Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CÓ Ý NGHĨA SỐNG CÒN TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 

  

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Bối cảnh mới tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta “đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (1). Quy mô, trình độ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Văn hóa, xã hội, con người phát triển toàn diện. Đời sống vật chất và tinh thần của mọi người dân được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố vững chắc. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền được giữ vững; quan hệ đối ngoại và quá trình hội nhập của đất nước ngày càng toàn diện, sâu rộng và được nâng lên ở một tầm cao mới. Đây chính là những nhân tố quan trọng, cơ bản nhất để củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là giá trị cốt lõi để nhân dân tin tưởng, tham gia bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”

Đặc biệt, trong thời gian qua, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học, điên cuồng tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường, điên cuồng chống phá chúng ta. Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng in-tơ-nét, mạng xã hội, các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Trong bối cảnh tiến hành đại hội đảng các cấp, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”... Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước 

Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoanchủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai,... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội.

Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Để tăng thêm sức lan tỏa, độ tin cậy của thông tin, chúng chú ý tập hợp, dẫn dụ những ý kiến, phát biểu gây “sốc” trái với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước từ những đối tượng “dân túy”, tạo dựng ra cái gọi là chân dung “nhân sĩ, trí thức yêu nước” “những cán bộ của nhân dân”, nhằm trực tiếp tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái.

Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai. Đáng chú ý, các đối tượng này triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG, TRÁCH NHIỆM CỦA MỌI NGƯỜI

 

Top of Form


 

Không gian mạng (Facebook, Zalo, Youtube, Instagram, Linkedin, Zingme, Google…) đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, do có tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xóa nhoà ranh giới giữa thực và ảo, vì vậy không gian mạng mang đến không ít thách thức đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, chuyển hóa chính trị, khủng bố. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực thi nhiệm vụ này trên không gian mạng phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới.

Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong xã hội. Thủ đoạn tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giả danh mác xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đã đạt được trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế, khiếm khuyết đó. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý số cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai, tự trị trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ tăng cường chống Đảng, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ”.

Về hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng lập ra nhiều trang web mạo danh các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, một số nhân vật được xã hội chú ý hoặc nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “bảo vệ môi trường”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… để trích dẫn, bình luận, xuyên tạc, hạ uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đồng thời, đưa lên internet và mạng xã hội những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, chưa rõ ràng để dẫn dắt, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển hóa dần sang tư tưởng sai trái, phản động, thù địch. Chúng còn xuất bản các xuất bản phẩm có nội dung xấu, độc; biên soạn tài liệu, video lồng ghép nội dung thổi phồng, xuyên tạc, bóp méo sự thật; tiến hành rải truyền đơn, tờ rơi, viết vẽ khẩu hiệu phản động. Các thế lực thù địch tiếp tục tổ chức viết nhiều tài liệu, “tác phẩm” dưới dạng văn học nhằm dựng chuyện, vu cáo, bôi nhọ, từ đó xóa bỏ học thuyết Mác - Lênin và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa…

Đối tượng tác động của hoạt động tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động…

vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến ở cả Trung ương và các ngành, các cấp. 

Nghị quyết Trung ương 9, khóa X, ngày 02/2/2009 “Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng” cũng đã nhấn mạnh: “Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển, hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng”.

Đến Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Như vậy, có thể thấy, đấu tranh trên không gian mạng hiện nay là rất gay gắt trên mặt trận tư tưởng lý luận. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, cán bộ, đảng viên cần hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng. Đồng thời, tập trung làm tốt một số giải pháp sau:

Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”.

Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. 

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động./. 

 

CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC SỰ THẬT TRẦN ĐÔNG A

 


Triệt để lợi dụng những sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và những vấn đề bức xúc xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền, tán phát thông tin sai trái, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu cáo, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước là những chiêu trò “đường mòn, lối cũ”, song vô cùng hiểm độc, xảo quyệt. Bởi lẽ, những lời lẽ lừa lọc, dối trá và các quan điểm sai trái, thù địch cứ thường xuyên được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, tất yếu sẽ gây ra sự “bán tín, bán nghi”, thậm chí gây ra sự hoang mang, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân… Lợi dụng sự kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp tại Hà Nội (từ ngày 04 đến ngày 07/10/2021) và đại dịch Covid-19 bùng phát ở các tỉnh, khu vực phía Nam, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội đã đăng tải hàng trăm bài viết có nội dung hết sức sai trái, phản động trên trang mạng danlambao.com. Trong đó có bài “Trung ương 4 có tạo đà để thay đổi thể chế” của Trần Đông A. Trần Đông A đã tóm tắt nội dung cơ bản của bài viết: “Cuộc “phá vây” của “Bộ Ba” Hành pháp – Lập pháp – Tư pháp chỉ thực sự thành công, nếu sau kỳ họp Trung ương 4 này (TƯ-4), pháp quyền sẽ dần dần thay thế “đảng quyền”. Phải tôn trọng quy luật thị trường, không được đặt Điều lệ Đảng lên trên Hiến pháp. Phải trả lại cho người dân các quyền hiến định…”. Ngay từ lời mở đầu bài viết này, người đọc rất dễ dàng nhận ra sự ấu trĩ về nhận thức chính trị và hiểu biết xã hội của Trần Đông A. Những lời lẽ trên chứng tỏ Trần Đông A không có sự hiểu biết gì về Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, về Điều lệ Đảng và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam. Hoặc nếu có hiểu biết, song vì động cơ tuyên truyền nhằm chống Đảng, Nhà nước Việt Nam mà Trần Đông A cố tình xuyên tạc bản chất Nhà nước và quyền lực nhà nước của nước CHXHCN Việt Nam đã được hiến định trong Hiến pháp. Điều 1 và Điều 2 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Trần Đông A còn trắng trợn vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam “đặt Điều lệ Đảng lên trên Hiến pháp”. Bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng hiểu rất rõ rằng: Điều lệ Đảng CSVN là những nguyên tắc, quy định về tổ chức và sinh hoạt nội bộ Đảng, do đại hội đại biểu toàn quốc thông qua, tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp, mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý. Các tổ chức đảng và đảng viên ĐCSVN hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật… Như vậy, mọi tổ chức xã hội và mọi công dân Việt Nam (trong đó có tổ chức đảng và đảng viên ĐCSVN); các tổ chức và công dân nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam đều phải chấp hành nghiêm Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam. Những vấn đề trên đều đã được hiến định cụ thể, rõ ràng trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013. Sự thực đã chứng minh không có và sẽ không bao giờ có chuyện “đặt Điều lệ Đảng lên trên Hiến pháp”, tổ chức đảng và đảng viên vi phạm các quy định của Điều lệ Đảng, Hiến pháp của Nhà nước đều bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, kể cả cán bộ, đảng viên đương chức hay đã nghỉ hưu…

