Thứ Tư, 12 tháng 1, 2022

Cần kiên quyết đấu tranh phòng chống “tiêu cực” trong cán bộ, đảng viên thời gian tới

“Tiêu cực” trong cán bộ, đảng viên là nhận thức, thái độ, hành vi không lành mạnh; những thói hư, tật xấu, những biểu hiện, hành vi trái với các quan điểm, chủ trương, quy định của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân, cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Việc nhận diện các biểu hiện cụ thể của “tiêu cực” là không đơn giản, nhưng có thể khái quát lại, biểu hiện rõ nét nhất của “tiêu cực” là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những “tiêu cực” trong cán bộ, đảng viên được dư luận xã hội quan tâm, bức xúc thời gian qua đó là : - Thứ nhất, “Lợi ích nhóm” chi phối chính sách, quyết định quản lý dẫn đến đầu tư sai gây lãng phí lớn và thiệt hại tài sản. Có thể thống kê về thiệt hại tài sản do tham nhũng gây ra nhưng khó có thể thống kê hết được thiệt hại tài sản do lãng phí gây ra vì lãng phí xảy ra trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, dưới nhiều hình thái khác nhau. “Lợi ích nhóm” sẽ làm tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức, đảo lộn những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội. - Thứ hai, "Tiêu cực” trong công tác cán bộ là tình trạng đưa vào quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ, quyền hạn cho những cán bộ chưa hoặc không đủ tiêu chuẩn, điều kiện được giấu dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, “đúng quy định”. Không ít người đứng đầu đã bất chấp nguyên tắc, quy trình, quy định để lạm quyền thực hiện công tác cán bộ theo ý của riêng mình. Trên thực tế, ở một số địa phương, đã có tình trạng cán bộ được bổ nhiệm thần tốc, bổ nhiệm tràn lan… lâu ngày trở nên “ung nhọt”, phổ biến, gây bức xúc trong dư luận xã hội. - Thứ ba, tình trạng tham nhũng “vặt” có tác động tiêu cực, lâu dài đến chất lượng quản trị nhà nước và môi trường pháp lý, phá mất kỷ cương, phép tắc của địa phương, đơn vị. “Ăn quen bén mùi” - cũng từ đây mà tệ nạn “cò” ký sinh vào từng loại dịch vụ, từng cơ quan, đơn vị, vừa hành dân, vừa làm hư hỏng đội ngũ cán bộ công chức. Hậu quả lớn nhất, nặng nề nhất, nguy hại nhất, chua xót nhất của tệ tham nhũng “vặt” là Nhân dân mất niềm tin với Đảng, Nhà nước, vào chế độ. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã bị làm méo mó đi dưới nhiều phương diện. - Thứ tư, tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, tình trạng hối lộ, đề cao đồng tiền, thực dụng chủ nghĩa. Các biểu hiện suy thoái liên quan đến thực thi quyền lực nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của cán bộ, đảng viên rất đa dạng, như nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo; tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi... - Thứ năm, tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống, sống buông thả, hưởng lạc... là vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội, còn biểu hiện ở nhiều mức độ khác, như: Công chức, viên chức bớt xén giờ làm việc để xử lý việc cá nhân; nhậu nhẹt say xỉn; phát ngôn bừa bãi… Sự tha hóa về lối sống sẽ làm ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, làm sụt giảm uy tín của Đảng và đội ngũ đảng viên trước quần chúng nhân dân. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên trong nhiệm kỳ là: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong thời gian tới, để phòng, chống những biểu hiện “tiêu cực” trong cán bộ đảng viên, cần thực hiện đồng bộ những nhóm giải pháp như sau: + Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. + Hai là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Kết luận 01-KL/TW về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Bộ Chính trị khóa XIII. + Ba là, đổi mới, tăng cường công tác quản lý phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo yêu cầu của Điều lệ Đảng. Phát huy vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Trong kiểm tra, giám sát, cần chú ý lắng nghe dư luận quần chúng, tiếp nhận ý kiến của mặt trận, đoàn thể nhận xét, phê bình cán bộ, đảng viên theo định kỳ hoặc đột xuất để phát hiện, khắc phục những khuyết điểm khi mới “chớm nở”. + Bốn là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đủ về số lượng và đạt về chất lượng để tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều được điều chỉnh bằng các bộ luật và luật. + Năm là, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. + Sáu là, hạn chế tối đa những tác động bên ngoài đến tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về tình hình, nhiệm vụ cách mạng hiện nay và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị đối với cách mạng nước ta hiện nay để nâng cao sức đề kháng, “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Đề ra các biện pháp để khắc phục chủ nghĩa thực dụng kinh tế, lối sống cá nhân, hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân cực đoan. + Bảy là, phát huy vai trò tự giác, tích cực của cán bộ, đảng viên trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định nhiệm vụ, trách nhiệm của mình ở từng lĩnh vực, vị trí công tác, phấn đấu hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao xứng đánh với niềm tin của Nhân dân./.

Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng trong vụ tịnh thất Bồng Lai

Ngày 11/1, Cục Trẻ em đã có công văn gửi Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) đề nghị bảo vệ trẻ em trên không gian mạng liên quan vụ vi phạm tại Tịnh thất Bồng Lai, tỉnh Long An.

Người xưa, chuyện xưa về phòng, chống tham nhũng, những bài học lịch sử và hành động của chúng ta hôm nay

