Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

BÀI HỌC TỪ HỒ CHỦ TỊCH VÀ CUỘC CHIẾN 1979 TRONG QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC!

      “Lụt bắc lụt nam. Máu đầm biên giới,

Tay chống trời. Tay giữ nước. Căng gân”!

Thời kỳ 1979 là giai đoạn cực kỳ khó khăn của đất nước kể từ khi mới thành lập nhưng chưa phải là khó khăn nhất. Khó khăn nhất chính là thời điểm Hồ Chủ tịch vừa đọc tuyên ngôn độc lập thì 20 vạn quân “Tàu trắng” của Tưởng Giới Thạch chiếm đóng Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16, hàng vạn quân Anh, quân Pháp cũng càn quét từ vĩ tuyến 16 đổ vào Nam, chưa kể các băng đảng chính trị phản động quấy phá bên trong.

Thời điểm ấy, đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như là một “đứa trẻ sơ sinh”, còn chưa có tên trên bản đồ thế giới và chưa được quốc gia nào công nhận. Đồng minh đáng kể duy nhất chính là “Tàu đỏ” Đảng Cộng sản Trung Quốc, bấy giờ đang loay hoay trong cuộc nội chiến với “Tàu trắng” được Mỹ hỗ trợ. Vậy mà Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch đã khéo léo, mềm dẻo để hóa giải tình huống “ngàn cân treo sợi tóc” này, thậm chí đến mức tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam, ký hiệp định với Pháp để trước thì bỏ bớt một đối thủ (Tàu trắng), sau thì tranh thủ củng cố lực lượng, dọn dẹp phản động, chuẩn bị cho kháng chiến trường kỳ. [Không dám tưởng tượng nếu tình huống này được đặt vào tay các “hải đăng mạng”, “anh hùng mạng” húng cầy thời nay thì sẽ ra sao nhỉ?]

Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất (1961–1968) cũng chính là thời kỳ mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng sâu rộng. Trong bối cảnh hai nước ra sức tập hợp lực lượng để củng cố vị trí của mình, Việt Nam trở thành một trong những tiêu điểm thể hiện đối sách của mỗi nước và liên quan đến lợi ích của các cường quốc đại diện cho quyền lực của thế giới. Trước những chuyển biến đó, quan điểm của Hồ Chủ tịch trước sau như một là “mọi thắng lợi của Đảng ta và của nhân dân ta không thể tách rời sự ủng hộ nhiệt tình của Liên Xô, Trung Quốc...” và đặt ra nhiệm vụ làm giảm thiểu tối đa tác hại của sự tranh chấp giữa Liên Xô - Trung Quốc và tiềm năng lợi dụng của Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ Việt - Xô - Trung. Người đưa ra quan điểm chỉ đạo như sau:

1/ Kiên trì tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô và Trung Quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

2/ Không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô, Trung Quốc.

3/ Nỗ lực hóa giải, thu hẹp bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, coi đó là cơ sở để củng cố quan hệ hữu nghị Việt - Xô - Trung.

4/ Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, ứng xử linh hoạt, có lý, có tình trong quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc.

Để giữ gìn quan hệ cân bằng, đoàn kết, hữu nghị với cả Liên Xô và Trung Quốc, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta chủ trương ứng phó nhanh nhạy, mềm dẻo với mọi biến chuyển của tình hình, đạt tới sự tế nhị và cân bằng. Các chuyến thăm hỏi của Hồ Chủ tịch và lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Liên Xô & Trung Quốc khá liên tục và đồng đều. Tuân thủ phương châm “chưa hiểu thì chưa nên bầy tỏ thái độ” của Hồ Chí Minh, suốt thời kỳ mâu thuẫn Xô - Trung diễn ra gay gắt, trên các phương tiện chính thống, Đảng và Nhà nước ta đã không bàn luận, không bày tỏ thái độ đồng tình hay phản đối cuộc đấu tranh nội bộ trong Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), hay đối với Cách mạng văn hóa của Trung Quốc, cũng như không tham gia các cuộc tranh luận công khai giữa hai bên, tránh gây ra những hiểu lầm không cần thiết.

Khi Trung Quốc thường xuyên nêu vấn đề “chống chủ nghĩa xét lại”, “tách khỏi Liên Xô”, còn Liên Xô liên tiếp gửi thông điệp đề nghị Việt Nam phải thay đổi lập trường với Trung Quốc, thì Hồ Chủ tịch vẫn luôn mềm mỏng và kiên định giải thích: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tăng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác”. Khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trao đổi và thông báo về các vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam với lãnh đạo Liên Xô, thì cũng đồng thời thông báo, trao đổi với lãnh đạo Trung Quốc.

Năm 1965, khi Liên Xô đề nghị lập Mặt trận thống nhất và lập cầu hàng không để giúp đỡ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng khi Trung Quốc không đồng ý, thì ta tạm thời gác vấn đề này lại, đồng thời công khai cải chính những tin tức nói Trung Quốc cản trở hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam quá cảnh qua Trung Quốc. Từ năm 1966, ở Trung Quốc diễn ra Cách mạng văn hóa, Người thực hiện chủ trương “cách mạng văn hóa là vấn đề nội bộ Trung Quốc”. Không tỏ thái độ ủng hộ hay phản đối, nhưng khi được Chủ tịch Mao Trạch Đông gợi ý thực hiện cách mạng văn hóa ở Việt Nam, Người đã nhã nhặn, khéo léo từ chối: “Việt Nam trước mắt không thể làm đại cách mạng văn hóa, chúng tôi còn làm đại cách mạng võ hóa đã”. Mao Chủ tịch tán thành: “Đúng vậy, Việt Nam không thể làm đại cách mạng văn hóa được”.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhuần nhuyễn triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chính nhờ thế, dù đứng giữa 2 bên đối thủ của nhau như vậy, Việt Nam vẫn đón nhận được sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của cả 2 để phục vụ cho công cuộc dựng nước giữ nước của mình. 

Quay trở lại mối quan hệ Việt Nam - Liên Xô - Trung Quốc sau 1975, sự cân bằng mà Hồ Chủ tịch tạo ra đã không còn được duy trì nữa mà dần chuyển thành “Nhất bên trọng, nhất bên khinh”, đưa đến hậu quả đáng tiếc mà chúng ta đã biết. Khi Hiệp định Pháp – Việt (1946) gây hoài nghi, Hồ Chủ tịch đã giải thích rằng: “Chọn thương lượng thay vì đánh nhau chính là bằng chứng hiểu biết về chính trị”. Mao Chủ tịch thì cũng đúc kết rằng "Chính trị là chiến tranh không có đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu". Đáng tiếc là máu đã đổ!

Nhiều người bây giờ chế giễu câu nói “Dạy cho Việt Nam một bài học” của Đặng Tiểu Bình nhưng bần đạo tin rằng các lãnh đạo lèo lái đất nước trong hơn 10 năm sau trận giao tranh kéo dài một tháng ấy thì hiểu rõ “bài học” đó là gì.

Thời chống Mỹ, mặc dù Trung Quốc vẫn là nước lạc hậu về kinh tế, nhưng theo tổng kết viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng trên 50% tổng số viện trợ quốc tế cho Việt Nam. Khi chuyển sang đối đầu với “hậu phương lớn” ấy, bên cạnh một nền kinh tế kiệt quệ (miền Bắc mất viện trợ từ Trung Quốc, miền Nam mất viện trợ từ Mỹ, còn Hoa Kiều – lực lượng nắm giữ nền kinh tế miền Nam cũng chạy về Trung Quốc), chúng ta phải duy trì đội quân khổng lồ hơn 1 triệu người trải dài từ biên giới phía Bắc sang toàn bộ lãnh thổ Campuchia. Mọi cửa ngõ giao thương quốc tế đều bị bịt kín, chỉ còn dựa vào Liên Xô nhưng bấy giờ nước này cũng đã “rã rời” sau gần nửa thế kỷ “gồng gánh thế giới”, nội bộ chính trị xào xáo, lại sa lầy trong cuộc chiến ở Afghanistan. Nếu hỏi những người sống trong thời kỳ này sẽ biết, đánh nhau toàn diện với Mỹ - Pháp suốt 30 năm cũng chưa bao giờ đói bằng thời đánh nhau với Tàu ven biên giới. Chính trong thời gian này, lượng người vượt biên trốn ra nước ngoài tăng đột biến chủ yếu là vì… đói, tạo nên nạn “thuyền nhân” chấn động thế giới, giống như tình hình dân tị nạn bỏ nước ra đi ở các nước Trung Đông sau mùa xuân dân chủ bây giờ ấy. Ngày nay, mỗi khi Trung Quốc cấm biên định kỳ là các thí chủ đã thấy người ta kêu váng cả địa cầu đòi giải cứu hàng hóa các kiểu rồi thì phải hiểu rằng tình cảnh ngày trước nó thảm cỡ nào.