  Không chỉ thể hiện sự ấu trĩ về chính trị- xã hội, Trần Đông A còn tự vạch trần bộ mặt của kẻ cơ hội phản động, chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trần Đông A đã lợi dụng và bịa đặt, xuyên tạc, thổi phồng tình hình dịch bệnh Covid-19 ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai… để vu cáo, nói xấu Đảng, Nhà nước Việt Nam và cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp. Đại dịch Covid-19 đã lan rộng trên khắp các Châu lục và ảnh hưởng rất nặng nề đến tình hình kinh tế- xã hội của các quốc gia- dân tộc. Ngay cả các nước lớn, có tiềm lực kinh tế và khoa học công nghệ, đã sản xuất lượng vaccine lớn nhất thế giới, như: Mỹ, Nga, Ấn Độ… cũng là các nước sau nhiều tháng liền giữ vị trí nhất nhì thế giới về số ca mắc và tử vong do Covid-19.

Việt Nam là nước đang phát triển, song với phương châm “tính mạng của Nhân dân là trên hết” và tinh thần “chống dịch như chống giặc” dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, sự tham gia tự giác, tích cực, hiệu quả của Công an, Quân đội và đông đảo các tầng lớp nhân dân. Công tác phòng, chống đại dịch Covid-19 của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và được các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Song với mưu đồ kích động, chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, Trần Đông A viết: “đại dịch cũng có “công” làm phát lộ, phơi bày nhiều thứ xấu xa bị che lấp của chính quyền”, “chủ trương bao quát về chống đại dịch bộc lộ sai lầm căn bản, vì làm trái với các nguyên lý của thị trường tự do… dẫn đến hỗn loạn hệ thống… xã không nghe huyện, huyện không nghe tỉnh, tỉnh không nghe trung ương. Đội ngũ thực thi “mệnh lệnh” vừa bất tuân vừa quân phiệt. Từ công an đến quân đội, dân phòng đến dân phố hành xử như trong thời chiến, một cách vô cảm, phi nhân tính; thông qua đại dịch Vũ Hán, thấp thoáng trận đánh “giáp la cà” giữa các đồng chí trong “Tứ Trụ”… Những lời lẽ trên không chỉ phủ nhận thành tựu phòng, chống dịch Covid-19 của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mà Trần Đông A còn tự vạch trần  bộ mặt cơ hội, phản động của y và đồng bọn… Là một công dân Việt Nam, Chúng ta cần hết sức tỉnh táo, sáng suốt và nêu cao tinh thần cảnh giác không để các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội phản động lợi dụng hòng thực hiện mưu đồ kích động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

 

CHIẾN DỊCH VÕ NGUYÊN GIÁP - NGÀY MỞ MÀN 10-1-1950

 


Ngày 10-1 đến 31-3-1950: Chiến dịch Võ Nguyên Giáp. Đây là chiến dịch tiến công quân Pháp tại khu vực bắc Quảng Nam, Đà Nẵng do Bộ Tư lệnh Liên khu 5 tổ chức, chỉ huy nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, triệt đường giao thông tiếp tế từ Đà Nẵng ra Huế, uy hiếp Đà Nẵng, phá âm mưu của địch đánh chiếm miền Tây Quảng Ngãi; bồi dưỡng lực lượng ta, đẩy mạnh chiến tranh du kích; làm tan rã khối ngụy quân, ngụy quyền, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch.

Từ cuối năm 1949, để đối phó với phong trào kháng chiến đang phát triển mạnh ở Quảng Nam, Đà Nẵng, quân Pháp tập trung sức củng cố các vị trí đóng quân ở thành phố Đà Nẵng và dọc Quốc lộ 1, đồng thời mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá ở nhiều nơi, nhất là vùng Đồng Xanh, Phú Túc, huyện Hòa Vang và phía Tây các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc thuộc tỉnh Quảng Nam.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 chủ trương mở Chiến dịch Võ Nguyên Giáp tiến công địch trên địa bàn bắc Quảng Nam - Đà Nẵng; phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, kìm chân không cho địch tăng viện ra phía Bắc. Chiến dịch diễn ra 3 đợt. Kết quả, sau gần 3 tháng chiến đấu, về cơ bản đạt được mục đích đề ra, góp phần củng cố và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.

Đây là một trong những chiến dịch thành công của LLVT Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp, với nét nổi bật là chọn hướng tiến công chính xác, vận dụng đúng đắn phương châm đánh điểm diệt viện. Trong quá trình chiến dịch, sự phối hợp, giúp đỡ tích cực có hiệu quả của các đoàn thể cách mạng và nhân dân địa phương trong chuẩn bị chiến trường cũng như trong thực hành chiến dịch là một trong những yếu tố quyết định thành công. Thắng lợi của chiến dịch đã củng cố, nâng cao lòng tin của nhân dân, tạo đà đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở địa phương. St

 

ĐIỂM TỰA TINH THẦN CỦA BỘ ĐỘI!

      Thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) dành cho thân nhân quân nhân là chính sách đúng đắn, thiết thực thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Hiểu rõ ý nghĩa của phần việc này, những năm qua, Lữ đoàn Đặc công 198 (Binh chủng Đặc công) đã triển khai thực hiện tốt việc hướng dẫn lập hồ sơ, tờ khai, cấp thẻ BHYT cho thân nhân quân nhân, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Từ ngày nhập ngũ đến nay, gần hai năm trong quân ngũ là từng ấy thời gian, Trung sĩ Y Jô Niê, Tổ trưởng Đặc công bộ, Mũi 1, Đội 1, Liên đội 20 thường xuyên tiết kiệm phụ cấp hằng tháng gửi về gia đình. Ngoài ra, một món quà đặc biệt mà Y Jô Niê gửi tặng bố mẹ là tấm thẻ BHYT cho thân nhân quân nhân. Tấm thẻ BHYT như điểm tựa tinh thần, giúp Y Jô Niê thêm an tâm công tác, gắn bó với đơn vị và đắp bồi ước mơ được phục vụ lâu dài trong quân đội.