Cách đây hơn một ngàn năm, nhà nước phong kiến triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đối với việc thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này cùng với mười phần phải đóng vào kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. Đối với Khố ty thu thuế lụa, nếu “ăn lụa” của dân thì cứ mỗi thước lụa bị phạt 100 trượng; “ăn” một tấm lụa đến trên 10 tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm. Triều Lý cũng là nhà nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành văn với tên gọi Hình Thư (năm 1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ luật này hiện không lưu giữ được, tuy nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy, cùng với các tội về “thập ác”, thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan tâm và có những chế tài nghiêm khắc. Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế quy định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3 năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì nhận thưởng bằng hiện vật thu được”. Ngoài hình phạt chính, các quan ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì bị phạt 50 quan tiền; từ 10 quan đến 19 quan, bị phạt từ 60 đến 100 quan; của hối lộ một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho quỹ triều đình. Đến triều Lê sơ, Lê Thánh Tông - một vị vua anh minh, tài giỏi, đã xây dựng và thực thi bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao quát nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau mà ngày nay ta gọi là Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hành chính... Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có trên 40 điều liên quan việc phòng, chống tham nhũng. Ở Điều 1, chương “Vi chế”, ghi rằng: các chức quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2 bậc), hoặc bãi chức, thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở nhiều mức độ). Điều 42, chương “Vi chế” ghi rõ: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ”-“lưu” (“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ, xử trảm bêu đầu…)”. “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả dân”. Điều 138 của bộ luật này quy định: Ăn lễ từ 1 đến 9 quan phải phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên phạt tội làm phu. Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trả lại chủ”. Để ngăn chặn việc tư thù, ân oán, lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, các điều 101, 128, 129, 130 của chương “Vi chế” quy định rõ: “Các quan liêm phóng, xét việc phải đúng sự thật, nếu sơ suất mà sai thì xử “biếm”; nếu vì tư thù ân oán, hoặc ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn ít đều xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai), tội “tử” (chết) không thể nương tay. Các quan đi sứ nước ngoài mà chỉ lo việc mua bán thì xử tội “biếm” hay “đồ”, mang vật cấm xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai)”. Bộ luật nghiêm khắc này quy định: “Những người quyền quý thế gia và các hoạn quan nội thần không được cầu cạnh nhờ cậy việc quân với các quan tướng hiệu, nếu trái thì quan nhất phẩm, nhị phẩm bị phạt hay biếm, quan tam phẩm, tứ phẩm thì bị cách chức hay bị đồ; quan ngũ phẩm, lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất phẩm trở xuống thì bị lưu hoặc tử hình. Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc lưu, nếu không thiệt hại đến việc quân thì được giảm…” Dưới triều Lê, việc chống tham nhũng được coi trọng, mặt khác, việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch được đề cao. Khi quan lại đã tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu nghèo, chức to hay chức nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham quan, kẻ xấu xa khó tìm đất sống; nạn tham nhũng bị đẩy lùi, muôn việc đều hanh thông, tươi tốt. Luật này còn có một số quy định cần thiết và khá cụ thể như quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu ruộng vườn, đất đai, nhà cửa tại nơi cai quản; không được đưa người cùng quê làm giúp việc; không cho những người có quan hệ thầy trò, bạn bè làm việc cùng một nơi. Đến triều Nguyễn, bên cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ máy và tăng cường kỷ cương phép nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi bộ luật Gia Long (ban hành năm 1815). Luật Gia Long có 17 quyển quy định riêng về Luật hình đối với tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này. Trong số 400 điều của bộ luật này, có 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham nhũng, và có những điều rất hà khắc. Điều 31 quy định: quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ. Điều 111 quy định: “Quan lại dùng chức vụ vô cớ bắt trói người và tra khảo họ nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người thường hai bậc tội. Nếu nạn nhân chết, người ấy bị xử treo cổ”. Điều 392 quy định: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”. Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội nặng. Các quan cậy thế hoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hoá, vật tư, tiền công thì tuỳ theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi thứ hàng hoá phạt 100 trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình. Trong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi tiếng nghiêm khắc và kiên quyết trừng trị nạm tham nhũng, bất kể là ai, giữ chức vụ gì, có quan hệ thế nào với nhà vua. Sách Đại Nam thực lục chép lại câu chuyện, năm 1823, viên lại Phủ Nội vụ tên là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng, bị phát giác. Theo luật quy định thì tội này sẽ bị chém đầu, nhưng xét thấy trước đây Diệm có một số công trạng nên Bộ Hình giảm xuống, bắt đi đày viễn xứ. Tuy nhiên, Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của Bộ Hình, Vua ra lệnh chém đầu Diệm trước chợ Đông Ba, cho mọi người thấy mà khiếp hãi để sửa mình. Một câu chuyện khác, cuối năm 1831, Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thơm, rồi trộn mật thường vào, hòng che đậy hành vi gian dối. Sự việc bị phát hiện, theo luật hình, người này đương nhiên bị khép tội chết và bị chặt tay treo ở kho. Tuy nhiên, để răn đe nghiêm khắc, vua Minh Mạng ra chỉ dụ “chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận”. Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1822, vùng Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai bão lụt, nhà cửa điêu linh, thóc gạo đắt đỏ và khan hiếm. Trước tình cảnh đó, triều đình cho phát 25.000 hộc thóc để bán và cấp cho dân. Người lính quản lý kho thóc ở Kinh thành là Đặng Văn Khuê phụ trách việc này, nhưng khi trợ cấp đến dân, mỗi hộc thóc lại thiếu một ít. Vụ việc bị phát giác, vua Minh Mạng giao bộ Hình tra xét. Án xong tâu lên, nhà vua liền ra lệnh chém đầu. Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý, là nhạc phụ của nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình thâm, ban chỉ dụ tử hình bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm khắc, các quan tham nhũng ở thời vua này đều bị tịch thu tài sản, đem chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người để thị uy, đe nẹt. Nhìn lại các bộ luật cũng như các văn bản pháp luật của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, có thể thấy rõ những quy định khắt khe, thống nhất đối với giới quan lại, nghiêm cấm các hành vi mà quan lại không được làm. Đó là không được tham lam, vơ vét của cải của dân; không được nhận hối lộ, nếu nhận thì tuỳ theo số lượng tiền mà trị tội; không được ẩn lậu khi thu thuế; không được phép lợi dụng việc công để mưu lợi việc riêng; nghiêm cấm vì tình riêng, vì nhận hối lộ mà tiến cử người kém tài, kém đức; các quan xét xử phải giữ lẽ công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là luật (hoặc lệ) hồi ty. Theo đó, một viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có nhà cửa, ruộng vườn, ao đầm trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định. Năm 1831, vua Minh Mạng cho ban hành Luật hồi tỵ, quy định các việc phải kiêng kỵ, tránh né, buộc bộ các chức sắc trong bộ máy từ triều đình đến nơi thôn dã phải triệt để chấp hành. Luật này quy định, khi sắp xếp, bố trí bộ máy quan lại, phải triệt để tránh (không bố trí) những nơi quê gốc (quê nội), vì ở đó có quan hệ họ tộc gần gũi từng sinh sống nhiều đời sinh sống…; không bố trí ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày. Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua bổ sung thêm một số điều của luật xử án trong đó có các quy định ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù dập, ức hiếp người tố cáo, làm sai lệch cán cân công lý. Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện những con người thẳng ngay, khí khái, dù máu chảy đầu rơi cũng kiên quyết gìn giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu” Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần. Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém đầu 7 tên gian thần. Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời Mạc, đã dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) với tri thức uyên thâm, luôn giữ khí tiết thanh liêm, chính trực; ông đã nhiều lần vạch mặt bọn tham quan trước Triều đình, can gián Nhà vua trước những việc làm chưa đúng. Đó là Tiến sỹ Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), một vị quan luôn lo lắng đến nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước triều đình và trước muôn dân. Để phòng tham nhũng, ông viết cuốn “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc chủ yếu của việc không nhận và có thể nhận), tổng kết từ những việc thật xảy ra trong cuộc sống, chỉ ra những thói hư tật xấu, cám dỗ, lợi dụng trong chốn quan trường. Ông từng nói “Mình thiệt, lợi dân, dân gắn bó/Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn/Hờn căm, gắn bó tùy ta cả/Duy chữ “thanh thanh” đối thế nhân”. Đến thời đại Hồ Chí Minh. Ngay từ thời dựng Đảng, mở lời cho cuốn “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề cao “Tư cách một người cách mạng”. Người nhấn mạnh “phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (tỉnh Nghệ An, ngày 17/9/1945), Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư…” . Bác Hồ coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Người chỉ rõ bản chất của hành vi tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, là trộm cướp. Trong bài nói chuyện năm 1952 về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”, Hồ Chủ tịch nói rõ: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình…”… “Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Theo Người, đặc trưng của hành vi tham ô là biến "của công" thành "của tư". Bất cứ hành vi lấy "của công" làm "của tư" nào cũng đều bị Hồ Chí Minh coi là hành vi tham ô. Hơn một tháng sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Báo Cứu quốc (ngày 17/10/1945) đăng bức thư của Người gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư, Người nhắc nhở các cấp chính quyền ở một số nơi “cậy thế, tham ô, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo”... Người căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”. Ngày 17/3/1952, Người viết bài về chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Bài báo có đoạn: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”. Chúng ta từng biết, năm 1950, vào ngày 5/9, tại Chiến khu Việt Bắc diễn ra một phiên tòa đặc biệt gây chấn động dư luận xã hội lúc bấy giờ. Đó là vụ án Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Kết thúc phiên tòa, Trần Dụ Châu bị tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình. Sự việc được báo cáo lên Hồ Chủ tịch. Người đã cân nhắc kỹ và quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”. Tác hại do tham nhũng gây ra cực kỳ to lớn về mọi mặt. Nó không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ; làm rối loạn kỷ cương pháp luật, hư hỏng cán bộ... Trong khi “chiến sỹ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp, mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian mật thám”. Người nhắc nhở, chống loại kẻ địch này (tức nạn tham ô) khó khăn, phức tạp hơn ngay cả so với đánh giặc ngoại xâm. Điều này phải được xem là một đặc thù, chi phối toàn bộ cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Người căn dặn: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Nói chuyện với cán bộ và nhân dân Hà Bắc ngày 17/10/1963, Người kêu gọi: "... Phải chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Phải chấm dứt những tệ nạn xấu xa do xã hội cũ để lại, như lười biếng, cờ bạc, buôn gian bán lậu, tiêu sài xa xỉ, gả bán, cưỡng ép... Để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đồng bào các dân tộc phải nâng cao ý thức làm chủ và tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà. Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/1969), Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Bác chỉ rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Bác căn dặn: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”… “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”. Ngày nay, Đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; khắc phục những sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội và PCTN, nhất là các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng (bao gồm cả đầu tư công và đầu tư theo hình thức BT, BOT); tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn...; các giải pháp về PCTN còn hình thức, hiệu quả thấp. Có cơ chế để kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng chính sách, pháp luật để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”, ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng ngay từ khi xây dựng chính sách. Hệ thống thể chế của Đảng và Nhà nước phải tạo ra được “một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để không dám tham nhũng; một cơ chế đảm bảo để không cần tham nhũng”. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước; hoàn thiện, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ để PCTN; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới Rà soát, hoàn thiện quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát quyền lực để PCTN. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn thực sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng theo nguyên tắc: Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực phảỉ truy cứu trách nhiệm và xử lý vỉ phạm. Phải tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực để đảm bảo quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, để quyền lực không bị “tha hóa”. Cùng với hoàn thiện hệ thống thể chế về kinh tế - xã hội và PCTN để “nhốt quyền lực vào trong lồng thể chế”, phải tăng cường giám sát việc thực thi thể chế thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm toán của Nhà nước; giám sát của các cơ quan và đại biểu dân cử; giám sát của các cơ quan tư pháp; giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân và của toàn xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý tham nhũng của các cơ quan, đơn vị chức năng và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong PCTN, nhằm ngăn ngừa tham nhũng chính ngay trong các cơ quan chống tham nhũng. Đưa công tác kiểm tra, giám sát về PCTN nói chung, công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra, xử lý vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế, tham nhũng vào chương trình công tác hàng năm của cấp uỷ và Ủy ban kiểm tra các cấp. Phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN. Kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Hoàn thiện quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, nhất là phạm vi đối tượng phải kê khai; các nội dung về công khai, quản lý, kiểm tra, giám sát, xác minh bản kê khai; trách nhiệm giải trình, chế tài xử lý vi phạm trong kê khai và xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không kê khai, biến động tăng thêm mà không giải trình được một cách hợp lý. Hoàn thiện quy định và hệ thống cơ sở hạ tầng để chuyển mạnh và tiến tới thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Khi đã xảy ra tham nhũng thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng PCTN; từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về PCTN./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA


“ Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân”
Là lời trong bài "Đạo đức công dân" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng Báo Nhân dân, số 320 ngày 15-1-1955; trong lúc đại đa số nhân dân ta hăng hái đóng góp sức của, sức người, tự giác, tự động làm trọn nghĩa vụ của người chủ nước nhà để khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, tích cực tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà; nhưng vẫn còn một số người chỉ muốn hưởng quyền lợi mà không làm nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, thậm chí có người còn làm trái pháp luật (như tham ô, buôn gian, lậu thuế, trộm cắp, lưu manh...).
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện tiêu cực, việc làm thiếu trách nhiệm của một số công dân đối với Tổ quốc, với cộng đồng; Người nhắc nhở các địa phương, các ngành phải quan tâm và sử dụng phương pháp giáo dục phù hợp, giải thích cho quần chúng hiểu rõ địa vị cao quý của người làm chủ nước nhà, nhất trí lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích riêng của mỗi người, qua đó nêu cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với cộng đồng.
Lời của Người nhanh chóng được cấp ủy, chính quyền các địa phương trên toàn miền Bắc quán triệt, hiện thực hóa thành các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể; tuyên truyền, giáo dục đạo đức công dân, vận động mọi người làm tròn bổn phận của người dân làm chủ; thi đua với bộ đội và nhân dân miền Nam anh dũng đang chiến đấu hy sinh xương máu để giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà; hàng ngàn khẩu hiệu hành động ở các địa phương được nhân dân đồng thuận, hưởng ứng tích cực; nhân dân bảo nhau, cùng nhau thực hiện nghiêm pháp luật Nhà nước; tuân theo kỷ luật lao động; tự giác đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ hạn, tích cực tham gia xây dựng lợi ích chung; hăng hái trong thực hiện công việc tập thể; quan tâm bảo vệ tài sản của công, góp phần xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho chiến trường miền Nam giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện nghĩa vụ và giữ vững đạo đức công dân, tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, làm cho mọi người Việt Nam hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; nêu cao ý thức công dân tích cực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá trình xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng Quân đội có bước phát triển, đòi hỏi nghĩa vụ, trách nhiệm và đạo đức của người quân nhân cách mạng phải tiếp tục được củng cố, tu dưỡng, rèn luyện; tập trung nâng cao nhận thức và sự nhạy bén chính trị của cán bộ, chiến sĩ, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nhân cách quân nhân, giữ vững, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Theo báo QĐND

CUỘC "CHUYỂN GIAO QUYỀN LỰC" ĐẰNG SAU KHỦNG HOẢNG KAZAKHSTAN!

     Bất ổn nhiều ngày qua phơi bày phần nào căng thẳng chính trị âm ỉ trong lòng Kazakhstan: Làm sụp đổ di sản của ông Nazarbayev và tạo cơ hội nắm thực quyền cho Tổng thống Tokayev.

   Khi còn cầm quyền, cựu Tổng thống Nursultan Nazarbayev đã mạnh mẽ dẹp bỏ mọi thách thức đe dọa tới vai trò cai trị của ông. Lãnh đạo đất nước Trung Á suốt 3 thập niên, ông được coi là biểu tượng tôn thờ của người dân Kazakhstan, theo Guardian.
Khi từ chức tổng thống vào năm 2019, ông đã chọn một đồng minh thân cận làm người kế nhiệm, Kassym-Jomart Tokayev, và tiếp tục nắm quyền phía sau. Ông vẫn giữ danh hiệu chính thức là Elbasy - nghĩa là "người lãnh đạo của quốc gia".
Thủ đô Astana thậm chí còn được đổi tên thành Nursultan để vinh danh ông.
Vậy nhưng, cơn thịnh nộ trên đường phố Kazakhstan - một trong những quốc gia ổn định nhất thời hậu Xô Viết - đã cho thấy một tình huống khác. Những bức tượng của ông Nazarbayev vốn được coi là di sản nay bị nhiều người biểu tình phá bỏ. Thay vì hô “Elbasy”, mọi người giận dữ hét lên “Shal ket” (Lão già, cút đi).
Bất bình trước đói nghèo, bất bình đẳng và tham nhũng, phần lớn sự tức giận nhắm tới Nazarbayev, người bấy lâu nay không ai có thể “chạm vào”.
Trong khi đó, Tổng thống Tokayev - người chưa bao giờ có được thực quyền - đang cố gắng tạo khoảng cách với ông Nazarbayev. Washington Post cho rằng có một số dấu hiệu thể hiện sự chia rẽ giữa hai nhân vật quyền lực nhất Kazakhstan 