Đến 1986, trước tình hình đói kém trong nước và sự thành công của Cải cách phong hóa ở Trung Quốc, TBT Trường Chinh và Đại hội Đảng đã quyết định tiến hành “Đổi Mới”, cùng với đó là tìm cách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Và không phải tự nhiên mà chính Trung Quốc trở thành “Đối tác chiến lược toàn diện” đầu tiên của Việt Nam, trước Nga 4 năm, điều cũng giống như năm xưa Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới công nhận Việt Nam sau đó “tiến cử” Việt Nam cho Liên Xô. Đến nay, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, đối tác thương mại lớn thứ 8, thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 và là thị trường nhập khẩu lớn thứ 9 của Trung Quốc trên thế giới. Sự nghiệp xây dựng đất nước ngày càng phát triển mà như TBT Nguyễn Phú Trọng nói: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay”. Đúng là như các cụ đã dạy: Bán anh em xa, mua láng giềng gần (huống hồ như Hồ Chủ tịch đã chứng minh, nếu biết cách, láng giềng gần hoàn toàn có thể là người anh em chí tình, chí nghĩa với mình).

Rõ ràng rằng, kể từ sau Đổi Mới, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã ý thức rất rõ tầm quan trọng của mối quan hệ gắn kết “răng môi” với Trung Quốc nên các chính sách ngoại giao đã vận dụng đúng theo “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: 

1/ Kiên trì tình đoàn kết hữu nghị với Trung Quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

2/ Không can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc và các nước khác.

3/ Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, ứng xử linh hoạt, có lý, có tình trong quan hệ với Trung Quốc và các nước khác.

4/ Không liên minh, liên kết với nước này để chống nước kia.

Và hiện giờ chúng ta đang được hưởng “quả ngọt” từ những thành quả đối ngoại ấy. Vậy thì thử hỏi, cái tinh thần dân tộc cực đoan, bài Tàu cực đoan mà chúng ta thấy gần đây trên truyền thông, trên MXH,... thực chất là vì ai, vì điều gì?

Nói những chuyện này không phải là để xét lại lịch sử bởi làm có sai thì mới biết đâu là chân lý, yêu có sai thì mới biết đâu là chân ái. Nhưng phải tìm hiểu bản chất vấn đề là để học từ lịch sử, để “ôn cố tri tân”, để hiểu rằng thà sáng mắt khi no còn hơn đợi đói rã họng mới chịu mở mắt.

Bài học ứng xử trong mối quan hệ với Trung Quốc không phải đến thời Cụ Hồ mới có mà là từ cả ngàn năm nay rồi, chả phải tự nhiên mà sau mỗi lần chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược từ phía Bắc, các vua Việt ngay lập tức phải cho sứ qua cầu hòa và cống nạp thường niên. Mở ngoặc ở đây tí: bần đạo nhấn mạnh là “chiến thắng cuộc chiến xâm lược” nhé chứ các thí chủ đừng có tự sướng rằng trước giờ Việt Nam toàn “thắng Trung Quốc”. Nếu thắng Trung Quốc thật thì giờ kinh đô Đại Việt chắc ở Nam Kinh chứ không phải Hà Nội nhé. He...he… 

P/s: Cũng nhờ nghiên cứu về Tư tưởng đối ngoại của Cụ Hồ, bần đạo thấy suy nghĩ mình sao mà hợp với Cụ thế: tự chủ, độc lập, ai thương tình tín dụng thì xin nhưng tuyệt đối không kéo bè kết phái hại người. Cơ mà giảng đạo lòi cả trĩ bao năm nay vẫn chưa được thí chủ nào cúng dường như Liên Xô và Trung Quốc ngày xưa đối đãi Việt Nam cả!? Chán!
Yêu nước ST.

LUẬN VỀ “LƯƠNG TÂM” CỦA NHỮNG KẺ HẠI DÂN, BÁN NƯỚC!

     “Tù nhân lương tâm” là từ mà các “zân chủ cuội” cố tình gọi những kẻ vi phạm pháp luật, bán nước, hại dân như Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Đỗ Nam Trung, Trịnh Bá Phương hay Đặng Hữu Nam. Khi bị xử lý theo pháp luật hình sự, những kẻ vọng quốc gọi họ là những anh hùng dám xả thân vì quê hương, đất nước, dũng cảm đấu tranh với chính quyền độc tài (!?). Sự hô hào thái quá đã tạo sự ảo tưởng cho những con người coi thường và bất chấp pháp luật và tự biện minh cho những hành động sai trái của mình. Họ che giấu mục đích và ý đồ bản thân bằng sự đánh tráo và ngộ nhận là “lương tâm trong sáng”.

Trịnh Bá Phương, Đỗ Nam Trung hay Đặng Hữu Nam đã làm gì để xứng với hai từ “lương tâm”?

Trịnh Bá Phương từ kẻ bán cá ở chợ đã từng đem bom xăng tấn công lực lượng chức năng ở Hà Đông năm 2015 là người có “lương tâm trong sáng” ? Đỗ Nam Trung từng sống bằng nghề lái xe đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt tù vì hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Đặng Hữu Nam - thân là linh mục nhưng quên bổn phận của một vị chủ chăn chăm sóc đời sống tinh thần của tín hữu, làm trái quy định của giáo luật, không Vâng phục bề trên được coi là “tấm gương” cho mọi người ? Đó đều là những người thích ganh đua, đố kỵ, không phân biệt lẽ đúng - sai, phải - trái. Liệu rằng lương tâm họ sẽ cắn rứt khi được tung hô như những anh hùng?

Rất nhiều gương mặt trong danh sách “tù nhân lương tâm”, “nhà zân chủ”… đều là những thành phần bất hảo trong xã hội, nghề nghiệp không ổn định, thậm chí có người có dấu hiệu bị bệnh thần kinh. Sự tự đánh giá về năng lực bản thân và điều chỉnh hành vi đạo đức của bản thân trong mối quan hệ với người khác và xã hội là điều quá xa vời đối với họ. Họ đang cố tình che giấu những nhược điểm về nhân cách, lối sống của bản thân và mục đích đen tối bằng những danh từ mỹ miều. Họ chính là những người đã vứt bỏ lương tâm của chính mình. Hãy nhớ, con người có thể mất tất cả nhưng đừng đánh mất lương tâm./.

Môi Trường ST.

Nhận diện một số hoạt động chống phá của lực lượng phản động trong và ngoài nước

    Trong các chuyên án được cơ quan an ninh đưa ra trước ánh sáng pháp luật thời gian qua, có thể thấy, phương thức hoạt động của các hội nhóm phản động hết sức tinh vi nên lôi kéo được một số đối tượng tham gia. Trong đó, số cầm đầu phản động lưu vong ở nước ngoài đã móc nối với số phần tử phản động trong nước thông qua các phần mềm mang tính bảo mật cao để liên lạc, phân công, giao nhiệm vụ, nhận sự chỉ đạo và kinh phí để tổ chức các hoạt động chống đối. Các hình thức hội họp, đào tạo, huấn luyện, chỉ đạo hoạt động đều được thực hiện qua các phần mềm này. Cùng với đó là thành lập hội nhóm “kín” hoạt động công khai trên các mạng xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau. Ngoài hội nhóm đã bị các lực lượng chức năng đấu tranh, phá rã như: “Hội anh em dân chủ”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”, “Phong trào con đường Việt Nam”…, hơn 20 hội nhóm “kín” trên không gian mạng tiếp tục được thành lập, tạo thành một mạng lưới làm nhiễu loạn thông tin trong cộng đồng mạng.

Điển hình có các nhóm “Đảng Cộng hòa Việt Nam”, “Đảng Duy Tân Việt Nam”, “Nhóm Biển xanh”, “Nhóm bảo vệ công lý và giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan công quyền”, “Nhóm du ca Sài Gòn”, “Vệ quốc quân”… Thành phần tham gia các hội nhóm “kín” phần lớn là đối tượng chống đối mới, tư tưởng lệch lạc hoặc đang có những vấn đề bất mãn xã hội.

Phương thức hoạt động của các hội nhóm “kín” thông qua mạng xã hội hoặc dùng các phần mềm có tính bảo mật cao để đăng tải các bài viết có nội dung xuyên tạc sự thật, kích động khiếu kiện tập trung đông người, gây rối tại cơ quan công quyền nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng, khuếch trương ảnh hưởng.