Y Jô Niê chia sẻ: “Bố mẹ em vui lắm vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, mỗi lần ốm đau không có tiền khám, chữa bệnh, không có tiền mua thuốc. Nay được cấp thẻ BHYT, được khám, chữa bệnh ở bệnh viện, được chăm sóc tốt cho sức khỏe, tiết kiệm được chi phí cho gia đình. Bản thân em cũng bớt phần nào lo toan, an tâm công tác khi không được ở gần người thân lúc đau ốm”.

Trao đổi về kết quả thực hiện các chế độ, chính sách về BHYT và bảo hiểm xã hội (BHXH) trong quân đội ở Lữ đoàn 198, Đại tá Nguyễn Minh Mạnh, Chính ủy Lữ đoàn Đặc công 198 cho biết: “Đảng ủy, chỉ huy đơn vị luôn quan tâm làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của trên đến với từng cán bộ, chiến sĩ. Nhất là thực hiện Hướng dẫn số 500/HD-BHXH, ngày 24-8-2020 của BHXH Bộ Quốc phòng về thủ tục hồ sơ, quy trình cấp, quản lý và sử dụng thẻ BHYT trong quân đội”. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy lữ đoàn đã chỉ đạo cơ quan chức năng, bộ phận chuyên môn như cán bộ, quân lực, quân y... triển khai thực hiện nghiêm các bước, từ hướng dẫn tiến hành lập tờ khai tham gia BHYT, kiểm tra xác nhận thông tin đến lập danh sách đề nghị các cấp theo thẩm quyền cấp, đổi thẻ BHYT... bảo đảm chặt chẽ, chính xác không để xảy ra sai sót do chủ quan hoặc bỏ sót đối tượng thụ hưởng.

Bên cạnh thực hiện công tác cấp thẻ BHYT thân nhân quân nhân, lữ đoàn còn đề nghị và giải quyết cho hàng chục trường hợp các chế độ, chính sách khi nghỉ hưu, chuyển đơn vị, phục viên, xuất ngũ, tử tuất, thai sản... Các chế độ, chính sách về BHXH, BHYT được thực hiện theo đúng quy định, hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành cấp trên, bảo đảm quyền lợi cho các đối tượng thụ hưởng. Ngoài ra, khi có đề nghị hỗ trợ từ quân nhân liên quan đến các chế độ BHYT, đơn vị đều kịp thời cử cán bộ chuyên ngành, cán bộ quân y đến thăm hỏi và hỗ trợ hoàn chỉnh thủ tục, giúp quân nhân và thân nhân cán bộ, chiến sĩ thuận lợi trong khám, chữa bệnh. Thông qua thực hiện tốt các chế độ BHYT cho thân nhân quân nhân đã góp phần thực hiện tốt chính sách hậu phương, tạo thêm niềm tin, nguồn động lực để cán bộ, chiến sĩ an tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./.

Ảnh: Cán bộ Lữ đoàn Đặc công 198 hướng dẫn chiến sĩ kê khai thông tin đề nghị cấp thẻ bảo hiểm y tế năm 2022.

Yêu nước ST.

Những luận điệu phi lý núp bóng “nhân quyền”

 Núp dưới danh nghĩa “nhân quyền”, một số tổ chức thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam như “Người Bảo vệ nhân quyền”, “Theo dõi nhân quyền thế giới” (HRW), “Tổ chức Bảo vệ ký Giả” (CPJ), “Ân xá quốc tế”… đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc, nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam, vu cáo rằng “Đàn áp nhân quyền Việt Nam 2020 gia tăng”.

Những luận điệu phi lý

Ngày 30/12/2020, trang mạng của đài VOA tiếng Việt đăng tải bài viết với tiêu đề “Giới hoạt động: Đàn áp nhân quyền Việt Nam 2020 gia tăng”. Bài viết trên đã dẫn lời của một số người mà họ cho là “nhà hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam, của các tổ chức “nhân quyền” như: “Người Bảo vệ nhân quyền”, “Theo dõi nhân quyền thế giới” (HRW), “Tổ chức Bảo vệ ký Giả” (CPJ), “Ân xá quốc tế”… với những lời lẽ xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn đài VOA tiếng Việt, Trần Bang đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc rằng: “Năm 2020 chính quyền gia tăng đàn áp, ví dụ như Hội Nhà báo Việt Nam độc lập, các thành viên bị bắt như Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Chí Thành; hay trường hợp của bà Phạm Đoan Trang, Đinh Thị Thu Thủy và rất nhiều các trường hợp khác nữa”. Không những vậy, Trần Bang còn xuyên tạc: “Đàn áp nhân quyền ngày càng gia tăng, trong đó có nhiều người bị bắt vì viết bài trên facebook. Họ chỉ nói lên sự thật”.

Vũ Quốc Ngữ - đối tượng đứng đầu tổ chức “Người Bảo vệ nhân quyền” (Defense The Defenders) vu cáo “tình trạng nhân quyền ngày càng tồi tệ tại Việt Nam trái ngược hẳn với các lời tuyên truyền của chế độ”. Vũ Quốc Ngữ đã đưa ra những số liệu sai lệch rằng, theo thống kê của tổ chức “Người Bảo vệ nhân quyền”, trong năm 2020, chính quyền Việt Nam bắt giữ 31 người hoạt động và 29 người hoạt động về quyền đất đai, đồng thời Việt Nam kết án 22 nhà hoạt động với mức án từ 9 tháng đến 12 năm tù.

Trong khi đó, tiếp tục lặp lại những luận điệu trước đây, Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của tổ chức HRW xuyên tạc rằng: “Quả là một năm rất tồi tệ đối với nhân quyền ở Việt Nam. Chắc chắn chúng ta sẽ thấy nhiều vụ bắt bớ và truy tố nữa diễn ra trước Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam”.

CPJ thì cố tình xuyên tạc Việt Nam là một trong các quốc gia “đặc biệt thành thạo” trong việc “tống giam và sách nhiễu các ký giả và gia đình họ” cũng như “tham gia vào việc kiểm duyệt Internet và mạng xã hội”. Tổ chức này cố ý đưa ra những số liệu thiếu khách quan, phản ánh sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam khi cho rằng “hiện nay có 15 nhà báo bị giam giữ tại Việt Nam và nhiều nhà hoạt động vì các quyền tự do khác, như quyền tự do tín ngưỡng, đã bị bắt, tuyên phạt với các bản án khắt khe, phải chịu chế độ quấy rối có hệ thống và kể cả bị ép cung, tra tấn”.