Từ nhà lãnh đạo đáng kính tới "cột thu" sự bất bình

Sinh năm 1940, ông Nazarbayev trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên sau khi Kazakhstan độc lập. Chính ông đã định hình hệ thống chính trị của Kazakhstan, tập trung quyền lực vào tay một tầng lớp nhỏ và giàu có.
Trong suốt những năm 1990, ông đã điều hành đất nước và tránh bạo lực đàn áp theo kiểu cực đoan giống như Uzbekistan và Turkmenistan, cũng như tinh thần phản cách mạng của Kyrgyzstan.
Ông thu hút sự ủng hộ bằng những lời hứa về sự ổn định và phúc lợi, ở một khu vực Trung Á đầy biến động và giáp với Afghanistan - khu vực rung chuyển bởi Hồi giáo cực đoan, căng thẳng sắc tộc và buôn bán ma túy.
Khi Liên Xô tan rã, ông đã vạch ra một lộ trình địa chính trị tinh tế cho Kazakhstan: Thân thiện với Nga, nhưng vẫn qua lại với giới lãnh đạo phương Tây.
Cựu tổng thống sẵn sàng từ bỏ vũ khí hạt nhân mà Kazakhstan thừa hưởng từ Liên Xô để lấy lòng phương Tây. Sau đó, ông củng cố mối quan hệ bằng những hợp đồng kinh tế béo bở, cho phép các công ty dầu mỏ khổng lồ của Mỹ khai thác nguồn dự trữ dầu.
Ông Nazarbayev nhấn mạnh với người dân rằng vốn nước ngoài là điều cần thiết để giải cứu ngành công nghiệp ốm yếu thời kỳ hậu Xô Viết. Nhiều người ghi công ông vì sự tăng trưởng kinh tế và tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ các nước láng giềng, ít nhất là trong hai thập niên đầu cầm quyền.
Năm 2010, ông nhận danh hiệu "Nhà lãnh đạo của quốc gia" sau khi quốc hội trao ông quyền miễn trừ truy tố và quyền hoạch định chính sách ngay cả khi đã nghỉ hưu.
“Theo nhiều cách, ông ấy đã có một sự khởi đầu tốt và phong cách không quá độc đoán”, William Courtney - cựu đại sứ Mỹ tại Kazakhstan - cho biết. “Tuy nhiên, theo thời gian, ông ấy ngày càng ít cải cách hơn, chuyên quyền hơn trong khi bất bình đẳng thu nhập trở thành một vấn đề quan trọng với người Kazakhstan”.
Qua nhiều cuộc bầu cử, ông Nazarbayev luôn giành được hơn 80% số phiếu bầu, ngay cả khi bất đồng chính kiến trong nước ngày càng tăng.
Năm 2001, cựu Bộ trưởng Năng lượng, Công nghiệp và Thương mại Mukhtar Ablyazov đã thành lập một đảng nhằm phá bỏ hệ thống chính trị tập trung duy nhất vào ông Nazarbayev.
Một năm sau đó, ông Ablyazov bị kết tội lạm dụng quyền lực khi còn là bộ trưởng và nhận án 6 năm tù. Áp lực quốc tế buộc cựu tổng thống trả tự do cho ông Ablyazov vào năm 2003.
Sau khi giá dầu giảm vào năm 2008, người dân bất bình trước túi tiền ngày càng phình to của ông Nazarbayev và gia đình. Nhiều cuộc biểu tình diễn ra ở những năm tiếp theo, một vài trong số đó bị đàn áp dữ dội.
Luật sư, kế toán và cố vấn phương Tây đã giúp tầng lớp thượng lưu mới nổi ở Kazakhstan đầu tư tài sản vào các dinh thự ở London và biệt thự Thụy Sĩ. Con gái và cháu trai của ông được cho là sở hữu khối tài sản trị giá 80 triệu bảng Anh ở London. Ông Nazarbayev cũng mời một lượng lớn các kiến trúc sư phương Tây và nhà quy hoạch đô thị để xây dựng thủ đô mới.
Con gái lớn, Dariga, được bổ nhiệm làm Chủ tịch Thượng viện Kazakhstan - vị trí quyền lực thứ hai trong nước - cho đến năm 2020. Một người con gái khác là Dinara cùng chồng đã tạo ra một trong những đế chế doanh nghiệp hùng mạnh nhất cả nước.
Sau khi chính thức trao quyền cho Tổng thống Tokayev vào năm 2019, ông Nazarbayev tiếp tục kiểm soát nền chính trị của Kazakhstan. Ông đã đảm nhận một loạt chức danh mang lại địa vị đặc quyền so với phần còn lại của tầng lớp chính trị.
Dưới thời của ông Tokayev, các chính sách của chính phủ vẫn giữ nguyên và mức sống của người Kazakhstan tiếp tục giảm.
Giờ đây, hình ảnh của cựu tổng thống trở thành “cột thu” sự bất bình. Một vài tin đồn cho rằng ông có thể rời đất nước để “điều trị y tế”.

"Tokayev đã kết thúc kỷ nguyên Nazarbayev"

Guardian nhận định hiện vẫn chưa rõ tình hình bất ổn tại Kazakhstan sẽ diễn biến ra sao, và ông Nazarbayev sẽ đóng vai trò gì. Tuy nhiên, những cuộc biểu tình vừa qua chắc chắn làm sụp đổ di sản lịch sử mà ông tưởng đã êm ấm sau khi từ chức.
Trong lúc đó, ông Tokayev - người được coi là sự thay thế “tạm thời” cho ông Nazarbayev khi quyền lực chủ yếu nằm trong tay cựu lãnh đạo 81 tuổi - đã có nhiều động thái khác lạ. Tờ Welt của Đức nhận định Kazakhstan trước đó về cơ bản luôn có hai trung tâm quyền lực. Ông Tokayev vốn được biết đến là người hay trì hoãn cải cách quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu từ người bảo trợ chính trị phía sau.
Thế nhưng, từ người vốn điềm tĩnh, tổng thống hôm 7/1 đã cho phép quân đội “bắn mà không cần báo” vào bất cứ ai có biểu hiện bạo lực. Ông cũng đảo ngược chính sách đối ngoại độc lập - một trong những thành tựu được đánh giá cao của ông Nazarbayev - khi nhờ liên minh quân sự do Nga dẫn đầu đổ bộ vào Kazakhstan.
Tình trạng bất ổn chưa từng có hiện tạo ra hệ thống mới với Tổng thống Tokayev là trung tâm. Nhà cựu ngoại giao về cơ bản đã tiến hành một “cuộc cách mạng” cùng lúc với cuộc biểu tình bằng cách phá hủy phần lớn cơ sở quyền lực của ông Nazarbayev.
Ngày 5/1, Tổng thống Tokayev gạch tên ông Nazarbayev khỏi ghế chủ tịch hội đồng an ninh quốc gia. Financial Times cho rằng dù lên nắm quyền từ năm 2019, ông Tokayev mới chỉ thực sự làm tổng thống khi ngồi vào chức vụ này.
Tổng thống Tokayev cũng loại bỏ các đồng minh quan trọng của ông Nazarbayev ra khỏi chính quyền, bao gồm bắt giữ Karim Massimov - giám đốc cơ quan an ninh nội địa (KNB) kiêm cựu thủ tướng dưới thời ông Nazarbayev - vì tình nghi phản quốc.
Trước đó, ông cũng thẳng tay cách chức các bộ trưởng trong nội các - do chính ông Nazarbayev lựa chọn - và cho rằng họ là nguồn cơn của tình trạng bất ổn.
Financial Times cho rằng Tổng thống Tokayev chưa bao giờ là một người đơn giản.
“Chúng tôi chưa bao giờ hình dung ông ấy là thủ tướng, chứ chưa nói gì đến tổng thống”, Victor Khrapunov - cựu thị trưởng Almaty, người từng làm việc với ông Tokayev - nói.
Hình ảnh bóng bẩy của ông - kỹ trị tài ba, giáo dục tốt, không xuất thân từ tầng lớp lao động - không thu hút công chúng một cách hiệu quả như Nazarbayev - người từng là công nhân nhà máy.
Tuy nhiên, ông Tokayev lại trái ngược với người tiền nhiệm theo một cách khác, và thuận lợi hơn nhiều: Ông không tham gia vào lĩnh vực kinh doanh.
Điều đó có thể giúp ông giành được niềm tin của công chúng khi người dân ngày càng thất vọng bởi chất lượng cuộc sống đi xuống, nhưng gia đình ông Nazarbayev lại trở thành tỷ phú.
“Tất cả chính trị gia cấp cao đều có lợi ích trong kinh doanh, nhưng ông ấy thì không. Ông ấy không dính líu tới vụ bê bối tham nhũng nào”, Livia Paggi - người nghiên cứu về rủi ro chính trị tại London - cho biết.
Điều này hiện trở nên đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế Kazakhstan vẫn nằm trong tay những người trung thành với ông Nazarbayev. Những người con rể của cựu lãnh đạo đều có tầm ảnh hưởng trong ngành dầu khí. Nếu như ông Tokayev có thể thay đổi nền chính trị hiện tại, tổng thống sẽ cần dành cả thập niên để chiến đấu với nhóm người này bằng cách trừng phạt hoặc thương lượng để họ rời bỏ vị trí.
Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống, ông Tokayev không thực hiện cải cách cơ cấu lớn mà tập trung vào những vấn đề như luật cạnh tranh và ràng buộc chuỗi cung ứng trong lĩnh vực nông nghiệp. Đây là những lĩnh vực mà ông cho rằng sẽ giải quyết lạm phát và giá lương thực cao - điều mà người dân đang bất bình.
“Những người hoài nghi sẽ nói rằng ông ấy tập trung vào các biện pháp về khoa học kỹ thuật do không được phép làm điều gì khác. Tuy nhiên, ông ấy tin rằng điều này sẽ hợp pháp hóa khả năng lãnh đạo của mình nếu như Tokayev có thể cải thiện điều kiện kinh tế của người dân”, Ben Godwin, Phó giám đốc công ty tư vấn Prism, cho biết.
Theo phân tích từ tổ chức nghiên cứu chính sách Carnegie Moskva Centre, chỉ trong vài ngày, ông Tokayev đã kết thúc kỷ nguyên Nazarbayev. Có lẽ, Tổng thống Tokayev là người giành được nhiều lợi ích nhất từ cuộc khủng hoảng này./.