“Nhóm Đảng Cộng hòa Việt Nam” khởi lập từ đầu năm 2019 do các đối tượng Huỳnh Minh Tâm, Huỳnh Thị Tố Nga (ngụ tỉnh Đồng Nai) cầm đầu, đã móc nối với một số đối tượng hoạt động lưu vong có danh xưng “Đảng Cộng hòa” có nhiều hoạt động manh động qua các bài viết đả kích chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Các hội nhóm “kín” còn tìm cách thu thập và lập danh sách một số cán bộ chủ chốt, đảng viên và người thân liên quan trong các cơ quan Đảng, chính quyền tại nhiều địa phương phía Nam để viết bài tố cáo sai sự thật, đe dọa ám sát, hủy hoại tài sản cá nhân… Nguy hiểm hơn, “Nhóm Vệ quốc quân” do đối tượng Nguyễn Trung Thành (ngụ TPHCM) cầm đầu lôi kéo một số đối tượng ở nhiều địa phương tham gia viết bài đưa lên mạng xã hội các nội dung sai trái.

Nhóm “kín” này đưa ra phương châm “Bảo vệ chủ quyền, phát huy tinh thần yêu nước” để lôi kéo người khác tham gia phát triển tổ chức, hoạt động kích động biểu tình mang tính chất bạo lực, dùng bom xăng gây cháy nổ nơi công cộng, trang bị các vũ khí, phương tiện nhằm chống trả lực lượng của ta. Chúng thường dùng thủ đoạn tấn công người tham gia biểu tình để vu cáo do chính quyền đàn áp.   

Liên tục thay đổi phương thức, thủ đoạn

Vài năm trước, trên mạng xã hội nổi lên một số tài khoản của một số đối tượng cầm đầu các băng nhóm hoạt động theo kiểu xã hội đen với những hoạt động gây “bão mạng” có lượng người tham gia yêu thích, bình luận, chia sẻ lên đến hàng trăm ngàn lượt. Các đối tượng này sau đó đã bị cơ quan công an triệt phá, truy tố với nhiều tội danh khác nhau. Đây là cơ hội để các hội nhóm phản động nhảy vào tìm cách chiếm quyền sử dụng các tài khoản này cho mục đích lôi kéo người tham gia tổ chức, viết bài có nội dung xuyên tạc, kích động một bộ phận thanh niên, công nhân, sinh viên tham gia chống đối.

Nhiều hội nhóm còn mua lại các trang fanpage có lượt tương tác cao (trên 100.000 người theo dõi), thay đổi tên hoặc lập mới để thu hút, đứng tên làm bình phong, hợp thức hóa hoạt động tập hợp, trả nhuận bút cao cho các bài viết có nội dung phản động, lôi kéo thanh niên, sinh viên trong nước tham gia chống đối. Chúng còn lập các hội nhóm trá hình với những tên gọi tưởng chừng vô hại, gây ngộ nhận là tích cực như bảo vệ môi trường, đại diện quyền lợi cho các nghiệp đoàn…

Nhằm củng cố lực lượng, phát triển hội nhóm sẵn có, số đối tượng cầm đầu tích cực tổ chức nhóm họp dưới nhiều hình thức, cấu kết các hội nhóm ở nước ngoài với trong nước qua các phần mềm bảo mật cao (whatsapp, Goto Meeting…) trên không gian mạng.

Phương thức trực tuyến này đã lôi kéo hàng trăm lượt người tham gia hội luận theo các chủ đề về chính trị, kinh tế, xã hội với nhiều nội dung xuyên tạc, bịa đặt, sai trái, gây tác hại xấu cho cộng đồng mạng, tạo cách hiểu không đúng về đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó, dễ bề xúi giục, lôi kéo một số đối tượng vì thiếu hiểu biết nghe theo và tham gia vào tổ chức hội nhóm phản động.

Bên cạnh đó, thông qua không gian mạng, các hội nhóm phản động đẩy mạnh hoạt động đào tạo kỹ năng, phương thức tập hợp lực lượng tham gia chống phá qua các bài viết được đăng tải trên các mạng xã hội và thực địa ở một số địa phương.

Các hội nhóm “kín” đã liên kết với nhau tổ chức các khóa huấn luyện trực tuyến với hàng chục lượt thành phần cộm cán tham gia, trong đó có một số đối tượng cầm đầu của các nhóm: “Hội anh em dân chủ”, “Viễn tượng Việt Nam”, “Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam”, “Nhóm Luật sư vườn rau Lộc Hưng”.

Các hội nhóm ngoài nước còn cấu kết với trong nước gia tăng các hoạt động lợi dụng mạng xã hội để tán phát các clip có nội dung kích động, xuyên tạc, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp, bắt bớ “người biểu tình yêu nước”, đòi quốc tế can thiệp, hậu thuẫn. Số hội nhóm bên ngoài như: “Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” do Đào Minh Quân cầm đầu cùng với Lisa Phạm thường xuyên phát tán các clip kêu gọi người dân xuống đường biểu tình, thực hiện phương châm “đốt sạch, phá sạch, giết sạch”, tiêm nhiễm các tư tưởng chống đối cực đoan, quá khích cho số cơ sở nội địa thực hiện các hoạt động manh động, phá hoại, bạo loạn, khủng bố nhằm mục tiêu xóa bỏ chế độ ta.

Theo dự báo của cơ quan chức năng, thời gian tới, các hội nhóm phản động tiếp tục lợi dụng mạng xã hội để đẩy mạnh rao giảng, kích động, vu cáo chính quyền, triệt để lợi dụng các sự kiện chính trị trong nước để lôi kéo lực lượng tham gia chống đối. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của các hội nhóm phản động này sẽ thường xuyên thay đổi bằng nhiều hình thức khác nhau trên không gian mạng, liên kết hoạt động hiệu quả hơn qua các phương tiện, kỹ thuật hiện đại hiện có ở trong nước và ngoài nước.

KHÔNG ĐƯỢC MẤT CẢNH GIÁC TRONG CUỘC CHIẾN "KHÔNG KHÓI SÚNG"!

      Chiến lược “diễn biến hòa bình” là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu để chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước XHCN.

Thực ra, các biện pháp “Diễn biến hòa bình” bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, bóp nghẹt về kinh tế... làm suy yếu, tan rã đối phương nhằm mục tiêu “không đánh mà thắng” đã được các nhà chính trị, quân sự nhiều nước thực hiện từ lâu. Hiện nay, bản chất của chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam không hề thay đổi.

Các thủ đoạn mới chỉ là việc thay hình, đổi dạng cho phù hợp với tình hình và diễn biến của thời cuộc. Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch dùng mọi phương thức trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chống phá cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch đã coi thủ đoạn “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang (LLVT) là một trong những mục tiêu, nội dung tấn công chủ yếu nhằm tìm cách thủ tiêu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT.

LLVT nhân dân là một trong những yếu tố cấu thành của tổ chức quyền lực nhà nước, có vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ chính thể, bảo vệ quyền lực nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thể hiện tập trung ý chí, nguyện vọng của lực lượng lãnh đạo xã hội và của toàn dân nên việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với LLVT là cần thiết.

Vì vậy, để thực hiện “phi chính trị hóa” LLVT, trong thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng tìm mọi thủ đoạn để tán phát, truyền bá các quan điểm sai trái, phản động, công kích sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục tung ra những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” LLVT nhân dân Việt Nam.

Thực chất âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” LLVT là nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với CAND và QĐND, làm cho hai lực lượng trọng yếu này không còn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn này, các thế lực thù địch đã không ngừng gia tăng các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” LLVT. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm cho LLVT ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu và hòng vô hiệu hóa, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với CAND và QĐND.

Thứ nhất, chúng đã và đang triển khai mạnh mẽ các mũi tấn công vào đạo đức, lối sống bằng các chiêu bài dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong LLVT dần dần bị suy thoái về đạo đức, lối sống, quen dần với cuộc sống hưởng thụ, đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích vật chất, sao nhãng, xem nhẹ việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng.

Thứ hai, trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội, Công an; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ, làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu của LLVT.

Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với LLVT; đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an.

Bằng những hoạt động tinh vi, xảo quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội, Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội những hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, Công an, làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, CAND...

Đồng thời, trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, chúng lợi dụng ưu thế của internet để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, các blog có nội dung kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là sử dụng các hình ảnh cắt ghép, có nội dung lệch lạc nhằm bôi nhọ, làm mất uy tín của lực LLVT với nhân dân, cùng với đó, chúng triệt để sử dụng thủ đoạn dùng mạng xã hội để nhanh chóng kết nối thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chia rẽ Đảng, Nhà nước, LLVT với nhân dân; tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội và đặc biệt là trước các vấn đề nhạy cảm, vào các thời điểm nhạy cảm như tổ chức đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và kỷ niệm các sự kiện lớn của đất nước.

Trước thực tiễn đó, việc tiến hành đánh giá, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hoá” LLVT nhằm chống phá cách mạng trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh với âm mưu, hoạt động đòi “phi chính trị hoá” LLVT là vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết hơn bao giờ hết.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên.

Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này./.

Yêu nước ST.

Cách mạng màu và một số thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam trên không gian mạng!

 Từ “cách mạng màu online” đến “cách mạng đường phố”

Trên các trang mạng xã hội do các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn điều hành đưa ra hàng loạt bài viết sai trái, tiêu cực với nội dung liên hệ tình hình tại Myanmar với Việt Nam. Các đối tượng đang tích cực tiến hành “cách mạng màu online” để làm nền tảng hiện thực hóa “cách mạng đường phố”. Trong đó, các mũi nhọn chống phá mà các đối tượng đang thực hiện là:

Thứ nhất, xuyên tạc, bôi đen tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền và bức tranh chính trị - xã hội tại Việt Nam. Từ lâu, các “mõ làng dân chủ” vẫn cố tình xuyên tạc một cách hết sức trắng trợn rằng Việt Nam đang đặt dưới “chế độ độc tài toàn trị” nên không có tự do, dân chủ, nhân quyền.

Thông qua vấn đề Myanmar, họ rêu rao các luận điệu sai trái, độc hại như: “Chính quyền Cộng sản Việt Nam đã thành công tạo ra một xã hội con người không còn đề cao những giá trị tinh thần và quyền con người, chỉ biết hưởng thụ vật chất”, “bài toán của Miến Điện sẽ được giải quyết trong vài tháng nhưng bài toán dân chủ của Việt Nam thì chưa biết chừng nào mới có giải đáp”, “Đảng Cộng sản chỉ chăm lo bảo vệ quyền lợi của bản thân mà không chú ý tới đời sống của nhân dân”…

Từ đây, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị rêu rao rằng “những gì đang diễn ra tại Myanmar sẽ tạo ra một thông điệp dân chủ cho Việt Nam”, “Myanmar là hình mẫu mà Việt Nam phải học tập”, kích động người dân Việt Nam phải “học theo Myanmar”, phải “xuống đường đấu tranh vì dân chủ”, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập…

Đáng chú ý, sau khi xảy ra việc nhiều người dân đập phá nhà máy, công ty của nước ngoài tại Myanmar để phản đối đảo chính khiến những đối tượng lợi dụng vấn đề dân chủ, tìm cách “diễn xiếc” trên mạng xã hội. Chẳng hạn như facebooker M.V đã phát tán nhiều bài ca thán về các cuộc biểu tình tại Myanmar kèm những luận điệu xuyên tạc để gieo rắc tâm lý tiêu cực đến với cộng đồng mạng.

Mới đây, sau khi xảy ra việc đốt đường ống dẫn dầu, cắt dây cáp quang mạng, đốt phá các nhà máy may mặc ở khu ngoại ô Hlaingthaya của thành phố Yangon, Myanmar do những người quá khích gây ra, ngay lập tức facebooker M.V đã chia sẻ bài viết với “Khi tiền không phải là mục đích sống của họ”, trong đó anh ta cổ súy rằng: “Người dân Việt Nam có thể giàu hơn người Myanmar về kinh tế, nhưng về trí tuệ và tâm hồn thì chưa chắc là đã hơn? Vì với họ, tự do, dân chủ mới là chân lý để họ sống, tiền không có, nghèo vẫn được nhưng miễn sao họ sống được hưởng không khí tự do”…

Một số người giở trò “mượn gió bẻ măng”, cố tình liên hệ về những câu chuyện vốn không liên quan để thêu dệt, suy diễn, qua đó tung hô, cổ vũ, coi vấn đề biểu tình tại đất nước Myanmar là “hình mẫu lý tưởng” để Việt Nam học theo.

Do đó, từ khi chính biến bắt đầu bùng phát tại Myanmar, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, số đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng vỏ bọc đấu tranh đòi “dân chủ, nhân quyền” để gieo rắc các quan điểm, tư tưởng, nhận thức sai lệch về tình hình trong nước bằng cách so sánh một cách khập khiễng tình hình tại Việt Nam với vấn đề nội bộ đất nước Myanmar. Họ đồng nhất vấn đề “dân chủ” và “chống độc tài”, tìm mọi lý do để nói xấu Đảng, Nhà nước ta, từ đó kích động người dân xuống đường biểu tình đòi yêu sách, chống đối chính quyền nhân dân. 

Thứ hai, các đối tượng đẩy mạnh việc thần tượng hóa các chiêu trò mà họ tung hô là “hình mẫu dân chủ”. Đối tượng được lựa chọn để “thần tượng hóa” thường là những người ở độ tuổi trẻ, đứng đầu các hội nhóm dân sự hoặc những người trẻ bị thiệt mạng trong các cuộc đụng độ với cảnh sát tại quốc gia này. Trên một số diễn đàn, họ tung ra các bài viết với câu chữ hoa mỹ như: “Cảm phục những chiến binh trẻ tuổi của Myanmar trong những cuộc biểu tình tại Miến Điện”, “Lịch sử tại Myanmar sẽ ghi ơn những người đã hi sinh cho đất nước”…

Họ cố tình so sánh một cách khập khiễng, vô căn cứ vấn đề tại Myanmar với tình hình Việt Nam và kích động rằng giới trẻ Việt Nam không có tinh thần đấu tranh “vì dân chủ”, còn thờ ơ, vô cảm trước thời cuộc. Thực chất, đây là thủ đoạn kích động tâm lý để lôi kéo, dụ dỗ giới trẻ tham gia vào hoạt động chống phá.

Thứ ba, bôi nhọ lực lượng vũ trang nhân dân, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Lợi dụng việc lực lượng quân đội tiến hành đảo chính tại Myanmar, các đối tượng chống phá gia tăng hoạt động xuyên tạc về vị trí, vai trò của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với lực lượng vũ trang tại Việt Nam.

Nhiều bài viết có nội dung sai trái, bôi nhọ lực lượng vũ trang Việt Nam được tung ra như: “Chính biến thành Naypyidaw và bài học phi chính trị hóa lực lượng vũ trang cho Việt Nam”, “Chính trị hóa quân đội, mối nguy khôn lường cho đất nước”… Luận điệu xuyên suốt được các đối tượng xấu rêu rao là đòi lực lượng vũ trang phải “phi chính trị hóa”, phải “trung lập”, cho rằng lực lượng vũ trang “chỉ cần trung thành với Tổ quốc”… 

Thứ tư, gia tăng việc thực hiện các cuộc “cách mạng màu” trên mạng xã hội. Lợi dụng vấn đề Myanmar, có thể thấy các đối tượng chống đối đang tích cực sử dụng mạng xã hội để lan truyền những thông tin, luận điệu, quan điểm độc hại, hô hào tiến hành các “chiến dịch” mang màu sắc “cách mạng màu” trên mạng xã hội như: thực hiện chiến dịch “mùa xuân Đông Á” thông qua việc gắn hashtag #EastAsianSpring (hashtag là một loại thẻ, gồm một từ hoặc chuỗi các ký tự liên tiếp nhau đặt sau dấu #, được sử dụng để mô tả các chủ đề trên các trang web mạng xã hội); chiến dịch uống trà sữa, chống độc tài, tranh đấu cho tự do bằng việc gắn hashtag #MilkTeaAlliance”. Bắt đầu từ việc sử dụng hashtag để làm nóng những vấn đề, sự kiện được quan tâm, các đối tượng tiến hành chia sẻ, lan truyền những thông tin sai trái, tập hợp lực lượng, châm ngòi các cuộc bạo loạn.

Tỉnh táo để không bị lợi dụng

Đằng sau những luận điệu tưởng chừng như đầy “thương cảm” cho Myanmar, thực chất lại là những bộ mặt xảo trá. Núp dưới vỏ bọc “yêu nước”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã gieo rắc những quan điểm, nhận thức, đánh giá phiến diện, chủ quan, sai lệch nhằm đánh lạc hướng dư luận, từ đó lôi kéo, dụ dỗ, hướng lái những người nhẹ dạ, cả tin tham gia vào các hoạt động chống phá.

Câu chuyện bất ổn, biểu tình tại Myanmar hay trước đó là Hồng Kông (Trung Quốc), Thái Lan hay biểu tình tại Mỹ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc lấy những gì đã và đang diễn ra tại các nước này để so sánh với Việt Nam là hoàn toàn sai lệch. Đặc biệt, việc cho rằng biểu tình, chống đối với Nhà nước là thước đo cho sự “dũng cảm” trong đấu tranh dân chủ, nhân quyền như luận điệu các “nhà dân chủ mạng” đang rêu rao là không thể chấp nhận được.