“Nhà hoạt động nhân quyền” hay kẻ vi phạm pháp luật?

Lý do được các cá nhân, tổ chức trên đưa ra để minh chứng cho luận điệu “Việt Nam gia tăng đàn áp nhân quyền” là trong năm 2020, chính quyền đã gia tăng đàn áp, bắt giữ các “nhà hoạt động nhân quyền” như Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Thành, Đinh Thị Thu Thủy...

Vậy, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Thành, Đinh Thị Thu Thủy... là “nhà hoạt động nhân quyền” hay là những đối tượng vi phạm pháp luật? Để có một cái nhìn khách quan và toàn diện, tác giả bài viết xin được lược trích một số thông tin về những nhân vật này:

Nguyễn Tường Thụy sinh năm 1950 tại Nam Định, trú tại phường Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, Hà Nội. Năm 20 tuổi, Nguyễn Tường Thụy tham gia quân đội. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nguyễn Tường Thụy công tác tại một đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, với chức vụ trợ lý kế hoạch. Vì bất mãn, tiêu cực, năm 1993, Nguyễn Tường Thụy xin nghỉ hưu.

Từ năm 2011, Nguyễn Tường Thụy bắt đầu tham gia và là “nòng cốt” của nhiều hội, nhóm trái pháp luật trên không gian mạng, như: Tham gia và giữ vai trò Phó Ban điều hành của cái gọi là “Hội Bầu bí tương thân”, Phó Chủ tịch của cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, thành viên của “Hội anh em dân chủ”… Cũng từ năm 2011, Nguyễn Tường Thụy thường xuyên tham gia các cuộc tụ tập đông người, biểu tình trái pháp luật dưới danh nghĩa “chống Trung Quốc xâm lược”, “bảo vệ môi trường”, “bảo vệ cây xanh”… tại Hà Nội.

Do có những hành vi quá khích, gây mất trật tự công cộng nên Nguyễn Tường Thụy đã bị Công an quận Hoàn Kiếm xử phạt vi phạm hành chính 3 lần, vào các ngày 5/8/2012; 9/12/2012 và 1/6/2013 về hành vi “gây rối trật tự công cộng” với mức phạt cảnh cáo. Năm 2013, Nguyễn Tường Thụy đã trực tiếp tham gia ký cái gọi là “Tuyên bố 258” của “Mạng lưới Blogger Việt Nam”, yêu cầu xóa bỏ Điều 258 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Với vai trò là Phó Chủ tịch của cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, Nguyễn Tường Thụy thường xuyên thu thập tin tức về các sự kiện nhạy cảm, tiêu cực, các vấn đề xã hội đang được dư luận quan tâm, qua đó đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kêu gọi đa nguyên, đa đảng đăng tải trên trang blog cá nhân (ntuongthuy.blogspot.com), facebook cá nhân (Nguyễn Tường Thụy) và website của “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” (vietnamthoibao.org).

Ngày 18/5/2020, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Nguyễn Tường Thụy về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự. Ngày 23/5/2020, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam và khám xét nơi ở đối với Nguyễn Tường Thụy. Ngày 5/11/2020, TAND TP Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Tường Thụy 11 năm tù.

Phạm Thị Đoan Trang, sinh năm 1978 tại Hà Nội. Từng học trung học tại Trường Hà Nội - Amsterdam, tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội và từng là một phóng viên, nhưng do bị tác động, lôi kéo của các đối tượng có tư tưởng chống chế độ, Phạm Thị Đoan Trang đã có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật. Không chỉ tích cực tham gia các cuộc biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, thành lập các trung tâm như “Trung tâm Truyền thông giáo dục cộng đồng”, viết bài cho “Nhịp cầu thế giới”… Phạm Đoan Trang còn gia nhập tổ chức “VOICE” và trở thành một thành viên của tổ chức khủng bố “Việt tân”.

Phạm Thị Đoan Trang đã được tổ chức “VOICE” đưa ra nước ngoài đào tạo về cách thức chống phá chính quyền, hoạt động “bất bạo động”. Phạm Thị Đoan Trang thành lập “Nhà xuất bản tự do” thường xuyên xuất bản các sách, tài liệu có nội dung đả phá chính quyền, công kích chế độ. Chỉ trong ít năm gần đây, Phạm Thị Đoan Trang đã viết, in ấn và tán phát hàng chục cuốn sách có nội dung chống phá chính quyền, hướng dẫn cách thức lật đổ chính quyền, như: “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”, “Chúng ta làm báo”…

Với những hành vi vi phạm pháp luật trên, ngày 7/10/2020, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội đã chủ trì phối hợp với Công an TP Hồ Chí Minh thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam, khám xét khẩn cấp đối với bị can Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999 và Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015.

Phạm Chí Thành (còn gọi là Phạm Thành), sinh năm 1952 tại Thanh Hóa; trú tại phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, nguyên cán bộ Đài Tiếng nói Việt Nam nghỉ hưu. Phạm Chí Thành đã lập và sử dụng blog "Bà đầm xòe" (badamxoe.wordpress.com) viết, đăng tải các bài viết có nội dung tiêu cực. Do vậy, năm 2008, Đài Tiếng nói Việt Nam đã quyết định cho Phạm Chí Thành thôi giữ chức vụ Phó Trưởng phòng Báo Tiếng nói Việt Nam.

Từ năm 2013, Phạm Chí Thành thường xuyên sử dụng blog "Bà đầm xòe" và facebook "Phạm Thành" đăng tải các bài viết có nội dung xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội đất nước; công kích các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước và lực lượng Công an; soạn thảo nhiều tài liệu có nội dung sai sự thật, chống phá Nhà nước như: "Cô hồn xã nghĩa", "Giáp chiến cộng sản"… Tháng 9/2019, Phạm Chí Thành đăng bài giới thiệu một cuốn sách trên blog "Bà đầm xòe" và facebook cá nhân "Phạm Thành” với nội dung xuyên tạc, xúc phạm lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước.

Như vậy, có thể thấy rằng, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang, Phạm Chí Thành, hay Lê Hữu Minh Tuấn, Đinh Thị Thu Thủy... thực chất là những đối tượng vi phạm pháp luật. Bản thân họ không phải là “nhà dân chủ”, hay “nhà hoạt động nhân quyền” mà thực chất chỉ là những kẻ lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, giả danh “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước, vi phạm pháp luật.

Ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào, những đối tượng vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh. Hoàn toàn không có chuyện bắt, xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật nay lại bị coi là “gia tăng đàn áp nhân quyền” như những luận điệu mà các cá nhân, tổ chức trên đưa ra.

Lại diễn trò “tham tiền cột mỡ”…

 

Lại diễn trò “tham tiền cột mỡ”…

Hồi tháng 7/2021, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (MLNQVN) tung ra cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” với hạn chốt danh sách ứng viên đến hết tháng 9 và sẽ trao vào cuối năm. Trò lố này đã bị dư luận lên án từ lâu, chỉ tiếc là vẫn có kẻ tưởng được thưởng là oách nên “tham tiền cột mỡ lắm anh leo”…  

Để lọt danh sách ứng viên, “thành tích” phải… bất hảo

Đầu tháng 7/2021, MLNQVN ra “Thông cáo báo chí” cho biết, sẽ nhận đề cử ứng viên cho “Giải Nhân quyền Việt Nam” (GNQVN) năm 2021, hạn nhận đề cử từ 7/7/2021 đến ngày 30/9/2021. Hiện mốc thời gian trên đã hết, ứng viên cũng đã chốt, dù danh sách giải thưởng năm nay chưa được công bố nhưng với kịch bản, mưu đồ vẹn nguyên như các năm trước, đủ hình dung ai sẽ “lên bục”.

GNQVN được tổ chức này đưa ra vào năm 2002 và hằng năm đều diễn lại kịch bản như cũ. Trong thông cáo hồi tháng 7, tổ chức này nói rằng giải thưởng sẽ trao cho “cá nhân hoặc tổ chức tại Việt Nam đã có những đóng góp xuất sắc trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”. Đồng thời, tô vẽ thành “GNQVN cũng là cơ hội để người Việt Nam trên khắp thế giới thể hiện tình đoàn kết và hỗ trợ đối với những người tham gia đấu tranh không ngừng cho các quyền cơ bản và công lý cho người dân Việt Nam”.  

Trên các diễn đàn, tổ chức này rêu rao việc trao giải thưởng với những mục đích, ý nghĩa hết sức cao đẹp như: nhân danh, đề cao vấn đề quyền con người; xem việc ngợi ca những cá nhân tranh đấu cho lý tưởng nhân quyền là cách để thúc đẩy, làm cho quyền con người được thực hiện một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất. Những ứng viên, rồi chủ nhân các giải thưởng này khi “vinh danh” đều được tung hô với những ngôn từ hết sức mĩ miều như “nhà tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”; “tự nguyện dành toàn thời gian dấn thân vào con đường tranh đấu vì quyền lợi của giới lao động”; “một nhà tranh đấu dũng cảm cho nhân quyền và dân chủ tự do cho Việt Nam, giữ vững lập trường, không bao giờ từ bỏ lý tưởng, và phấn đấu không ngừng cho công lý, nhân phẩm và tự do”...

Tuy nhiên, ngay sau lớp câu từ mỹ miều đó là sự thật khôi hài. Tính từ năm 2002 đến nay, tổ chức này đã trao giải thưởng cho 49 cá nhân và 4 tổ chức. Lật lại danh sách được giải thưởng thì đó là những cái tên nhẵn mặt trong giới tự xưng “dân chủ, nhân quyền” để chống phá đất nước như: Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Ðăng Quế, Lê Quang Liêm, Thích Quảng Ðộ, Phan Văn Lợi, Nguyễn Chính Kết, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Ðoan Trang, Lê Công Ðịnh... Đó hầu hết là những đối tượng đã, đang chấp hành án về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia, cũng có những cá nhân đang bị khởi tố, điều tra về nhóm tội danh này.

Với danh sách “khen thưởng” như vậy, đủ thấy tổ chức này tung ra giải nhân quyền lố bịch như thế nào. Tiêu chí trao thưởng được chỉ ra với 3 điểm: (1) Phải là một cá nhân hoặc tổ chức đang hoạt động tại Việt Nam; (2) đã có “thành tích” đấu tranh bất bạo động vì nhân quyền cho người dân Việt Nam; (3) việc đấu tranh đã tạo được “ảnh hưởng tích cực” tại quốc nội cũng như ở hải ngoại. Đáng chú ý, trong hướng dẫn đề cử, tổ chức này còn lưu ý quá trình hoạt động có liên quan đến nhân quyền Việt Nam như “tác phẩm đã phổ biến, gian khổ đã chịu đựng, thành tích được tuyên dương”… Năm 2020, mạng lưới này cũng dành mấy tháng rêu rao đề cử và rốt cuộc đã tiến hành trao cho Nguyễn Năng Tĩnh, Nguyễn Văn Hóa, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam. 

Khi nhìn vào những cá nhân được nhận giải, không khó để chúng ta thấy điểm chung là những cá nhân đó đều có hành động chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ hết sức quyết liệt. Chẳng hạn, một trong ba đối tượng nhận giải năm 2020 là Nguyễn Năng Tĩnh, đây là đối tượng bị kết án về hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nguyễn Năng Tĩnh sinh năm 1976, là người Công giáo, sinh hoạt tại Giáo xứ Mỹ Khánh, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tốt nghiệp Nhạc viện Âm nhạc Huế, Tĩnh trở thành thầy giáo dạy nhạc và là giảng viên Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An.

Trong môi trường giáo dục, có năng khiếu về âm nhạc, Tĩnh lại biến giảng đường thành nơi thực hiện hành vi chống phá, tuyên truyền những sáng tác có nội dung sai lệch. Cùng với đó, Tĩnh thường lợi dụng các cuộc tụ tập để hát những nhạc phẩm có nội dung phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước như “Việt Nam tôi đâu”, “Xin hỏi anh là ai”, “Trả lại cho dân”... Trên cương vị giảng viên âm nhạc, Tĩnh còn đưa những bài hát này “phổ biến” trong sinh viên.

Tại sao một giảng viên âm nhạc, được đào tạo bài bản lại “trở cờ”, có các hoạt động chống đối? Tìm hiểu về nhân thân cho thấy, Tĩnh đã không giữ được bản thân mình, không thực hiện đúng nghĩa vụ với tư cách một công dân cũng như với cương vị người thầy. Tĩnh đã trượt và ngày càng lấn sâu vào con đường phạm pháp dưới sự dẫn dắt, mua chuộc của đối tượng xấu. Nguyễn Năng Tĩnh tham gia nhiều tổ chức có hoạt động chống phá Việt Nam như “Bảo vệ sự sống”, “NoU FC Vinh”, “Quỹ phát triển con người”, “Truyền thông công giáo”...

