùng một số chiêu bài cũ đã sử dụng các thế lực thù địch đang ra sức sử dụng một số chiêu bài mới lồng ghép vào nhau để phản động, cơ hội, chống đối chính trị sử dụng mọi hình thức, biện pháp khác nhau để trực tiếp hoặc gián tiếp phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm lãnh đạo của Đảng ta và định hướng xã hội chủ nghĩa; ca ngợi, sùng bái nền dân chủ tư sản, thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản và chủ trương đi theo con đường chủ nghĩa tư bản, bằng một số hình thức chống phá, chúng ta kiên quyết làm thất bại các chiêu bài của chúng.

 

Nêu cao trách nhiệm của bản thân trong đấu tranh với các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng

 


  Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ thông tin được phổ biến rộng rãi, việc mọi cá nhân có điều kiện tiếp cận với những tri thức mới rất thuận lợi. Tuy nhiên, đi cùng với mặt tích cực trên là việc các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền, chống phá các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy, việc nhận diện và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch hiện nay của mỗi cán bộ đảng viên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, nếu làm tốt công tác này góp phần củng cố niềm tin cho nhân dân, biết được những âm mưu, thủ đoạn, phương thức và cách thức hoạt động của các thế lực thù địch qua đó góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Những điều kiện cần thiết để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay

 


Một là, giữ vững sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng trong công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ động thông tin tích cực, tuyệt đối không để “khoảng trống thông tin” trên internet, mạng xã hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. 

Hai là, tăng cường các giải pháp phát triển và quản lý internet, mạng xã hội tại Việt Nam. Trong đó, triệt để khai thác, ứng dụng công nghệ thông tin trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng theo quan điểm “sử dụng công nghệ để quản lý, kiểm soát công nghệ”; xây dựng các giải pháp kỹ thuật nhằm tăng cường tính chủ động trong công tác này.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm, tinh thần “thượng tôn pháp luật” và trách nhiệm xã hội của mỗi người dân khi sử dụng internet, mạng xã hội; nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn nhiễm” trước các thông tin xấu, độc; xây dựng “thế trận toàn dân” trong tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

 

m quan trọng của việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 

Tầ

Thứ nhất, không gian mạng là vùng “lãnh thổ đặc biệt” đang bị các thế lực thù địch lợi dụng triệt để nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, internet, mạng xã hội với đặc điểm về tính mở, phạm vi tương tác đa chiều, không giới hạn về không gian, tích hợp nhiều tính năng đa phương tiện, nguồn tin phong phú, đa dạng,… đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống; tác động trực tiếp và mạnh mẽ làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân nói riêng, đến sự ổn định và phát triển của toàn xã hội nói chung. 

Thứ hai, yêu cầu bức thiết phải chiếm lĩnh, xác lập lại vị thế quốc gia trên không gian mạng.

Thứ ba, nhận thức và hành động về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong tình hình mới còn hạn chế.

Chính vì vậy tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay là nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên.

Nhiệm vụ cấp bách không chỉ của riêng ai

 


Tận dụng những lợi thế về phạm vi, đối tượng sử dụng không gian mạng nên các thế lực thù địch, phản động đã tăng cường các thông tin xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - trong đó có trận địa không gian mạng - nhằm phòng, chống hiệu quả với chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng để tăng cường bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ cấp thiết trong bối cảnh hiện nay không chỉ riêng ai.

Trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái phản động

 


Lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ truyền thông, những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cuộc Cách mạng 4.0), thì gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với mục đích bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, bóp méo sự thật lịch sử, vu cáo Việt Nam "đàn áp dân chủ, tôn giáo, vi phạm nhân quyền", kích động tư tưởng ly khai, hận thù dân tộc, mong muốn thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta... Mỗi cán bộ đảng viên chúng ta không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Hôm nay, Quốc hội thảo luận về một luật sửa 8 luật và cao tốc Bắc - Nam

 

Hôm nay, 10-11, Quốc hội sẽ tiếp tục chương trình làm việc tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, thảo luận về dự án một luật sửa 8 luật và cao tốc Bắc – Nam.

 * Trước đó, Thứ Sáu, 7-1-20222, Quốc hội tiếp tục ngày làm việc thứ 3, họp phiên toàn thể theo hình thức trực tuyến dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội.