Môi Trường ST.

TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TƯ TƯỞNG DÂN TỘC HẸP HÒI VÀ TÔN GIÁO CỰC ĐOAN

 


Tư tưởng dân tộc hẹp hòi và tôn giáo cực đoan là một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước”. Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm mà các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường xây dựng, phát triển những phần tử phản động ở trong nước để chống phá cách mạng từ bên trong là chủ yếu.

Tư tưởng này thường hay nhấn mạnh đặc điểm riêng biệt của dân tộc, không thấy rõ lợi ích của quốc gia và tương lai của đất nước mình. Thực chất của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”: là tư tưởng khép kín, biệt lập, bảo thủ, bài ngoại, ngờ vực dân tộc khác. Mục đích của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” là chia cắt đất nước ta thành nhiều vùng miền, khu vực tự trị của đồng bào dân tộc thiểu số và không phụ thuộc vào Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thay vào đó sẽ là lực lượng chính trị phản động nắm giữ…

Tư tưởng cực đoan tôn giáo thường xuất hiện ở những chức sắc, những tín đồ có những biểu hiện cực đoan, đối lập với chính quyền cơ sở hoặc những nhà hoạt động xã hội nhân danh là vì dân, cùng với sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch từ bên ngoài nhằm xây dựng những “cốt cán” trong tôn giáo. Thực chất tư tưởng tôn giáo cực đoan: là tuyệt đối hóa tính biệt lập, đặc thù của mỗi tôn giáo, đề cao tôn giáo mình, phủ nhận hoặc xem thường với thái độ miệt thị các tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo; chỉ thấy quyền lợi của tôn giáo mình, chà đạp lên quyền lợi của tôn giáo khác và nuôi dưỡng ngày càng sâu mối hận thù với các dân tộc, tôn giáo khác.

Tập trung tạo dựng các ngọn cờ là những người có tư tưởng cực đoan trong dân tộc với cực đoan trong tôn giáo; mục đích kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan tôn giáo” của các thế lực thù địch: là nhằm gieo rắc, phát triển ở các vùng, miền của đất nước, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Tạo dựng được những lực lượng phản động bên trong đối lập với Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở để dụ dỗ và lôi kéo dân lành xúi giục, kích động mọi người tham gia biểu tình, gây rối, vi phạm pháp luật theo kịch bản đã định trước của chúng. Nhằm phá hoại an ninh, gây mất trật tự, mất ổn định xã hội cùng với sự hỗ trợ từ bên ngoài sẽ từng bước làm cho Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tự sụp đổ.

Vì vậy, cần chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoanlàm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Để công việc ấy tiến hành có hiệu quả, trước hết cần tuyên truyền cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa và đồng bào tôn giáo có nhận thức sâu sắc về “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo”, sự nguy hại của nó để chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời qua tuyên truyền, làm cho nhân dân thấy rõ ý đồ đen tối của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chú trọng tuyên truyền về truyền thống quý báu trong lịch sử dân tộc ta; mỗi dân tộc, mỗi loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, sự phát triển khác nhau, nhưng đều có điểm chung đó là tinh thần bao dung, đoàn kết giữa các thành phần dân tộc, đoàn kết lương giáo trong đại gia đình dân tộc Việt Nam./.

NHẬN DIỆN RÕ THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ luôn coi Việt Nam là một trọng điểm cần tập trung chống phá, nhằm xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Về mục tiêu chiến lược “diễn biến hoà bình” là: Xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;  Chúng đang ráo riết tập trung thúc đẩy tự do hóa chính trị, bằng cách đòi chúng ta phải thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không hạn độ, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa và đòi “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Tư tưởng chỉ đạo thủ đoạn là: Chủ động tiếp cận, chọn lọc hành động, êm thấm, chú trọng kết hợp diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ. Thủ đoạn của chúng rất tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm và thâm độc, vừa công khai, vừa ngấm ngầm, vừa điên cuồng gây sức ép và thực hiện chiến thuật “đánh mềm” “đánh hiểm” thông qua nhiều kênh, nhiều đường, nhiều hướng, nhiều phương diện và lực lượng, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng tiến công phá hoại ta một cách toàn diện và có trọng điểm.

Về phương thức hoạt động là tăng cường tiến hành chiến lược phức hợp bao gồm diễn biến hoà bình với bạo loạn lật đổ, diễn biến hoà bình với răn đe quân sự, khi có điều kiện, thời cơ thì tiến hành chiến tranh xâm lược. Chúng tận dụng điều kiện khách quan thông qua mở cửa, giao lưu hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực để tiến công mạnh mẽ quyết liệt toàn diện.

Biện pháp cụ thể là thực hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, tập trung vào: lĩnh vực chính trị tư tưởng; chúng xuyên tạc, phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đồng thời, ra sức bôi nhọ xuyên tạc chủ nghĩa xã hội, đả kích nói xấu làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm mất uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Chúng thư­ờng sử dụng các phư­ơng tiện thông tin hiện đại kết hợp với sử dụng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý để thực hiện ý đồ chống phá ta về chính trị tư­ tư­ởng.

Trên lĩnh vực kinh tế, bằng các hoạt động “diễn biến hoà bình” địch vừa phá ta về kinh tế, phá hoại làm suy yếu nền kinh tế của ta, thông qua kinh tế để chống phá ta về chính trị. Chúng thể hiện rõ bằng, tìm cách thúc đẩy nhanh quá trình tư­ nhân hoá, hỗ trợ cho kinh tế tư­ nhân phát triển, hạn chế vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nư­ớc xã hội chủ nghĩa, từ đó thúc đẩy khả năng chệch hư­ớng xã hội chủ nghĩa về nền kinh tế trên đất nư­ớc ta.