Qua mạng xã hội, Tĩnh có mối quan hệ với nhiều phần tử xấu trong và ngoài nước. Thông qua mạng xã hội, Nguyễn Năng Tĩnh đã đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc nhằm mục đích chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; kích động người dân biểu tình, chống chính quyền…

Trường hợp được “vinh danh” khác là Nguyễn Văn Hóa, cũng là một đối tượng có hành động chống đối quyết liệt. Nguyễn Văn Hóa đã sử dụng mạng xã hội tuyên truyền, phát tán các tài liệu có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin, bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Qua đó, truyền bá những tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; gieo rắc sự nghi ngờ, bất mãn, chống phá Nhà nước Việt Nam. Dù bị kết án và phải chấp hành án phạt tù nhưng Nguyễn Văn Hóa vẫn tiếp diễn nhiều hoạt động chống đối, đặc biệt là sử dụng chiêu trò tuyệt thực trong trại giam để gây sức ép với chính quyền. 

Năm 2019, có 3 cá nhân được tổ chức này “vinh danh” là Nguyễn Trung Tôn, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và Lê Công Định. Mặc dù bản thông báo cho biết buổi lễ “vinh danh” 3 cá nhân này được tổ chức long trọng tại trụ sở Thượng viện Canada nhân Ngày Quốc tế nhân quyền lần thứ 71, song nó vẫn không khiến người ta quên rằng, 3 cá nhân đó đều đã từng chịu những bản án tù với các tội danh như “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”, “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Với những nhân vật như vậy nhận thưởng, rõ ràng “giải thưởng nhân quyền” được trao chẳng phải nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của nền dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam như mạng lưới này rêu rao mà nó chỉ là một màn kịch để hợp thức hóa hoạt động chống phá chính quyền. 

Thực tế, một giải thưởng muốn có vị thế, có uy tín, được công nhận thì trước hết, các cơ quan chủ trì tổ chức giải phải là đơn vị có uy tín. Vậy nhưng các tổ chức đang tiến hành trao các giải thưởng dưới vỏ bọc “nhân quyền” lại không hề có tính chính danh. Tổ chức MLNQVN thực chất chỉ là một tổ chức bất hợp pháp do các đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam lập ra.

Núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tổ chức này đã đạo diễn hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, như lập website, mạng xã hội để tuyên truyền thông tin chống phá Việt Nam; tích cực vận động một số dân biểu, nghị sĩ Mỹ không có thiện cảm với Việt Nam thực hiện các hoạt động bảo trợ; gửi “thư ngỏ” cho một số quan chức nước ngoài nhằm kêu gọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Tổ chức này còn núp dưới danh nghĩa đấu tranh cho các “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị” hoặc “tù nhân lương tâm” để tiến hành chống phá…  

Do đó, việc trao giải thưởng chỉ là vở kịch để đánh bóng tên tuổi và giúp sức về mặt tinh thần cũng như vật chất cho các đối tượng chống đối trong nước. Đáng tiếc, dù bản chất cái gọi là giải thưởng nhân quyền đã được lật tẩy và dư luận lên án từ lâu nhưng một số kẻ vẫn bị ảo tưởng, vẫn bị chi phối bởi các động cơ cá nhân mà “cậy sức cây đu nhiều chị nhún/ tham tiền cột mỡ lắm anh leo”…

Mang danh bảo vệ ký giả, CPJ lại phớt lờ lẽ phải

Mang danh bảo vệ ký giả, CPJ lại phớt lờ lẽ phải

 Đã trở thành quy luật, mỗi khi các cấp tòa án ở Việt Nam mở phiên tòa xét xử các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá Nhà nước thì một số cá nhân, tổ chức, đài báo ở nước ngoài có quan điểm, tư tưởng thù địch Việt Nam như Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), tổ chức Bảo vệ ký giả (CPJ)... lại xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí”.

Mới đây, CPJ lại ra thông cáo báo chí vu cáo Nhà nước Việt Nam là một trong ba nước giam giữ nhiều nhà báo nhất trên thế giới. Thông cáo cho rằng, Việt Nam vi phạm tự do báo chí nghiêm trọng và nêu yêu sách đòi Việt Nam phải “trả tự do cho các nhà báo”! Những cái tên được CPJ xướng lên làm “ví dụ điển hình” cho các nhà báo bị giam giữ gồm Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang, Trương Duy Nhất… Thực ra đây là một luận điệu không mới của CPJ khi tổ chức này luôn có những quy kết không đúng về tình hình nhân quyền của Việt Nam nói chung cũng như tự do báo chí nói riêng. Chỉ cần nhìn vào những cái tên trên đủ để thấy rằng CPJ xuyên tạc, bóp méo vấn đề quyền con người ở nước ta như thế nào. Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang… dù trước đây từng có giai đoạn hoạt động tại một số cơ quan báo chí, song do vi phạm pháp luật, họ đã bị kỷ luật, thay đổi công việc, ở thời điểm bắt giữ thì họ không còn là những nhà báo hay phóng  viên như CPJ công bố. Trái lại, đó đều là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị bắt giữ và xét xử theo các quy định của pháp luật.

Đơn cử, ngày 5/1/2021, TAND thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Phạm Chí Dũng 15 năm tù, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn, mỗi bị cáo 11 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam".

Bản án nghiêm minh, đúng pháp luật này được đưa ra dựa trên những tài liệu, chứng cứ rõ ràng, không thể bác bỏ về hành vi phạm tội của ba bị cáo này, trong đó riêng Phạm Chí Dũng đã sử dụng nhiều bút danh khác nhau để viết, đăng tải 1.530 tin, bài viết trên trang “Việt Nam Thời báo” của tổ chức bất hợp pháp “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” với nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, bịa đặt, xâm phạm uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam và chống Nhà nước XHCN Việt Nam.