Buổi sáng

Dưới sự điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Tại phiên thảo luận, đa số ý kiến đại biểu nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết; đồng thời, tán thành với nhiều nội dung trong Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

Hôm nay, Quốc hội thảo luận về một luật sửa 8 luật và cao tốc Bắc - Nam
Quang cảnh phiên một phiên họp tại kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Ảnh: Quochoi.vn 

Ngoài ra, tại phiên thảo luận, các đại biểu cũng tập trung cho ý kiến về những nội dung cụ thể của dự thảo Nghị quyết như: các nhóm giải pháp về tài khóa, tiền tệ; quy mô gói hỗ trợ từ chính sách tài khóa; mức bội chi, khả năng huy động, khả năng giải ngân; quy mô, mức độ các sắc thuế đề nghị miễn, giảm, giãn, hoãn; quy mô, mức độ gói hỗ trợ từ chính sách tiền tệ;

Phương án huy động; đối tượng áp dụng chính sách; căn cứ và tiêu chí để đầu tư nguồn lực; chi trực tiếp từ ngân sách Nhà nước để đầu tư phát triển; tăng nguồn thu tiết kiệm chi năm 2021; việc áp dụng thí điểm các cơ chế đặc thù để đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân vốn của các dự án hạ tầng chiến lược quan trọng, có quy mô lớn; giải pháp đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng;

Cân đối giữa khả năng huy động vốn, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và kiểm soát lạm phát; việc thực hiện nhóm chính sách hỗ trợ đối với lao động, việc làm và thực hiện chính sách an sinh xã hội; hỗ trợ cung cấp nguồn lao động, phát triển các trường chất lượng cao; chính sách hỗ trợ đội ngũ nhân lực y tế thực hiện công tác phòng, chống dịch…

Bên cạnh đó, các đại biểu Quốc hội cũng đề xuất giải pháp để tổ chức thực hiện nhanh, dễ kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch, chống tiêu cực, lợi ích nhóm, trục lợi chính sách; đồng thời, yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan trong việc triển khai, giám sát, đánh giá và kiểm tra việc thực hiện chương trình.

Buổi chiều

Nội dung 1: Quốc hội tiếp tục thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội dưới sự điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải.

Tại phiên thảo luận, các đại biểu tập trung cho ý kiến về một số nội dung sau: về tên gọi, các quan điểm xây dựng Nghị quyết; về thời hạn áp dụng Chương trình hỗ trợ; về tính hiệu quả, khả thi của gói chính sách; về quy mô tổng thể chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác; về phân bổ nguồn lực để mở cửa nền kinh tế gắn với phòng, chống dịch bệnh; về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; về đầu tư kết cấu hạ tầng;

Các công cụ giám sát để các gói hỗ trợ đạt hiệu quả; về miễn, giảm thuế, phí, lệ phí khoảng 64 nghìn tỷ đồng trong năm 2022; về tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho hoạt động phòng, chống dịch Covid-19;

Về cơ chế cho phép chủ đầu tư được khai thác các mỏ khoáng sản nằm trong Hồ sơ khảo sát vật liệu xây dựng dự án làm vật liệu xây dựng thông thường (chỉ nhằm thực hiện dự án) không phải thực hiện thủ tục cấp phép; về tăng vốn điều lệ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn…

Kết thúc nội dung thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm. Kết thúc phiên thảo luận về dự thảo Nghị quyết đã có 50 ý kiến đại biểu phát biểu và 3 ý kiến đại biểu tranh luận.

Nội dung 2 (từ 15 giờ 30 đến 17 giờ 00): Dưới sự điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ.

Tại phiên thảo luận, đã có 13 ý kiến đại biểu phát biểu; trong đó, đa số ý kiến đại biểu tán thành với Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội.

Đồng thời, nhất trí về sự cần thiết ban hành Nghị nhằm thể chế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị, tạo cơ chế thu hút đầu tư, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng thành phố Cần Thơ thành trung tâm phát triển của vùng và thể hiện đậm nét bản sắc sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong thời gian tới.

Việc ban hành chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ cũng bảo đảm tính tương đồng với một số địa phương vừa được Quốc hội cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù.

Ngoài ra, các đại biểu cũng tập trung cho ý kiến về một số nội dung cụ thể của dự thảo Nghị quyết như: về Dự án nạo vét kết hợp thu hồi sản phẩm luồng hàng hải Định An - Cần Thơ; về Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Cần Thơ;

Về thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức; về quản lý đất đai, quy hoạch; về việc cho phép thành phố Cần Thơ được vay không quá 60% số thu ngân sách Thành phố được hưởng theo phân cấp; về bổ sung có mục tiêu cho ngân sách Thành phố; về ban hành, điều chỉnh phí, lệ phí; chế độ thông tin báo cáo Quốc hội và các cơ quan hữu quan về việc thực hiện Nghị quyết.

Kết thúc phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm.

NGỌC ANH