Trên lĩnh vực văn hoá- xã hội. Mục tiêu chống phá ta trên lĩnh vực văn hoá - xã hội của chúng thúc đẩy sự phát triển văn hoá ngoại lai, lấn át, làm suy yếu văn hoá truyền thống- thực chất đó cũng là sự xâm lăng về văn hoá, nhằm tấn công phá hoại nền tảng đạo đức- văn hoá của chủ nghĩa xã hội .

Trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng chúng tìm cách làm suy yếu tiềm lực của đất nư­ớc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với lực lư­ợng vũ trang, với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội nhằm vô hiệu hoá quân đội và công an hỗ trợ cho các hoạt động bạo loạn lật đổ. Như vậy, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” diễn ra hết sức gay go quyết liệt, phức tạp, do đó đòi hỏi mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải nâng cao cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, nhất là trên lĩnh vực chính trị tư tưởng để góp phần đánh bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch./.

 

NHÂN DÂN VIỆT NAM MỘT LÒNG TIN VỚI ĐẢNG

 

    Trên trang mạng xã hội những tháng gần đây, có một số bài viết thổi phồng một số tiêu cực trong xã hội, cổ súy cho những hành vi chống phá Nhà nước, phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước từ đó hòng kích động chia rẽ truyền thống đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nên thái độ ngộ nhận, tâm trạng hoang mang, hoài nghi, dao động, mất lòng tin ở một bộ phận nhân dân. Nhưng những âm mưu, thủ doạn của địch không thực hiện được mà niềm tin của nhân dân đối với Đảng không hề bị lung lạc.

Thực tiễn đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong đó khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành thành công hai cuộc kháng chiến, đất nước thu về một mối, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là một nước nghèo, vừa thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc nên gặp phải những khó khăn gay gắt. Song, với bản lĩnh của một đảng cách mạng, chân chính, đổi mới đất nước.

Đến nay, đất nước đã thu được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử; phát triển cả quy mô, trình độ; nền kinh tế được nâng lên vượt bậc. Từ một nước nghèo, kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên, được xếp trong nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có hệ thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản; làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới; kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước làm cho đời sống của người dân ở mọi miền không ngừng được cải thiện theo thời gian, là một thực tế không thể phủ nhận. Kết quả của Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đem lại cho bộ mặt nhiều miền quê trên đất nước, có những thay đổi một trời một vực, khiến lòng dân phấn khởi. Những xử lý có hiệu quả của nước ta trong việc kiểm soát và dập dịch COVID-19 khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ. Những việc làm thiết thực của cả hệ thống chính trị, của các tổ chức xã hội và các nhà hảo tâm, trong việc hỗ trợ người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa vượt qua khó khăn để “không ai bị bỏ lại phía sau” đang làm cho mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, quan hệ giữa con người với con người nổi lên như một dấu son tươi màu. Thực tiễn thành quả cách mạng, đã chứng minh chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Và cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn.

Niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng, với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay là niềm tin đã được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhân dân nguyện một lòng theo Đảng, Đảng một lòng, một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân thì Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác, chân lý đó đã được thực tiễn kiểm nghiệm và minh chứng hết sức hùng hồn, nhân dân không thể bị lung lạc bởi những luận điệu xuyên tạc, thổi phồng thiếu căn cứ của các thế lực thù địch, phản động.

 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỐNG BỆNH GIÁO ĐIỀU CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cán bộ, đảng viên; trong đó cần đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều theo cách phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để việc học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Người có hiệu quả cần thực hiện một số giải pháp sau:

Cần thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận, chống giáo điều về lý luận, tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận. 

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác.

Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn.

Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”. Người nhấn mạnh: “… cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới.

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Bác luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.

 

Ông Thanh mắng cháu

 

Ngày cuối tuần, ông Thanh đang chăm sóc cây cảnh thì người cháu họ đưa cậu con trai đến, nhờ ông xin cho cháu hoãn nghĩa vụ quân sự (NVQS) vì... nó sợ đi bộ đội vất vả!

 

    NHÌN RÕ NHỮNG THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG DỊCH BỆNH COVID- 19 ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Lợi dụng chính những đau thương, mất mát không chỉ riêng Việt Nam mà cả thế giới đang phải gánh chịu trong cuộc chiến phòng, chống đại địch Covid-19, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục xuyên tạc, chống phá. Đó là những thủ đoạn dơ bẩn không thể chấp nhận được xét cả về phương diện chính trị, kinh tế và đạo đức, cần vạch trần, bác bỏ:

Thứ nhất, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhất là đợt bùng phát lần thứ tư đã gây nhiều thiệt hại về người và của, các thế lực thù địch vu khống rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do thể chế chính trị của Việt Nam. Theo họ, nếu nước ta sớm liên minh, liên kết với các nước tư bản giàu có, mạnh về tiềm lực y tế thì đã không xảy ra thảm họa đó; từ đây, họ quy kết rằng, đó là hệ lụy của chính thể độc đảng cai trị ở Việt Nam. Đây là cái nhìn phiến diện của những kẻ cố tình không hiểu tình hình Việt Nam, đi ngược lại quyền và lợi ích dân tộc; cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật, phủ nhận những thành quả phòng, chống dịch bệnh của Đảng, Nhà nước, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, chính quyền với nhân dân, biện hộ cho những ý đồ đen tối của họ. Thực tiễn cho thấy, từ cuối năm 2019 đến nay, khi đại dịch Covid-19 bùng phát, hoành hành, khiến nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả những nước có tiềm lực kinh tế và hệ thống y tế được coi là hiện đại nhất cũng lâm vào cảnh lao đao. Đối với nước ta, ngay từ đầu, do đánh giá đúng tình hình và nhận thức rõ sự nguy hiểm của đại dịch, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã đề ra chiến lược nhằm kiểm soát và tránh sự lây lan trên diện rộng. Với khẩu hiệu “chống dịch như chống giặc”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các lực lượng, sự ưu việt của hệ thống y tế từ Trung ương đến cơ sở, chúng ta đã kiểm soát tốt dịch bệnh, trở thành điểm sáng được bạn bè quốc tế và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cao. Tuy nhiên, do Covid-19 là loại virus mới, với nhiều biến thể phức tạp, mức độ lây nhiễm trong cộng đồng nhanh, tỷ lệ tử vong ở người nhiễm rất cao… tạo nhiều phát sinh, hệ lụy mới, chưa hề có trong tiền lệ. Trước thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phòng, chống dịch với tinh thần cao nhất, kịp thời và quyết liệt nhất theo phương châm: vừa làm vừa rút kinh nghiệm, không cầu toàn, lấy bảo vệ tính mạng nhân dân là trên hết, trước hết. Mặc dù còn nhiều khó khăn, song với nỗ lực cao, Việt Nam đã tạo nguồn vaccine tiêm miễn phí cho toàn dân. Theo số liệu trên Cổng thông tin tiêm chủng COVID-19 đến 15h chiều ngày 11/1, cả nước tiêm hơn 162,2 triệu liều vaccine phòng COVID-19; Đã tiêm hơn 11,8 triệu mũi 3 vaccine phòng COVID-19. Đến ngày 10/1, số liều vaccine phòng COVID-19 tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên là 147.346.994 liều, trong đó có 70.338.486 mũi 1; 65.183.660 mũi 2; 1.295.563 mũi 3 (vaccine Abdala); 3.008.655 liều bổ sung và 7.520.630 liều nhắc lại. Tỷ lệ bao phủ ít nhất 01 liều vaccine là 100% và tỷ lệ tiêm đủ liều cơ bản là 92,6% dân số từ 18 tuổi trở lên. Về triển khai tiêm vaccine phòng COVID-19 cho đối tượng từ 12-17 tuổi, báo cáo của Bộ Y tế cho biết, các tỉnh, thành phố đã triển khai tiêm 13.930.813 liều, trong đó có 7.953.138 mũi 1 và 5.977.675 mũi 2. Tỷ lệ bao phủ ít nhất 01 liều vaccine là 89,2% và tỷ lệ bao phủ đủ liều cơ bản là 67,0% dân số từ 12 -17 tuổi. Cùng với đó, Việt Nam sẵn sàng hỗ trợ trang thiết bị, vật tư y tế cho các nước, đóng góp kinh phí vào quỹ phòng, chống dịch Covid-19 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO); thể hiện trách nhiệm, tinh thần nhân văn cao cả của Đảng và Nhà nước ta đối với quốc tế.