Hoặc gần đây, phiên tòa xét xử Phạm Thị Đoan Trang ngày 14/12/2021. Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát, từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Cáo trạng xác định, Đoan Trang đã trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân. Cụ thể, Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: "Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam"; "Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam"; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam". Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền "luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Như vậy, Phạm Thị Đoan Trang vừa viết bài, vừa trả lời phỏng vấn với các nội dung tuyên truyền chống Nhà nước. Đồng thời, vẫn còn nhiều đầu mục ấn phẩm khác có nội dung sai trái như việc xuất bản, tán phát tài liệu “Báo cáo Đồng Tâm”, “Chính trị bình dân”…

Tiêu chuẩn để trở thành một nhà báo theo quy định của Pháp luật Việt Nam là gì?

Tại Điều 25, Luật Báo chí năm 2016 quy định, nhà báo là người hoạt động báo chí được cấp thẻ nhà báo. Nhà báo có các quyền như: Hoạt động báo chí trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, hoạt động báo chí ở nước ngoài theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp; được khai thác, cung cấp và sử dụng thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật; được đến các cơ quan, tổ chức để hoạt động nghiệp vụ báo chí…

Đồng thời, nhà báo có các nghĩa vụ như: Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, tuyên truyền và bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm;  không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật… Vì vậy, để trở thành một nhà báo tại Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu rõ ràng, cụ thể nêu trên và yêu cầu hiển nhiên là phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Trong khi đó, các đối tượng nêu trên không có thẻ nhà báo, không tác nghiệp tại cơ quan báo chí nào, có đối tượng như Phạm Thị Đoan Trang dù trước đây có làm phóng viên tại một số cơ quan báo chí nhưng do vi phạm kỷ luật, đã bị sa thải. Vì vậy, không thể gọi đó là những nhà báo, lại càng không thể nói “nhà báo đấu tranh vì công lý, vì nhân quyền”! Thực tế, đây là những đối tượng lợi dụng quyền biểu đạt, thông tin để “tự phong nhà báo”, viết bài xuyên tạc, chống phá đất nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Liên hợp quốc và pháp luật của nhiều quốc gia phát triển như Pháp, Anh, Mỹ quy định cụ thể. Trong bản“Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1789”, vấn đề tự do báo chí được trình bày như là một trong những quyền cơ bản: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật” (Điều 11). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, tại khoản 1, Điều 19 quy định rõ: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp”. Khoản 2, Điều 22 quy định: “Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác”.

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện tại Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam. Những năm qua, báo chí ở Việt Nam đã thể hiện được quyền tự do ngôn luận và đều được quyền thông tin. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc; luôn tích cực đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong xã hội, góp tiếng nói quan trọng vào việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đồng thời là cầu nối quan trọng với bạn bè quốc tế. Thông qua báo chí, nhân dân cũng có diễn đàn để trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng đối với Đảng, Nhà nước, đồng thời phản biện, đề xuất những ý kiến tâm huyết với Đảng, Nhà nước.

Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo các quyền tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân. Đi liền với đó, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm hành vi lợi dụng tự do báo chí, tự do Internet, tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích của công dân, kích động gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và sự thật thì những cá nhân và tổ chức trên không được công nhận là “nhà báo”.

Tư duy lý luận trong tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới

 Tư duy lý luận trong tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới


TCCS - Ngày 16-12-2021, Hội thảo lý luận lần thứ VIII giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào với chủ đề: “Những vấn đề lý luận - thực tiễn mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Văn kiện Đại hội XI của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào” đã được tổ chức theo hình thức trực tuyến. GS, TS. Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trưởng Đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tại hội thảo đã có bài phát biểu quan trọng với tiêu đề: “Tư duy lý luận trong tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới”. Tạp chí Cộng sản trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội biểu thị sự thống nhất ý chí, tư duy mới và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và nhân dân Việt Nam về xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII là sự kết tinh trí tuệ, sáng tạo của toàn Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam, thể hiện tư duy lý luận và thực tiễn mang tầm nhìn chiến lược về công cuộc phát triển đất nước. Hệ thống các văn kiện thể hiện nhiều điểm mới, nổi bật trên mọi phương diện: Từ trong cách tổ chức và quá trình chuẩn bị các dự thảo văn kiện, trong cách tiếp cận xây dựng văn kiện, trong xác định chủ đề đại hội, trong tổng kết các bài học kinh nghiệm, trong đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế, trong việc xác định mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược phát triển đất nước.

Bám sát nguyên tắc kế thừa và phát triển và cách tiếp cận hệ thống, đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII gắn với việc tổng kết 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011 và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XII là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội của Đảng và nhân dân Việt Nam, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam qua 35 năm đổi mới(1). Đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(2).

Qua tổng kết thực tiễn sinh động, Văn kiện Đại hội XIII rút ra năm bài học kinh nghiệm lớn, cũng có thể được coi là năm vấn đề lý luận căn cốt của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đó là: i) triển khai toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; ii) quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; iii) có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách; iv) tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước; v) chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ.

Xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ cho giai đoạn 2021 - 2025 gắn với mục tiêu, định hướng chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn tới năm 2045, Văn kiện Đại hội XIII cho thấy một lộ trình phát triển đất nước cả trước mắt, trung hạn và dài hạn, với những kế thừa và phát triển sáng tạo mang tính bước ngoặt qua từng dấu mốc quan trọng, đó là: Kỷ niệm 50 năm cả nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại, Nghị quyết Đại hội XIII khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, dân tộc hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc, đề ra mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩaĐó là tầm nhìn và khát vọng của Việt Nam, phản ánh bản lĩnh, trí tuệ, sức sáng tạo và ý chí, quyết tâm của nhân dân Việt Nam, do chính con người Việt Nam thực hiện; thể hiện tư duy lý luận sâu sắc, truyền cảm hứng mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để Việt Nam lập nên kỳ tích phát triển mới, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Để hiện thực hoá tầm nhìn và khát vọng đó, lần đầu tiên, Văn kiện Đại hội XIII đề ra hệ quan điểm chỉ đạo về những vấn đề có tính nguyên tắc trong tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; về chiến lược tổng thể phát triển đất nước nhanh và bền vững; về động lực và nguồn lực phát triển; và về những nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam thành công, trước hết phải luôn kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc hết sức quan trọng, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Với tư cách là một học thuyết phát triển, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ rõ, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa mang tính phổ biến, vừa có tính đặc thù; các quốc gia tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ không giống nhau mà phải dựa vào những đặc điểm cụ thể của mỗi nước và phù hợp với tình hình quốc tế; phải liên tục bổ sung, phát triển những nhận thức mới trong cách tiếp cận, phương pháp hành động và bước đi cụ thể để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Hơn 35 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự là sản phẩm sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của nhân dân Việt Nam mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, do nhân dân Việt Nam thực hiện. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới và quá trình thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộiVăn kiện Đại hội XIII khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước hoàn thiện và hiện thực hoá lý luận về đường lối đổi mới Việt Nam. Đây là sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện Việt Nam thời  kỳ mới; là sự sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phù hợp quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, trên cơ sở đúc kết những bài học thành công và thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, kế thừa có chọn lọc tinh hoa, giá trị văn hoá và các thành tựu phát triển của nhân loại. 