Những thành tựu phát triển về mọi mặt của Việt Nam là minh chứng tiêu biểu, rõ ràng nhất cho thấy sự nghiệp cách mạng của nước ta đang đi đúng hướng. Đặc biệt, môi trường hòa bình, ổn định, tình hình an ninh, chính trị được giữ vững là nền tảng, cơ sở quan trọng, tiên quyết để thúc đẩy phát triển, đảm bảo tự do, dân chủ, nhân quyền. Do đó, việc “mượn gió bẻ măng”, lợi dụng tình hình bất ổn tại Myanmar cũng như tại một số quốc gia, vùng, lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới để rêu rao, lan truyền các luận điệu kích động biểu tình, bạo loạn là hoàn toàn sai trái, cần nhận diện để đấu tranh

Thủ đoạn tinh vi trên thông tin giả

 

Phải nói rằng, những thế lực xấu đã rất kỳ công trong việc cắt ghép, dàn dựng nên những hình ảnh có trong hàng chục clip, video ấy. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị thì ra sức lợi dụng điều đó để tiếp tục xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta.Thật buồn khi có những cán bộ, đảng viên lại không phân tích đúng, sai, cả hữu ý và vô tình bị dòng tin ấy cuốn đi. Chính vài người thân của tác giả bài viết này, trước một vụ việc diễn ra cách đây không lâu về cái chết của một quân nhân, đã thường xuyên lên mạng, xem, đọc các bài viết xuyên tạc sự thật về kết quả xử lý của các cơ quan chức năng. Xem xong thì khẳng định như đinh đóng cột là đã cách chức ông tướng nọ, bỏ tù ông đại tá kia...Bằng rất nhiều cách, kiên trì giải thích, thuyết phục thì họ mới nhận ra rằng mình... tin sai!

Bằng thủ đoạn không nói cho có, có nói cho thật nhiều, nói nhiều ắt phân vân, ngả nghiêng và nói mãi sẽ có người tin. Có thể nói, âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng nó rất có tác dụng. Các bằng chứng nghiên cứu khoa học cho thấy, sai lệch niềm tin do tiếp nhận tin giả giống như dịch bệnh lây lan. Khi cá nhân chia sẻ tin giả cũng đồng nghĩa với “lây truyền” niềm tin độc hại.

Ở Việt Nam, tin giả ngày càng xuất hiện nhiều và bỗng dưng trở thành một phần trong xã hội. Chỉ riêng tháng 10 vừa qua, khi chúng ta bước sang giai đoạn mới thích ứng an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 đã có tới 200.000 tin, bài viết giả mạo, tiêu cực xuyên tạc Nghị quyết 128 của Chính phủ “thất bại toàn diện”; rằng người lao động không được hỗ trợ; bịa đặt Bộ Y tế “ép buộc” trẻ em tiêm vaccine nhằm thu lợi bất chính...

Các nước trên thế giới cũng vấp phải nạn tin tức giả mạo, xuyên tạc. Ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo “Tin giả lan nhanh và dễ dàng hơn cả virus, nhưng mức độ nguy hiểm thì không hề thua kém”.

Cảnh giác với thông tin giả, bịa đặt

 

Thông tin bịa đặt không phải đến bây giờ mới xuất hiện trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện công nghệ mới, phương thức truyền tin, nhất là mạng xã hội phát triển sâu rộng thì tin giả càng thêm đất sống.

Tin giả như một loại virus độc hại, nó xâm nhập, gây rối dư luận, gây rối lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng điều này để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Vì thế, phải đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ mối hiểm họa thật sự này.

1. Tin giả, trong từ điển tiếng Anh và truyền thông quốc tế sử dụng gọi là fake news. Bản thân nó có nghĩa để chỉ tin rác, tin giả mạo được tuyên truyền nhằm cố ý lừa bịp người khác.

Ở Việt Nam, trong đời sống dân gian, loại tin đó được gọi nôm là “tin vịt”. Tin này dứt khoát không bao giờ đúng với thực tế, nó được đưa ra để nhằm đánh lừa, tạo sự hiểu sai về một vấn đề, sự kiện nào đó.

Đáng tiếc, tin giả giờ đây không chỉ được lan truyền miệng từ người này sang người kia mà thông qua các hiệu ứng truyền thông, mạng xã hội, nó lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vì là tin bịa đặt, nên nó được cường điệu cho nên hàm chứa sự ly kỳ, hấp dẫn, dễ đánh vào xúc cảm, tâm lý của những người mà độ “hóng” cao.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH DÙNG CHIÊU BÀI “TỰ DO”, “DÂN CHỦ TƯ SẢN”, “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ” GÂY SỨC ÉP, ĐÒI NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THAY ĐỔI BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ

 

          Từ năm 1986 đến nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước dấy lên một cao trào tuyên truyền cho “tự do”, “dân chủ tư sản”, “chủ nghĩa đa nguyên”. Đẩy mạnh hoạt động này, chúng nhằm hai mục đích. Thứ nhất, chúng gây sức ép với Nhà nước ta chấp nhận và hợp pháp hóa sự có mặt trên chính trường những tư tưởng tư sản và những lực lượng chính trị đối lập chống CNXH. Đây là cái bẫy rất hiểm độc mà chúng đã từng sử dụng ở một số nước Đông Âu và Liên Xô. Nếu chúng ta không sáng suốt, tỉnh táo thì khó lường hết những hậu quả sẽ xảy ra đối với chế độ XHCN ở nước ta, đối với Đảng và nhân dân ta. Thứ hai, nếu như về mặt công khai, mục tiêu này không đạt được, thì “việc tuyên truyền dân chủ, tự do tư sản, tuyên truyền cho đa nguyên, đa đảng sẽ kích động, khuyến khích được những người bất mãn, cá nhân chủ nghĩa, non kém về chính trị nổi lên chống CNXH ở Việt Nam”.

          Như vậy, khi sử dụng nội dung trên đây vào các hoạt động phá hoại nội bộ Nhà nước ta, chúng đã “cấy” vào xã hội ta tư tưởng chống CNXH và tạo thế cho các lực lượng phi XHCN phát triển và có chỗ đứng ở Việt Nam. Đến một lúc nào đó, khi có thêm “chất xúc tác” vào, các lực lượng này sẽ là những nhân tố tạo ra “ngòi nổ” làm sụp đổ CNXH ở Việt Nam.

          Bản chất của hoạt động tuyên truyền các nội dung trên đây là chống cộng, chống CNXH. Nó làm tan rã, làm triệt tiêu những giá trị tư tưởng của CNXH. Mặt khác, nó là những yếu tố kích thích sự phát triển các nhân tố phi XHCN trong lòng CNXH ở nước ta. Tất cả những việc làm và sự tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước trên mặt trận chính trị, tư tưởng trong thời gian qua đã gây tác động tiêu cực không nhỏ đến tình hình tư tưởng - chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Những kẻ cơ hội, xét lại, những phần tử bất mãn đã không tiếc công, tiếc sức tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản và con đường tư bản chủ nghĩa. Không ít người ngây thơ về chính trị đã ăn phải “bả độc” đó với những mức độ khác nhau./.

TBQL 17

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


          Đây là một trong những nội dung chính của hoạt động “diễn biến hòa bình”, của hoạt động tuyên truyền phá hoại của kẻ thù trong những năm qua. Mỹ và các thế lực phản động tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền nhằm kích động quần chúng loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, như: chúng phê phán Đảng ta không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo, hạn chế dân chủ”. Chúng cho rằng: “độc tài, Đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại”. Và, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Chúng thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối lẫn chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta trong quá khứ, đặc biệt là ở lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội để chứng minh cho sự “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, gạt Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Chúng khai thác, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm trong chỉ đạo và thực hiện đường lối, chính sách, những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tha hóa, tạo ra sự phân hóa sâu sắc trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết trong Đảng và giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Theo quan điểm của các thế lực thù địch, muốn chiến thắng đối phương phải phá vỡ sự gắn bó trong tổ chức Đảng Cộng sản và giữa Đảng với nhân dân. Chúng khuyến khích cải tổ, cải cách, đổi mới triệt để, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để làm suy yếu, đi đến phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Gần đây, chúng tung ra một số luận điệu vu khống, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao ở các thời kỳ nhằm đề cao người này, hạ thấp người kia để chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của đảng viên, cán bộ và nhân dân. Chúng phủ định đường lối, chính sách của Đảng ta, với luận điệu: “kinh tế thị trường sẽ từng bước làm thay đổi bản chất chế độ XHCN còn non trẻ, ốm yếu ở Việt Nam... sẽ tới một ngày Chính phủ Việt Nam chỉ còn là Cộng sản trên danh nghĩa”.