Với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, trong các đợt phòng, chống đại dịch Covid-19, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết với các gói hỗ trợ lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng để giúp đỡ những người bị ảnh hưởng bởi đại dịch. Đặc biệt, đợt bùng phát dịch lần thứ tư, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68/NĐ-CP “Về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” và Quyết định 23 hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động (gói hỗ trợ lần 2) của Chính phủ trị giá 26 nghìn tỷ đồng đã được triển khai nhanh chóng; các thủ tục được thực hiện thông thoáng, nhằm góp phần ổn định đời sống nhân dân. Điều đó, khẳng định tính ưu việt của chế độ chính trị ở Việt Nam, mà không thế lực nào có thể xuyên tạc.

Thứ hai, vu cáo việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội, tổ chức các khu cách ly tập trung (F0, F1) là vi phạm nhân quyền. Có thể khẳng định rằng, việc tổ chức tốt các khu cách ly tập trung đã góp phần quan trọng kiểm soát nguồn lây, kịp thời phát hiện và huy động tối đa mọi nguồn lực cứu chữa bệnh nhân nặng, giảm thiểu đến mức thấp nhất các trường hợp tử vong. Đây là một nỗ lực rất lớn, thể hiện trách nhiệm chính trị cao của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trước nhân dân. Thế nhưng, các thế lực thù địch trong và ngoài nước lại cố tình phủ nhận mục đích nhân đạo, nhân văn của biện pháp này để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, Chính phủ đã quyết định thực hiện giãn cách ở mức độ cao hơn tại các địa phương này. Nhân đó, một số báo, đài, như: RFA, RFI, BBC đã có bài viết chỉ trích cách thức, biện pháp phòng, chống dịch của Việt Nam. Họ cho rằng, việc thực hiện siết chặt giãn cách ở Thành phố Hồ Chí Minh là “biện pháp sai lầm, phi khoa học”, quyết định này sẽ là thảm họa; rằng, không thể coi “chống dịch như chống giặc” bởi virus lan truyền trong không khí, do vậy việc chốt chặt, lập hàng rào thép gai là để “tra tấn dân”, v.v. Từ đó, kêu gọi, kích động người dân, nhất là những người trẻ tuổi có nhận thức chính trị hạn chế, người có hoàn cảnh khó khăn chống đối, không tin vào những biện pháp phòng, chống dịch bệnh của chính quyền.

Thực tế đã chứng minh, trong khi chưa có đủ nguồn vaccine để tiêm phủ diện rộng cho người dân, việc áp dụng giãn cách xã hội trong phòng, chống dịch bệnh vừa qua của Việt Nam là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, được nhiều nước trên thế giới đánh giá cao và áp dụng quyết liệt vào tình hình cụ thể, mang lại hiệu quả thiết thực ở từng cấp độ dịch nhất định. Đó hoàn toàn là các giải pháp vì sức khỏe, sự an toàn của nhân dân, chứ không phải là biện pháp “hành dân”, “tra tấn nhân dân” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Thứ ba, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an tham gia phòng, chống dịch. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành thống nhất của Chính phủ, cùng với các cấp, ngành và toàn dân, các lực lượng: Y tế, Quân đội, Công an,… đã không quản ngại gian khổ hy sinh, xung kích, đi đầu trong phòng, chống dịch, vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, để lại biết bao hình ảnh cao đẹp, làm lay động lòng người cả nước. Vậy mà, trên không gian mạng, vẫn có người cố tình bôi nhọ, xuyên tạc những hình ảnh đẹp đẽ ấy, đáng buồn hơn họ còn cho rằng đưa hình ảnh những người lính, những y, bác sĩ cầm từng bao gạo, túi thực phẩm, phương tiện, vật tư y tế, thuốc thang thăm khám phục vụ điều trị tại nhà lên các phương tiện thông tin đại chúng chẳng qua chỉ để làm “màu”, để “quảng cáo”. Nguy hại hơn, sau khi Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam. Ngay lập tức trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện những bài viết xuyên tạc cho rằng, nhiệm vụ của Quân đội là bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ, chứ không phải ở sâu trong nội địa để trấn áp dân? Tráo trở hơn, tổ chức khủng bố Việt Tân còn cắt ghép nhiều hình ảnh xe bọc thép cùng với những người lính cầm súng tung lên mạng để vu cáo “Hà Nội huy động lực lượng Quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn; rằng, Quân đội hiện diện khắp đường phố Sài Gòn là để răn đe dân chứ không phải chống dịch…”. Đây là những luận điệu không thể chấp nhận được của những người đang cố tình hiểu sai chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, cố tình đổi trắng thay đen, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, qua đó phá hoại công cuộc phòng, chống dịch của đất nước, phục vụ cho những mưu đồ đen tối của chúng. Cần thấy rằng, trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch vừa qua, hình ảnh đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, đội ngũ tình nguyện viên trong bộ Blu trắng một lần nữa cho thấy, đó không chỉ hình ảnh cao đẹp của biểu tượng “Lương y kiêm từ mẫu”, mà đó còn là truyền thống nhân ái, nhân văn, thương người như thể thương thân của dân tộc Việt Nam. Họ cũng là con người, trong số họ phần lớn đã có gia đình, nhưng vượt qua tất cả, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, những người tình nguyện đã không khoanh tay ngồi nhìn sự hoành hành của dịch bệnh, không thể bỏ mặc sức khỏe, tính mạng của cộng đồng đang bị đe dọa và cận kề bên lưỡi hái tử thần; họ đã tình nguyện cùng các lực lượng lao vào tâm dịch, nỗ lực ngày đêm không quản khó khăn vất vả, hiểm nguy với tâm niệm nhanh chóng đẩy lùi dịch bệnh, đưa lại cuộc sống bình yên cho người dân. Trong đó, đã có người mãi mãi nằm xuống khi chưa nhìn thấy những nỗ lực phi thường với những thành quả của mình và cộng đồng để lại. Đáng lý họ phải được tôn vinh, được trân trọng về nhân cách và phẩm giá cao đẹp, nhưng đáng buồn thay, một số kẻ cả ở trong nước, ngoài nước và các tổ chức phản động như Việt Tân,... lại cố tình xuyên tạc về những hình ảnh cao đẹp đó bằng những giọng điệu hết sức vô cảm; rằng là bất tài, là lợi dụng dịch bệnh để trục lợi, v.v.