Lý luận về đường lối đổi mới thể hiện tầm nhìn và mục tiêu phát triển một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; 5 bài học kinh nghiệm, 5 quan điểm chỉ đạo và 10 mối quan hệ lớn phản ánh các quy luật mang tính biện chứng của cách mạng Việt Nam được đúc kết trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII, có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc xây dựng, hoàn thiện ba trụ cột của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đó là: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; và sự nghiệp này do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, lãnh đạo. Quán triệt Văn kiện Đại hội XIII và những bài viết rất sâu sắc của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời gian gần đây, chúng tôi càng nhận thức đầy đủ hơn ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận về đường lối đổi mới trong hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Văn kiện Đại hội XIII khẳng định tinh thần xuyên suốt, rất nổi bật và rõ ràng: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục “nhiệm vụ then chốt” đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, quán triệt sâu sắc bài học “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Văn kiện Đại hội XIII đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu mới về thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rằng, nếu không dựa vào dân, không gắn bó mật thiết, bền chặt với nhân dân, Đảng sẽ mất đi cội nguồn sức mạnh và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của mình, không thể hoàn thành được mục tiêu, lý tưởng của quốc gia, dân tộc. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ yêu cầu: Đảng lấy sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và cán bộ, đảng viên; kiên trì thực hiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Niềm tin của nhân dân là thước đo cho sự vững mạnh của Đảng. Càng đi sâu vào quá trình đổi mới, đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn nảy sinh, Đảng càng phải coi trọng, khuyến khích sức sáng tạo thực tiễn của quần chúng nhân dân, từ kinh nghiệm phong phú trong nhân dân để tổng kết, nâng tầm lý luận và ban hành các đường lối, chính sách phù hợp phục vụ chỉ đạo triển khai thực tiễn mới. Nghị quyết Đại hội XIII càng cho thấy ý nghĩa sâu sắc và tầm quan trọng của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân” và trách nhiệm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với 12 định hướng chiến lược, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 khâu đột phá, Văn kiện Đại hội XIII không chỉ bao quát toàn diện mà còn nêu bật các nội dung rất quan trọng, mang tính đột phá trên các vấn đề, lĩnh vực phát triển của đất nước giai đoạn mới.

Thứ nhất, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường...(3) Cần thấy rằng, nếu như các đại hội trước mới chỉ tập trung vào vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế thì việc đề ra định hướng: xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững là một điểm mới nổi bật của Văn kiện Đại hội XIII. Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 5 năm tới là xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập(4). Khâu đột phá là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó, ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và tập trung vào hai nội dung quan trọng: Một là, tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo điều kiện để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, nhất là các nguồn lực đất đai, tài chính, con người. Hai là, tạo đột phá phát triển, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi chủ thể xã hội, mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.  

Thứ hai, trong phát triển kinh tế - xã hội, Văn kiện Đại hội XIII thể hiện sâu sắc tinh thần đổi mới sáng tạo, sự thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn và yêu cầu phát triển mới của đất nước, đề ra các định hướng, nhiệm vụ phát triển, cụ thể là: Tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, nhất là các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, xây dựng chính phủ số; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Văn kiện đặc biệt chú trọng yêu cầu phát triển bền vững, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu; quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, nhất là đất đai, nước và khoáng sản; xây dựng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường, phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn hiện đại và người nông dân văn minh; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; phát triển con người toàn diện, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, chăm lo sức khoẻ, sự an toàn và môi trường sống tốt cho nhân dân, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam; phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của đất nước những năm tới; trong đó, có những chủ trương mới, có những chủ trương tuy không mới, nhưng nội hàm, cách thức triển khai lại hoàn toàn khác trước.  

Thứ ba, trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu kết hợp hài hoà, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng với bảo vệ Đảng; gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; không ngừng nâng cao năng lực, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Cách tiếp cận biện chứng này được thể hiện thống nhất, xuyên suốt trong 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thể hiện đầy đủ chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đi đôi với các nhiệm vụ này là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đi đôi với phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên dám  nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, quyết liệt hành động vì lợi ích chung; tăng cường thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng đi đôi với nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thư tư, trong quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Văn kiện Đại hội XIII thể hiện rất rõ phương châm kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; gắn kết chặt chẽ quốc phòng - an ninh - đối ngoại; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Với chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, Văn kiện xác định mục tiêu xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh; tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Văn kiện nhấn mạnh xây dựng nền ngoại giao hiện đại, toàn diện với chủ trương: i) Chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; ii) tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, tận dụng tối đa các cơ hội từ các quá trình hội nhập, nhất là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; iii) mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hoá, đóng góp thiết thực vào quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Việc vận dụng, triển khai Nghị quyết Đại hội XIII vào thực tiễn đòi hỏi các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là các cấp lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu trong toàn hệ thống chính trị nêu cao ý thức trách nhiệm, chủ động, tự giác, đổi mới tư duy, phát huy tinh thần sáng tạo, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc. Cần xây dựng các chương trình hành động sát thực, khả thi, hiệu quả, bám sát thực tiễn, nhất là những diễn biến mới, khó dự báo như tác động của đại dịch COVID-19 hiện nay, đi đôi với việc xây dựng các kế hoạch kiểm tra, giám sát, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh ở từng thời điểm và nhiệm vụ cụ thể; khắc phục bằng được sự yếu kém, chậm trễ trong khâu tổ chức thực hiện, thể chế hoá nghị quyết của Đảng.

Trên đây là một số nội dung mới về lý luận và thực tiễn trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, xin chia sẻ với các đồng chí trong Đoàn Đại biểu Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tham dự Hội thảo lý luận lần thứ VIII giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhằm tăng cường hợp tác, đóng góp cho nhiệm vụ phát triển lý luận phục vụ sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào, cũng như góp phần thắt chặt và thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước chúng ta.