          Chúng nỗ lực xây dựng, nhen nhóm tổ chức chính trị chống đối trong nội địa, nội bộ ta; nhưng đã bị ta phát hiện và kịp thời ngăn chặn có hiệu quả, như, đã làm thất bại ý đồ tái lập “Đảng Dân chủ”, lập “Đảng dân chủ xã hội”, lập “Liên minh dân chủ cấp tiến” ở phía Nam, “Mặt trận dân chủ cấp tiến” ở phía Bắc, Đảng “Dân chủ tự do Thiên Chúa giáo”, Đảng “Dân chủ tự do Phật giáo”, v.v.. Chúng đã và sẽ tiếp tục củng cố, phát triển, sử dụng lực lượng: Tình báo gián điệp làm tham mưu, nòng cốt, xung kích tổ chức hoạt động; Lực lượng phản động trong các tôn giáo, dân tộc; Lực lượng ngụy quân, ngụy quyền cũ làm lực lượng hoạt động phá hoại trực tiếp; Nguy hiểm nhất là lực lượng do CIA cấu kết với tình báo nước ngoài khác, sử dụng bọn “hậu chiến”, xét lại, cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất trong nội bộ ta, dựng ngọn cờ “dân chủ cấp tiến”, tổ chức đảng phái đối lập “hình thành một tập hợp lực lượng dân chủ có đủ sức mạnh đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam”.

TBQL 17

Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CỦA CÁCH MẠNG NƯỚC TA LÀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 


          Chúng hết lời ca ngợi Goócbachốp, công khai đi theo con đường TBCN: “Không nên cứ tôn thờ CNXH một cách lý thuyết suông mà không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN. Tự giác thì sẽ đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích chậm chạp hơn, đau đớn hơn”. Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho mô hình “xã hội dân chủ” và tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện âm mưu xóa bỏ chuyên chính vô sản, xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, phủ nhận đấu tranh giai cấp, gây mơ hồ về địch, ta; đề cao chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân tư sản. Đưa ra quan điểm về con đường “dân tộc” đi lên xây dựng xã hội văn minh do trí thức, sinh viên thanh niên làm nòng cốt; nhằm tác động vào giới trẻ để khuyến khích họ đấu tranh cho “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” và đẩy mạnh chiến tranh tâm lý tác động vào xã hội những khuynh hướng mơ hồ, lệch lạc để lừa bịp quần chúng nhân dân./.

TBQL 17

XUYÊN TẠC, PHỦ ĐỊNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

          Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là, sự thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Song, chúng cố tình xuyên tạc tư tưởng của Người, chúng cho rằng, tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh là tư tưởng dân tộc, để qua đó chúng xuyên tạc, biến tướng tư tưởng của Người thành tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, tư tưởng dân tộc tư sản. Thực chất là tư tưởng phản động, phản bội của chúng, nhưng nhân danh Bác. Chúng còn cho rằng: “Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tư do” là phi nhân tính”.

          Mặt khác, chúng chỉ đạo viết những tài liệu xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”. Gần đây, chúng viết tài liệu với đầu đề dưới dạng văn học. Trong đó, chúng đã dựng chuyện, vu cáo bỉ ổi, bôi nhọ Bác, kể cả về đời tư và sự nghiệp lãnh đạo cách mạng. Chúng cho rằng, khi đã lợi dụng được tư tưởng Hồ Chí Minh để chuyển hóa quan điểm lý luận thì sẽ xóa luôn cả vai trò, vị trí lịch sử của Bác, để dựng ngọn cờ mới dưới các chiêu bài chủ nghĩa xã hội dân chủ, CNXH nhân văn, CNXH nhân bản, thực chất là xóa bỏ CNXH khoa học và học thuyết Mác - Lênin./.

TBQL 17

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, CHÚNG TA CẦN PHẢI KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

          Tận dụng sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động tăng cường phát tán quan điểm sai trái, nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, vạch trần ý đồ của chúng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài.

          Để tiếp tục đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cấp ủy đảng các cấp trong Quân đội cần nhận thức sâu sắc và tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau đây:

          Một là, tăng cường giáo dục, xây dựng lập trường, tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ, nâng cao sức đề kháng”, khả năng miễn dịch” trước quan điểm sai trái trên không gian mạng. Đây là giải pháp cơ bản, xuyên suốt, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước quan điểm sai trái cho cán bộ, chiến sĩ. Cấp ủy các cấp cần quán triệt, thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII). Tăng cường giáo dục bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Kịp thời thông tin có định hướng các sự kiện, vấn đề nảy sinh; chỉ rõ dấu hiệu nhận biết chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng. Từ đó, giúp cán bộ, chiến sĩ nêu cao cảnh giác, không dao động trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng, tăng cường “sức đề kháng”, đề cao trách nhiệm, tính tự giác trong đấu tranh, phản bác quan điểm, sai trái, thù địch.

          Hai là, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

          Ba làphát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng nòng cốt, vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng đấu tranh nòng cốt vừa có chức năng tham mưu, chỉ đạo, định hướng đấu tranh, vừa kịp thời cung cấp thông tin để thực hiện các biện pháp đấu tranh triệt phá thông tin xấu độc và giữ vai trò chủ đạo trong vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt, chuyên sâu linh hoạt, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với từng cơ quan, đơn vị; phát huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

          Bốn là, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, không tạo “khoảng trống” để các thế lực thù địch chống phá là một nội dung quan trọng trong thực hiện phương châm chỉ đạo của công tác tư tưởng, nhằm tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp, chế độ cung cấp thông tin, bảo đảm cho các thông tin chính thống đến trước, đến sớm với cán bộ, chiến sĩ để định hướng tư tưởng; thông tin kịp thời các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, như: chỉ rõ mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở cho các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong hoạt động đấu tranh.

          Năm làđẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ đấu tranh trên internet, mạng xã hội; tăng cường trao đổi kinh nghiệm đấu tranh giữa các cơ quan, đơn vị, lực lượng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, khai thác hiệu quả các phần mềm kiểm soát, phân loại thông tin trên mạng xã hội. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ truyền thông; đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật phục vụ lực lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội; kịp thời bóc gỡ thông tin xấu độc không để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiếp cận được với thông tin này. Duy trì tổ chức tốt hội nghị rút kinh nghiệm và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, làm cơ sở cho các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu nâng cao kỹ năng đấu tranh trên mạng xã hội. Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm hay, cách làm mới, hiệu quả trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

TBQL 17

TỰ SOI, TỰ SỬA - VŨ KHÍ SẮC BÉN ĐỂ CHỐNG SUY THOÁI TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Từ rất sớm, trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: làm cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh…”. Theo Người, Đảng cách mệnh là nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng, nhưng Đảng đó phải bao gồm những người có tư cách của người cách mệnh, mà tư cách người cách mệnh được Người khái quát hết sức đơn giản, ngắn gọn đó là “Cần, kiệm; Hòa mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát…”. Từ những tư tưởng đó với sự quyết tâm nỗ lực của chính mình, Người đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930.

           

Cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã có bước chuyển quan trọng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Song để Đảng trở thành người lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn để Đảng thực sự là Đảng cách mạng. Từ khi chưa trở thành Đảng cầm quyền, năm 1939, Tổng Bí thư của Đảng Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm "Tự chỉ trích" để chỉnh đốn Đảng, đảng viên phải tự chỉ trích trước Đảng. Mục đích của “Tự chỉ trích”: Là phải thông qua phê bình và tự phê bình trong Đảng để “tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ”. Trong “Tự chỉ trích”, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ rõ “Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi họ, hay phỉnh họ…”.

          

Về phương pháp phê bình và tự phê bình: Trong tác phẩm “Tự chỉ trích”, đồng chí Nguyễn Văn Cừ yêu cầu: “Phê bình và tự phê bình phải tôn trọng sự thật, công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ.” Đồng chí còn chỉ rõ: “Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận, tự do chỉ trích, miễn là sự thảo luận luôn luôn mang tinh thần Bôn-sê-vich, không làm giảm uy tín của Đảng.”

          

Nói về tự phê bình và phê bình trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành nhiều thời gian và công sức để giáo dục và rèn luyện Đảng ta. Tự phê bình và phê bình không những chỉ là tư tưởng mà còn là tấm gương mẫu mực của Người để toàn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên học tập và làm theo. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”.


Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,… là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn…”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của tự phê bình và phê bình với người cách mạng là: “Giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ… Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.


Trong toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng, Người luôn chú ý đến việc giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, đồng thời Người luôn nhắc nhở Đảng, muốn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì Đảng phải thường xuyên được xây dựng và chỉnh đốn để đáp ứng với lòng mong mỏi của nhân dân. Trước lúc đi xa, Người đã để lại bản Di chúc thiêng liêng cho toàn Đảng, toàn dân, trong đó lời dặn “Trước hết nói về Đảng”, Người chỉ rõ, để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng, “…Cần thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”, bởi theo Người đó “là cách tốt nhất”.


Trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nhất quán quan điểm “Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt”. Đối với việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, Đảng luôn coi trọng tự phê bình và phê bình, vì Đảng khẳng định:“Tự phê bình và phê bình là một quy luật phát triển và tiến bộ của Đảng, cũng là một phương pháp căn bản để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng”.


Quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh đòi hỏi Đảng phải giải quyết, một trong những vấn đề nổi cộm đó là phải thực hiện xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh loại trừ những căn bệnh nguy hiểm có thể nảy sinh trong Đảng cầm quyền. Vì vậy các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều chú trọng công tác xây dựng Đảng mà tập trung thể hiện cao nhất ở Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII vừa qua đã thảo luận và ban hành Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật.


Đặc biệt trong thời gian tới, Kết luận số 21-KL/TW khẳng định: Phải tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã đề ra; đồng thời bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm”. 


Theo đó, phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, "lợi ích nhóm". Rà soát, hoàn thiện, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận.


Để triển khai thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIIIl đi vào thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp luôn nhận thức đầy đủ, sâu sắc trách nhiệm của mình trước dân, đất nước, trước Đảng để tự giác gương mẫu thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong đó, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.


Những nội dung mới đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và có phương pháp đúng đắn, linh hoạt để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) tạo chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, như lời phát biểu Bế mạc Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên "hãy phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương" để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay.

NỀN TẢNG CHO NHỮNG NẤC THANG MỚI

Trước thềm xuân mới, các chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương. Mỗi người lại có những dự định cho riêng mình: Người có kế hoạch học nghề, người làm việc ở công ty, người đi xuất khẩu lao động... Tất cả đều có chung tâm trạng háo hức với tương lai phía trước.


Phấn khởi khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Nguyễn Tuấn Dũng (Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội) chia sẻ rằng, qua hai năm rèn luyện trong môi trường quân ngũ, Dũng học tập, tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm và cảm thấy trưởng thành, tự tin khi trở về địa phương bắt đầu cuộc sống mới. Dũng chọn học nghề lái xe vì có một công ty đã nhận vào làm việc.


Dũng cho biết, nhiều quân nhân xuất ngũ cùng đợt cũng được các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng theo hướng vừa học vừa làm, tạo thuận lợi để có thể lao động được ngay. Với những phẩm chất như ý thức tổ chức kỷ luật tốt, tác phong làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, bộ đội xuất ngũ được các đơn vị tin tưởng, ưu tiên tuyển dụng.


Nếu đi xuất khẩu lao động, có doanh nghiệp còn hỗ trợ kinh phí ban đầu, sau một thời gian làm việc có thể trả hết khoản vay vốn, tích lũy thu nhập gửi về gia đình. Rất nhiều thanh niên đã tìm thấy cơ hội tốt sau khi xuất ngũ.


Hai năm trong quân ngũ là khoảng thời gian để thanh niên học tập, rèn luyện. Nhiều đồng chí trưởng thành rõ rệt. Khi tiếp nhận quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, nhiều địa phương tổ chức gặp mặt, đánh giá cao quá trình rèn luyện của thanh niên, mong muốn lực lượng này tiếp tục phát huy những kiến thức, kinh nghiệm, vốn sống tích lũy được, đóng góp sức trẻ cho cộng đồng.


Ngày lễ ra quân, nhiều địa phương tổ chức tưng bừng thì ngày trở về cũng trang trọng, chu đáo, thể hiện sự quan tâm, trân trọng đối với quân nhân xuất ngũ. Không những vậy, nhiều địa phương còn phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp tổ chức tư vấn, dạy nghề và giới thiệu việc làm.


Với bản lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệm cao, tinh thần kỷ luật tốt, tác phong làm việc nghiêm túc, những thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự có thể lựa chọn công việc phù hợp với bản thân, nhanh chóng ổn định cuộc sống.


Có thể khẳng định, quân đội là trường học tổng hợp giúp quân nhân học tập, rèn luyện bản thân. Mỗi đồng chí không chỉ tích lũy kiến thức, kinh nghiệm mà còn rèn về tác phong, ý thức kỷ luật, tinh thần trong lao động, công tác, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tốt, thái độ sống tích cực, trách nhiệm, ý chí vượt qua mọi khó khăn, thử thách.


Không ít quân nhân nhận thấy môi trường quân đội phù hợp với điều kiện bản thân nên quyết tâm ôn thi vào các trường sĩ quan để được phục vụ quân đội lâu dài. Với những người trở về địa phương, họ mang theo kiến thức, kinh nghiệm và cả tác phong, lối sống trong quân ngũ. Đó sẽ là hành trang hữu ích để mỗi người vững vàng, tự tin hơn trong cuộc sống mới.


Tuổi trẻ luôn khát khao chinh phục những nấc thang hướng đến tương lai. Được sống, học tập và rèn luyện trong quân ngũ sẽ là những trải nghiệm ý nghĩa. Những ai đã trải qua đều thấy vinh dự, tự hào khi được là người quân nhân cách mạng, từ đó sống có lý tưởng, trách nhiệm hơn, tiếp tục phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.  

Tổng thống Kazakhstan ra lệnh quân đội nổ súng vào các phần tử khủng bố

Ngày 7/1, Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev tuyên bố ông đã ra lệnh cho quân đội và lực lượng thực thi pháp luật sử dụng vũ khí sát thương nhằm chống lại những phần tử khủng bố, đồng thời cho phép nổ súng không cần cảnh báo trước.

Tổng thống Tokayev khẳng định ông cho phép sử dụng vũ lực, kể cả vũ lực sát thương, nhằm ngăn chặn các phần tử khủng bố và vãn hồi trật tự, ổn định. Nhà lãnh đạo Kazakhstan cũng bác bỏ mọi khả năng thương lượng với khủng bố.

Trong bài phát biểu toàn quốc được phát trên truyền hình, Tổng thống Tokayev cho hay ít nhất 20.000 tay súng đã tấn công thành phố Almaty, các phần tử nổi dậy có vũ trang được huấn luyện và có một trung tâm làm nhiệm vụ điều phối nhóm này. Ông Tokayev tuyên bố những kẻ khủng bố sẽ bị tiêu diệt nếu không đầu hàng./. 

Nhận diện nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vấn đề cấp bách trong đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ, thách thức hàng đầu đối với sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nước ta. Vì vậy, nhận diện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là yêu cầu mang tính cấp bách đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. “Diễn biến hòa bình” với tư cách là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm chống phá các nước chủ nghĩa xã hội, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên thế giới. Được hình thành từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2, phát triển khá hoàn chỉnh trong Thập kỷ 80 và được vận dụng thành công “Vượt ngoài mong đợi” tại Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong những năm gần đây, một số biến động dưới dạng “Diễn biến hoà bình” diễn ra ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi với các tên gọi khác nhau như: “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa” hay “Mùa xuân Ả Rập”,… Ngoài “Diễn biến hoà bình” do bên thứ ba tác động, còn một phần quan trọng khác đó là "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ, một dạng “Diễn biến hoà bình” cực kỳ nguy hiểm đối với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ thách thức đối với sự tồn vong của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết làm rõ một số dấu hiệu để nhận diện được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần đấu tranh làm thất bại Chiến lược “Diến biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay.

Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không phải bây giờ mới có, cũng không phải chỉ có duy nhất ở Việt Nam, mà có ngay trong phong trào Cộng sản quốc tế ở các nước Xã hội chủ nghĩa từ trước. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế theo khuynh hướng tư tưởng đối lập như: phái Latxan, phái Công Liên, phái Blongxki, phái Bruđông,… Những phần tử thuộc các trường phái đó không những không đi theo mà còn công khai chống lại Học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội khoa học một cách quyết liệt. Đó là những người cộng sản đã bị thoái hóa, biến chất về chính trị - tư tưởng và trở thành những “Con chiên ngoan đạo” của “Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh” hay “Hữu khuynh”. Trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, “Chủ nghĩa xét lại” đã xuất hiện ở Liên Xô, một trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Những kẻ theo “Chủ nghĩa xét lại” đã công khai phê phán và đòi “xét lại Học thuyết Mác - Lênin”. Trong thời kỳ đó, ở Việt Nam cũng đã có một số cán bộ, đảng viên, trí thức đi theo “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, nước ta lại xuất hiện các đối tượng cơ hội chính trị mà thực chất đó là những cán bộ, đảng viên đã bị thoái hóa, biến chất và họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đặc biệt là hiện nay, khi mà kẻ thù đang thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng luôn coi các yếu tố thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều kiện để thực thi có hiệu quả Chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

“Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. “diễn biến hòa bình” tạo ra các yếu tố thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, còn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả nảy sinh từ phương thức, thủ đoạn của “diễn biến hòa bình” và là điều kiện để “diễn biến hòa bình” diễn ra nhanh chóng hơn. Trước hết, bằng việc thực thi Chiến lược “diễn biến hòa bình” kẻ thù đang tìm mọi cách làm cho đất nước ta từng bước suy yếu trên tất cả các phương diện, cùng với đó là những sai phạm của ta chậm được khắc phục như: suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, mất đoàn kết, thiếu dân chủ; sự tụt hậu xa hơn về kinh tế,… làm cho quần chúng bất bình, mất lòng tin vào Đảng và chính quyền, tạo ra mâu thuẫn gay gắt từ bên trong; kết hợp với các hoạt động chống phá, mua chuộc, lôi kéo bọn cơ hội chính trị của các thế lực phản động thù địch là những yếu tố tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn tới những biến động về chính trị trong nước, đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta một cách từ từ, khó nhận biết và rất khó phòng chống. “Tự diễn biến là tự biến đổi theo một chiều hướng nào đó”, còn “tự chuyển hóa là tự biến đổi từ dạng này sang dạng khác”. Đối với Việt Nam khi nói tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nói tới sự suy thoái, thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hay trong một số tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội… “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường do sự tác động từ bên ngoài thông qua các hoạt động tuyên truyền thù địch, sự tác động từ những biến động tiêu cực của tình hình thế giới như: sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu hay gần đây là “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa”; Kết hợp với sự tác động từ bên trong bởi tình trạng mất dân chủ, quan liêu, tham nhũng, sự phân hóa giàu nghèo,… dẫn tới sự bất mãn, bất bình nghiêm trọng trong xã hội. Nhưng trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên có lập trường chính trị - tư tưởng không vững vàng, sự bất mãn hay do buông lỏng trong quản lý, giáo dục của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, Đoàn thể xã hội trong hệ thống chính trị của Nhà nước ta. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trên nhiều phương diện, đó là nhận thức lệch lạc về chính trị - tư tưởng; sự sa đọa về phẩm chất đạo đức, lối sống… các biểu hiện suy thoái trên có quan hệ tương tác với nhau; từ sự suy thoái về chính trị - tư tưởng có thể dẫn tới sự tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống và sự tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống có thể dẫn đến sự thoái hóa về chính trị - tư tưởng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể diễn ra trong nội bộ Đảng, chính quyền Nhà nước và trong toàn xã hội. Nhưng nguy hiểm nhất là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ lãnh đạo Đảng và cơ quan quyền lực Nhà nước. Thực tế cho thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới cuộc chính biến ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đều bắt nguồn từ sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô và các nước Đông Âu. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể nảy sinh ở những cán bộ, đảng viên, quần chúng và cũng có thể đến từ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các cấp. Nhưng đáng chú ý và nguy hiểm hơn là khi nó nảy sinh từ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền; những cán bộ cấp cao có trọng trách trong việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt nguy hiểm là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở những cán bộ cấp cao giữ vai trò “Cầm lái con thuyền đất nước”. Sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết gắn liền với tên tuổi của Gorbachev, Enxin,… có thể nói đó là những đảng viên Cộng sản cấp cao “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và trở thành những kẻ phản bội lại Đảng Cộng sản Liên Xô, chế độ Xô Viết và phong trào Cộng sản trên toàn thế giới. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về nhận thức thì sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự thay đổi hành vi, dẫn đến có các hành động chống đối về chính trị và các hoạt động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa dưới nhiều hình thức của một cá nhân hay tổ chức, đi đôi với ca ngợi và tin theo các giá trị của chủ nghĩa tư bản. Đó là vấn đề có tính quy luật, cần phải hết sức cảnh giác, đề phòng và phải thấy được tính chất nguy hại của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một quá trình và thường biểu hiện qua những dấu hiệu cụ thể như: nói không đi đôi với làm và thậm chí còn làm ngược lại với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thể hiện thái độ hoang mang, dao động hoặc đồng tình ủng hộ các quan điểm và việc làm “sai trái”; gắn với các yêu sách bất hợp lí, đòi đa nguyên, đa đảng và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Nước ta; phủ nhận mọi thành tựu mà Đảng ta, nhân dân ta giành được trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử và nói xấu chế độ không nhận công lao to lớn của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh; truyền bá quan điểm đối lập, tư tưởng thù địch, cổ súy văn hóa phương Tây nhằm phá hoại nội bộ ta cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức thông qua các hành vi tập hợp bè phái, gây chia rẽ và làm mất đoàn kết nội bộ; kích động tư tưởng bất mãn, chống đối trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các đoàn thể xã hội; tiến hành móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài, lôi kéo bọn chống đối bên trong chống lại Đảng, chính quyền Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời, nỗ lực bảo vệ quan điểm, tư tưởng và hành động sai trái của các phần tử chống đối, thậm chí ca ngợi chúng như những nhân vật “Anh hùng” đấu tranh cho “Dân chủ”, “Nhân quyền”.

Nhận biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người không đơn giản là căn cứ vào một vài biểu hiện bề ngoài. Bởi vì, hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh đúng bản chất bên trong, thực tế có những trường hợp vì bức xúc, bất bình về vấn đề gì đó mà nhất thời có những lời nói, hành động thể hiện thái độ bất mãn thì đã vội vã cho là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà cần làm rõ nguyên nhân, bản chất sự việc. Việc kết luận một trường hợp nào đó có vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải hết sức thận trọng, khách quan trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các dấu hiệu và hành vi diễn ra trong một quá trình. Trong đó, mấu chốt của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng theo hướng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở nhận diện được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và để phòng có hiệu quả đòi hỏi các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội và cả hệ thống chính trị cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với từng cán bộ, đảng viên và cơ quan, đơn vị. Nhận diện và phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một vấn đề hết sức cấp bách, cuộc đấu tranh vì sự tồn vong của Đảng, chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và bằng những biện pháp quyết liệt với tinh thần thái độ kiên quyết, không khoan nhượng thì mới đạt được kết quả như mong muốn, đặc biệt là trong tình hình hiện nay.

Mỹ chia rẽ về dự luật trừng phạt Dòng chảy phương Bắc

 

Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng, dự luật không phải là một nỗ lực thực sự nhằm đối phó với các hành vi gây hấn của Nga hoặc để bảo vệ Ukraine. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price cho biết, một dự luật do Thượng nghị sỹ Cộng hòa Ted Cruz thúc đẩy nhằm áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Dự án Dòng chảy phương Bắc 2 dẫn khí đốt từ Nga tới Đức, sẽ làm suy yếu mặt trận thống nhất nhằm đối phó với Moscow. Phát biểu với báo chí, người phát ngôn Ned Price nêu rõ: “Mối lo ngại ở đây là nếu đạo luật được thông qua thì điều này sẽ làm suy yếu sự thống nhất giữa các đồng minh châu Âu của chúng ta vào thời điểm quan trọng khi chúng ta cần tạo ra một mặt trận thống nhất nhằm phản ứng trước các mối đe dọa của Nga với Ukraine”. “Theo đánh giá của chúng tôi, dự luật không phải là một nỗ lực thực sự nhằm đối phó với các hành vi gây hấn của Nga hoặc để bảo vệ Ukraine”. Ông Ned Price cho biết, chính quyền Tổng thống Biden cam kết làm việc với Quốc hội để ngăn chặn mạnh mẽ nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công của Nga nhằm vào Ukraine. Hồi tháng 12/2021 vừa qua, nghị sỹ Cruz đã đạt được một thỏa thuận với các thành viên đảng Dân chủ về việc tiến hành một cuộc bỏ phiếu tại Thượng viện trước ngày 14/1 về dự luật áp đặt trừng phạt đối với Dự án Dòng chảy phương Bắc 2. Dự luật cho phép Quốc hội bỏ phiếu để khôi phục biện pháp trừng phạt trong trường hợp tổng thống từ bỏ. Ông Cruz cần sự ủng hộ của ít nhất 10 nghị sỹ Dân chủ để vượt qua ngưỡng 60 phiếu nhằm đưa dự luật trở thành luật. Tuy vậy, rất ít thành viên đảng Dân chủ tại Thượng viện có khả năng ủng hộ dự luật này. Thượng nghị sĩ Dân chủ Jeanne Shaheen cho rằng, việc ông Cruz đề xuất dự luật là điều “sai lầm” trong bối cảnh Washington cần phải hợp tác chặt chẽ với Đức và các nước đồng minh khác nhằm phản ứng trước các hành động của Nga đối với Ukraine.

Phê phán luận điệu phủ nhận “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại.

Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay: Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế. V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.

Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, vì những lý do cơ bản sau: Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng. Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy. Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”. Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi. Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại. Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục. Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa. Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi. Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay. Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga. Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga. Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta. Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.