Cùng với hình ảnh các chiến sĩ mặc Blu trắng, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an có mặt trên khắp mọi miền Tổ quốc từ biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, đến các ngõ phố trong vùng tâm dịch cùng với ngành y tế và cấp ủy, chính quyền các cấp tham gia phòng, chống dịch bệnh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Đặc biệt, trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, lực lượng Quân đội, Công an đã cùng với lực lượng y bác sĩ và cả hệ thống chính trị phải gồng mình, nỗ lực để giúp các địa phương đẩy lùi dịch bệnh, đảm bảo cho người dân “không ai bị đói, bị rét”, “không ai bị bỏ lại phía sau”. Trong lúc nguy nan nhất, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng trên tuyến đầu phòng, chống dịch bệnh, vừa đảm nhiệm mua lương thực, thực phẩm mang đến cho từng hộ dân; chuyển tro cốt những người xấu số vì dịch bệnh đến tận tay gia đình người quá cố, thật hiếm có một quân đội nào trên thế giới có được những hình ảnh đẹp đẽ đó.

Hơn thế nữa, sự có mặt của Quân đội, Công an, trên thực tế đã góp phần nâng cao hiệu quả của các biện pháp giãn cách xã hội, bảo đảm cho người dân tuân thủ và chấp hành tốt hơn các quy định phòng, chống dịch; đồng thời, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, điều tiết và cung cấp lương thực, thực phẩm để người dân an tâm chống dịch, sớm đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường mới. Đó là sự thật hiển nhiên không ai có thể vu khống, bịa đặt.

Thứ tư, vu cáo Việt Nam không đủ nguồn lực dập dịch, phải kêu gọi sự đóng góp của nhân dân, mà về thực chất là “bòn rút của nhân dân”. Nhận thấy ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, đã làm cho bức tranh kinh tế - xã hội kém khởi sắc, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình không hiểu, tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi đen bức tranh kinh tế - xã hội của đất nước ta dưới các chiêu bài “thật giả lẫn lộn” nhằm lừa gạt dư luận, lôi kéo, kích động những người nhẹ dạ cả tin, các phần tử chống đối phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong phòng, chống dịch bệnh, phục hồi, phát triển kinh tế. Đặc biệt, lợi dụng cuộc vận động ủng hộ xây dựng quỹ phòng, chống Covid-19 do Chính phủ phát động, các tổ chức phản động, như: Việt Tân, báo Tiếng dân,… ra sức nhào nặn, bóp méo cuộc vận động đó, cho rằng: nền kinh tế Việt Nam kém phát triển, lại bị ảnh hưởng của đại dịch nên không đủ nguồn lực chống dịch phải vận động, quyên góp của nhân dân. Nguy hại hơn khi họ cho rằng, cuộc vận động chỉ là hình thức, còn về thực chất là “bòn rút” của nhân dân, vắt kiệt sức dân, v.v. Đây hoàn toàn là những điều bịa đặt. Vì, vaccine phòng Covid-19 thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng chống dịch được ngân sách nhà nước đảm bảo nên người dân không phải trả chi phí. Theo Nghị quyết số 21/NQ-CP, kinh phí tiêm vaccine được lấy từ các nguồn: ngân sách nhà nước; nguồn viện trợ, tài trợ, hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước; nguồn do các tổ chức, cá nhân sử dụng vaccine xin tự nguyện chi trả. Việc Chính phủ xây dựng “Quỹ vaccine” là nhằm huy động sự đóng góp tự nguyện của người dân, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội chia sẻ gánh nặng với Nhà nước, chứ không phải “bòn rút” như các luận điệu xuyên tạc trên. Hiện nay, quỹ vaccine được Chính phủ quản lý, sử dụng hiệu quả, minh bạch, được nhân dân tin tưởng.

Nhìn lại kết quả công tác phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua ở Việt Nam cho thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ và chính quyền các cấp; được nhân dân chung sức đồng lòng. Việt Nam đã áp dụng biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 và phát triển kinh tế thực hiện “mục tiêu kép”, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, khôi phục và ổn định thị trường lao động... được nhân dân và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Thực tế đó, hoàn toàn bác bỏ những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc, phủ nhận thành quả phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta./.

 

Đừng vội mừng chỉ với vài chuyến hàng, sản phẩm tới châu Âu

Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 ngành công thương ngày 9-1. Chia sẻ được ông Lê Minh Hoan, bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đưa ra khuyến nghị: Đừng vội mừng chỉ với vài chuyến hàng, sản phẩm tới châu Âu... vì chủ yếu là tự phát. Theo ông Hoan, để có ngành nông nghiệp sinh thái, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, rất cần hai bộ phối hợp để ban hành cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp sản xuất phân bón vô cơ chuyển dần sang sản xuất vật tư nông nghiệp sinh học. Đồng thời tận dụng hiệu quả các FTA, xây dựng đề án xuất khẩu các thị trường có tiềm năng, chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo kỹ thuật từng thị trường; lập các liên minh xuất khẩu giữa doanh nghiệp và địa phương có vùng nguyên liệu. Chỉ ra những bất cập trong xuất khẩu nông sản vừa qua, ông Hoan chia sẻ nỗi day dứt, khi các đại sứ nói đừng vội mừng khi vài chuyến hàng, vài sản phẩm tới thị trường châu Âu được truyền thông rộng rãi. Bởi thực tế, những chuyến hàng này vẫn mang tính chất tự phát, chủ yếu nằm ở gian hàng người gốc Á, chứ chưa được chuẩn hóa, chưa vào hệ thống phân phối lớn nước ngoài. "Các doanh nghiệp đối tác, đại sứ ở châu Âu nói rằng, cần chuyên nghiệp hóa, có đề án hẳn hoi từ xúc tiến thị trường, văn hóa thị trường. Bởi thị trường 27 nước châu Âu không có sự đồng nhất về văn hóa tiêu dùng… Do đó, nếu tiếp tục thế này, dù năm nay nông nghiệp đạt gần 49 tỉ USD nhưng chưa nói lên điều gì về bền vững trong xuất khẩu, nếu không thành lập các liên minh xuất khẩu cho từng thị trường" - ông Hoan bày tỏ. Ngoài ra, ông cũng đề nghị hai bộ cùng phối hợp xây dựng phát triển thị trường nông sản trong nước, bởi xuất khẩu được đẩy mạnh nhưng lại chưa được chú trọng thị trường 100 triệu dân. Theo ông Hoan, làm sao thị trường trong nước không bị thả nổi, mà phải chuẩn hóa, minh bạch hóa, chuyên nghiệp hóa, vừa mở rộng tổng cầu, vừa giảm rủi ro khi thị trường xuất khẩu bị ách tắc vì lý do bất khả kháng. Thông tin về hoạt động của ngành công thương năm 2021, Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh cho hay sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn duy trì và giữ được nhịp độ tăng trưởng tích cực. Quy mô sản xuất công nghiệp tiếp tục được mở rộng, tăng 4,82%, công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt, chỉ số tồn kho thấp. Tuy vậy, hoạt động sản xuất công nghiệp gặp khó khăn hơn nhiều so với năm 2020 do dịch COVID-19 xâm nhập các khu công nghiệp, khu chế xuất. Một số địa phương không duy trì được tăng trưởng công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu. Hoạt động xuất nhập khẩu đã có sự tăng trưởng ngoạn mục với tổng kim ngạch là 668,5 tỉ USD, quy mô các mặt hàng xuất khẩu tiếp tục được mở rộng, thị trường xuất khẩu gia tăng. Cán cân thương mại tiếp tục ghi nhận xuất siêu khoảng 4 tỉ USD. Song điều đáng chú ý là xuất khẩu tăng mạnh nhưng mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI, ngành chủ yếu cạnh tranh về giá. Nhận diện những khó khăn, thách thức của ngành năm 2022, ông Khánh cho biết sẽ bám sát nghị quyết liên quan đến phát triển công nghiệp, thương mại; rà soát sửa đổi các chính sách còn bất cập, cơ cấu lại ngành công thương dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khai thác hiệu quả các FTA và thúc đẩy phát triển thương mại nội địa...